• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Cổ Thi - Đường Thi

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • M Mít Đặc
    started a topic Cổ Thi - Đường Thi

    Cổ Thi - Đường Thi

    Mít xin cùng các thành viên diễn đàn CLL lần giở những trang Đường Thi nhé ! Một vài bài Đường thi do Mít dzịch dưới tên Badmonk ở diễn đàn KTVT




    暮 春 歸 故 山 草 堂 - 錢 起

    谷 口 春 殘 黃 鳥 稀
    辛 夷 花 盡 杏 花 飛
    始 憐 幽 竹 山 窗 下
    不 改 青 陰 待 我 歸

    Mộ Xuân Quy Cố Sơn Thảo Đường - Tiền Khởi

    Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hi
    Tân Di hoa tận hạnh hoa phi
    Thủy liên u trúc sơn song hạ
    Bất cải thanh âm đãi ngã quy

    Cuối xuân về nhà tranh ở núi củ

    Thung lũng xuân tàn , oanh thôi hót
    Tân Di hoa hạnh ngập đường bay
    Còn thương bụi trúc bên song cửa
    Vẫn một mầu xanh chẵng đổi thay

    Badmonk - Tâm Nhiên
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 18-04-2011, 09:41 AM.

  • M Mít Đặc
    replied
    Tam nguyệt hối nhật tống xuân Giả Đảo




    三 月 晦 日 送 春 - 賈島

    三 月 正 當 三 十 日
    春 光 別 我 苦 吟 身
    共 君 今 夜 不 須 睡
    未 到 曉 鐘 猶 是 春

    Tam nguyệt hối nhật tống xuân - Giả Đảo

    Tam nguyệt chính đương tam thập nhật
    Xuân quang biệt ngã khổ ngâm thân
    Cộng quân kim dạ bất tu thụy
    Vị đáo hiểu chung do thị xuân.


    Ngày cuối tháng ba tiễn xuân

    Tháng ba, nhằm cuối ngày xuân tận
    Nhan sắc giao mùa bỏ khách ngâm
    Thức trọn đêm nay cùng bạn nhé,
    Chưa hồi chuông sớm vẫn còn xuân
    .

    Ba mươi, ngày cuối tháng ba
    Xuân lưu li sẻ sắp rời bỏ ta...
    Đêm nay thức trọn canh tà,
    Chuông chưa điểm sớm vẫn là nguyên xuân...


    BADMONK
    - TÂM NHIÊN

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Thiếu Niên Hành Vương Duy



    少 年 行 王 維
    (四首其一)

    新 豐 美 酒 斗 十 千
    咸 陽 遊 俠 多 少 年
    相 逢 意 氣 為 君 飲
    繫 馬 高 樓 垂 柳 邊

    Thiếu Niên Hành - Vương Duy
    (Tứ thủ kỳ nhất)

    Tân Phong mỹ tửu đẩu thập thiên
    Hàm Dương du hiệp đa thiếu niên
    Tương phùng ý khí vị quân ẩm
    Hệ mã cao lâu thùy liễu biên

    Khúc ca người tuổi trẻ
    (Bài 1 trong tứ thủ)

    Rựu ở Tân Phong đấu mười nghìn
    Du hiệp Hàm Dương khách thiếu niên.
    Tâm đầu ý hợp cùng bạn uống
    Lầu cao ngựa buộc liễu bên hiên

    Tân Phong đấu rựu mười nghìn
    Thiếu niên hào hiệp đến tìm Hàm Dương
    Chút vì nghĩa khí mến thương
    Lên lầu, ngựa buộc gốc dương bên hè

    Badmonk - Tâm Nhiên

    ...
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 28-03-2011, 08:21 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Mộc Hỏa Khuông Việt



    元火 - 匡 越

    木 中 元 有 火,
    元 火 復 還 生。
    若 謂 木 無 火,
    鑽 燧 何 由 萌。


    Nguyên hoả - KHUÔNG VIỆT

    Mộc trung nguyên hữu hỏa
    Nguyên hỏa phục hoàn sinh
    Nhược vị mộc vô hỏa
    Toàn toại hà do manh?

    Nguồn gốc Lửa

    Trong cây ngầm mầm lửa
    Có lửa lửa mới bùng
    Nếu bảo cây không lửa
    Cọ xát tự cháy bừng

    Trong cây vốn chứa lửa ngầm
    Âm thầm chỉ chực cháy bùng sát na
    Nếu mà Không lửa sao là
    Tự đâu Ma xát cây này cháy lên

    ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT (933 – 1011) người họ Ngô tên là Chân Lưu, hậu duệ của Ngô Thuận Đế (thuỵ hiệu của Ngô Quyền). Quê ở hương Cát Lị, huyện Thường Lạc. Thụ giới tại chùa Khai Quốc với thiền sư Vân Phong (?-957). Năm 40 tuổi (971), nhà sư được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng thống, sau đó được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư. Đại sư Khuông Việt thuộc thế hệ thứ 5 dòng thiền Vô Ngôn Thông.

    Ngày 15 tháng 2 năm Tân Hợi,( (22-3-1011) niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1011) đời vua Lý Thái Tổ, trước khi viên tịch, đại sư gọi đệ tử thân cận là Đa Bảo đến đọc bài kệ rồi nhắm mắt ngồi kiết già qua đời.

    Badmonk dịch bài này nhân đúng ngày thiền sư Khuông Việt viên tịch .
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 19-03-2011, 12:56 AM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Tụng giá hoàn kinh sư Trần Quang Khải



    頌駕還京師 - 陳光凱

    奪槊章陽渡
    擒胡函子關
    太平須努力
    萬古此江山

    Tụng giá hoàn kinh sư - Trần Quang Khải

    Đoạt sóc Chương Dương độ,
    Cầm Hồ Hàm Tử quan.
    Thái bình tu nỗ lực,
    Vạn cổ thử gian san.

    Phò giá về kinh

    Chương Dương cướp giáo giặc,
    Hàm Tử bắt quân thù.
    Thái bình nên gắng sức,
    Non nước ấy ngàn thu.

    Bản dịch của Trần Trọng Kim

    Chương Dương đoạt giáo quân thù,
    Cửa Thiêng Hàm Tử cầm tù rợ Nguyên.
    Thái bình gắng sức trung kiên,
    Non sông đứng vững như kiền muôn thu .

