Mọi người nam cũng như nữ, ai cũng mong, muốn và mơ tìm được hạnh phúc với người bạn đời ... Vậy thế nào là Hạnh Phúc lứa đôi ??
ketui làm trước nè :
Theo ketui thì Hạnh Phúc lứa đôi rất đơn giãn võn vẹn chỉ 3 chữ thuiiii
Cho và nhận Nếu ai cân bằng được điều này thì sẽ thấy là Hạnh Phúc ...
Các bạn nào có ý kiến gì hay thì góp ý thêm nha
Thông báo Quan trọng
Collapse
No announcement yet.
Hạnh Phúc là gi?
Collapse
X
-
Thiện vs Ác...
Một con tàu du lịch gặp nạn trên biển, trên thuyền có một đôi vợ chồng rất khó khăn mới lên đến trước mũi thuyền cứu hộ, trên thuyền cứu hộ chỉ còn thừa duy nhất 1 chỗ ngồi. Lúc này, người đàn ông để vợ mình ở lại, còn bản thân nhảy lên thuyền cứu hộ. Người phụ nữ đứng trên con thuyền sắp chìm, hét lên với người đàn ông một câu…
Kể đến đây, thầy giáo hỏi học sinh: “Các em đoán xem, người phụ nữ sẽ hét lên câu gì?”
Tất cả học sinh phẫn nộ, nói rằng: “Em hận anh, em đã nhìn nhầm người rồi.”
Lúc này thầy giáo chú ý đến một cậu học sinh mãi vẫn không trả lời, liền hỏi cậu bé. Cậu học sinh nói: “Thầy ơi, em nghĩ người phụ nữ sẽ nói: Chăm sóc tốt con của chúng ta anh nhé!” Thầy giáo ngạc nhiên hỏi: “Em nghe qua câu chuyện này rồi ư?”
Học sinh lắc đầu: “Chưa ạ, nhưng mà mẹ em trước khi mất cũng nói với bố em như vậy.”
Thầy giáo xúc động: “Trả lời rất đúng.”
Người đàn ông được cứu sống trở về quê hương, một mình nuôi 2 đứa con nhỏ trưởng thành. Nhiều năm sau, anh ta mắc bệnh qua đời, người con gái của ông lúc sắp xếp kỷ vật, phát hiện quyển nhật ký của bố.
Hóa ra, lúc mẹ và bố ngồi trên chiếc tàu ấy, người mẹ đã mắc bệnh nan y không còn sống bao lâu nữa, trong giây phút quyết định, người chồng đã giành lấy cơ hội sống duy nhất về mình.
Trong nhật ký viết rằng: “Anh ước gì anh và em có thể cùng nhau chìm xuống đáy biển, nhưng anh không thể. Vì các con chúng ta, anh chỉ có thể để em một mình ngủ giấc ngủ dài dưới đáy đại dương sâu thẳm. Anh xin lỗi.”
Kể xong câu chuyện, phòng học trở nên im ắng, các em học sinh đã hiểu được ý nghĩa câu chuyện này: Thiện và ác trên thế gian, có lúc lắm mối rối bời, khó lòng phân biệt, bởi vậy đừng nên dễ dàng nhận định người khác...
Người thích chủ động thanh toán tiền, không phải bởi vì người ta dư dả, mà là người ta xem trọng tình bạn hơn tiền bạc.
Trong công việc, người tình nguyện nhận nhiều việc về mình, không phải bởi vì người ta ngốc, mà là người ta hiểu được ý nghĩa của trách nhiệm.
Sau khi cãi nhau người xin lỗi trước, không phải bởi vì người ta sai, mà là người ta hiểu được sự trân quý của người bên cạnh mình.
Người tình nguyện giúp đỡ người khác, không phải vì nợ người đó cái gì, mà là vì người ta xem người đó là bạn...
-
Đối mặt - sự cứu vãn và chuộc tội thật sự
Cuối năm 2002, trên một số trang báo của Ý đã xuất hiện một thông báo tìm người rất đặc biệt:
Vào ngày 17/5/1992, ở bãi đậu xe đường số 5, khu thương nghiệp thành phố Avenue, một người phụ nữ da trắng bị một chàng trai da đen cưỡng hiếp. Không lâu sau, người phụ nữ kia đã sinh ra một bé gái da đen. Cô và chồng đã không chút do dự mà gánh vác trách nhiệm nuôi dưỡng bé gái này.
Tuy nhiên điều không may chính là, hiện tại cô bé bị bệnh máu trắng, cần phải làm phẫu thuật cấy ghép tủy gấp, ba ruột của cô bé chính là niềm hy vọng duy nhất để cứu sống cô, hy vọng người năm xưa sau khi đọc được lời nhắn này, hãy mau chóng liên hệ với bác sĩ Adrew làm việc tại bệnh viện Elizabeth.
Bản tin tìm người này đã dấy lên một làn sóng dư luận trong xã hội
Tiêu điểm thắc mắc của mọi người chính là: “Người da đen này sẽ đứng ra hay không?”
Hiển nhiên anh ta sẽ phải đối mặt với hai sự lựa chọn, nếu đứng ra, anh ta sẽ đối mặt với việc mất hết danh dự, gia đình tan nát; nếu giữ im lặng, anh ta một lần nữa sẽ phạm phải tội lỗi… không thể tha thứ được.
Đây là một câu chuyện có thật, và câu chuyện này sẽ có kết cục như thế nào?
Cô bé bị bệnh máu trắng và một bí mật…
Ở một khu dân cư thuộc thành phố Foyer nước Ý, Marda 35 tuổi là người phụ nữ luôn bị mọi người xì xào bàn tán. Bởi cô và chồng cô Peters đều là người da trắng, nhưng trong hai đứa con của họ, lại có một đứa là da đen.
Hiện tượng kì quặc này đã khiến cho những người hàng xóm bên cạnh không khỏi cảm thấy tò mò, Marda luôn cười nói với họ rằng, do bà nội của mình là người da đen, ông nội là người da trắng, nên đứa con gái Monica mới xuất hiện sự lại giống như vậy.
Mùa thu năm 2002, cô bé da đen Monica liên tục bị sốt cao. Cuối cùng bác sĩ Andrew chuẩn đoán Monica bị bệnh máu trắng, biện pháp chữa trị duy nhất là làm phẫu thuật cấy ghép tủy.
Bác sĩ phân tích: “Hết thảy những người có quan hệ huyết thống với Monica, hãy đến bệnh viện để làm xét nghiệm tủy xương, bởi những người như vậy là dễ dàng tìm được mẫu tủy thích hợp nhất, cả nhà và người thân họ hàng của hai bên, tốt nhất đều nên đến bệnh viện để làm xét nghiệm”.
Nghe thông báo này, mặt Marda bỗng tái nhợt, nhưng vẫn bảo cả nhà đến làm xét nghiệm tủy xương, kết quả không có ai thích hợp cả.
Bác sĩ lại nói với họ, tình huống giống như Monica, tỉ lệ để tìm được tủy thích hợp thật sự là rất nhỏ.
Bây giờ vẫn còn một biện pháp hữu hiệu nhất, chính là Marda và chồng cô sinh thêm một đứa bé nữa, lấy máu trên cuống rốn của đứa bé này truyền cho Monica.
Hai vợ chồng này nghe xong, im lặng một hồi lâu… Cuối cùng họ nói: “Cho chúng tôi thời gian suy nghĩ”.
Buổi tối Thứ Hai, bác sĩ Andrew đang trực ban, bỗng cửa phòng bị đẩy ra, là vợ chồng Marda.
Marda cắn chặt môi, chồng cô Peter nắm chặt lấy tay cô, vẻ mặt nghiêm túc nói với bác sĩ: “Chúng tôi có một chuyện muốn nói với ông, nhưng ông hãy hứa là sẽ giữ bí mật cho chúng tôi, bởi vì đây chính là bí mật lâu năm của vợ chồng chúng tôi”.
Ông bác sĩ trịnh trọng gật đầu.
“Chuyện xảy ra vào tháng 5/1992. Lúc đó, con gái lớn của chúng tôi Jelena đã được 2 tuổi, Marda làm việc trong một quán ăn, đến 10 giờ tối mỗi ngày mới được về nhà.
Buổi tối hôm đó trời mưa rất to, khi Marda tan ca trở về thì trên đường đã gần như không còn ai nữa.
Khi đi ngang qua một bãi đậu xe bị bỏ hoang, Marda nghe thấy sau lưng có tiếng bước chân, cô sợ hãi quay đầu lại nhìn, thì thấy một chàng trai da đen đang đứng phía sau cô. Anh ta tay cầm một khúc cây, đánh cô ngất đi, và làm nhục cô.
Đợi đến khi Marda tỉnh lại, loạng choạng trở về nhà thì đã hơn một giờ sáng, tôi lúc đó tựa như đã phát điên lên, xông ra ngoài để tìm người da đen kia tính sổ, nhưng từ sớm đã không có một bóng người nào ở đó cả.
Buổi tối hôm đó, hai vợ chồng chúng tôi ôm nhau khóc thảm thiết, cả bầu trời dường như đều đã đổ sập xuống”.
Kể đến đây, mắt của Peter ướt nhòe.
Anh kể tiếp:
“Không lâu sau đó, Marda phát hiện mình đã mang thai.
Chúng tôi vô cùng sợ hãi, lo sợ rằng đứa con này chính là của người da đen kia. Marda muốn phá bỏ cái thai này đi, nhưng lòng tôi vẫn ôm một tia hy vọng, biết đâu đứa bé trong bụng này chính là con của chúng tôi thì sao.
Cứ như vậy, chúng tôi đã thấp thỏm chờ đợi mấy tháng.
Tháng 3/1993, Marda hạ sinh một bé gái, là da đen. Chúng tôi đã hoàn toàn tuyệt vọng, cũng từng nghĩ rằng sẽ đem đứa bé này giao cho viện mồ côi, nhưng mỗi lần nghe thấy tiếng khóc của nó, chúng tôi lại không nhẫn tâm.
Nói cho cùng thì Marda cũng đã mang thai nó, nó cũng là một sinh mệnh mà. Tôi và Marda đều là những tín đồ Cơ Đốc thành kính, sau cùng chúng tôi đã quyết định nuôi dưỡng nó, đặt tên cho nó là Monica”.
Khóe mắt của bác sĩ Andrew cũng đã cay cay, ông cuối cùng đã hiểu vì sao đôi vợ chồng này lại sợ sinh thêm một đứa con như vậy.
Ông gật đầu tựa như đang suy nghĩ: “Nếu đã như vậy, dẫu cho ông bà có sinh thêm 10 đứa nữa, cũng rất khó sinh ra được đứa bé có tủy xương thích hợp với Monica!”
Ông nhìn Marda, như thử thăm dò, nói: “Ông bà phải tìm được cha ruột của Monica, nói không chừng tủy xương của anh ta, hoặc tủy xương của con cái anh ta có thể thích hợp với Monica.
Nhưng… ông bà có bằng lòng để cho anh ta xuất hiện trong cuộc đời mình lần nữa hay không?”
Marda nói: “Vì con, tôi bằng lòng tha thứ cho anh ta, nếu như anh ta chịu bước ra để cứu đứa bé, tôi thề sẽ không khởi tố anh ta”.
Bác sĩ Andrew không khỏi chấn động sâu sắc bởi tấm lòng lòng thương con của người mẹ này.
Marda và Peter suy nghĩ hết lần này đến lần khác, quyết định dùng hình thức giấu tên, để đăng một bản tin tìm người trên báo.
Tháng 11/2002, trên các tạp chí thành phố Foyer đều đăng một bản tin tìm người đặc biệt như miêu tả ở trên, bản tin khẩn cầu kẻ cưỡng gian đó hãy bước ra, vì đó là hy vọng cuối cùng đối với mạng sống của bé gái bị bệnh máu trắng đáng thương kia.
Bản tin tìm người đặc thù này đã dấy lên một làn sóng hiến tủy khắp cả nước. Nhưng trong biển người mênh mông, huống hồ chuyện đã nhiều năm như vậy, biết đi đâu để tìm tên cưỡng gian năm xưa?
Bản tin vừa được đưa ra đã gây nên tiếng vang mạnh mẽ trong xã hội. Thùng thư và điện thoại của bác sĩ Andrew mỗi ngày đều không thiếu những cuộc gọi khắp nơi trong nước, mọi người tranh nhau dò hỏi người phụ nữ này là ai, họ rất muốn được gặp cô, hy vọng có thể chung tay giúp đỡ cô.
Nhưng Marda đã cự tuyệt sự quan tâm của mọi người, cô không muốn tiết lộ họ tên của mình, càng không muốn để cho người khác biết Monica chính là con gái của kẻ cưỡng hiếp kia.
Lúc này giới truyền thông đối với kết cục của sự việc này đã tiến hành thảo luận trước. Các trang của tờ La Mã bình luận: “Người đàn ông da đen này sẽ xuất hiện không? Nếu như người đàn ông da đen này dũng cảm bước ra, vậy chúng ta sẽ nhìn nhận và đối đãi anh ta như thế nào? Pháp luật của chúng ta nên trừng phạt anh ta như thế nào?”
Anh ta vì tội ác của ngày hôm qua mà nhận sự trừng phạt, hay là vì sự dũng cảm của ngày hôm này mà nhận được lời tán dương?
Tin tức Foyer tiếp tục được đăng tải: “Nếu bạn là người đàn ông da đen đó, bạn sẽ làm thế nào?”
Những thảo luận này, đã khởi lên một làn sóng tranh luận khó cả đôi đường đối với quần chúng độc giả rộng lớn.
Tình mẹ thương con này đã cảm động vô số người, cũng đã tình cờ giúp đỡ những bệnh nhân khác
Cai ngục ở vùng đó cũng tích cực giúp đỡ Marda. Họ đã cung cấp danh sách tội phạm từ sau năm 1992 cho bệnh viện, bởi người da đen trong thành phố này rất ít, vậy nên, kể từ 10 năm trước thì tội phạm da đen cũng không nhiều.
Họ nói với Marda rằng: “Mặc dù có một số tội phạm năm đó không phải vì phạm tội cưỡng hiếp và bị tuyên án, nhưng cũng có khả năng từng làm qua những chuyện như vậy”.
Có những người đã ra ngục rồi, có một số người vẫn còn ở trong ngục, Marda và Peter đã kết nối liên lạc với những người này, không ít tội phạm đã bị tình mẹ thương con của cô làm cho cảm động, bất luận là người da trắng hay da đen, họ đều tự nguyện trình báo để làm xét nghiệm tủy xương, hy vọng có thể hiến tủy cho Monica, nhưng trong số họ cũng không có tủy xương thích hợp.
Rất nhiều tội phạm năm đó đều bày tỏ sự chân thành và quan tâm sâu sắc, họ đều cung cấp manh mối cho vợ chồng Marda.
Nhưng đáng tiếc thay, họ đều không phải là người da đen cưỡng hiếp năm đó.
Câu chuyện này cũng đã làm cảm động rất nhiều người dân, không ít người tự nguyện làm xét nghiệm tủy, để xem tủy xương của bản thân mình có thích hợp hay không.
Người tình nguyện càng lúc càng nhiều lên tạo thành một làn sóng hiến tủy của những người tình nguyện tại thành phố Foyer, làn sóng ấy đã cứu được khá nhiều sinh mệnh của những người bị bệnh máu trắng, nhưng Monica lại không nằm trong số những người may mắn này.
Marda và Peter vẫn hồi hộp lo lắng mà chờ đợi người da đen kia xuất hiện…
Hơn hai tháng trôi qua, người này vẫn không xuất hiện
Hai vợ chồng thấp thỏm không yên, nghĩ rằng, cũng có thể người đàn ông da đen kia đã không còn trên cõi đời này nữa?
Cũng có thể đã rời khỏi quê nhà, từ lâu đã không còn ở Ý nữa rồi?