    Bản dịch của Badmonk - Tâm Nhiên

    Trần Quang Khải (1241-1294) tự là Chiêu Minh, con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông. Ông là nhân vật giử một vị trí trọng yếu trong vương triều nhà Trần, cùng với Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn dẫn dắt cuộc chiến đấu chống quân Mông Cổ đến thắng lợi . Ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu, sau khi đuổi quân Thoát Hoan, giải phóng kinh thành Thăng Long,Trần Quang Khải đưa hai vua Trần về lại kinh đô, theo phò giá và làm bài thơ này . Theo VH. Org
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 28-03-2011, 08:21 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Đề đạo sĩ Thủy Vân am kỳ 2 Lê Thánh Tông



    題 道 仕 水 雲 菴 其 二 黎 聖 宗

    暉 暉 周 日 竹 侌 凉 ,
    三 五 蝉 聲 夏 影 長 。
    一 枕 北 牕 塵 慮 断 ,
    荷 花 驚 起 睡 鴛 鴦 。

    Đề đạo sĩ Thủy Vân am kỳ 2 -Lê Thánh Tông

    Huy huy chu nhật trúc âm lương,
    Tam ngũ thiền thanh hạ ảnh trường.
    Nhất chẩm bắc song trần lự đoạn,
    Hà hoa kinh khởi thuỵ uyên ương.

    Viết ở am Thủy Vân của đạo sĩ kỳ 2

    Trời nắng chan hòa, bóng trúc râm
    Ve kiêu, ngày cũng lạ chổ nằm
    Bên song thả rớt giấc sầu mộng
    Sen động, chim ngờ gió viếng thăm

    Hạ nồng, tre phủ áo xanh,
    Ve kêu rộn rã, ngày xa lạ thường.
    Bên song tỉnh giấc vô thường,
    Gió lay sen động uyên ương giật mình...

    Badmonk - Tâm Nhiên
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 28-03-2011, 08:20 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Vấn Hoài Thuỷ Bạch Cư Dị



    問 淮 水 白 居 易

    自 嗟 名 利 客
    擾 擾 在 人 間
    何 事 長 淮 水
    東 流 亦 不 閒

    Vấn Hoài Thuỷ - Bạch Cư Dị

    Tự ta danh lợi khách,
    Nhiễu nhiễu tại nhân gian
    Hà sự trường Hoài thuỷ,
    Đông lưu diệc bất nhàn ?

    Hỏi nước sông Hoài

    Thương mình hám bã lợi danh
    Giờ như mắc lưới quấn quanh cuộc đời
    Vì sao hởi nước sông Hoài
    Miệt mài năm tháng chảy hoài về đông ?

    Badmonk - Tâm Nhiên
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 28-03-2011, 08:19 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Tống Vương Thập Bát Quy Sơn ,Ký Đề Tiên Du Tự Bạch Cư Dị



    送 王 十 八 歸 山
    寄 題 仙 遊 寺 - 白 居 易

    曾 於 太 白 峰 前 住
    數 到 仙 遊 寺 裡 來
    黑 水 澄 時 潭 底 出
    白 雲 破 處 洞 門 開
    林 間 煖 酒 燒 紅 葉
    石 上 題 詩 掃 綠 苔
    惆 悵 舊 遊 無 復 到
    菊 花 時 節 羨 君 回

    Tống Vương Thập Bát Quy Sơn ,Ký Đề Tiên Du Tự - Bạch Cư Dị

    Tằng ư Thái Bạch phong tiền trú
    Sồ đáo Tiên Du tự lý lai
    Hắc thủy trừng thì đàm để xuất
    Bạch vân phá xứ động môn khai
    Lâm gian noãn tửu thiêu hồng diệp
    Thạch thượng đề thi tảo lục đài
    Trù trướng cựu du vô phục đáo
    Cúc hoa thời tiết tiện quân hồi

    Tiễn Vương-Thập-Bát về núi, Viết gửi chùa Tiên-Du

    Thái Bạch từng đã trú chân
    Chùa Tiên Du đã ghé thăm đôi lần...
    Nước đen soi lặng đáy đầm
    Gió khuân mây lọt miệng hang thông trời
    Nấu rựu có lá phong rơi
    Đá xanh rêu phủ lời thơ nồng nàn
    Buồn giờ cách trở đò giang
    Bạn về mùa cúc ngập vàng lối đi

    Badmonk - Tâm Nhiên
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 28-03-2011, 08:19 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Đào nguyên ức cố nhân (mộ xuân) Tô Đông Pha .



    桃源忆故人 (暮春) - 苏轼

    華胥夢斷人何處,
    聽得鶯啼紅樹。
    幾點薔薇香雨,
    寂寞閒庭戶。

    暖風不解留花住,
    片片著人無數。
    樓上望春歸去,
    芳草迷歸路。

    Đào nguyên ức cố nhân (mộ xuân) - Tô Thức ( Tô Đông Pha )

    Hoa tư mộng đoạn nhân hà xứ .
    Thính đắc oanh đề hồng thụ .
    Kỷ điểm tường vi hương vũ .
    Tịch mịch nhàn đình hộ .
    Noãn phong bất giải lưu hoa trú .
    Phiến phiến trứ nhân vô số .
    Lâu thượng vọng xuân quy khứ .
    Phương thảo mê quy lộ .

    Ngày xuân nhớ Thiên Thai .

    Người về đâu cho hoa chờ mộng úa
    Vàng oanh kêu rủ rợi dưới ngàn hồng
    Tường vi rụng, mưa đưa hương nhè nhẹ
    Ngõ vắng người, người lặng lẽ chờ mong
    Làn gió ấm , hoa nương theo cánh gió ...
    Từng mãnh bay ... bay nhẹ vướn tóc hiền
    Tiếng ai vọng lầu cao , xuân dừng bước
    Cỏ ngập ngừng hương lạc lối chân tiên .