Cũng có thể anh ta không muốn hủy hoại cuộc sống của chính mình, nên không muốn bước ra?…
Nhưng bất luận như thế nào, chỉ cần Monica còn sống một ngày, họ sẽ không từ bỏ hy vọng tìm kiếm người đàn ông da đen kia.
Sau khi bản tin tìm người đặc thù này xuất hiện trên trang báo ở thành phố Napoli, trong lòng ông chủ 30 tuổi của một nhà hàng cao cấp bắt đầu dậy sóng.
Anh là người da đen, tên Achlia.
Ngày 17/5/1992, trong cuộc đời anh đã trải qua một đêm mưa tầm tã tựa như ác mộng, anh chính là người được nhắc đến trong câu chuyện trên.
Không ai có thể ngờ được rằng Achlia bạc triệu của ngày hôm này từng là một người rửa chén bị người ta sai tới sai lui. Bởi cha mẹ mất sớm, một người không được ăn học nhiều như anh đã phải lăn lộn kiếm sống từ rất sớm.
Người thông minh chăm chỉ như anh chỉ mong sao dùng sự cần cù lao động của mình có thể đổi lấy tiền bạc và sự tôn trọng của người khác, nhưng trớ trêu thay ông chủ của anh là người phân biệt chủng tộc, dẫu cho anh cố gắng thế nào, vẫn luôn phải chịu đánh đập chửi mắng từ ông ta.
Hôm đó là sinh nhật lần thứ 20 của Achlia
Anh dự định sẽ nghỉ làm sớm để đón mừng sinh nhật của mình, không ngờ trong lúc loay hoay đã vô tình làm rơi một cái đĩa, ông chủ túm chặt lấy cổ anh bắt anh phải nuốt hết những mảnh vỡ đó. Achlia căm phẫn dâng trào đã cho ông ta một đấm, rồi xông ra khỏi quán.
Anh vẫn chưa hết căm hận và quyết tâm báo thù người da trắng, buổi tối trên đường trời mưa tầm tã dường như không có một bóng người đi lại, trên bãi đậu xe anh gặp Marda, xuất phát từ sự báo thù về phân biệt chủng tộc, anh đã vô tình cưỡng gian người phụ nữ vô tội đó.
Sau sự việc, Achlia trong lòng thấp thỏm không yên. Ngay tối hôm đó, anh đã dùng số tiền đón sinh nhật của mình mua vé xe lửa đến thành phố Napoli, rời xa khỏi thành phố này.
Về sau, Achlia kiếm được một công việc thuận lợi ở nhà hàng của một người Mỹ, đôi vợ chồng người Mỹ đó rất quý tính cách thông minh cần cù của anh, còn đem cô con gái Lina gả cho anh, về sau thậm chí còn giao cho anh quản lý toàn bộ công việc kinh doanh của nhà hàng.
Mấy năm trở lại đây, anh không chỉ phát triển nhà hàng thành một nhà hàng cao cấp sang trọng kinh doanh thịnh vượng, mà còn có được ba đứa con đáng yêu.
Trong mắt người nhà và người làm, Achlia thật sự là một ông chủ tốt, người chồng tốt và người cha tốt.
Vậy mà trong lòng anh vẫn không sao quên được tội ác năm xưa mà mình đã phạm. Anh luôn cầu nguyện với Thượng Đế xin Người hãy phù hộ người phụ nữ đã từng bị anh làm hại kia, hy vọng cô có thể bình an vô sự sống một cuộc sống hạnh phúc và không bị tổn hại bởi những gì tội lỗi anh đã gây nên. Nhưng anh trước giờ chưa từng đem bí mật trong lòng này nói với bất kỳ người nào cả.
Buổi sáng hôm đó, Achlia đã đọc đi đọc lại bản tin đó đến mấy lần, trực giác mách bảo rằng anh chính là kẻ cưỡng gian được tìm trên tờ báo đó. Anh không bao giờ nghĩ đến rằng, người phụ nữ đáng thương đó cuối cùng đã mang thai và đã nuôi dưỡng đứa con vốn không thuộc về mình.
Cả ngày hôm đó, Achlia mấy lần muốn gọi điện thoại cho bác sĩ Andrew, nhưng mỗi lần điện thoại còn chưa quay xong anh liền vội cúp máy. Trong lòng Achlia đang giãy giụa đau đớn, nếu như đứng ra thừa nhận tất cả, mọi người sẽ biết được quá khứ xấu xa nhất của anh, những đứa con sẽ không còn yêu thương anh nữa, anh sẽ mất đi gia đình hạnh phúc và người vợ xinh đẹp, cũng sẽ mất đi sự tôn trọng của xã hội đối với mình.
Hết thảy những thứ này là kết quả anh đã không ngừng nỗ lực phấn đấu trong suốt mấy năm nay, vất vả lắm mới có được!
Buổi tối hôm đó, khi đang ăn cơm, mọi người trong nhà đều bàn luận về những tin tức có liên quan đến Marda trên báo chí như những lần trước. Người vợ Lina nói: “Em thật sự rất khâm phục người phụ này, nếu như đổi lại là em, em sẽ không có can đảm để nuôi dưỡng con gái do mình bị cưỡng hiếp rồi sinh ra, em càng khâm phục người chồng của cô ấy, anh ta quả thật là một người đàn ông đáng được tôn trọng, lại có thể chấp nhận một đứa con như thế”.
Achlia im lặng nghe những lời đàm luận của vợ rồi đột nhiên hỏi: “Vậy em nhìn nhận kẻ cưỡng hiếp đó như thế nào?”
Người vợ lòng đầy căm phẫn nói: “Em tuyệt đối không thể tha thứ cho hắn ta được, năm xưa đã làm sai rồi, vào thời khắc then chốt của bây giờ, hắn ta lại rụt cổ trốn tránh. Hắn ta thật đúng là quá đê tiện, quá ích kỷ rồi, thật là quá ghê tởm! Hắn ta đúng thật là con quỷ hèn nhát!”
Achlia ngơ ngác lắng nghe, muốn đem tất cả sự thật nói với vợ. Buổi tối hôm đó, do cậu con trai 5 tuổi không chịu ngủ, Achlia lần đầu tiên đã đánh nó một bạt tai. Đứa con trai vừa khóc vừa nói: “Ba là người ba xấu xa, con sẽ không còn quan tâm đến ba nữa. Ba không phải là ba của con nữa”.
Trong lòng Achlia xung đột mạnh, anh ôm chặt con vào lòng, nói: “Ba thật sự xin lỗi, ba sẽ không bao giờ đánh con nữa đâu. Tất cả là lỗi của ba, con hãy tha thứ cho ba, được không?” Nói đến đây, nước mắt Achlia không ngừng trào ra.
Đứa con sợ quá, dường như nó cũng hiểu chuyện, vội lấy tay lau nước mắt và an ủi Achlia: “Được rồi, con tha thứ cho ba. Thầy giáo dạy rằng, đứa bé biết sai mà nhận lỗi mới là đứa bé ngoan”.
Achlia cả đêm trằn trọc không sao ngủ được, anh cảm thấy bản thân mình dường như đang bị dày vò dưới địa ngục, những khung cảnh trong đêm mưa gió tội ác đó và hình bóng của người phụ nữ kia không ngừng đan xen xuất hiện trước mắt, và dường như anh còn nghe thấy tiếng khóc và tiếng gọi đau thương của người phụ nữ kia nữa. Anh không ngừng tự hỏi chính mình: “Mình rốt cuộc là người tốt, hay người xấu đây?”
Nghe thấy hơi thở đều đều của người vợ đang nằm bên cạnh, anh liền mất đi dũng khí để nói ra mọi chuyện.
Ngày hôm sau thần sắc anh cực kỳ tiều tụy, trong lòng càng lúc càng nặng trĩu…
Người vợ rất nhanh đã nhận ra sự khác thường nên quan tâm hỏi han chồng.
Buổi sáng khi đi làm, các nhân viên đều chào hỏi anh thân thiết: “Chào ngài tổng giám đốc!”
Anh sắc mặt tiều tụy chào lại họ, trong lòng cảm thấy toàn là xấu hổ và nhục nhã. Achlia cảm thấy bầu trời dường như đã đổ sụp xuống rồi!
Mấy ngày sau, Achlia không cách nào im lặng được nữa, anh liền gọi điện thoại ẩn danh cho bác sĩ Andreew bằng điện thoại công cộng. Anh cố hết sức để giọng nói của mình trông thật bình tĩnh: “Tôi rất muốn biết bệnh tình của cô bé bất hạnh kia”.
Bác sĩ Andrew trả lời rằng, bệnh tình của cô bé đó rất nghiêm trọng, cuối cùng ông còn thương cảm rằng: “Không biết con bé có thể đợi được đến ngày cha ruột của nó xuất hiện hay không”.
Lời nói này đã chạm đến tận đáy lòng Achlia, tình thương của người cha đã bùng lên từ nơi sâu thẳm trong tâm hồn anh, cô bé đó dù sao cũng là cốt nhục của mình!
Anh quyết định bước ra để cứu Monica, anh đã phạm sai lầm một lần rồi, bây giờ không thể phạm sai lầm tiếp nữa.
Buổi tối hôm đó, anh lấy hết can đảm để nói với vợ tất cả. Cuối cùng anh nói: “Anh rất có khả năng chính là cha ruột của đứa bé đó! Anh phải đi cứu con bé!”
Vợ anh bàng hoàng, căm phẫn, thương tâm, trái tim như vỡ vụn ra khi nghe hết tất cả những điều này rồi nói: “Anh là đồ dối trá!”
Buổi tối hôm đó, cô đã dắt theo ba đứa con, lái xe đến nhà ba mẹ. Khi cô đem hết bí mật của Achlia kể lại với ba mẹ, đôi vợ chồng này lúc đầu cũng vô cùng tức giận, nhưng sau khi nghe xong đã rất mau chóng lấy lại bình tĩnh.
Họ nói với con gái rằng: “Chúng ta nên tức giận về hành vi của Achlia trong quá khứ. Nhưng con có từng nghĩ qua hay chưa, anh ấy có thể bước ra, cần có dũng khí lớn đến dường nào, điều này chứng minh rằng lương tâm của anh ta còn chưa mất đi. Con hy vọng chồng con là một người từng phạm sai lầm, nhưng bây giờ có thể sửa đổi? Hay là muốn một người chồng mãi mãi chỉ biết chôn vùi quá khứ tàn ác?”
Cô đã im lặng không nói gì cả. Ngày hôm sau, trời vừa sáng Lina vội trở về bên cạnh Achlia, nhìn thấy Achlia cặp mắt đỏ hoe, Lina kiên định nói : “Achlia, anh hãy đến chỗ bác sĩ Andrew đi! Em sẽ đi cùng với anh!”
Ngày 3/2/2003, vợ chồng Achlia đã liên lạc được với bác sĩ Andrew. Ngày 8/2, vợ chồng Achlia vội đến bệnh viện Elizabeth, bệnh viện đã làm xét nghiệm DNA và kết quả là anh thật sự chính là cha ruột của Monica.
Khi biết được người đàn ông da đen đã làm nhục mình cuối cùng đã dũng cảm bước ra, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng lăn dài trên má Marda.
Cô đã căm hận Achlia trong suốt 10 năm, nhưng thời khắc này đây cô lại vô cùng cảm động.
Tất cả đều được tiến hành cực kỳ bí mật. Để bảo vệ đời tư của vợ chồng Achlia và vợ chồng Marda, bệnh viện đã không nói ra tên thật và thân phận của họ cho báo chí mà chỉ thông báo với kí giả rằng đã tìm được cha ruột của Monica.
Thông tin này đã khiến toàn bộ người dân thành phố quan tâm đến sự kiện này phấn khởi, họ không ngừng gọi điện thoại và viết thư cho bác sĩ Andrew, nhờ ông gửi sự tha thứ và lòng tôn kính của họ đến người da đen này: “Anh ấy từng là tội nhân, nhưng giờ đây anh ấy là một anh hùng!”
Ngày 10/2, vợ chồng Marda yêu cầu được gặp mặt Achlia. Lúc đầu, anh không có dũng khí gặp họ, nhưng Marda cầu xin hết lần này đến lần khác nên anh mới dám nhận lời.
Ngày 18/2, dưới sự sắp xếp bí mật của bệnh viện, Marda gặp Achlia trong phòng khách của bệnh viện. Đầu tóc của anh vừa mới cắt, khi nhìn thấy Marda, bước chân anh trở nên nặng nề khó bước, sắc mặt tái nhợt hẳn lên. Marda và chồng bước đến, nắm chặt lấy tay anh, ngay tức khắc 3 người khóc không thành tiếng, nước mắt của ba người hòa lẫn vào nhau.
Rất lâu sau, Achlia nghẹn ngào nói: “Xin lỗi, xin lỗi, xin hãy tha thứ cho tôi! Câu nói này tôi đã chôn sâu trong lòng suốt hơn 10 năm nay rồi, hôm nay cuối cùng đã có cơ hội để nói với chị”.
Marda nói: “Cảm ơn cậu đã có thể bước ra. Cúi xin Thượng Đế phù hộ, tủy xương của cậu đã cứu sống con gái tôi!”
Ngày 19/2, bệnh viện xét nghiêm xương tủy đối với Achlia, may mắn thay nó hoàn toàn thích hợp với Monica!
Bác sĩ xúc động nói: “Đây thật sự là kì tích!”
Ngày 22/2/2003, thời khắc mà mọi người chờ đợi từ lâu cuối cùng đã đến, xương tủy của Achlia được cấy ghép vào trong thân thể của Monica.
Một tuần sau đó, Monica khỏe mạnh xuất viện. Vợ chồng Marda đã hoàn toàn tha thứ cho Achlia, mời anh và bác sĩ Andrew đến nhà họ làm khách. Nhưng ngày hôm đó Achlia lại không đến, anh nhờ bác sĩ Andrew mang đến một lá thư.
Trong thư anh vô cùng day dứt nói rằng:
“Tôi không thể quấy nhiễu cuộc sống bình yên của anh chị lần nữa. Tôi chỉ hy vọng Monica và anh chị sẽ sống hạnh phúc bên nhau, nếu như anh chị có khó khăn gì, xin hãy nói với tôi, tôi nhất định sẽ giúp đến cùng! Đồng thời, tôi cũng rất cảm kích Monica, từ một ý nghĩa khác mà nói, là con bé đã cho tôi một cơ hội để chuộc tội, là con bé đã cho tôi có được những khoảnh khắc vui vẻ của nửa cuộc đời còn lại. Đây chính là món quá mà con bé đã tặng cho tôi!”
Có lẽ bạn cũng đã từng làm sai, đi lầm đường, nhưng chỉ cần có lòng sửa lỗi thì bạn có thể bình thản mà đối mặt với chính mình và mọi người!
Tiểu Thiện, dịch từ cmoney
(Tinh Hoa)
Leave a comment:
-
Đâu là hạnh phúc...
Em hỏi anh: " Hạnh phúc ở nơi mô, để em đi tìm!"
Anh bảo: "Hạnh phúc ở đây nè, ngay trong hiện tại, bây giờ và ở đây. "
Em ngơ ngác trả lời: " Em thấy em toàn khổ đau, trước đây, bây giờ và có lẽ ngay cả ngày mai nữa... em cũng sẽ khổ... vậy mà anh bảo ở đây em chẳng thấy. "
Anh hỏi lại : "Thế trong em đang có gì?"
Em bảo: "Trong em toàn là những ký ức của quá khứ mà chỉ toàn là bốp chát đau thương. "
"Rồi trong em còn có những gì nữa?"
Trong em còn có cả những nỗi lo âu và sợ hãi. Em sợ mất cái này cái kia và em đã mất đủ thứ mặc dù em cố nắm thật chặt... như là tình yêu, là bạn bè .... Em thương họ thế cơ mà họ đành lòng bỏ em ra đi. Rồi em khóc.... tôi im lặng nhìn em....! Em đang mỏi mệt và rớt rơi. Tâm trạng vô định ấy đã làm cho em khổ. Tôi thở và tịnh tâm để có thể chia sẻ với em vài điều.