    Badmonk
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 06-03-2011, 12:49 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    La phù sơn hạ mai hoa thôn Tô Đông Pha




    (無題其二 )

    羅浮山下梅花 村 苏轼

    羅浮山下梅花 村
    玉雪為骨冰為魂
    紛紛初疑月掛樹
    耿 耿 獨 與 參 黃 昏
    先 生 索 居 江 海 上
    悄 如 病 鶴 栖 荒 園
    千 香 國 豔 肯 相 顧
    蓬 萊 宮 中 花 鳥 使
    綠 衣 倒 掛 扶 桑 暾
    抱 叢 窺 我 方 醉 臥
    故 遣 啄 木 先 敲 門
    麻 姑 過 君 及洒 掃
    鳥 能 歌 舞 花 能 言
    酒 醒 人 散 山 寂 寂
    惟 有 落 月 窺 空 樽


    (Bài Vô Đề Kỳ 2 )

    La phù sơn hạ mai hoa thôn - Tô Thức (Tô Đông Pha )

    La phù sơn hạ mai hoa thôn
    Ngọc tuyết vi cốt băng vi hồn
    Phân phân sơ nghi nguyệt quải thọ
    Cạnh cạnh độc dữ Sâm hoàng hôn
    Tiên sinh sách cư giang hải thượng
    Tiễu như bịnh hạc thê hoang viên
    Thiên hương quốc diễm khẳng tương cố
    Tri ngã tửu thục thi thanh ôn
    Bồng lai cung trung hoa điểu sứ
    Lục y đảo quải phù tang thôn
    Bảo tòng khuy ngã phương túy ngọa
    Cố khiển trác mộc tiên xao môn
    Ma cô quá quân cấp sái tảo
    Điểu năng ca vũ hoa năng ngôn
    Tửu tỉnh nhân tán sơn tịch tịch
    Duy hữu lạc nguyệt khuy không tôn

    Thôn hoa mai dưới chân núi La Phù -( Bài không đề phần 2)

    Làng Mai dựa núi La Phù
    Xương là tuyết ngọc băng thu là hồn
    Trăng neo trên đỉnh cô thôn
    Hoàng hôn lạc ánh sao Hôm đứng buồn
    Người đi cuối bãi cùng nguồn
    Giờ buồn như hạc trong chiều vườn hoang
    Mầu trời sắc nước huy hoàng
    Thơ chìm đáy rựu hoen tờ hoa tiên
    Chim về ngậm đóa hoa thiền
    Áo thiên thanh vẫn ngất ngây mùi rừng
    Tựa cây gối giấc muôn trùng
    Mộng vừa sơ ngộ, mộng trùng trùng lai
    Ba nghìn thế giới là nhà
    Chim hoa có bóng tiền thân nhu mì
    Hết say, người cảnh phân ly
    Chỉ còn hoa rụng đáy ly hững hờ....

    Badmonk
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 03-03-2011, 09:31 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Quá Hương Tích tự Vương Duy



    過香積寺 王維

    不知香積寺, 數里入雲峰。
    古木無人徑, 深山何處鐘。
    泉聲咽危石, 日色冷青松。
    薄暮空潭曲, 安禪制毒龍。

    Quá Hương Tích tự - Vương Duy

    Bất tri Hương Tích tự
    Sổ lý nhập vân phong
    Cổ mộc vô nhân kính
    Thâm sơn hà xứ chung
    Tuyền thanh yết nguy thạch
    Nhật sắc lãnh thanh tùng
    Bạc mộ không đàm khúc
    An thiền chế độc long

    Ghé chùa Hương Tích

    Chùa Hương nào đâu thấy
    Mây ôm núi dựng trời
    Cây già che dệt lối
    Rừng sâu chuông không hồi
    Suối tuôn vang tiếng đá
    Nắng lạnh xuyên bóng tùng
    Bên đầm chiều thong thả
    Dụng Không để trị rồng...

    Ghé chùa Hương Tích, chùa đâu?
    Núi cao ngậm bã phù vân mây trời
    Lối mòn cỏ lá rong chơi
    Rừng sâu khói nhả, vọng lời chuông ngâm
    Suối trôi tiếng đá thì thầm
    Sương pha mầu nắng xuyên tầng tùng râm
    Hoa lau thiếp ngủ bên đầm
    Hàng long thì phải nhất tâm cửa thiền.

    Badmonk
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 27-02-2011, 09:04 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Lạc hoa Lý Thương Ẩn



    落花 李商隱

    高閣客竟去, 小園花亂飛。
    參差連曲陌, 迢遞送斜暉。
    腸斷未忍掃, 眼穿仍欲歸。
    芳心向春盡, 所得是沾衣。


    Lạc hoa- Lý Thương Ẩn

    Cao các khách cánh khứ
    Tiểu viên hoa loạn phi
    Sâm si liên khúc mạch
    Thiều đệ tống tà huy
    Trường đoạn vị nhẫn tảo
    Nhãn xuyên nhân dục quy
    Phương tâm hướng xuân tận
    Sở đắc thị triêm y


    Hoa rơi

    Lầu cao em xa rồi
    Trong vườn hoa rơi rơi
    Chiều nghiêng mầu nắng quái
    Hoa rơi hiểu mình tôi
    Thương hoa không nỡ quyét
    Nhớ người mắt trông vời
    Lệ xuân chừng cạn hết
    Ướt đầy trên áo tôi


    Người đẹp lầu cao đã đi rồi
    Nên sầu hoa rụng hoa tơi bời
    Con đường dốc nhỏ nơi chờ đợi
    Nắng gởi chiều nơi khói bạc mầu
    Thương xác hoa tàn không nỡ quyét
    Mắt ngóng mong người về bên nhau
    Áo mõng ý chừng xuân đã hết
    Nên dòng lệ nhỏ thấm khô mau...

    Badmonk


    LÝ THƯƠNG ẨN (831-858) Tự là Nghĩa Sơn, hiệu là Ngọc Khê sinh. Người huyện Hoài Châu (tỉnh Hà Nam). Năm 837 (đời Ðường Văn Tông), nhờ thế lực của Lệnh Hồ Ðào, con của Lệnh Hồ Sở mà được chấm đậu tiến sĩ. Rồi được Vương Mậu Nguyên, trấn thủ Hà Dương, dùng vào việc thư ký và gả con gái cho.Vì Mậu Nguyên là địch thủ chính trị của Lệnh Hồ Sở, nên ông bị coi là người vong ân. Khi Mậu Nguyên chết, ông có đến kinh thành nhưng không được quan chức gì. Sau nhờ Trịnh Á, ông được bổ làm chức Quan-sát phán-quan. Ba năm sau, về triều, được làm một chức quan nhỏ tại Kinh Triệu. Khi Lệnh Hồ Ðào làm tể tướng, ông có nhiều lần dâng thư trần tình, nhưng không được xét đến. Sau nhờ Liễu Trọng Hĩnh, trấn thủ miền Ðông-Thục, ông được dùng làm Tiết-độ phán-quan, kiểm hiệu Công bộ viên-ngoại-lang. Khi họ Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Về đất Oanh Dương, rồi mắc bệnh, tạ thế.
    Lý Thương Ẩn nổi tiếng ngang với Ôn Ðình Quân và Ðỗ Mục, nên người người đương thời gọi là Ôn Lý và Lý Ðỗ. Tương truyền ông có tình luyến ái với nữ đạo sĩ Tống Hoa Dương và các cung nữ Lư Phi Loan và Khinh Phượng. Những bài thơ Vô đề của ông đều được làm ra cốt để tả những mối tình bí ẩn này.
    Lý Thương Ẩn có ảnh hưởng rất lớn đối với thi đàn đời Tống. Vương An Thạch khen thơ ông có cái vẻ tài tình giống thơ Ðỗ Phủ. Các nhà thơ thuộc phái Tây Côn chủ trương mô phỏng thơ ông khi sáng tác.
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 25-02-2011, 06:12 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Lạc hoa Lý Thương Ẩn








    失珠 道行禪師

    日月出岩頭,
    人人盡失珠。
    富人有駒子,
    步行不騎駒。

    Thất châu - Đạo Hạnh thiền sư

    Nhật nguyệt xuất nham đầu,
    Nhân nhân tận thất châu .
    Phú nhân hữu câu tử,
    Bộ hành bất kỵ câu .

    Mất Ngọc

    Trăng trên đầu núi trăng treo
    Mặt trời đầu núi hết leo lại bò
    Ngọc Tâm vốn có nhưng lo
    Để quyên trong túi bo bo kiếm tìm
    Người giàu có ngựa mà quên
    Cứ đi chân đất lênh đênh một đời...

    Badmonk

    Đạo Hạnh thiền sư 道行禪師 (1072-1127) tên thật là Từ Lộ 徐路, là một thiền sư nổi tiếng Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền thoại. Dân chúng lập đền thờ ông tại chùa Thiên Phúc, nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (tục gọi là chùa Thầy) và chùa Láng ở Hà Nội. Hàng năm, lễ hội chùa Thầy được mở vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, tương truyền là ngày ông viên tịch. Theo VH.Org
    Đã chỉnh sửa bởi M Mít Đặc; 23-02-2011, 11:34 PM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi M Mít Đặc View Post


    春日旅寓 杜荀鶴

    滿城羅綺拖春色
    幾處笙歌揭畫樓
    江上有家歸未得
    眼前花是眼前愁

    Xuân Nhật Lữ Ngụ -Đỗ Tuân Hạc

    Mãn thành la ỷ tha xuân sắc
    Kỷ xứ sanh ca yết họa lâu
    Giang thượng hữu gia quy vị đắc
    Nhãn tiền hoa thị nhãn tiền sầu

    Ngày Xuân Nơi Quán Trọ

    Hoa gấm đem xuân đến mọi nhà
    Lầu bên sáo vọng khúc hoan ca
    Có người ly khách không về được
    Trước mỗi nhành hoa mỗi xót xa...

    Xuân theo tà áo thiên thanh
    Lầu cao sáo nhạc đua ganh tiếng cười
    Bến sông, quán vắng, một người
    Nhìn mầu hoa vỡ bồi hồi nhớ quê...

    Badmonk

    Cô nàng của Mít hớn hở , vui như Tết , bồi hồi nhớ quê nỗi gì... như ri mới là nhớ quê nì... hihihi...

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied


    Người Trung Quốc từ lâu đã cho rằng, không gian không chỉ hữu hạn, đồng thời cũng vô hạn, nó chính là bầu thái hư bao la, rộng lớn, hoàn toàn không biết đâu là biên giới. Sách Tấn thư, thiên Thiên văn chí thượng viết: “Trời là khoảng không bao la, ngước nhìn lên cao xa vô cùng, mờ ảo vô cùng, nên có màu xanh xanh vậy,… mặt trời, mặt trăng, các vì sao, vạn vật đều sống trôi nổi trong khoảng không ấy, mọi sự vận hành của chúng đều nhờ có khí vậy.

    Theo quan niệm của văn hóa phương Tây, khái niệm không gian thường được hiểu là một khối vuông rỗng, một kết cấu hình học, hoặc một vật chứa luôn tách rời hình thái tồn tại cụ thể của vật chất. Aristote từng nêu ra thuyết hạn diện (thuyết hạn chế về bề mặt), đồng thời cho rằng bản thân sự hạn diện chính là không gian. Theo ông, cái gọi hạn diện này luôn trùng khít lên bề mặt của sự vật, được xem là hạn diện nội tại, luôn tĩnh lặng và gắn liền với bề mặt của vật chất trong vũ trụ(1). Hegel cũng chỉ ra rằng, khái niệm không gian được xác định trên phương diện khách quan chính là “sự thống nhất giữa tính gián đoạn và tính liên tục(2)”. Bỏ qua những định nghĩa giàu chất tư biện trên đây, có thể tóm lại rằng, không gian trong quan niệm của người phương Tây luôn là thứ không gian hữu hạn, không gian hình khối, hạn chế trong một bề mặt cụ thể, và luôn có xu hướng cơ khí hóa, kết cấu hóa.

    Khác với quan niệm nêu trên, người Trung Quốc từ lâu đã cho rằng, không gian không chỉ hữu hạn, đồng thời cũng vô hạn, nó chính là bầu thái hư bao la, rộng lớn, hoàn toàn không biết đâu là biên giới. Sách Tấn thư, thiên Thiên văn chí thượng viết: “Trời là khoảng không bao la, ngước nhìn lên cao xa vô cùng, mờ ảo vô cùng, nên có màu xanh xanh vậy,… mặt trời, mặt trăng, các vì sao, vạn vật đều sống trôi nổi trong khoảng không ấy, mọi sự vận hành của chúng đều nhờ có khí vậy.(3)” Có thể thấy rõ, bầu thái hư này vừa hư ảo vừa thực tại, vừa huyền bí mông lung lại vừa có rất nhiều thứ tồn tại trong nó, trong đó có tượng, có vật, có tĩnh, có động,…nó xa xăm không có chỗ dừng, nó chính là cái nôi sinh sôi vạn vật, dung dưỡng vạn vật; đồng thời nó cũng luôn gắn liền với thực tại và quá khứ.