Tôi bảo em : " Hãy nhận diện em đang chạy về quá khứ... thu nhập quá nhiều những chất liệu năng lượng tàn phá, nó gặm nhấm em mỗi ngày... trong từng sát na... nó không để em yên ... cứ như kiến bò và em đã để cho tương lai chi phối mình quá nhiều. Em để cho những nỗi lo chiếm lĩnh lấy mình. Nó làm em mất tự do và đóng khung em vào lối sống mà lúc nào cũng phiền muộn, lo toan. Vì vậy, em không còn một chút niềm tin, một chút sức lực nào.
Em ngồi nghe tôi và có lẽ đã nhận diện được một chút.
Em bảo tôi nói tiếp và tôi đã nói : " Rồi có phải vì những nỗi lo sợ ấy mà em cố gắng tìm đủ mọi cách để giữ, cột chặt nó_những điều em đang có bằng cách quản trị mọi thứ bằng hình tướng. Em không dám để người mình thương tự do vì em sợ họ sẽ bay đi mất. Em không tin là khi họ xa mình họ vẫn nhớ và vẫn lo cho mình nên em cứ xiết chặt hình hài em vào họ. Em không để cho họ một giây phút nào để thở... không một chút khí trời tự do. Cả em và họ đều mệt mỏi để rồi đến một ngày họ quyết định đi thật xa. Khi đó em tiếp tục kết tội rằng : " Rõ ràng họ là kẻ phản bội. " nhưng em trở nên ngang tàng hơn, khổ đau hơn.
"Sao anh biết? " Em hỏi tôi như thế.
Tôi bảo : " Vì anh lắng nghe được tiếng lòng ở nơi em. Vì anh đã bắt bệnh rất nhiều người và họ rất giống em. Họ đau khổ vì họ có tình thương nhưng họ lại chế tác năng lượng yêu thương ấy không đúng. Sự gia giảm trong những vi chất ghen tuông, giận hờn, quan tâm... là một nghệ thuật đòi hỏi sự tinh tế và cần sự lắng nghe thật sâu sắc. Em đã quên mất điều đó và em đã tự ý chế biến một mâm cỗ tình thương mà em cho là hay nhất, tuyệt vời nhất. Em có biết đâu khẩu vị của người mình yêu thương? và đó chính là bi kịch của người đầu bếp chế tác tình thương... bởi vì không biết khẩu vị người thân thương mà em bày biện quá nhiều thứ không hợp. " Nghe đến đó, em òa khóc. Em khóc nức nở... em bảo: "Hãy chỉ cho em một con đường để đi đến hạnh phúc." Tôi chia sẻ : "Hạnh phúc ở đây nè! Bây giờ em hãy dừng lại đi. Em hãy bỏ dần những nỗi buồn của quá khứ, những ký ức đầy gai góc và nước mắt đắng cay. Em giữ lấy nó để làm gì? Còn tương lai đã đi đến đâu? Em đang có gì? Em đang có thân này. Thân người lành lặn. Có nó... em có thể làm được nhiều thứ lắm. Trân quý thân mình đi. Em sẽ thấy giá trị của thân. Thân này dẫu có dơ thì nó cũng là phương tiện chế tác những điều mầu nhiệm khác. Hạt giống hạnh phúc nằm nơi tâm mình. Em hãy tưới tẩm nó đi bằng cách thương mình một chút nữa đi. Thương mình... em sẽ không còn cau mày, không bực bội, không khó chịu, không nổi cơn thịnh nộ vô cớ... và em sẽ biết hiến tặng tình thương và sự tha thứ, bao dung cho người khác. Bởi vì sao, em có biết không? Vì chỉ có khoan dung, tha thứ và hiến tặng tình thương một cách vô tư và không đòi hỏi thì em mới thấy nhẹ nhàng và không phân biệt. Đó là khi em biết mình đang có gì, đang ở đâu, nên làm gì để những hạt giống tham sân si khi ươm mâ`m... sẽ không có cơ hội lớn dậy nữa. Hạnh phúc là ở chỗ đó em à. Em có nghe gì không? Một tiếng chuông tôi vừa gõ để em nhớ là mình có những giá trị ngay hiện tại và em đang nghe tiếng chuông đó. "
ST
Leave a comment:
-
Vì sao ở hiền không gặp lành mà toàn đau khổ...?
Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:
- Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt như vậy
Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:
- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.
Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.
Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:
- Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!
Thầy trả lời:
- Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.
Tôi nói:
- Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…
Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.
Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:
Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.
- Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.
Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!
Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.
Sư phụ tiếp tục mỉm cười:
- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”
Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.
- Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”
Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.
- Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”
- Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.
- Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?
Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.
Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?
Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!
ST
Leave a comment:
-
Chân Hạnh Phúc …
Đây là một bài phỏng vấn của ông Allen Wallace nói về thế nào là chân hạnh phúc đăng trên một tờ báo Phật học. Ông Allen Wallace là một học giả và cũng là một nhà Phật học Hoa kỳ nổi tiếng. Ông đang điều hành những chương trình dài hạn tại Santa Barbara Institute và đại học UCLA, nghiên cứu về sự liên hệ giữa thiền tập và hạnhphúc.
Trong bài này ông chia sẻ và giới thiệu về quyển sách mới của mình có tựa đề là Genuine Happiness, vừa mới được xuất bản. Xin được gửi đến các anh chị. Một buổi sáng đầu thu ở nhà Chuyển Hóa, W. VA
Duy Nhiên
Hạnh Phúc Chân Thật Là Gì?
Thế nào là một hạnh phúc chân thật (genuine happiness)?
Tôi nghĩ ta dùng chữ "con người hưng thịnh" (human flourishing) thì chính xác hơn, vì nó có gốc từ chữ eudaimonia của Hy lạp. Dịch là hạnh phúc chân thật cũng được, nhưng tôi nghĩ "hưng thịnh" (flourishing) thì chính xác hơn.
Và hạnh phúc ấy sẽ mang lại cho ta những gì?
Một cuộc sống có ý nghĩa.
Cái gì làm cho cuộc sống ta có ý nghĩa?
Theo tôi thì đó phải là cho mỗi ngày chứ không phải là chỉ cho một cuộc sống. Tôi thấy có bốn yếu tố cho một ngày hạnh phúc.
Thứ nhất là ngày hôm nay mình có sống trong giới hạnh hay không? Mà ở đây tôi chỉ nói về những luân lý căn bản trong đạo Phật thôi, ví dụ như đừng làm hại ai, đừng nói nặng lời với ai, cố gắng thực tập từ bi và chánh niệm.
Điều thứ hai là tôi cảm thấy hạnh phúc thay vì là khổ đau. Tôi đã gặp những người có tu tập, lúc nào họ cũng biểu lộ ra một sự bình an trong những bước đi của họ, trong lối hành xử của họ đối với những khó khăn trong cuộc sống và khi tiếp xúc với người khác.
Điều thứ ba là đi tìm sự thật, muốn thấy và hiểu rõ được thực tại, chân tướng của chính mình và cuộc sống. Và ta có thể ngồi yên trong căn phòng nhỏ của mình mà vẫn có thể làm hết được những việc ấy. Nhưng có điều là trong chúng ta không có ai là riêng rẽ và độc lập hết. Vì vậy muốn có một đời sống hạnh phúc, ta phải trả lời câu hỏi thứ tư này "Ta mang lại gì cho cuộc đời này?" Nếu tôi có thể nhìn lại một ngày trong đời mình và thấy có đủ bốn yếu tố: giới hạnh, hạnh phúc, sự thật và biết nghĩ đến chung quanh, thì tôi có thể nói rằng "Tôi là một người có hạnh phúc."
Vấn đề hạnh phúc không hề tùy thuộc vào trương mục ngân hàng của ta, hoặc thái độ của vợ hay chồng mình, vào công việc làm hay số tiền lương của ta. Ta có thể sống một đời tròn đầy ý nghĩa, cho dầu nếu ta chỉ còn lại mười phút để sống trên cuộc đời này.
Trong bốn yếu tố ấy không có yếu tố sức khoẻ, như vậy sức khoẻ không là một yếu tố quan trọng sao?
Sự thật là không! Một người học trò của tôi bị mang một chứng bệnh rất hiếm và nan y, mỗi ngày anh ta đều phải vào bệnh viện để chữa trị và được cho thuốc. Và anh phải sống như vậy trọn cuộc đời còn lại của mình. Ta có thể nói rằng "Thật là tội nghiệp và khổ cho anh! Hoàn cảnh thấy đáng thương quá!" Nhưng ngày hôm kia tôi gặp anh, anh bảo tôi, "Allen này, tôi đang 'flourishing' đây!" Và tôi cảm thấy anh thật sự như thế. Anh ta tìm được cho mình con đường đi giữa những giới hạn, và trong những điều kiện nào đang có mặt với anh. Tâm ý anh trong sáng. Anh đọc sách, anh viết bài, anh tăng trưởng. Anh ngồi thiền mỗi ngày, và anh còn dạy thiền cho các bệnh nhân nan y khác trong bệnh viện nữa. Anh ta sống một cuộc sống rất tròn đầy ý nghĩa, và anh có thể thành thật nói rằng mình đang có hạnh phúc.
Bí quyết của anh ta là gì?
Anh ta không đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài mình. Khi chúng ta trông cậy vào địa vị, tiền bạc, vào vợ hay chồng của mình để mang lại hạnh phúc, thì ta sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Vì chúng ta nương tựa vào những gì không phải của mình. Và lại nữa, những người chung quanh cũng đang tranh dành với ta những thứ tiền bạc và địa vị ấy, mà chúng đâu có dư dã cho tất cả mọi người đâu. Đáng buồn là vậy.
Còn điều đáng vui?
Điều đáng mừng là hạnh phúc chân thật không có đem bày bán ở ngoài phố chợ, mà hễ có tiền là ta có thể đi mua về cho mình. Một trong những điều bí mật mà ít có ai khám phá được là: cái hạnh phúc mà ta đang đi tìm ở những chức vụ cao, trong một người chồng hay người vợ gương mẫu, đứa con ngoan, sức khoẻ đầy đủ, việc làm tốt, có an ninh, có diện mạo đẹp… thật ra chúng lúc nào cũng đang có sẵn bên trong ta, chỉ cần ta tiếp xúc mà thôi. Thay vì đi tìm bên ngoài thì tại sao ta lại không thử quay vào tìm bên trong chính mình đi, thử xem sao! Nhưng điều ấy không có nghĩa là ta sẽ không lấy vợ hay chồng, đi mua xe, hay tìm một việc làm cho ưng ý. Nhưng tôi chỉ muốn nói rằng, nếu bạn có hạnh phúc thì hạnh phúc ấy không hề tùy thuộc vào những yếu tố bên ngoài, vì chúng không nằm trong sự kiểm soát của bạn.
Mọi người ai cũng nói rằng tiền bạc, địa vị không mang lại cho mình hạnh phúc, nhưng có mấy ai là thật sự sống như vậy đâu?
Thật ra thì trong thâm tâm chúng ta chưa thật sự có niềm tin. Chúng ta vẫn đi tìm kiếm bên ngoài, đeo đuổi những gì mà ta nghĩ nó sẽ mang lại cho mình hạnh phúc - danh vọng, chức vụ, tình yêu, một sự an ninh về tiền bạc và tình cảm. Chúng ta không có hy vọng và niềm tin vào một hạnh phúc chân thật nào đó. Ta tự nhủ rằng, "Có lẽ một hạnh phúc chân thật không có mặt đâu, nói cho nghe hay ho vậy thôi. Mình thì bằng lòng với một iPod hay một big screen tivi, như vậy là vui rồi. Không đòi hỏi hay cầu mong gì xa xôi hết" Hoặc cũng có người nói rằng, "Thôi đừng nói chuyện hạnh phúc, chỉ ráng qua được ngày hôm nay là đủ khoẻ rồi!" Tôi nghĩ họ cũng đáng thương thật! Như vậy đó có phải là một sự tuyệt vọng không?
Nó là một trạng thái mà tâm ta không còn không gian nữa, ta đánh mất đi một cái nhìn rộng lớn. Tôi nghĩ tới tâm từ, metta. Khi thực tập tâm từ, chúng ta bắt đầu bằng một tình thương với chính mình. Nhưng điều ấy không có nghĩa là "Công việc nào là tốt nhất cho tôi đây? Lương bao nhiêu là xứng đáng với mình đây?" Nhưng chính là, "Làm cách nào để ta được hưng thịnh?" "Ta nên sống cách nào để ta có hạnh phúc, an lạc và có ý nghĩa đây?" Và sau đó, ta nới rộng cái nhìn đó ra, "Làm thế nào để những người đang sống trong khổ đau tìm được một hạnh phúc thật sự đây?"
Shantideva nói, "Những kẻ đi trốn tránh khổ đau lại cứ cắm đầu lao mình vào chốn khổ đau. Chính vì sự tham muốn hạnh phúc mà họ lại vô tình đi phá vỡ cái hạnh phúc mà họ đang có, và xem chúng như kẻ thù." Tại sao lại như vậy? Tại sao chúng ta lại ít ai chọn con đường tu học, nếu như nó có thể mang lại cho mình một hạnh phúc chân thật?
Thật ra câu trả lời là vì chúng ta không hề biết cái gì có thể mang lại cho mình một hạnh phúc thật sự. Sẽ cần một thời gian dài và những kinh nghiệm khổ đau trước khi ta tỉnh thức dậy và ghi nhận được những gì đang xảy ra. Chúng ta bị kết chặt vào những hình tượng, ý niệm trong đầu "Phải chi vợ hay chồng tôi là người như vậy, phải chi tôi có được công việc như vậy, có được một số tiền như vậy, tướng diện tôi như vậy, sức khoẻ tôi như vậy… tôi sẽ có hạnh phúc." Nhưng đó chỉ là một ảo tưởng mà thôi.
Chúng ta chắc ai cũng biết những người có đầy đủ sức khoẻ, có tiền bạc, địa vị, dư thừa tình yêu… nhưng họ cũng vẫn mang đầy khổ đau. Những người đó là thầy của chúng ta, vì họ dạy cho ta một bài học lớn. Họ dạy cho ta thấy rằng, mình có thể trúng một tấm vé số lớn của cuộc đời nhưng vẫn thua trật tấm vé số của hạnh phúc.
Khi Ông nói về một "hạnh phúc chân thật", thì có lẽ ý ông ám chỉ rằng trong cuộc đời còn có những loại hạnh phúc khác nữa? Phải rồi! Chúng ta thường lầm lẫn cái mà đức Phật gọi là Bát Phong, tám ngọn gió xao động của cuộc đời, và cho đó là hạnh phúc. Tám ngọn gió ấy là muốn thịnh mà không suy, muốn vui mà tránh khổ, muốn được khen mà không bị chê, muốn danh vọng mà không bị khinh thường. Nhưng mà ta phải nhớ điều này, thật ra không có gì là sai quấy với lại giàu, vui, được khen, và có danh tiếng hết. Ví dụ như nói về sự giàu có đi: giả sử như nếu ta có một chiếc áo lạnh mới. Nếu như ta bỏ chiếc áo mới ấy đi, ta có là một con
người tốt đẹp hơn không? Lẽ dĩ nhiên là không! Thật ra không có gì là sai quấy với vấn đề được có hết, nhưng nó hết sức là sai lầm nếu ta cho rằng nó có thể mang lại cho mình hạnh phúc.
Hạnh phúc chân thật là tiếp xúc với cái gốc rễ của hạnh phúc, chứ không phải chỉ đi nắm bắt những yếu tố nào mà chúng có thể hoặc không có thể chế tác ra được hạnh phúc. Và sự khác biệt giữa tu tập và đi đuổi bắt theo tám ngọn gió xao động của cuộc đời là ở chỗ đó. Cũng có người đi tu tập vì mục đích muốn thoả mãn ngọn bát phong ấy, muốn tìm được một niềm vui thú trong thiền tập. Họ xem thiền tập như là một tách cà phê, một cuộc chạy bộ thể dục, hay là được mát-xa vậy. Mà thật ra cái đó cũng không có gì là sai quấy hết, nhưng có điều nó rất là giới hạn. Thiền tập có thể làm một việc mà
mát-xa không thể làm được, nó có thể chữa lành được những vết thương trong tâm ta.