    Nhìn từ góc độ quan sát không gian, người phương Tây có xu hướng lấy chính mình làm trung tâm, đây là cách quan sát sự vật hiện tượng xuất phát từ một điểm nhìn cố định, vậy nên được gọi là cách nhìn tiêu điểm (tiêu điểm thấu thị焦點透視). Không giống cách nhìn của người phương Tây, điểm nhìn trong phương thức quan sát sự vật của người Trung Quốc nhìn chung khá linh hoạt, xa gần, cao thấp, trước sau, phải trái, trong ngoài,…có thể nói mọi góc độ, mọi phương hướng thảy đều có thể áp dụng vào quan sát vạn vật, quan sát chính mình. Cách nhìn này được gọi là cách nhìn tản điểm (tản điểm thấu thị散點透視). Tô Đông Pha trong bài thơ Đề tây lâm bích đề xướng cách quan sát, khám phá Lư sơn rất tiêu biểu cho cách quan sát sự vật của người Trung Quốc:

    Hoành khan thánh lĩnh trắc thành phong,
    Viễn cận cao đê các bất đồng.
    Bất thức Lư sơn chân diện mục,
    Chỉ duyên thân tại thử sơn trung. ( Đề tây lâm bích)

    横看成岭侧成峰,远近高低各不同。
    不识庐山真面目,只缘身在此山中。(《题西林壁》)
    Nhìn ngang thành dải, xéo thành ngọn;
    Nhìn xa, nhìn gần, nhìn từ trên cao, nhìn từ dưới thấp, kết quả đều không giống nhau.
    Sở dĩ không nhìn ra bản lai diện mục của núi Lư;
    Đều bởi thân ta bị hạn chế ở trong núi này.

    Ở đây muốn khám phá núi Lư, muốn có cách hiểu đúng về đối tượng, chắc chắn không thể dùng lối nhìn tiêu điểm của phương Tây, tức chọn một điểm ngắm phù hợp sau đó phản ánh đối tượng từ vị trí ngắm. Tất nhiên trong quá trình quan sát, vẫn có thể thay đổi rất nhiều điểm ngắm, nhưng một khi thay đổi điểm ngắm, điều này đồng nghĩa với việc phương pháp quan sát tiêu điểm truyền thống của phương Tây bị phá bỏ. Trong xu hướng phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, và cả nghệ thuật, không ít nghệ thuật gia phương Tây đã thử nghiệm theo lối cách tân truyền thống, nhưng cách làm này cũng không dễ được chấp nhận. Nhà tâm lý học nghệ thuật người Mỹ K.M. Brum (?) trong Thị giác nguyên lý từng phải thốt lên rằng:

    Điều kỳ lạ là, quá trình phá bỏ lối nhìn tiêu điểm trong nghệ thuật phương Tây có thể xem là một trang sử đau khổ, khó khăn và đầy chướng ngại. Một khi nghệ thuật gia vi phạm phương thức thị giác do con người tạo ra này, họ sẽ bị chửi rủa, nhục mạ, bị chỉ trích là “nguyên thủy”, “trang sức hóa”, “ra vẻ cho hay”,“mang tính thực nghiệm”, “chạy theo thời thượng”, đây chẳng qua vẫn là cách gọi khách khí đối với những tác phẩm thoát ly quy tắc nghệ thuật chính thống. Còn một số từ ngữ như “ấu trĩ”, “vớ vẩn”, “láo xược”, “sa đọa” thực sự đã hoàn toàn không còn khách khí. Tại sao chúng ta ở trong một hệ thống không ngừng phát triển, mà lại cứ đem nghệ thuật trói buộc như thế? Tại sao cứ phải căn cứ theo con đường “chính thống” để tái hiện hiện thực cơ chứ?(4)

    Trên đây đã đề cập, không gian theo quan niệm của người Trung Quốc chính là sự thống nhất giữa hữu hạn và vô hạn; ở khía cạnh chiếm hữu, chinh phục hoặc biểu hiện không gian, các ngành nghệ thuật Trung Quốc ắt không thể đi ra ngoài nguyên lý cơ bản này. Trong hội họa, muốn đả thông giữa hữu hạn và vô hạn bằng việc đem một số cảnh vật khác biệt nhau đặt lên cùng một mặt tranh, hoặc đem vũ trụ biểu đạt với đầy đủ sắc thái tinh tế của nó, ắt phải có sự điều chỉnh về điểm nhìn. Nếu áp dụng lối quan sát tiêu điểm của phương Tây, không chỉ không nhìn thấy cảnh tượng muôn mặt của sự sống diễn ra trong “vũ trụ”, mà những cảnh tượng vượt ngoài tầm mắt cũng thật khó xử lý. Có thể nhận định rằng, việc ứng dụng phương thức quan sát tản điểm của hội họa Trung Quốc, đã có thể giải quyết triệt để những khó khăn mà các nghệ thuật gia phương Tây từng tranh luận qua nhiều thế kỷ. Về điểm này, nhà mỹ học Trung Quốc Tông Bạch Hoa có những nhận xét vừa xác đáng vừa mang tính gợi mở cho vấn đề chúng ta đang bàn:

    Dùng cặp mắt tâm linh để quan sát không gian, vạn vật, ý thức về không gian được biểu đạt trong thơ, họa của chúng ta hoàn toàn không giống với những tượng điêu khắc lập thể mang cảm thức không gian tiêu biểu cho văn hóa Hy Lạp; hoàn toàn không giống những đường luồng thẳng tắp trong các ngôi mộ mang đậm đặc trưng cảm thức không gian Ai Cập; cũng hoàn toàn không giống chất mông lung không giới hạn trong tranh sơn dầu của Rembrandt Harmensz van Rijin tiêu biểu cho tinh thần châu Âu cận đại; mà là cảm thức vũ trụ của người Trung Quốc thông qua “phủ ngưỡng tự đắc 俯仰自得” (có được do nhiều phương thức quan sát) đã được tiết tấu hóa, âm nhạc hóa(5).

    Ý thức về không gian được biểu hiện trong mỗi bức họa, chính là toàn bộ tiết tấu và sự hài hòa toàn diện của tự nhiên. Ở đây con mắt của họa gia hoàn toàn không xuất phát từ một góc độ cố định tập trung vào một tiêu điểm, mà luôn lưu động nhìn ngắm trên dưới bốn phương, mắt nhìn bao quát thiên lý, nắm bắt tiết tấu âm dương, đóng mở, cao thấp, khởi phục của toàn cảnh.
    Thực ra, phương thức quan sát không gian theo hướng tản điểm đã hình thành từ rất lâu trong lịch sử Trung Quốc, nó được Quách Hy, một họa gia nổi tiếng đời Tống tổng kết thành phạm trù lý luận “tam viễn pháp三遠法” (phép tam viễn), được nêu trong bộ sách lý luận hội họa nổi tiếng Lâm tuyền cao trí của ông. Trong sách ấy, mục Sơn xuyên huấn viết:

    Tự sơn hạ nhi ngưỡng sơn điên, vị chi cao viễn; tự sơn tiền nhi khuy sơn hậu, vị chi thâm viễn; tự cận sơn nhi vọng viễn sơn, vị chi bình viễn. Cao viễn chi sắc thanh minh, thâm viễn chi sắc trùng hối, bình viễn chi sắc hữu minh hữu hối. Cao viễn chi thế đột ngột, thâm viễn chi ý trùng điệp, bình viễn chi ý xung dung nhi phiêu phiêu miểu miểu. Kỳ nhân vật chi tại tam viễn dã, cao viễn giả minh liễu, thâm viễn giả tế toái, bình viễn giả xung đạm; minh liễu giả bất đoản, tế toái giả bất trường, xung đạm giả bất đại. Thử tam viễn dã.
    自 山下而仰山顛,謂之高遠;自山前而窺山後,謂之深遠;自近山而望遠山,謂之平遠。高遠之色清明,深遠之色重 晦,平遠之色有明有晦。高遠之勢突兀,深遠之意 重疊,平遠之意沖融而縹縹渺渺。其人物之在三遠也,高遠者明瞭,深遠者細碎,平遠者沖淡;明瞭者不短,細碎 者不長,沖淡者不大。此三遠也。(郭熙《林泉高 致·山川訓》)

    Từ chân núi ngước nhìn lên đỉnh núi, ấy là cao viễn (độ xa hướng theo chiều cao); từ trước núi nhìn ra sau núi, ấy là thâm viễn (độ xa hướng theo chiều sâu); từ núi gần nhìn núi xa, ấy là bình viễn (độ xa hướng theo chiều rộng). Sắc của cao viễn trong trẻo, sáng rõ, sắc của thâm viễn mờ đậm, sắc của bình viễn sáng tối giao thoa. Thế của cao viễn chót vót, ý của thâm viễn trùng điệp, ý của bình viễn thăm thẳm xa xăm. Riêng người và vật dưới sự quy định của tam viễn, người vật trong cao viễn sáng rõ, trong thâm viễn nhỏ vụn, trong bình viễn mờ ảo xa xăm; người vật sáng rõ sẽ không ngắn, nhỏ vụn sẽ không dài, mờ ảo xa xăm ắt không lớn. Đây chính là phép họa “tam viễn” vậy(6).
    Như đã nói, phép tam viễn chính là sự tổng kết trên cơ sở lối tiếp cận không gian theo cách nhìn tản điểm của người Trung Quốc. Các nhà nghệ thuật, đặc biệt là họa gia, khi đối diện trước cảnh núi non, có thể ngước nhìn lên trên, nhìn ra sau, nhìn ra xa, …chính góc nhìn không ngừng thay đổi này, đem đến cho họa gia sự thuận lợi trong việc nắm bắt nguyên khí của tự nhiên, trên cơ sở đó tạo lập không gian cho bức họa.
    Trên đây đều xét vấn đề từ góc độ của hội họa, vậy thơ ca nói chung, thơ Đường nói riêng vận dụng phương thức tam viễn này ra sao? Dưới đây xin lấy bài thơ Chung Nam sơn của Vương Duy làm đối tượng phân tích:

    Thái Ất cận thiên đô,
    Liên sơn đáo hải ngu.
    Bạch vân hồi vọng hợp,
    Thanh ải nhập khán vô.
    Phân dã trung phong biến,
    Âm tình chúng hác thù.
    Dục đầu nhân xứ túc,
    Cách thủy vấn tiều phu. (Chung Nam sơn)

    太乙近天都,連山到海隅。
    白雲回望合,青靄入看無。
    分野中峰變,陰晴眾壑殊。
    欲投人處宿,隔水問樵夫。(《終南山》)

    Núi Thái Ất nguy nga, cao vút, gần tới cung điện chốn thượng giới;
    Núi đồi tiếp nhau, chạy dài mãi ra tận biển.
    Mây trắng tụ họp sau núi, tạo thành một khoảng trắng bao la;
    Mây khói mông lung mờ ảo, khiến bước vào rồi rất khó nhìn rõ.
    Ngọn Thái Ất phân chia tinh tú trên trời thành nhiều vùng khác nhau;
    Tình trạng âm u quang đãng mỗi vùng mỗi khác.
    Trời về chiều, muốn tìm một nhà dân xin tá túc;
    Đứng ở bên này bờ suối với hỏi thăm tiều phu.

    Ở bài thơ này, hai câu đầu là cảnh xa (viễn cảnh) của Chung Nam qua hành động ngước nhìn. Ở đây tác giả từ ngoài núi tiến vào trong núi, từ vị trí cực xa, tác giả phóng tầm mắt nhìn về phía Chung Nam, thấy cảnh núi non một dải liên miên không dứt, chạy mãi ra xa. Thế nên, nhìn từ khía cạnh bút pháp, hai câu đầu chính được nắm bắt theo hướng tổng quát, đem toàn cảnh Chung Nam nguy nga, hùng vĩ, tráng lệ đặt vào bức tranh. Hai câu ba và bốn là cảnh gần của Chung Nam, kết quả của góc nhìn ngang; trong đó “bạch vân hồi vọng hợp 白雲回望合” có hướng nhìn từ trước ra sau, còn “thanh ải nhập khán vô 青靄入看無” lại có hướng nhìn từ sau tới trước. Hai câu này cảnh tuy bất đồng, nhưng ý thì liền mạch, đều tập trung nói rõ cảnh trí mông lung huyền ảo, hư huyễn tựa cảnh chốn thần tiên của Chung Nam. Hai câu năm và sáu tác giả đứng trên đỉnh núi Thái Ất, phóng mắt nhìn xuống dưới, nhìn ra xa, cảnh vật núi non trùng điệp, muôn hình vạn trạng đều thâu hết vào trong tầm ngắm của thi nhân, con người ở trong tình trạng ấy ắt nảy sinh cảm xúc “nhất lãm chúng sơn tiểu 一覽眾山小” (đứng trên đỉnh núi cao nhất nhìn thấy những núi khác đều nhỏ). Hai câu cuối cùng viết cảnh sau khi tác giả đã xuống núi quay lại nhìn cảnh núi non mà mình vừa có dịp trải nghiệm, cũng tức từ núi gần nhìn núi xa.

    Toàn bộ bài thơ gồm bốn liên tám câu, mỗi liên là một điểm nhìn, một góc độ, việc cấu hình của tác giả hoàn toàn dựa vào cảnh vật cụ thể, đồng thời cũng tùy theo cảnh vật mà thay đổi góc nhìn, tạo nên hình tượng Chung Nam sừng sững, cao vút, kéo dài theo hướng đông nam, khuyếch trương bề rộng theo hướng bắc nam, khiến đọc xong bài thơ, hình ảnh lập thể của Chung Nam với đầy đủ sự đa dạng, phong phú hiện lên rõ ràng trong trí tưởng tượng của chúng ta. Sở dĩ tác giả có thể làm được điều này, chính bởi trong quá trình lấy cảnh, chọn lựa hình ảnh, tác giả biết tận dụng lối quan sát tản điểm, cũng là lối quan sát sự vật trên mọi phương diện, mọi góc độ.

    Trong quá trình sáng tác thơ ca, chính nhờ biết nắm bắt, tận dụng nét ưu việt của phương thức quan sát tản điểm, các nhà thơ Đường đã sáng tạo những câu thơ vừa hư huyễn không linh, vừa là biểu tượng đỉnh cao cho sự kết hợp giữa thơ tình họa ý. Chẳng hạn thơ Vương Duy có những câu:

    Sơn trung nhất dạ vũ,
    Thụ diểu bách trùng tuyền. (Tống Từ châu Lý sứ quân)

    山中一夜雨,樹杪百重泉。(《送梓州李使君》)

    Tối qua trong núi mưa cả đêm,
    Sáng nay trên ngọn cây treo hàng trăm dòng suối.
    Thủy quốc chu trung thị,

    Sơn kiều thụ diểu hành. (Hiểu hành Ba Hiệp)
    水國舟中市,山橋樹杪行。(《曉行巴峽》)

    Vùng sông nước con người phần nhiều mua bán trên thuyền,
    Cầu trên vách núi tựa như treo trên ngọn cây.
    Song trung tam Sở tận,

    Lâm thượng cửu giang bình. (Đăng Biện Giác tự)
    窗中三楚盡,林上九江平。(《登辨覺寺》)

    Qua song cửa có thể ngắm nhìn bao quát đất đai vùng tam Sở,
    Trên đỉnh rừng thấy dòng Trường giang phẳng lặng như gương.
    Những câu này thảy đều viết về cảnh suối nước, khe nước xa xa, nếu đem tái hiện trên mặt tranh, thật không khác những dòng suối tuôn trào từ ngọn cây. Ở đây kết hợp sự tự do ở góc độ quan sát, sự khéo léo trong cách sắp đặt, dồn nén cảnh vật gần xa, tác giả đã đem cảnh vật kéo hết lên mặt tranh (tất nhiên hình ảnh thảy đều đã được chọn lọc), tạo thành những kỳ quan hiếm thấy trong thơ ca, và cả trong hội họa.

    Cũng chính nhờ sự tự do ở điểm nhìn, ở góc độ quan sát, nhà thơ mới có thể căn cứ vào sở thích, tính cách của mình, đem thiên nhiên mượn vào, hoà nhập vào thơ, vào nghệ thuật, và cả vào cuộc sống thường nhật của mình. Thế nên, trong thơ Đường, chúng ta sẽ thường xuyên thấy các nhà thơ dùng song (cửa sổ), hộ (cửa nhà), liêm (rèm), thiềm (mái hiên), đình, giai (thềm),… làm phương tiện mượn cảnh, dẫn cảnh. Chỉ có điều cảnh vật được dẫn, được mượn ở đây hoàn toàn không chỉ hạn chế trong khoảng không gian ấy, mà luôn có xu hướng kéo xa tới gần, từ gần hiểu xa, khiến vạn vật luôn gắn liền với “tự ngã”, trở thành một phần không thể thiếu của “tự ngã”. Chẳng hạn:

    Họa đống triêu phi Nam phố vân,
    Chu liêm mộ quyển Tây sơn vũ. (Vương Bột, Đằng Vương các thi)
    畫棟朝飛南浦雲,珠簾暮卷西山雨。(王勃《滕王閣詩》)
    Buổi sớm mây từ bến nam bay quanh nóc nhà chạm vẽ,
    Buổi chiều cuốn rèm châu, nhìn thấy cảnh mưa ở núi Tây.
    Chẩm thượng kiến thiên lý,
    Song trung khuy vạn thất.

    (Vương Duy, Hoà sứ quân ngũ lang tây lâu vọng viễn tư quy)
    枕上見千里,窗中窺萬室。(王維《和使君五郎西樓望遠思歸》)
    Giấc mộng bên gối, hồn có thể chu du tận ngoài thiên lý;
    Từ song cửa có thể bao quát cảnh ngàn vạn hộ gia đình.
    Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
    Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền. (Đỗ Phủ, Tuyệt cú)
    窗含西岭千秋雪,门泊东吴万里船。(杜甫《绝句》)
    Cửa sổ ngậm tuyết Tây Lĩnh đọng hàng nghìn năm,
    Trước cửa thuyền Đông Ngô từ muôn dặm đến đỗ.