Con đường hạnh phúc này dường như đòi hỏi ta phải có một niềm tin và sự buông bỏ rất lớn. Điều ấy hơi đáng sợ một chút. Nếu như tôi buông bỏ hết những thứ bên ngoài ấy thì tôi sẽ trở thành gì đây?
Thật ra chúng ta không cần phải nhảy vào chỗ nước sâu làm gì. Nó cũng giống như là một ngày nào đó tự nhiên ta hứng khởi lên rồi tuyên bố rằng "Thế giới này như căn nhà lửa. Đầy khổ đau. Tôi sẽ từ bỏ hết tất cả để đi tìm một niềm an lạc theo Phật pháp." Rồi độ chừng vài ngày, vài tuần hay giỏi lắm là vài tháng, ta sẽ nói, "Ái chà, cái tu tập này cũng đâu có gì là hạnh phúc hay an lạc gì như họ nói đâu, mà không biết cái iPod, cái tivi hay cô bồ củ của mình đâu rồi nhỉ, có ai biết đâu rồi không?" Vì vậy vấn đề không phải là đột nhiên lập tức mà xả bỏ hết tất cả mọi thú vui, bát phong, của cuộc đời, và chỉ thực tập giáo pháp sâu xa của Phật pháp. Cũng giống như dạy một đứa trẻ mới tập bơi vậy, ta đâu có thảy đứa bé vào chỗ nước sâu rồi xem chuyện gì sẽ xảy ra! Ta tập cho nó bơi ở nơi cạn cho từ từ quen trước. Cũng vậy, ta hãy bước đi chậm mà vững. Bắt đầu bằng ngồi thiền một chút vào mỗi sáng và mỗi tối. Xem nó ảnh hưởng đến một ngày của ta như thế nào. Từ từ ta sẽ nếm được mùi vị của đạo pháp. Ta có thể sẽ cảm thấy rằng, "Cũng thú vị đó chứ! Ta cảm thấy hạnh phúc hơn. Mà không phải chỉ có hạnh phúc thôi, ta còn có chút đạo hạnh nữa. Ta thấy được thực tại rõ ràng hơn. Và nếu muốn, bây giờ ta có khả năng giúp được người chung quanh và cuộc đời hữu hiệu hơn, nhờ sự thực tập của mình." Ta thật sự có hạnh phúc hơn, và ta cũng sẽ có niềm tin vào con đường mình đi hơn. Tám ngọn gió xao động của cuộc đời vẫn thổi, chúng vẫn tiếp tục đến rồi đi. Chúng vẫn có mặt, nhưng bây giờ ta có thể sử dụng chúng để hỗ trợ thêm cho sự thực tập của mình.
Như vậy ta có thể kết luận rằng con đường tu tập của đức Phật không phải chỉ để giác ngộ dưới cội bồ đề, mà là còn để mang lại hạnh phúc cho kẻ khác?
Tôi tin rằng đức Phật đã chứng nghiệm được một điều rất sâu sắc và phi thường dưới cội bồ đề. Nhưng ngài cũng ý thức rằng, sự giác ngộ đó sẽ không có kết quả viên mãn nếu ngài không chia sẻ nó với kẻ khác. Giác ngộ không phải là cho riêng chính mình "Bây giờ thì tôi ngon lành rồi. Xong việc, đến nơi, nghỉ được rồi." Thế giới chúng ta được chuyển hóa nhờ sự có mặt của đức Phật trên cuộc đời này. Nhưng không phải là 49 ngày ngài ngồi dưới cội bồ đề khiến cho cuộc đời này được chuyển hóa, mà chính là 45 năm sau đó, khi đức Phật đi gặp gở và tiếp xúc với hạng bần cùng, vua chúa, bậc chiến sĩ, kẻ ăn mày… gặp ai ngài cũng chia sẻ sự giác ngộ của mình với kẻ khác. Thế cho nên, trở lại bốn yếu tố mà tôi nêu lên ở trên, khi ngồi dưới cội bồ đề là đức Phật phát huy ba yếu tố đầu: đạo hạnh, hạnh phúc và sự thât. Và 45 năm sau đó ngài phát triển yếu tố thứ tư, mang hạnh phúc vào cuộc đời. Và theo tôi đức Phật chính là khuôn mẫu của một cuộc sống hạnh phúc và tròn đầy ý nghĩa.
Nhưng ở đây tôi cũng phải cảnh cáo các bạn trước, đôi khi muốn tiếp xúc với cái hạnh phúc chân thật (genuine happiness) của mình, bạn cũng phải chịu khó bỏ qua cái
iPod và plasma tivi của mình một chút!
Leave a comment:
-
Vạn Pháp Qui Tâm...
Chuyện thị phi trên đời rất nhiều. Người thấy được tâm sẽ được giải thoát, còn không thấy sẽ bị ràng buộc. Cảnh đời không có tốt xấu, tốt xấu ở trong lòng, trong tâm chúng ta.
Có câu: "Thay đổi thái độ, thay đổi cuộc đời". Thái độ ở đây là cách nhìn, góc nhìn, suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm, sự hiểu biết, là tâm. Ở đời dù chuyện gì xảy ra, dù chuyện xấu hay tốt, dù chuyện buồn hay vui, dù thành công hay thất bại, dù hạnh phúc hay đau khổ, dù được khen hay bị chê, chỉ cần ai biết cách sống lạc quan, tích cực thì tâm họ luôn luôn an vui và hạnh phúc.
Trong tâm họ không bao giờ bị ràng buộc vào những chuyện buồn phiền đau khổ, những chuyện xấu, chuyện thất bại, thất tình, mất của cải, lo lắng, sợ hãi,...Họ luôn biết cách thay đổi tâm trạng để luôn có những suy nghĩ tích cực, lạc quan, thấy mọi người là người tốt, người thiện, người lành, người thương yêu mình, người thầy của mình, người giúp đỡ mình hoặc là học được những bài học vô giá..
Dưới mắt của người biết cách sống tích cực, lạc quan, người xấu ác cũng biến thành người tốt, chuyện xấu cũng biến thành chuyện tốt, chuyện buồn cũng biến thành vui, chuyện xui cũng biến thành may mắn, không thuận biến thành thuận, bất hòa thành hòa, hiểm nguy thành bình an, lo lắng sợ hãi thành bình tĩnh sáng suốt, họa cũng biến thành phúc,...
Do vậy mới có câu: "VẠN PHÁP QUI TÂM". Niềm vui và hạnh phúc của mỗi con người đều phụ thuộc vào chính bản thân chúng ta, chứ không phải phụ thuộc vào người khác, vào hoàn cảnh hay bất cứ thần thánh nào cả.
Leave a comment:
-
Ở Trọ Trần Gian...
Nghỉ hè, nghỉ phép, ta thường đi chơi xa, trú ngụ tạm tại khách sạn. Dăm ba bữa nửa tháng, lại trở về nhà. Thường khi về nhà, lọt vào khung cảnh cũ, ngả mình trên chiếc giường quen thuộc, ta luôn luôn cảm thấy thoải mái, thú vị. Khách sạn là cõi tạm, nhà là cõi thực. Cuộc đời này là một cõi tạm. Hầu như mọi người đều nghĩ như vậy. Nhưng cái cõi tạm này, chúng ta tạm trú hơi lâu, quen hơi quen tiếng, nên khó rời. Biết là tạm mà vẫn cứ thích ở... khách sạn!
Ông bạn da đen của tôi, rất tha thiết được chầu Chúa, đạo Cơ Đốc thuần thành, Chủ Nhật nào cũng đi nhà thờ, trong túi không bao giờ quên tờ giấy hai chục đô cúng dường, cuốn Thánh Kinh luôn luôn đeo theo người, nói câu nào cũng mời Chúa về góp tiếng cho chắc ăn. Một bữa, thấy ông vất vả với công việc, tôi giỡn.
“Này, Gabriel, cuộc sống coi bộ nhiều mồ hôi quá nhỉ?”
Bạn tôi cười nhe hàm răng trắng lạnh.
“Đời mà! Chúa đã phán “Con phải đổ mồ hôi trán lấy bát cơm ăn”. Mình cứ phải theo ý Chúa vậy chứ sao.”
Tôi làm bộ tỉnh phán theo.
“Tôi thấy cậu là con cưng của Chúa, sao không xin Chúa cất về ngồi bên chân Chúa cho nhàn hạ cái thân!”
Gabriel lắc đầu quầy quậy.
“Còn sớm quá! Tôi còn mấy đứa con nhỏ phải nuôi, chắc Chúa cũng hoãn cho một thời gian nữa chứ!”
Bạn tôi không nói rõ một thời gian là bao lâu, nhưng bằng vào cái lắc đầu hung hãn như vậy, tôi dè chừng chắc là phải lâu lắm!
Một ông bạn khác, ung thư thời kỳ cuối, con cái đã chồng vợ đâu vào đấy, đời chẳng còn gì phải lo lắng, cuộc sống rất thoải mái về vật chất, nhưng cái đau đớn của tật bệnh thật khôn lường, chép miệng than thở khi tôi tới chơi.
“Mình cũng tới tuổi rồi. Nhưng nếu Trời cho ít năm nữa thì quý hóa quá!”
Sống có vất vả, đau đớn đến thế nào chăng nữa, vẫn cứ thích bám vào cõi tạm. Sao vậy? Bởi vì cái cõi mà người ta gọi là vĩnh hằng, miên viễn, vô ưu... ta chưa hề biết tới chăng? Hay là bởi vì từ cõi tạm bước qua cõi thật đó, người ta phải xuôi tay nằm dưới ba tấc đất hoặc uốn người trong ngọn lửa thiêu? Toàn những trò khó chơi cả.
Nhà sinh học Susanne Wiigh-Maesak, người Thụy Điển, vừa phát minh ra một trò mới. Trò này coi bộ dễ chịu hơn. Thi hài người chết sẽ được làm lạnh cực nhanh đến -18 độ C và sau đó nhúng vào nitơ lỏng có nhiệt độ -196 độ. Thi hài, sau khi được lấy ra khỏi dung dịch siêu lạnh, trở nên giòn tan như kính và vỡ vụn thành một hợp chất dạng bột. Tất cả số nước còn lại được hút vào một khoang chân không, trước khi cho chạy qua một màn kim loại để lọc bỏ tất cả những vật thể còn sót lại (những thứ cấy ghép trong thân thể) chưa phân hủy. Bột thi hài, sau đó, có thể được thiêu đốt, hoặc được chôn trong một quách làm bằng tinh bột bắp, đặt trong hố nông khoảng 30 phân. Sau khoảng một năm, oxy và vi khuẩn sẽ phá hủy chúng hoàn toàn, biến thi hài trở thành cát bụi. Bà Wiigh-Maesak cho biết bà đã đăng ký bản quyền phương pháp này ở 35 quốc gia. Phương pháp này giúp tránh làm vẩn đục môi trường như hai phương pháp thông dụng hiện nay là hỏa thiêu và chôn dưới đất quá sâu làm trì trệ quá trình phân hủy.
Không phải là các nhà sinh học, mấy ông bạn tôi cũng bầy ra nhiều cách... vượt biên từ cõi sống qua cõi chết vui lắm.
Như ông Du Tử Lê chẳng hạn:
Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển
Đời lưu vong không cả một ngôi mồ
Vùi đất lạ thịt xương e khó rã
Hồn không đi sao trở lại quê nhà
Ông Luân Hoán còn cãi cọ với... thinh không:
Không từ đất sao phải về với đất
Thịt xương này không thể mất khơi khơi
Khi tôi chết xin đem giùm thi thể
Chia cho thù lẫn bạn nhậu chơi
Ông Lưu Nguyễn cứ thiên thai lơ lửng:
Mai này ta sẽ ra đi
Người ơi có nhớ có gì nhắn không
Trăm năm mây trắng bềnh bồng
Về nơi đã đến mà lòng thảnh thơi.
Dặn dò rối rít xong các ông ấy đi... uống cà phê. Bởi vì cái chết vẫn chưa trong tầm mắt. Cõi tạm này mới đích thực trong tầm tay. Tạm lâu ngày dễ có ảo tưởng đây mới là cõi thật.
Đời người được bao lâu? Trăm năm trong cõi người ta. Trăm năm? Mấy người được trăm năm? Bà cụ 114 tuổi của kỷ lục Guinness vừa qui tiên, nhà cầm quyền Việt Nam đang vận động cho một cụ bà Việt nam, cũng 114 tuổi, được ghi vào thay thế. Lóng rày, coi bộ Việt Nam ham giữ kỷ lục thế giới dữ. Hết bánh dầy, bánh chưng, bánh tét lớn nhất thế giới (có ở đâu khác làm thứ bánh này không nhỉ?), nay muốn đầu tư vào kỷ lục tới sự sống của con người (bệnh kỷ lục có phải là một biến tấu thời mở cửa của bệnh thành tích ngày cũ chăng?). Kỷ lục là thứ xịn. Thường thường bực trung khó với tới. Ông anh tôi bảo cứ sáu chục cái xuân già là gỡ đủ sở hụi rồi. Thêm được năm nào là bonus của trời đất, cứ hân hoan mà cám ơn!
Trong cái thời gian sống chỉ là tích tắc so với đời sống của vũ trụ, con người quậy như điên. Đủ món ăn chơi. Kèn cựa, khích bác, tranh dành, lừa đảo, xô đẩy, chém giết... nhau. Mỗi người cố thu vén cho riêng mình. Nhà sang, xe xịn, lợi danh, tiền bạc... Mặc sức mà vung tay vung chân. Mặc sức mà lèn cho đầy túi tham. Nhiều người sống trong cái sân si tối tăm trong suốt cuộc sống. Trẻ, tiết vịt còn chảy rần rần trong người, hung hăng con bọ xít đã đành. Già, máu tưởng đã phải nhiễm lạnh mà vẫn cứ sân sân si si phát khiếp.
Như Bà Margaret Ann Thomas-Irving, 58 tuổi, cư dân ở Hartford, Connecticut chẳng hạn. Từ tháng 10/2002 đến tháng 7/2003, trong vòng chưa đầy một năm, đã một mình cướp nhà băng tới 12 lần. Tổng cộng số tiền cướp được là 19 ngàn đô. Vũ khí của bà chỉ là khẩu súng đồ chơi con nít, hoặc ngon hơn, chẳng súng siếc gì cả chỉ dọa nhân viên ngân hàng là trong ví có súng là họ nộp tiền ngon ơ! Cướp có nghệ thuật hơn là hai vợ chồng James Roland Clark, 71 tuổi, và Deloris Jane Clark, 66 tuổi, dân Florida. Ông chồng xách một bao cát vào ngân hàng dọa là chất nổ, bà vợ rồ sẵn máy xe chờ ở ngoài cửa. Cướp xong ông chạy ra phóng lên xe vù mất. Nhờ một gói thuốc nhuộm cho phát nổ sau đó cảnh sát mới tóm được hai ông bà già chịu chơi này.
Bà già Connie Parker, 74 tuổi, cư ngụ ở Nassau, tiểu bang Nữu Ước vừa trúng số độc đắc 25 triệu. Khi đi lãnh thì, sau khi trừ thuế má, bà cầm tay được 7,3 triệu. Bà ôm chặt lấy tiền, nhất định không chia cho ông chồng Kenneth Parker, 77 tuổi, đang bị ung thư phổi thời kỳ cuối. Ông chồng cho biết là ông đã đưa cho bà 20 đô để bà đi mua số nhưng bà cãi lại bà đã mua số bằng tiền riêng của bà. Ông chồng tức giận đâm hai đơn một lúc. Một đơn đòi chia tiền, một đơn xin ly dị sau 16 năm rưỡi chung sống. Rút cục, cụ đi đường cụ tôi đường tôi, và bà Connie phải thỏa thuận chia cho ông chồng một số tiền không rõ là bao nhiêu nhưng, theo tiết lộ không chính thức, là một phần ba số tiền bà lãnh. Thất thập cổ lai hy. Hiếm có thiệt! Sống đã từng ấy tuổi tưởng tay chân đã làm biếng nhấc lên nhấc xuống, ai ngờ vẫn cứ chụp giật như máy. Để làm chi? Ôm về cõi viên mãn chăng? Cõi bình an đó có cần những thứ phù phiếm của cõi tạm này không?
Một cặp vợ chồng già đã trên 80 tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Họ ăn uống kiêng khem và tập thể dục hàng ngày. Không may hai cụ qua đời do một tai nạn xe buýt, họ lên thiên đàng và được thánh Phêrô đón tiếp nồng hậu. Thánh Phêrô đưa hai người đi coi nhà bếp khổng lồ, hồ bơi, phòng tắm hơi, sân chơi golf... Lóa mắt vì sự sang trọng của ngôi nhà, cụ ông hỏi thánh Phêrô.
“Chúng tôi có phải trả tiền cho những thứ này không?”
“Tất cả đều miễn phí, đây là thiên đàng mà!”
Đến giờ ăn, thánh Phêrô đưa hai cụ đến môt phòng ăn sang trọng, thức ăn ê hề. Cụ ông hỏi.
“Thưa Ngài, tất cả các món ăn này cũng miễn phí cả sao?”
“Tất nhiên!”
Cụ ông lại rụt rè hỏi tiếp.
“Chúng tôi có thể ăn tùy thích, không phải lo ngại dư mỡ, đường, cholesterol chứ ạ?”
“Không, tôi đã bảo là cụ đang ở trên thiên đường cơ mà! Cụ có thể ăn uống no say tùy thích mà không sợ bị mập phì, đái đường hay nhồi máu cơ tim gì cả.”
Bỗng nhiên mặt cụ ông trở nên đỏ gay, quay sang cụ bà quát to.
“Tất cả do lỗi của bà! Nếu bà không ép tôi phải ăn uống kiêng cữ và tập thể dục hàng ngày thì tôi đã lên đây sớm hơn mười năm rồi!”
Cái cõi mông lung đó đâu phải chỉ có thiên đường. Những nơi khác có vui như vậy không?
Hai bợm nhậu ngồi bên chai rượu đã cạn quá nửa. Một ông hỏi.
“Ông bạn nghĩ là có thế giới bên kia hay không?”
Ông bạn gục gặc đầu.
“Có chứ! Mà chắc ở bển cũng vui vẻ lắm, nhậu nhẹt lu bù.”
“Sao ông biết?”
“Thì ông thấy đấy. Mấy chả đi có cha nào thèm quay về đâu!”
Dương sao âm vậy. Dân gian vẫn cứ tin như thế. Cái cõi đầy bí ẩn đó được hiểu như là một nối dài của cõi tạm này, cũng có cuộc sống và những cung cách sống cụ thể như nhau. Vậy nên mới có dịch vụ gửi UPS không thiếu thứ gì qua cõi mờ ảo đó. Nhà cửa, xe cộ, quần áo, nồi niêu soong chảo, vàng bạc, tiền đô giấy lớn 100.000, và cả... điện thoại di động nữa! Mấy bà thương chồng cũng không quên gửi những nàng hầu trắng trẻo xinh đẹp xuống cho các ông chồng bớt cô đơn. Dĩ nhiên, trước khi hóa vàng, mấy bà không quên rạch mặt, chọc mù mắt hình nhân để thỏa cơn ghen kéo dài qua hai cõi!
Tin như thế bị coi là tin nhảm. Mê tín! Nhưng mâm cơm cúng ngày giỗ ngày tết chắc có ý nghĩa khác. Không ai nghĩ là người từ cõi kia về ăn như chúng ta ăn (cơm canh còn nguyên đó chứ có hụt đi chút nào đâu!) nhưng làn khói nhang ấm áp mời người quá cố về thụ lộc được hiểu như là một cách tưởng nhớ tới người thân đã bước sang cõi khác trước chúng ta. Tấm lòng thương tưởng của chúng ta thể hiện qua cách cúng những món ăn mà người thân quá cố ưa thích khi còn sinh tiền.
Trong nghĩa trang, một ông dọn cơm canh cúng trên mộ vợ. Một ông người bản xứ thành kính đặt bó hoa trên ngôi mộ bên cạnh. Lễ bái, cầu kinh xong, ông bản xứ hỏi ông Việt nam.
“Bộ ông tin rằng vợ ông có thể về ăn được những thức ăn ông cúng như vậy chăng?”
Ông Việt nam bình thản hỏi lại.
“Bộ ông cũng tin rằng vợ ông có thể về ngửi được bó hoa ông đặt trên mộ kia chăng?”
Chỉ một bước ngắn, chúng ta chuyển từ cõi này qua cõi khác. Ai cũng ngại ngần trước nhịp bước vô định này. Cõi tạm, cõi... khách sạn, chúng ta đã quen nếp sống. Cõi thực, cõi... nhà, chúng ta u u minh minh. Cái bước dùng dằng từ một chỗ đứng cân bằng trên mặt đất sang chỗ chênh vênh mây trời là cái bước mỗi con người phải trải qua. Cái điều chắc chắn sẽ xảy ra này chúng ta không muốn nghĩ tới. Càng thêm tuổi, chúng ta càng làm lơ không muốn nghĩ tới. Không nghĩ thì làm sao mà hiểu được.
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.
(Mai Thảo)
02/2004
Leave a comment:
-
Hãy nói trước khi quá muộn...
Hãy nói với mọi người, những người mà bạn yêu thương, rằng họ rất quan trọng, rằng họ là một cái gì đó rất đặc biệt đối với bạn.
Mint (Dịch từ Cafedito)
Một hôm, cô giáo đề nghị tất cả học sinh ghi tên những người bạn trong lớp của họ vào hai tờ giấy, để một khoảng trống giữa mỗi cái tên. Sau đó, cô nói với họ rằng hãy nghĩ về những điều thú vị, đáng yêu nhất mà họ cảm nhận được về mỗi người bạn cùng lớp rồi ghi những suy nghĩ ấy vào khoảng trống, dưới tên mỗi người, trong cả hai tờ giấy. Sau khi tất cả đã hoàn thành, các học sinh rời khỏi phòng học, mỗi người một tờ giấy trên tay, tờ còn lại cô giáo giữ.
Vài hôm sau, cô giáo đưa cho mỗi học sinh trong lớp một tờ giấy, ghi tên của họ, trong đó ghi lại tất cả suy nghĩ của các bạn trong lớp về họ. Thời gian sau đó, không khí trong lớp tràn ngập những nụ cười thân thiện: "Tôi thật không biết rằng tôi có ý nghĩa với người đó đến vậy", "Mình cũng không hề biết bạn ấy lại thích mình đến vậy"... Sau đó, không ai nhắc lại câu chuyện về những tờ giấy đó nữa. Rồi lớp học cũng kết thúc, giáo viên và học sinh chia tay nhau trong cả niềm vui hoàn thành khóa học lẫn nỗi bâng khuâng vì phải chia xa.
Vài năm sau, một trong số các học sinh của lớp học hy sinh trong chiến tranh. Cô giáo đã đến dự lễ tang. Từ khi chia tay lớp học, cô chưa một lần gặp lại người học trò xấu số này - Mark. Hầu hết các bạn học cũ cũng về dự lễ tang anh ấy. Họ chầm chậm đi vòng quanh chiếc quan tài, một lần cuối nhìn người bạn từng một thời gắn bó với họ. Cô giáo cũng vậy. Khi cô đứng lại, một người lính - từng là đồng ngũ của người chết, đến bên cô, hỏi: "Cô có phải là cô giáo dạy toán của Mark?". Cô đáp: "Vâng". Người lính nói tiếp: "Mark đã kể nhiều về cô".
Sau khi chôn cất Mark, các bạn cũ của anh đã tập trung nhau lại dùng bữa trưa. Cha mẹ của Mark cũng ở đó, họ chờ cô giáo. "Chúng tôi muốn cho cô xem vài thứ" - người cha nói và đưa cho cô một cái ví - "Người ta tìm thấy thứ này trong người Mark khi nó chết. Chúng tôi nghĩ cô có thể nhận ra nó".
Mở chiếc ví ra, người cha cẩn thận lấy ra tờ giấy, được gấp nhiều lần, những nếp gấp đã sờn, chứng tỏ nó đã được mở ra nhiều lần. Không cần xem những dòng chữ trên đó, cô giáo nhận ra ngay đó là tờ giấy mà cô đã chép lại những điều tốt đẹp mà những người bạn cùng lớp đã viết về Mark. "Cảm ơn cô rất nhiều về việc làm này", mẹ của Mark nói, "Cô thấy đấy, Mark đã rất trân trọng nó".
Lúc này, những người bạn cũ của Mark cũng đã tập hợp lại xung quanh họ. Charlie mỉm cười và ngượng ngập nói: "Tôi cũng vẫn giữ tờ giấy của mình. Nó luôn nằm trong ngăn kéo bàn của tôi ở nhà, chỉ cần kéo ra là tôi có thể nhìn thấy nó". Vợ của Chuck cho biết: "Chuck đã yêu cầu tôi phải đặt nó trong cuốn album ảnh cưới của chúng tôi". Marylin cũng hào hững chia sẻ: "Tờ giấy của tôi cũng còn đây, nó luôn nằm trong ví".
Vicki lục trong cặp sách của cô, lấy ra chiếc ví và đưa cho mọi người xem tờ giấy đã cũ của cô: "Tờ giấy này luôn theo tôi, từ đó đến nay. Và tôi nghĩ tất cả mọi người chúng ta cũng đều như vậy". Không kìm được xúc động, cô giáo ngồi sụp xuống và khóc. Cô khóc cho Mark, khóc cho những người bạn của anh, vì họ sẽ không bao giờ còn nhìn thấy anh được nữa.
Trong cuộc đời mỗi con người, những cuộc gặp gỡ thật khó kể hết, nó đến nhanh tới nỗi chúng ta quên rằng cuộc sống sẽ kết thúc vào một ngày nào đó. Chúng ta không ai có thể biết rằng cái ngày đó sẽ đến vào lúc nào. Vì thế, hãy nói với mọi người, những người mà bạn yêu thương và quan tâm, rằng họ rất quan trọng, rằng họ là một cái gì đó rất đặc biệt đối với bạn. Hãy nói với họ, trước khi quá trễ. Và cũng đừng quên rằng, bạn sẽ gặt được kết quả của những gì mà bạn gieo.
Leave a comment:
-
CHỈ LÀ MỘT NẮM TRO...
"Chỉ là nắm tro" không phải là một bài kinh trong kho tàng Phật điển, mà nó là một thực tế. Thực tế ấy tôi đã chạm mắt, đã sờ mó được. Từ đó tôi có một cảm nhận riêng, xin được chia sẻ với tất cả các bạn đồng tu nắm tro này.
Vì là nữ nên Hòa Thượng sắp xếp ở thiền viện ni tức Linh Chiếu. Cụ lớn tuổi nên không nhập chúng, mà ở cái thất trong khuôn viên thiền viện do Hòa Thượng cất cho. Vì thế chúng tôi xem cụ như một thiền sinh ni của viện. Cụ rất siêng tu, không bao giờ lơi lỏng, tự lực lo cho mình mọi việc, ít làm phiền đến chư in. Năm 91 tuổi cụ vẫn tự quét nhà, rửa chén, giăng mùng, không phải nhọc nhằn ai, sáng suốt minh mẫn và rất dễ thương. Đến 92 tuổi cụ mất, ra đi hết sức nhẹ nhàng, không giật mình giật mẩy, không làm kinh động đến đại chúng.
Khi được tin cụ yếu, tôi sang thăm. Cụ nhìn tôi quá đổi hiền lành rồi khép nhẹ đôi mắt, đi hồi nào tôi không hay. Thiền viện lo hết chuyện hậu sự. Hỏa táng xong, buổi chiều tôi cùng chư ni đi lấy cốt. Phần xương cho vào hũ đem về nhập tháp Liên Hoa tại Thường Chiếu, còn lại phần tro quý cô hốt vô bao ni lông đem đến cầu Long Sơn - Bà Rịa.
Tại đây tôi được chư huynh đệ chỉ cho dãy núi Long Sơn thật trầm mặc nằm sâu lắng bên trong. Dòng sông trước mắt cũng trôi chảy yên ả quá chừng, làm như không có chuyện gì phải buồn phải vui. Sạch và trong vắt. Tôi thật bất ngờ về một miền đất gần gũi với mình. Ở đó có một dòng sông tinh khiết, yên tĩnh, như không hề bận tâm tới chuyện phố thị rộn ràng bên ngoài.
Huynh đệ chia nhau nắm tro sau cùng của người pháp lữ cao niên rải xuống dòng sông. Nắng chiều óng ánh chiếu xuống màu áo lam, màu xám tro, màu sông nước, màu trái tim huynh đệ lần chia tay. Đẹp và cảm động vô cùng. Khi tôi bốc nắm tro rải xuống, bụi tro bay bay trong hư không, từ từ tan loảng rồi hòa vào sông nước. Về đến thiền viện, ngồi lặng lẽ trong phòng, tôi như ngộ ra một điều:
Đời người chỉ là nắm tro.
Thật ra chuyện này chúng ta ai cũng biết. Tôi cũng biết. Nhưng mãi đến khi chính bản thân mình cầm nắm tro của bà cụ, mà trước đó mình ngồi một bên, còn nhìn, còn nói, còn cười gọi tên… bây giờ lại là nắm tro, cũng do chính tay mình đem gởi xuống dòng sông. Bỗng dưng tôi cảm nhận sâu sắc về một đời người, chung cuộc của chiếc thân tứ đại, ai cũng như ai, chỉ là nắm tro. Đã là nắm tro thì không có nắm tro nào sang hơn nắm tro nào, không có nắm tro nào vinh quang hơn nắm tro nào, không có nắm tro nào ti tiện hơn nắm tro nào. Tự nhiên bao nhiêu muộn phiền, toan tính trong lòng rớt xuống. Bởi vì mình đã là nắm tro thì không có lý do gì đi phiền não các nắm tro khác.
Chúng ta ít nhiều đã đánh mất cả một quãng đời của mình trong phiền lụy, khổ đau. Cuối cùng tứ đại này không mang theo được vì nó chỉ là nắm tro, chỉ mang theo nghiệp mà thôi. Sao ta không tự hỏi vì cái gì mà ta tạo nghiệp, vì ai mà ta tạo nghiệp ? Vì nắm tro mà tạo nghiệp ! Có vô lý không. Phải chi vì vàng vì ngọc mình tạo nghiệp cũng được đi, nhưng vì nắm tro mà tạo nghiệp thì oan uổng quá. Tạo nghiệp để mưu cầu hạnh phúc, không ngờ lại chuốt quả khổ đau. Bởi vì ranh giới giữa hạnh phúc và khổ đau nằm ở chỗ nào, chúng ta không biết được. Chẳng hạn trời đang nóng mình thèm ăn kem. Ăn được một cây kem thật tuyệt vời, có thể gọi là hạnh phúc. Ăn thêm một cây nữa, cũng còn hạnh phúc. Thêm một cây nữa thì… hết hạnh phúc, bởi vì nó sắp nôn ra đây nè. Nếu ăn kem là hạnh phúc thì càng ăn càng hạnh phúc, ăn một cây hạnh phúc chỉ có một, ăn hai cây hạnh phúc nhân đôi, ăn ba cây hạnh phúc nhân ba. Tại sao ăn ba cây lại hết hạnh phúc? Thì ra chúng ta đã hiểu lầm về hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Là vừa lòng. Tạm định nghĩa ngắn gọn như vậy đi.
Mình cho rằng cái gì vừa lòng, thích thú, thỏa mãn là hạnh phúc, mà không biết rằng cơ thể chúng ta, tâm tư chúng ta không bao giờ thỏa mãn được hết. Khi tham là cứ muốn thêm, mà sự tiếp nhận của thân tứ đại có chừng mực. Đến lúc nó không tiếp nhận được nữa, mà nghiệp tham vẫn lôi kéo, thế là có sự xung đột giữa thân và tâm. Như vậy là mất hạnh phúc.
Phật dạy các pháp chỉ là duyên sinh thôi, chứ không có cái gọi là chân thật trong đó. Chúng ta luôn mong muốn mình sống thì phải được vừa lòng hoài, nhưng các duyên không biết chuyện ấy. Nó cứ đến cứ đi, cứ họp cứ tan theo cách của nó. Mình không vừa lòng thì thôi, nó không chiều mình. Cho nên rốt lại hạnh phúc không có thật. Nó chỉ là ảo giác của cảm thọ.
Cảm thọ có ba:
- Một là thọ khổ. Khi gặp những cảnh trái ý, nghịch lòng chúng ta không thích, gọi là thọ khổ.
- Hai là thọ lạc. Gặp những cảnh vừa ý thuận lòng, chúng ta thích thú sung sướng, gọi là thọ lạc.
- Ba là thọ không khổ không lạc. Khi gặp cảnh bình thường, chúng ta cũng thấy bình thường, gọi là thọ không khổ không lạc.
Trong ba cái thọ này, có một số người thích thọ bình thường. Tại sao? Vì họ bảo có vui thì có khổ. Do sợ khổ nên không dám nhận vui. Lo xa như thế. Thì ra vì né cái khổ mà tránh cả cái vui, chớ không phải giác ngộ cái vui tạm bợ của thế gian vốn không thật. Do đó mà chọn thọ bình thường. Nhưng Phật nói rõ thế này: Ba cái thọ đó đều vô thường, ngay cả thọ bình thường cũng không thường.
Tóm lại, có thọ là có khổ. Chẳng hạn bây giờ mình không buồn cũng không vui, nhưng có chuyện buồn tới mình sẽ buồn. Chúng ta chọn cái bình thường, nhưng ngoại duyên không mãi bình thường được, nó luôn thay đổi.
Ngoại duyên đến từ bên ngoài, chúng ta không thể chủ động được. Trong toàn bộ đời sống, con người chỉ chủ động một phần, còn lại phần lớn là bị động bởi các duyên bên ngoài. Như thời tiết tốt chúng ta thấy bình thường, dễ chịu, nhưng nếu nước lụt lên thì sao? Khổ liền. Các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam bộ lụt hoài, dân mình cứ phải sống theo con nước, hoàn toàn không thể chủ động được. Đâu có ai muốn lụt, nhưng nước vẫn cứ dâng. Đó là duyên bên ngoài. Đến duyên bên trong lục phủ ngũ tạng của chúng ta cũng thế. Có ai muốn bệnh đâu, mà sao vẫn cứ bệnh. Già có bệnh của già, trẻ có bệnh của trẻ. Ngày nay trẻ đã bệnh ké những bệnh của người già. Như vậy thân của mình mà mình nói nó không nghe, biểu đừng bệnh mà vẫn cứ bệnh. Rõ ràng chúng ta mất quyền tự chủ đối với thân tứ đại này rồi. Cho nên Phật bảo thân này không phải của mình. Đã không phải của mình, tại sao người ta nặng nhẹ một chút mình lại nổi sùng? Chúng ta khổ vì chúng ta lầm. Đơn giản vậy thôi. Hàng xóm mích lòng nhau là vì hiểu lầm.
Phật nói thân này là duyên sinh, do bốn chất đất nước gió lửa hợp thành, đó là phần thân, còn phần tâm là do nghiệp dẫn. Chúng ta tạo nghiệp, rồi nghiệp quay trở lại lưu dẫn chúng ta thọ sanh. Cho nên đời quá khứ chúng ta tạo nghiệp gì nhiều, đời sau sanh ra rất quen thuộc với nghiệp ấy. Thương ai nhiều, ghét ai nhiều, nhắc ai nhiều thì đời sau được gặp lại thôi.
Nếu đời quá khứ ta đã là người tu, đời này sanh ra thấy chùa muốn tu ngay. Đời quá khứ là ca sĩ, đời này nghe nhạc là hát. Hát rất hay mà không cần ai chỉ vẽ, vì đã huân tập rồi. Nhiều thiên tài xuất hiện dưới dạng thần đồng, người ta bảo là thiên tư, thật ra nó là dòng nghiệp được nối tiếp từ đời trước.
Tuy nhiên, đạo Phật bảo nghiệp cũng không thật, có thể thay đổi được. Bởi vì nó do duyên tạo tác, luôn thay đổi sinh diệt. Nếu thật thì nó còn hoài và không thể sửa đổi. Song nó luôn biến dịch nên chúng ta có thể thay đổi được. Khi mê chúng ta tạo nghiệp xấu, nhưng tỉnh rồi không tạo nghiệp xấu nữa, mà tạo nghiệp thiện. Ví dụ chúng ta mê nên có tham sân si, nếu sáng suốt tỉnh táo ta sẽ không thèm tham sân si nữa. Điều đó có người đã làm được, như các bậc thánh nhân, cao tăng xưa cũng như nay. Nhờ thế chúng sanh mới có thể tu thành Phật.
Có người thấy tiền thích, có người thấy tiền không thích vì họ không có nhu cầu. Nhu cầu thường không nhất định, do quan niệm và sở thích của mỗi người mà phát sinh. Muốn bớt tham thì bớt nhu cầu. Muốn không tham thì không có nhu cầu. Vậy thôi. Cho nên tham tiền hay không tham tiền, chúng ta làm được, nếu muốn. Giữa hai nghiệp thiện và ác, mình muốn làm ác cũng được, muốn làm thiện cũng được. Làm ác thì nghiệp ác dẫn đi trong đường ác. Làm lành thì nghiệp thiện dẫn đi trong đường lành. Tất cả đều do chúng ta quyết định.
Có người thắc mắc, khi chết rồi đi về đâu ai mà biết được.
Về vấn đề này, chúng ta có thể lý giải sự có mặt của nghiệp qua những gì mình thấy biết trong đời hiện tại. Như một gia đình, cha mẹ sanh ra ba đứa con. Chúng được chăm sóc như nhau, mà ba đứa không đứa nào giống đứa nào. Chúng khác nhau trên mặt mày, trên tánh tình. Tại sao cùng cha cùng mẹ, cùng sống trong một môi trường, cùng nhận sự yêu thương chăm sóc như nhau mà lại khác nhau? Nhiều đứa bé mới hai ba tuổi đã thể hiện những đường nét riêng của nó. Đường nét riêng này ở đâu ra? Đâu có chuyện khơi khơi mà ra, chứng tỏ nó có chủng tử nghiệp từ đời trước. Thêm điều này nữa, chúng ta vừa thấy người nào đó thì mến liền, mặc dù chưa nói chuyện với nhau lần nào. Người ấy có thể dễ mến với mình, nhưng chưa hẳn dễ mến với người khác. Cũng thế, trong trường hợp đối nghịch. Vừa thấy người đó lần đầu, bỗng nhiên ta dị ứng ngay, thì biết oan nghiệp tới rồi. Cho nên lúc ra đi, tâm mình bình an không vấn vương việc gì, không sợ hãi việc gì, không lưu niệm việc gì thì đi thanh thản, theo phước duyên thọ thân sau tốt đẹp. Ngược lại, trước lúc ra đi chúng ta sợ hãi, hoảng loạn, lo nghĩ đến con cháu thì thọ thân sau trong sự trói buộc của nghiệp lực đời trước.
Người Phật tử hiểu đạo rất sợ tạo nghiệp.
Thân này không giữ được vì nó là nắm tro, nhưng nghiệp sẽ quyết định cho vận mệnh nhiều đời của mình. Chúng ta không nên đầu tư vào chuyện chăm chút nắm tro, mà lo chuyển hóa tu tập ba nghiệp của mình. Hơn thua nhau từng tiếng là tạo nghiệp bất thiện. Từ đó lưu vào tâm thức những hình ảnh căm tức sân hận, nguyện gặp lại để trả thì rất nguy hiểm. Đó là một trở ngại trong tiến trình tái sinh, nếu chúng ta chưa giải thoát được.
Ở đây mục đích của người tu là giải thoát sanh tử, nhưng chúng ta không dám đi quá xa với mức độ tu tập thực tế của mình, chỉ mong quý Phật tử chuyển được nghiệp bất thiện thành nghiệp thiện, định tĩnh trước phút lâm chung để có được hướng đi tốt. Sức mạnh của nghiệp rất đáng sợ. Ví dụ người nữ có tật hay cằn nhằn. Thật ra họ không muốn cằn nhằn nhưng khi đã thành nghiệp rồi, vừa gặp chuyện không hài lòng thì cằn nhằn. Cằn nhằn mà không hay mình đang cằn nhằn. Cho nên mới nói bị nghiệp lôi, không kiềm chế được. Cũng như bên nam có tật uống rượu. Uống quen không uống thấy buồn, thấy thèm. Đặc biệt những lúc căng thẳng, bức xúc là đi kiếm rượu uống. Nhiều vị dư biết uống rượu là uống chất độc mà đã nghiền rồi thì không cưỡng lại được. Thế nên vị nào lỡ ghiền rượu mà muốn bỏ thì xin đừng đi ngang quán rượu. Quán rượu đâu có tay mà kéo quý vị, nhưng cái nghiệp nó sẽ kéo. Nghiệp là gì? Là thói quen. Thật đơn giản mà không đơn giản chút nào. Tại sao? Như nghiệp uống rượu, nghiệp đánh bài, nghiệp hút thuốc… muốn bỏ không phải là chuyện đơn giản. Lại nữa, chúng ta không ai thích phiền não nhưng luôn luôn sống trong phiền não.
Tại sao? Tại quen rồi, bỏ không được. Ai bắt chúng ta phiền não? Ta không có câu trả lời vì ta không dám nhận lỗi về mình. Bây giờ muốn giải trừ phiền não, nhất định phải truy nguyên cho ra nguồn gốc của nó. Phiền não từ mình mà ra. Do si mê tăm tối nên ta tạo nghiệp, nghiệp quay trở lại làm tăng trưởng vô minh. Cứ thế xoay vần gốc vô minh càng lớn, nghiệp lực càng mạnh, chúng ta càng bị nó sai sử, chớ không ai bắt mình cả. Đối với phiền não, nhà Phật gọi nó là giặc. Muốn trừ giặc, trước tiên ta phải phát hiện nó thật sớm, sau đó kiên quyết đuổi sạch, không khoan nhượng mới yên ổn được. Vừa nổi nóng lên ta phát hiện ngay, một tên giặc vừa ló đầu ra, dùng gươm trí tuệ chém nhanh. Tự nói giận làm gì cho mệt, không thèm giận. Đó chính là tu tập, là chuyển hóa nghiệp. Việc này cũng phải có lực, nhà Phật gọi là đạo lực. Muốn có đạo lực mạnh phải liên tục huân tu, không đợi gặp cảnh mới tu.
Cái gan của chúng sanh lớn tợn lắm, rất sợ khổ mà chuyên lao vào nhân khổ. Phật nói Bồ-tát sợ nhân chúng sanh sợ quả. Nếu thấy phiền não mệt quá thì đừng thèm phiền não. Thí dụ hồi xưa mình nói chuyện với ai, bất đồng ý kiến là bắt đầu nổi sùng trong bụng, tức thiệt là tức. Bây giờ thấy tức mệt quá mình không tức nữa. Vậy thôi. Ngoài cách đó ra không còn cách nào hữu hiệu hơn. Có người bảo làm không được. Được chứ! Cứ không thèm tức thử coi ai làm gì mình. Thật ra chúng ta không chịu buông cái sân giận mà lại đuổi theo nó, chơi với nó, hòa nhập làm một với nó. Trong tâm cứ bám cứng theo đối tượng làm nhân cho sự tức tối thì làm sao hết tức được.
Như có vị ngồi đây trong lòng đang buồn bực chuyện riêng. Lẽ ra hôm nay không đi nghe pháp mà tại sùng bà hàng xóm quá, đi cho khuây khỏa. Nếu chúng tôi chia sẻ với quí vị rằng đừng thèm sùng bà hàng xóm đó nữa, bỏ đi. Quí vị đồng ý thực tập như vậy. Bà ta đâu có nhảy vô bụng của quí vị cản lại điều ấy. Thành thử do ý chí, do quyết định sáng suốt, do sự thực hành của chúng ta thôi.
Tất cả trạng thái tâm khổ đau là do ta tạo ra, ta lầm chấp. Người kia có quyền thích ngọt, mình có quyền thích mặn, không thể bắt buộc người kia thích giống mình. Cũng không vì người kia thích ngọt, mà ghét người ta. Điều này vô lý. Tất cả các pháp do duyên sinh, không có duyên nào giống duyên nào, chỉ giống nhau ở chỗ chúng đều là tướng sinh diệt. Tướng sinh diệt thì không chân thật, có gì ta lấn cấn với nhau hoài, cuối cùng không ai hơn ai, cũng không ai tồn tại.
Chỉ một thứ tồn tại gây khó cho mình, đó là nghiệp ta đã tạo. Thế mà ta lại quên, cứ tạo hoài. Chính nghiệp tham sân si quyết định cuộc đời tiếp tục của chúng ta. Trong một đời này mình khổ đã ngán rồi, bây giờ gieo nhân để thọ thân nữa thì được khổ nữa. Một lần có thân là khổ, Phật bảo bốn thứ khổ cơ bản của thân là sanh lão bệnh tử, không ai tránh khỏi. Đó là chưa kể tới thành bại hơn thua trong cuộc đời. Thật ra cái chết không đáng sợ, nhưng vì mình mê thân nên sợ chết. Sống thì khổ mà lại không muốn chết. Vậy chớ sống để làm gì? Sống để khổ. Có lạ lùng chưa!
Trở lại vấn đề nắm tro. Khi đang sống đây, dù chúng ta thành công vinh quang cách mấy, cũng không giữ được. Vì sự thành công ấy phải gắn liền với chủ nhân, mà chủ nhân sẽ không còn nữa để nhận sự vinh quang kia. Chủ nhân theo vô thường mà trở thành nắm tro. Tội gì vì một nắm tro mà ta khổ triền miên như vậy. Sao không ngay đây thanh thản, hạnh phúc, bình an, để khi trở về với cát bụi, ta chỉ còn lại sự thanh thản, bình an chớ không phải là nghiệp thức mênh mang. Giả như còn nghiệp chúng ta cũng thọ nghiệp lành, tái sanh vào cõi lành. Nếu hết nghiệp chúng ta không còn đi trong sanh tử, vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau.
Chúng ta cũng nên như thế, sống giữa trùng trùng duyên sinh tương đối, thân này còn không giữ được huống là mọi việc chung quanh. Cho nên người tỉnh ngộ sớm chừng nào thì khỏe chừng đó. Tỉnh ngộ chậm hoặc không khéo tỉnh ngộ thì sẽ khổ đến nhắm mắt. Chẳng những khổ đến nhắm mắt mà cho tới lúc tái sinh vẫn tiếp tục khổ. Chúng ta buông xuống hết những buồn phiền, giận hờn, thương ghét để sống đúng trở lại bản vị của mình. Bên cạnh chùm duyên sinh còn có tánh giác.
Tánh giác ấy chúng ta hiện có đủ, bình đẳng như nhau và vĩnh cửu bất sanh bất diệt. Chúng ta luôn luôn nghe, luôn luôn thấy rõ ràng, đó là tánh Phật thường biết nơi mỗi chúng sanh. Tánh này không ưu tư, không lao lự toan tính, thường tại như vậy. Chỉ khi buông hết các duyên, ta mới nhận ra mình có tánh giác hiện hữu. Bấy giờ còn thân tứ đại cũng vui mà không còn thân tứ đại cũng vui, sống cũng vui mà chết cũng vui.
Trong nhà Phật, người tu giỏi là người buông xả giỏi. Buông tới lúc trong lòng trống rỗng, không còn gì để buông nữa thì sống chết tự tại, vĩnh viễn an vui. Đó là những gì chúng ta cần chia sẻ với nhau.
Thích Nữ Hạnh Chiếu
Leave a comment:
-
Hãy thong thả sống...
Nhiều khi chúng ta sống mà quên bẵng đi là mình có thể chết bất cứ lúc nào. Ta hối hả sống, vui, buồn, khỏe, yếu, ta cứ lướt qua rồi không ngoái đầu lại nhìn chuỗi ngày tháng ta đã tiêu hao của một đời người.
Cho đến khi có một người bạn vừa ngã bệnh, bệnh nặng, không biết sẽ mất đi lúc nào, lúc đó ta mới xa, gần, hốt hoảng gọi nhau. Tưởng như chưa từng có người bạn nào “Chết” bao giờ. Hay ta có một người thân trong gia đình, đang rất khỏe vừa báo tin bị bệnh hiểm nghèo. Gia đình, họ hàng cuống lên, sợ hãi như chưa nghe đến ai nói về cái chết bao giờ, chưa chứng kiến cảnh vào bệnh viện, cảnh tang ma bao giờ.
Cả hai người trên có thể đã ngoài 70 tuổi. Lạ thật! Cái tuổi nếu có chết thì cũng đã sống khá lâu trên đời rồi, sao những người chung quanh còn hoảng hốt thế. Hóa ra người ta, không ai muốn nghe đến chữ “Chết” dù chữ đó đến với mình hay với người thân của mình.
Hình như không ai để ý đến mỗi sáng chúng ta thức dậy, nhìn thấy mặt trời mọc (nếu còn để ý đến mặt trời mọc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua của đời sống mình. Có người vì công việc làm ăn, cả tuần mới có thời giờ ngửng mặt nhìn lên mặt trời. Buổi sáng còn tối đất đã hấp tấp ra đi, buổi chiều vội vã trở về lúc thành phố đã lên đèn, làm gì nhìn thấy mặt trời. Nhưng mặt trời vẫn nhìn thấy họ, vẫn đếm mỗi ngày trong đời họ. Họ tiêu mất cái vốn thời gian của mình lúc nào không biết. Tiêu dần dần vào cái vốn Trời cho mà đâu có hay. Rồi một hôm nào đó bỗng nhìn kỹ trong gương, thấy mình trắng tóc. Hốt hoảng, tiếc thời gian quá! Khi nghe tin những người bạn bằng tuổi mình, bệnh tật đến, từ từ theo nhau rơi xuống nhanh như mặt trời rơi xuống nước, họ vừa thương tiếc bạn vừa nghĩ đến phiên mình.
Thật ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ lại một chút, sẽ thấy “Cái chết” nó cũng đến tự nhiên như “Cái sống”. Đơn giản, mình phải hiểu giữa sống và chết là một sự liên hệ mật thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song từng ngày với cái sống.
Dẫu biết rằng, đôi khi có những cái chết đến quá sớm, nhưng ta cũng đâu có quyền từ khước chết.
Tôi biết có người mẹ trẻ, con của bạn thân tôi. Chị bị ung thư, chị cầu xin Thượng Đế cho sống đến khi đứa con duy nhất của mình vào Đại Học. Chị không cưỡng lại cái chết, chị chỉ mặc cả với Thượng Đế về thời gian vì con chị lúc đó mới lên 3 tuổi. Thượng Đế đã nhận lời chị. Ngày con chị tốt nghiệp Trung Học, chị ngồi xe lăn đi dự lễ ra trường của con và tuần lễ sau chị qua đời. Trong suốt mười mấy năm trị bệnh, chị vẫn làm đủ mọi việc: chị đội tóc giả đi làm, đến sở đều đặn, lấy ngày nghỉ hè và ngày nghỉ bệnh đi trị liệu.
Những bạn làm chung không ai biết chị bị ung thư, ngay cả xếp của chị. Khi họ biết ra, thì là lúc chị không đứng được trên đôi chân mình nữa. Chị sửa soạn từng ngày cho cái chết với nụ cười trên môi. Vẫn vừa đi làm, vừa cơm nước cho chồng con, ân cần săn sóc cha mẹ, hiền hòa giúp đỡ anh em trong nhà, chị mang niềm tin đến cho tất cả những người thân yêu của mình. Sau ba năm chị mất, cậu con trai mỗi năm vẫn nhận được một tấm thiệp sinh nhật mẹ viết cho mình (Mẹ đã nhờ qua người dì gửi hộ). Hôm sinh nhật 21 tuổi của cậu cũng vào ngày giỗ năm thứ ba của Mẹ, cậu nhận được tấm thiệp mừng sinh nhật mình, với dòng chữ nguệch ngoạc, chị viết cho con: "Mừng sinh nhật thứ 21 của con. Hãy bước vui trong đời sống và nhớ rằng mẹ luôn luôn bên cạnh con.". Tôi đọc những dòng chữ mà ứa nước mắt.
Tôi nghĩ đến chị với tất cả lòng cảm phục. Chị là người biết sống trong nỗi chết. Khi không thắng được bệnh tật, chị biết hòa giải với nó để sống chậm lại với nó từng ngày cho con mình. Chắc “Cái chết” cũng nhân nhượng với chị, thông cảm với chị như một người bạn.
Một chị bạn kể cho nghe về một bà bạn khác. Bà này mới ngoài sáu mươi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tính nết vui vẻ, yêu đời. Nhưng khi nào đi ra khỏi nhà bà cũng mang theo một bộ quần áo đặc biệt, đủ cả giầy vớ bỏ vào một cái túi nhỏ riêng trong va-li. Hỏi bà, sao lại để bộ này ra riêng một gói vậy, bà thản nhiên nói: “Nếu tôi chết bất thình lình ở đâu, tôi có sẵn quần áo liệm, không phiền đến ai phải lo cho mình.” Bà mang theo như thế lâu lắm rồi, tôi không biết có khi nào bà ngắm nghía mãi, thấy chưa dùng tới, bà lại đổi một bộ mới khác cho ưng ý không? Giống như người phụ nữ sắp đi dự tiệc hay cầm lên, để xuống, thay đổi áo quần sao cho đẹp. Đi vào cái chết cũng có thể coi như đi dự một đám tiệc.
Tôi nghĩ đây là một người khôn ngoan, sẵn sàng cho cái chết mà bà biết nó sẽ đến bất cứ lúc nào. Bà đón nhận cái chết tự nhiên, giản dị như đi dự tiệc, hay một chuyến đi xa, đi gần, nào đó của mình.
Nhưng không phải ai cũng nghĩ về cái chết giản dị như vậy. Phần đông muốn được sống lâu, nên bao giờ gặp nhau cũng thích chúc cho nhau tuổi thọ. Thích hỏi nhau ăn gì, uống gì cho trẻ trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sống hơn chết. Họ tìm kiếm đủ mọi phương thuốc để kéo dài tuổi thọ. Người ta ức đoán, trong một tương lai rất gần, loài người có thể sống đến 120 tuổi dễ dàng với những môn thuốc ngăn ngừa bệnh tật và bồi dưỡng sức khỏe. Rồi người ta sẽ còn tạo ra những bộ phận mới của nội tạng để thay thế cho những bộ phận gốc bị nhiễm bệnh. Gan, ruột, bao tử v.v... sẽ được thay như ta thay những phần máy móc của một cái xe cũ. Chúng ta, rồi sẽ sống chen chúc nhau trên mặt đất này.
Chỉ tiếc một điều là song song với việc khám phá ra thuốc trường thọ người ta cũng phải phát minh ra những người máy (robot) để chăm sóc những người già này, vì con cháu quá bận (chắc đang chúi đầu tìm thuốc trường sinh) không ai có thời giờ chăm sóc cha mẹ già. Theo tôi, ngắm nhìn hình ảnh một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, đang cô đơn ngồi trong một căn buồng trống vắng, được một người máy đút cơm vào miệng, thật khó mà cảm động, đôi khi còn cho ta cái cảm giác tủi thân nữa.
Nhưng sống như vậy mà có người vẫn thích sống. Một người đàn ông ngoài bẩy mươi, bị bệnh tim nặng, đang nằm trong phòng đặc biệt (ICU) lúc mơ màng tỉnh dậy, nhắn với các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mặc áo mầu đen. Ông kiêng cữ mầu của thần chết. Ông quên rằng thần chết, đôi khi, có thể đến với chiếc áo mầu hồng.
Thật ra, chính nhờ “cái chết” cho ta nhận biết là “cái sống” đẹp hơn và có giá trị hơn, dù có người sống rất cơ cực vẫn thấy cuộc đời là đẹp.
Những bậc thiên tài, những nhà văn lớn đã tự tìm về cái chết khi họ bắt đầu nhìn thấy cái vô vị trong đời sống như nhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và họa sĩ Vincent van Gogh, v.v... Chắc họ không muốn sống vì thấy mình không còn khả năng hưởng hết vẻ đẹp của “cái sống” nữa. Họ là một vài người trong số nhỏ trên mặt đất này sau khi chết để lại tên tuổi trên những trang sử, lưu lại hậu thế, còn phần đông nhân loại, sau khi chết một thời gian, không để lại một di tích nào. Con cháu có thờ cúng được một hai thế hệ, sau đó tên tuổi mờ dần, mất hẳn theo ngày tháng, vì chính những kẻ thờ phụng đó lại tiếp theo nằm xuống cùng cát bụi.
Ðời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích. (Thánh Vịnh)
Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.
Chúng ta cứ thong thả sống từng ngày, khi nào chết thì chết, mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, bông hoa nở rồi bông hoa tàn, thế thôi.
Tại sao ta phải cay cú với cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng của mình, thử hình dung ra một thế giới không có cái chết. Chắc lúc đó chúng ta sẽ không còn không khí mà thở chứ đừng nghĩ đến có một phiến đất cho bàn chân đứng.
(Trần Mộng Tú)
Leave a comment:
-
Bà mẹ ghẻ...
1. Đám giỗ
Ngày giỗ mẹ lần thứ hai mươi lăm, bố lệnh cho bốn đứa chúng tôi phải về đông đủ. Lý do là lễ giỗ bạc, một phần tư thế kỷ chứ có tầm thường đâu. Bố còn dặn đi dặn lại rằng có chuyện quan trọng phải bàn. Chúng tôi đoán già đoán non là chắc bố già rồi, có tí của chìm của nổi nào muốn chia cho con cháu chăng? Thế là bốn chị em chúng tôi cùng với vợ, chồng, cháu nội, cháu ngoại về không thiếu một ai.
Đọc kinh tối xong, quây quần bên mâm cơm mà chúng tôi gọi đùa là mâm cơm cúng, chúng tôi hỏi thăm nhau, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện: chuyện gia đình, chuyện cơm áo gạo tiền, chuyện ngày xưa năm giờ sáng đốt đuốc làm bằng xương cây bô, nhịn đói cuốc bộ đi học, chuyện câu cá, thả diều... Cuối cùng là chuyện “quan trọng” của bố. Bố ngập ngừng, ngọng nghịu như một đứa trẻ lên ba. Khó khăn lắm, bố mới thốt được ba chữ:
-Bố... lấy... vợ...
Phải, chỉ ba chữ thôi, ba chữ mở đầu một vở kịch không đạo diễn, nhưng mang đủ yếu tố bi, hài. Đầu tiên chúng tôi cười ngặt nghẽo, cười ngả nghiêng làm rơi cả đũa bát, cười như chưa bao giờ được cười, cười ra nước mắt. Khi mọi người lấy khăn lau mặt, trận cười mới chấm dứt. Tôi vội lấy điện thoại di động, ghi âm được vở kịch nói như sau:
-Bố ở vậy, nuôi chúng con, bữa đói, bữa no đã hai mươi lăm năm nay. Bây giờ chúng con khôn lớn. Vì sinh nhai, làm ăn xa, phải để bố ở nhà một mình. Nhưng chúng con có để bố thiếu thốn gì không? Sáu mươi bảy tuổi đời, gần đất xa trời rồi, bố lấy vợ không sợ thiên hạ cười cho.
-Cười hở mười cái răng. Với lại “ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình” chứ đâu phải ánh lửa từ trái tim người khác?
-Lại còn tim gan phèo phổi lòng mề nữa cơ đấy?
-Ăn nói thế mà nghe được?!
-Đành rằng “con nuôi cha không bằng bà nuôi ông”, nhưng bố lấy ai xứng đáng để chúng con gọi là mẹ, các cháu gọi là bà?
-Bà Thơ, bạn của ba thời học trung học, được không?
-Cái bà tu xuất ấy hả? Yêu thương gì? Vợ chồng gì? Chắc lại muốn đào, đục, đẽo gì đây?
-Em xin lỗi. Bố mình đau yếu rề rề, hết cao máu lại tiểu đường, hết gai cột sống lại gút. Đồng lương hưu: không, của nổi: không, của chìm: chắc cũng không. Trên răng, dưới cạc tút, đào đục đẽo được đấy?!
-Ông bà nội mất cả rồi, ai đứng chủ hôn cho bố. Không lẽ trên thiệp mời lại ghi là: Trân trọng báo tin lễ thành hôn của cha chúng tôi?
-Cái đó thì dễ thôi.
-Bố có sai lời với ai bao giờ không?
-Không, bố có nhiều thói hư, tật xấu. Nhưng đời bố, các con biết đấy, bố luôn luôn giữ lời, dù là chỉ hứa với một đứa trẻ.
-Bố có hứa gì với mẹ không?
-Hứa gì?
-Cuốn băng video đám cưới bố mẹ, con đã copy sang đĩa VCD, bố muốn coi lại không? Trước mặt cha chủ tế và cộng đoàn, bố đã hứa một cách trọng thể với mẹ, nguyên văn thế này: “Anh Giuse Trần Thạch Cao nhận em Maria Tô Mực Tím làm vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thuỷ với em khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”... Mọi ngày là gì, suốt đời là gì, hả bố?
-Đó là công thức khi cử hành Bí tích Hôn phối. Nhưng theo Giáo luật, khi một trong hai người phối ngẫu mệnh một, mối dây ràng buộc hôn nhân được tháo gỡ.
-Con không nói đến Bí tích và Giáo luật, con chỉ muốn hỏi: Bố có hứa không, bố có giữ lời không?
Nếu đó là lời hứa, thì đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, bố thất hứa. Chúng tôi can ngăn cũng chẳng được. Thế là bố đi bước nữa.
2. Đám cưới
Đám cưới của bố được tổ chức vào một ngày Chúa Nhật để không ảnh hưởng đến công ăn việc làm cũng như việc học hành của con cháu. Nhưng không một ai trong chúng tôi về tham dự được. Mỗi người đều có lý do riêng, mà lý do nào cũng chính đáng, cũng hợp tình, hợp lý. Nhưng tôi biết lý do duy nhất đúng, là không ai muốn về, vì không ai muốn bố lấy vợ, thế thôi. Tuy nhiên, nhưng mà, dù sao chăng nữa..., chúng tôi cũng bảo nhau gom góp được một cây vàng gởi về làm quà đám cưới. Một cây vàng, lại trong thời buổi khó khăn, đâu phải chuyện nhỏ. Cô Út cẩn thận bỏ vào một cái túi gấm nhỏ, khâu chết lại, lại còn nghịch ngợm lấy bút lông, nắn nót viết bốn chữ “trăm năm hạnh phúc” bên cạnh hình hai trái tim lồng vào nhau. Chúng tôi nhìn nhau, cười khúc khích. Chị Cả thẳng ruột ngựa, nghĩ sao nói vậy:
-Già đầu rồi còn ham hố, đòi lấy vợ, lại lấy con mẹ Thơ. Cứ nghĩ tới con đĩ ấy là lộn cả ruột gan, ăn cơm mất ngon. Lại còn...
Chị chưa nói hết câu, đã bị chồng mắng:
-Em phải giữ lời ăn tiếng nói. Muốn hay không thì người ta cũng ở bậc trên, là cha mẹ mình. Bảo người ta là con đĩ, hóa ra bố mình kết thân với người ta, bố mình là thằng điếm, là ma cô hay sao?
3. Đám tang
Bố bị ung thư gan, chắc là do uống rượu và hút thuốc lào nhiều quá. Khi bố chuyển bệnh, chúng tôi về đông đủ. Nhìn dì Thơ cho bố ăn, cho bố uống thuốc, tắm rửa, giặt giũ, dọn dẹp, chăm sóc bố từng li từng tí, chúng tôi mới thấy mình có lỗi với bố nhiều quá, có lỗi với cả dì nữa.
Khi bố lâm chung, dì Thơ bắt mạch tay, mạch chân, còn chúng tôi đo huyết áp và nhịp tim. Bố thều thào:
-Không biết được đâu. Giúp kẻ liệt nhiều nhiều năm, bố biết khi nào bệnh nhân thoát dương là gần rồi đấy.
Bố vừa nói xong thì trán, rồi mặt, rồi người bố mồ hôi đổ ra như tắm. Ông trùm khu phó linh hồn cho bố. Bố dùng chút hơi tàn bảo hát cho bố bài “Lạy Mẹ Xin Yên Ủi”. Mọi người hát đi hát lại. Lần thứ ba, tới câu: “Đến giờ chết xin Mẹ ngự đến bên giường khuyên con” thì bố trút linh hồn.
Bác Hai bảo:
-“Sống dầu đèn, chết kèn trống”, phải lo cho chú Cao không bằng thì cũng đừng thua kém người ta.
Dì Thơ nhỏ nhẹ, nhưng cương quyết:
-Đối với em, và các cháu cũng vậy, di ngôn của người chết là mệnh lệnh tuyệt đối.
Thế là đám tang của bố được tổ chức giản dị theo công thức bốn không: không hoa, không đèn, không kèn, không trống. Dì Thơ kính báo, rồi nhã nhặn và khéo léo từ chối tất cả mọi vòng hoa, liễn, trướng, và mọi phẩm vật phúng viếng. Sự từ chối của dì gặp không ít phiền toái, nhưng khi dì nhỏ nhẹ: “Đó là ý muốn của bố các cháu, gia đình phải tôn trọng”, thì rồi đâu cũng vào đấy cả.
Dì chào đón và cám ơn thân bằng quến thuộc các nơi xa gần một cách vui vẻ, bặt thiệp. Đến nỗi chị Cả lại lỡ lời:
-Đúng là “khác máu tanh lòng”. Bố mình mất, mà bà ấy có đau buồn tí nào đâu!
Dì ra vào, vững vàng sắp xếp mọi việc chu đáo có khi còn hơn cả đàn ông. Nhưng từ khi di quan ra khỏi nhà thì nghị lực của dì tan chảy hết, dì mềm như một cọng bún, sụp đổ hoàn toàn. Dì sụt sùi khóc không thành tiếng, mặt mày xanh như một tàu lá chuối. Dì ngất lên, xỉu xuông không biết mấy lần. Tôi ngộ ra được rằng: Dì yêu bố biết bao.
Tối hôm ấy, về đến nhà, dì Thơ vào phòng nằm vật ra, cánh cửa phòng khép hờ. Tôi sai con bé Bòn Bon mời dì ra dùng cơm. Nó nói bô bô, không ai ngăn kịp:
-Mời bà ngoại ghẻ xơi cơm.
Dì Thơ vừa đi ra vừa lau nước mắt. Con bé Bòn Bon lại bô bô, cũng không ai ngăn kịp:
-Bà ngoại ghẻ lớn rồi còn nhè kìa, mẹ ơi!
Chỉ hai câu nói, đúng hơn chỉ hai lần dùng cụm từ “bà ngoại ghẻ” của đứa trẻ bốn tuổi, đủ tố cáo, lột trần hết tình cảm của chúng tôi đối với dì tệ bạc đến đâu. Dì đã buồn, càng buồn thêm:
-Bố các con là người duy nhất mà dì yêu thương và kính trọng. Chỉ tiếc là dì phận mỏng, Chúa không cho dì săn sóc, phục vụ bố các con nhiều hơn. Dì về đây với bố các con với hai bàn tay trắng, thì dì cũng ra đi trắng tay. Món quà cưới của các con, dì không dùng đến, các con cho dì gởi lại.
Dì đưa cho chúng tôi cái túi gấm nhỏ, khâu chết lại, chưa mở ra lần nào, bốn chữ “trăm năm hạnh phúc” bên cạnh hình hai trái tim lồng vào nhau vẫn còn đó, mới mỉa mai làm sao!
Chị Cả lại phổi bò, nghĩ sao nói vậy, nhưng lần này, tôi tin là chị rất chân thành:
-Dì không phải đi đâu cả, cứ ở đây, hay lên ở với con cũng được. Sống con nuôi, chết con chôn.
Dì Thơ lại rút khăn lau nước mắt.
4. Lời cuối
Dì Thơ ơi! Con mong dì đọc chuyện này. Xin dì xem đây là lời tạ lỗi của chúng con, cho dẫu muộn màng.
ngulãonhân
Leave a comment:
-
"con gái người ta"
Tiệc rửa lon trung úy của tôi chung với tiệc đầy tháng của con gái tôi và “con gái của người ta”.
Con gái của người ta sau 24 giờ sinh ra đã trở thành con gái của tôi và chỉ sinh sau con gái của tôi có 4 giờ tại Bảo Sinh Viện Quân Đội Thành phố Nha Trang năm 1972. Mẹ của nó còn trẻ lắm nhưng lanh lợi sành đời. Cô ta sinh xong mạnh khỏe đi đứng bình thường chứ không nằm liệt như bà vợ tôi. Cô ta nói với vợ tôi cô ta là vợ của một Trung úy Biệt Kích. Anh ta ít khi về nhà và công tác ở đâu không bao giờ nói. Cô ta đi làm sỡ Mỹ ở Chu Lai vì sinh kế sao đó nên nhảy dù với Mỹ. Tai nạn có thai ngoài ý muốn nhưng không biết con của Chồng hay của Mỹ nên cứ sinh xong rồi tính. Con chồng thì để nuôi; con Mỹ thì cho.
Nghe vợ nói lại, tôi sang phòng cô ta gõ cửa xin vào xem đứa nhỏ ra sao. Trong bóng đèn mờ của căn phòng, con bé nằm bó mình trong khăn lông; chỉ lòi cái mặt da trắng đỏ và cái miệng nhỏ xíu hai môi như chu ra làm tôi nghĩ ngay con bé nầy chắc sau nầy hỗn lắm! Tôi không nói gì với cô ta mà về phòng bảo bà vợ tôi:
- Mình xin Con Bé nuôi luôn nhen Em ?
- Làm sau đũ sữa cho 2 đứa? Thiên hạ nói bậy bạ làm sau chịu nổi?
- Cho uống sữa bò; Anh mướn thêm người giúp việc nửa cho em.
- Tùy anh.
Thế là thủ tục Xin của Tôi và đồng ý cho con do cô ta viết được đưa cho Cô Mụ; nhưng sáng hôm sau thì cô ta đã rời khỏi bệnh viện, bỏ con lại mà thủ tục chưa hoàn tất. Ban Xã hội Quân đội cũng dễ dàng hoàn tất nốt thủ tục nhận con nuôi mà làm khai sinh giống như thủ tục khai sinh của con gái của tôi. Đây có lẽ là trường hợp hy hữu một đứa trẽ Lai Mỹ mà khai sinh do hai vợ chồng là người miền Đông và Tây Nam Việt Nam coi như sinh ra. (rất tiếc trong cơn biến loạn di tản năm 75 tất cả hình ảnh đều mất hết. Trong tiệc đầy tháng; 2 đứa bé như cặp song sinh; nhưng một Việt một Mỹ đẹp như thiên thần!); nhưng mà khổ cho thân tôi! Hai đứa trẻ đứa nào cũng đòi bồng một lúc. Đứa trên lưng thì đứa kia phải bế trên tay. Lưng Tôi bị thoái hóa cột sống năm 2000 có lẽ cũng vì hai đứa con ngày một lớn dần mà cứ phải thay đổi đứa trên lưng đứa trên tay mấy năm.
Tháng Tư đen 1975, tôi bị rã ngũ. Tôi không thể về quê ngoại như ước muốn sống ở Rừng Dừa năm xưa vì nay B52 cày nát thành bình địa. Tôi muốn phá hoang trồng lại; nhưng phải trình diện vào tù cải tạo. Một tháng trôi qua, rồi một năm, rồi năm nữa..! Vợ không thấy đi thăm mà con cũng không bao giờ được gặp mặt. Mỗi tháng chỉ có Mẹ tôi được 15 phút thăm nuôi. Hỏi gì mẹ tôi cũng nói tất cả bình an; các con ngoan và khỏe mạnh. Tôi lúc nào cũng nhờ Mẹ lưu tâm cho Thùy An, tên đứa Con Lai Mỹ. Chắc là Nó bị kỳ thị ở trường học và sống với mọi người sẽ rất khó khăn! Mẹ tôi nói con khỏi lo. Nó sống rất tốt học rất giỏi nên được Thầy Cô và bạn bè quí mến. Mẹ tôi lúc nào cũng né tránh khi tôi hỏi đến vợ và con gái của tôi, Thanh An. Tôi đoán có lẽ chuyện gì không tốt đã xảy ra nhưng đành bó tay không biết hỏi ai!
Bốn năm sau tôi được ra tù. Con gái mang 2 dòng máu ôm tôi khóc như mưa; nhưng con gái và vợ tôi thì không thấy đâu nữa. Tôi đoán biết chuyện không hay nên cũng không hỏi mẹ. Cơm chiều xong, con gái xin tôi:
- Ba cho con ngủ chung với Ba đêm nay?
- Ngày thường con ngủ một mình?
- Không Con ngủ với Bà Nội.
- Ừ! nếu con muốn.
Con bé thỏ thẻ kể hết cho tôi nghe. Ba đi rồi mấy tháng sau má dẫn Chị Hai đi với Má về thăm Ngọai mà không cho con đi và từ đó không về nữa. Con hỏi Nội Má con chừng nào về? Nội nói Nội không biết.
Một năm trôi qua; tính ra tôi đi làm “lao động xã hội chủ nghĩa” có nghĩa “ăn cơm nhà làm lao động nặng không công” khoảng hơn 3 tháng. Đào kinh, đắp đường, gánh lúa thuê…v.v.. Cạnh đó là làm thuê, làm mướn đi lao động thay cho người trả tiền để khỏi đi. Tôi hết thời gian quản chế một năm, làm phó thường dân, rồi được đề cử làm Đại Đội trưởng Lao động; chuyên đi kêu người đi lao đông. Ai thấy mặt tôi đến thăm là biết phải cơm gạo nhà đem đi làm không công mấy ngày hay nửa tháng.
Thời chinh chiến; tiền lương của 3 đứa con cho Mẹ, mẹ tôi xài tiện tặn có dư, hễ đủ 1 chỉ thì mua 1 chỉ vàng y; đủ 10 chỉ thì đổi thành 1 lượng. nhét kẹt giường, đào nền nhà, tủ làm 2 nóc để cất vàng. Con thất thế sa cơ Mẹ bán vàng nuôi con. Mẹ cho con vàng để vượt biên.
Năm 1982, tôi và em gái tôi vượt biên. Con gái của tôi nhứt định Ba đâu con ở đó; Con không sợ chết. Con chỉ sợ phải xa Ba! Tôi lái tàu ra khơi lần cuối cùng để một là chết, hai là được thật sự tự do. Tôi thành công sang bến bờ tự do. Con gái tôi bắt đầu vào Trung học; có lẽ nhờ cái máu Mỹ của nó hay sao mà chỉ mấy tháng thì nó nói tiếng Mỹ như súng liên thanh; cứ có dịp là đeo bên tay Cha khi đi chợ hay đi ăn nhà hàng hay có đám tiệc…. Hình ảnh một ông già Việt Nam có một cô gái hoàn toàn Mỹ không thấy có gì lai đeo theo một bên và nhõng nhẽo thì chắc chưa có ai bằng. Tối ngày gặp mặt gọi Daddy; không thấy mặt thì daddy, Ba đâu rồi. Tôi vui với con gái của người ta và là nguồn an ủi cho tôi vui sống. Tôi làm công nhân cho hãng làm phụ tùng xe hơi, lương cũng dư sức nuôi con lên đại học và mua nhà trả góp. Phải mất 5 năm tôi mới trả hết nợ nhà. Năm 1995 con gái tôi thành y sĩ nhãn khoa và có việc làm ngay. Ngày làm lễ Mãn khóa; cầm mảnh bằng trên tay, con gái ôm tôi khóc như chưa bao giờ khóc như thế. Tôi bảo:
- Con vui mừng sao lại khóc dữ thế?
- Cám ơn; Con cám ơn Daddy nhiều lắm; Con đang nghĩ không biết có bao nhiêu ngàn hay chục ngàn đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mà có bằng Đại học như con. Con thương Daddy nhiều lắm.
- Daddy cũng cám ơn Con; nhờ có con mà cuộc sống của Ba mới có ý nghĩa mà vui sống tiếp bấy lâu nay.
Hai Cha Con dị chủng ôm nhau cùng khóc.
Bạn bè của con biết thì không có gì lạ về sự khắng khích của Hai Cha Con Việt Mỹ nầy; nhưng những người xa lạ thì hiếu kỳ nghĩ suy lung tung nhưng không thể nào ra được đáp án. Cha Việt sao con Mỹ mà không có chút gì là dáng vẻ Việt Nam.
Tôi đi làm đem cơm theo ăn nay làm thêm phần cho con gái. Lương của con gái đưa hết cho tôi và chỉ lấy 100 bạc để đổ xăng và ăn quà vặt. Khi cần mua sắm gì thì nói xin. Tôi từ chối cách nào cũng không được nên mỡ một sổ bank riêng bỏ hết tiền của con gái đưa để khi nó cần đưa lại cho nó. Hai năm sau, em Gái của tôi bán 2 cái nhà cũ để mua cái nhà lớn hơn, tôi bảo con gái vay tiền ngân hàng mua cả 2 cái. Vì không vay được một lúc gần nửa triệu bạc nên tôi dùng cái nhà tôi để thế chấp vay mua 2 cái nhà cho con gái đứng tên và cho mướn.
20 năm trôi qua nhanh. Lưng của tôi bị thoái hóa cột sống nên đau càng ngày càng nhiều. Chân tôi bắt đầu bị tê. Lái xe lúc nào chân cũng phải nhịp nhịp thử coi còn hoạt động được hay không; nhỡ bị tê khi cần thắng mà không xử dụng được thì nguy to. Tinh thần tôi bị hoảng loạn khi nghĩ đến lúc không cữ động được tay chân bởi dây thần kinh bị gai xương sống ép nên không hoạt động được. Mổ xương sống thì xác xuất rủi ro khá cao; nên khi còn gượng đi đừng được tôi không chịu mổ để cắt gai cột sống. Con gái thì đeo theo một bên ít đi chơi ít giao thiệp với bạn bè. Đi làm về là quanh quẩn bên Cha làm tôi thêm lo lắng.
- Sao Con không có bạn trai? Con lập gia đình cho ba yên tâm!
- Ai bảo Ba con không có bạn trai. Bạn trai của con đang ghi tên học tiếng Việt; bao giờ nói được tiếng Việt con sẽ đem về ra mắt Ba. Anh ta người Đức nhưng sinh trưởng ở đây và chịu điều kiện phải sống chung với Ba suốt đời; nhưng con thêm điều kiện phải nói được những câu thông dụng tiếng Việt Nam.
- Ba nói tiếng Anh cũng tạm hiểu được mà Con.
Nhưng con muốn con của con sau nầy phải nói được tiếng Việt, nên anh ta ghi tên học một năm tiếng Việt ở Đại học Victoria.
Tuổi 60 cũng đúng lúc tôi được phép về