    Những câu kiểu này trong thơ Đường số lượng nhiều vô cùng, nay tạm không dẫn ra ở đây. Nhưng liên quan đến vấn đề này, vẫn còn một điểm hết sức quan trọng cần nói rõ, đó là, về nguồn gốc của phương thức quan sát tản điểm, hoàn toàn không phải thơ Đường mượn từ hội họa, mà ngược lại, chính hội họa mượn từ thơ ca nói chung và thơ Đường nói riêng. Chúng ta đều biết, từ giai đoạn Ngụy Tấn cho đến đời Đường, mảng tranh sơn thủy của Trung Quốc vẫn ở giai đoạn phát triển sơ khai. Trong Lịch đại danh hoạ ký, Trương Nghiêm Viễn tổng kết lịch sử phát triển của dòng tranh sơn thủy cho rằng, tranh sơn thủy giai đoạn Ngụy Tấn còn hết sức thô vụng, ngay cả tỷ lệ của một số yếu tố cơ bản trong tranh cũng chưa biết xử lý. Tình trạng lạc hậu này thậm chí kéo dài mãi đến giai đoạn Tùy Đường, ở giai đoạn này tuy nói “sơn thuỷ chi biến thủy ư Ngô, thành ư nhị Lý 山水之變始于吳,成于二李” ( tranh sơn thủy bắt đầu có sự biến đổi từ Ngô Đạo Tử, thuần thục dưới tay cha con Lý Tư Huấn(7)), nhưng thời kỳ toàn thịnh của dòng tranh sơn thủy Trung Quốc thực sự phải đợi đến giai đoạn Tống Nguyên. Riêng ở lĩnh vực thơ ca, tình hình hoàn toàn khác hẳn. Ngay từ giai đoạn Nam Bắc triều, các nhà thơ sơn thủy đã tiếp thu quan điểm về tự nhiên của Lão Trang và Huyền học, biết linh hoạt, kết hợp nhiều góc độ trong việc quan sát sự vật trong không gian, đến đời Đường, phương thức chiếm hữu, chinh phục không gian này lại được hoàn thiện thêm một bước, nó không chỉ được sử dụng nhuần nhuyễn trong thơ Đường, mà đồng thời còn đem kỹ pháp của mình truyền thụ cho các ngành nghệ thuật khác, trong đó có các họa gia thuộc trường phái tranh sơn thủy.
    Nói đến đây, lại phát sinh một vấn đề nữa cần giải quyết, đó là, khi chưa xuất hiện lối tiếp cận, biểu hiện không gian theo lối tản điểm, người Trung Quốc biểu đạt không gian bằng cách nào? Về vấn đề này, theo ý kiến cá nhân của chúng tôi, có lẽ có hai cách chủ yếu: một là cách triển khai không gian theo tứ phía đông tây nam bắc, lấy chủ thể trữ tình làm trung tâm; hai là theo hướng “đăng cao nhi năng phú” (lên cao thì có thể làm thơ) của Nho gia. Hai cách này, ở những giai đoạn sau này, đôi khi có sự hòa hợp khá nhuần nhuyễn trong phương thức quan sát tản điểm, đôi khi do thị hiếu riêng của thi nhân, chúng vẫn xuất hiện khá độc lập trong một số tác phẩm thơ(8).
    Ngoài những cách quan sát không gian nêu trên, thi nhân đời Đường còn sử dụng cách “dĩ vật quan vật 以物觀物” (lấy vật quan sát vật), một phương thức quan sát hoàn toàn không có sự tham dự của cá nhân; hiệu quả trực tiếp của phương thức này là làm giảm tối đa tình ý chủ quan cùng lối tư duy phân tích của thi nhân, lấy hư không tiếp vật, khiến vật tự do tự tại, hoàn toàn giữ nguyên bản chất của mình. Không những thế, đôi khi tác giả còn khéo léo ẩn mình sau cảnh vật, không có bất cứ cử động nào, mặc cho cảnh vật tự do tự tại tiến triển; thậm chíđôi khi tác giả như hóa thân vào cảnh vật, biến chính mình thành một trong những cảnh vật trong tác phẩm thơ. Trong các nhà thơ Đường, Vương Duy là người thể hiện thành công nhất ở mảng thơ này. Bài thơ Điểu minh giản của ông viết:
    Nhân nhàn quế hoa lạc,
    Dạ tĩnh xuân sơn không.
    Nguyệt xuất kinh sơn điểu,
    Thời minh xuân giản trung. (Điểu minh giản)
    人閑桂花落,夜靜春山空。
    月出驚山鳥,時鳴春澗中。(《鳥鳴澗》)
    Người thảnh thơi, hoa quế rụng;
    Đêm im lặng, non xuân vắng không.
    Ánh trăng ló dạng, khiến chim núi giật mình;
    Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi.
    Bài thơ Tân Y ổ viết:
    Mộc mạt phù dung hoa,
    Sơn trung phát hồng ngạc.
    Giản hộ tịch vô nhân,
    Phân phân khai thả lạc. (Tân Y ổ)
    木末芙蓉花,山中發紅萼。
    澗戶寂無人,紛紛開且落。《辛夷塢》
    Đầu cành hoa phù dung,
    Trong núi nở ra đài hoa hồng hồng.
    Nhà nơi khe núi tĩnh lặng không người,
    Cứ đua nhau nở rồi lại rụng.
    Cả hai bài thơ đều viết theo hướng “vô ngã chi cảnh 無我之境” (cảnh giới không có sự tham dự của chủ thể trữ tình), tác giả để cảnh vật tự hiển hiện, tự bộc lộ; tất nhiên không thể thật sự vắng đi chủ thể trữ tình, vì một khi vắng đi chủ thể trữ tình thì đồng nghĩa là không thể có thơ, chỉ có điều, ở đây chủ thể trữ tình hoàn toàn ẩn đi, nói đúng hơn, tác giả ở đây chỉ là người len lén chụp lại hai bức tranh sơn thủy này mà thôi.

    Chú thích:
    (1) Xem Aristote (1980), Vật lý học, Thương Vụ ấn thư quán, tr.105.
    (2) Xem Hegel (1980), Tự nhiên triết học (bản Trung văn), Thương Vụ ấn thư quán, tr.41.
    (3) Dẫn từ Lý Hạo (2000), Đường thi đích mỹ học xiển thích, An Huy đại học xuất bản xã, tr.54.
    (4) Xem K.M. Brum (1987), Thị giác nguyên lý (bản Trung văn), Bắc Kinh đại học xuất bản xã, tr.90-91.
    (5) Xem Tông Bạch Hoa (1987), Mỹ học dữ ý cảnh, Bắc Kinh nhân dân xuất bản xã, tr.247-248.
    (6) Xem Quách Hy, Lâm tuyền cao trí, in trong Phan Vận Cáo (2003), Tống nhân họa luận, Hồ Bắc mỹ thuật xuất bản xã, tr.24-26.
    (7) Xem (Nhật) Cương Thôn Phiền (2002), Lịch đại danh họa ký dịch chú (bản Trung văn), Thượng Hải cổ tịch, tr.410-492.
    (8) Bài thơ nhạc phủ đời Hán Giang Nam viết: Giang Nam khả thái liên, liên diệp hà điền điền, ngư hý liên diệp gian.Ngư hý liên diệp đông, ngư hý liên diệp tây, ngư hý liên diệp nam, ngư hý liên diệp bắc. 江南可采莲,莲叶何田田,鱼戏莲叶间。鱼戏莲叶东,鱼戏莲叶西,鱼戏莲叶南,鱼戏莲叶北。(《江南》)Bà i thơ Hòa Thượng tị liên Hàn thực hữu hoài kinh Lạc của Thẩm Thuyên Kỳ viết: Hồng trang lầu hạ đông hồi liễn, thanh thảo châu biên nam độ kiều.Tọa kiến Tư Không tảo tây đệ, khán quân đãi tùng lạc hoa triều. 红妆楼下东回辇,青草洲边南渡桥。坐见司空扫西第,看君侍从落花潮。(《和上已连寒食有怀京洛》) Kim Thánh Thán bình bài thơ này viết: “Xem ông ta sử dụng những chữ ‘đông’, ‘nam’, ‘tây’, khiến độc giả trong lòng, trong mắt đều muốn tranh trước xem cho thỏa thích, thật là bút mặc kỳ tuyệt!”

    TS. Nguyễn Đình Phức

    Leave a comment:


  • Uất Kim Hương
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi M Mít Đặc View Post


    Cô gái ni vừa mới thấy bóng dáng Mít lấp ló, định...quăng mình xuống lầu tự dzận áh!

    Leave a comment:

Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom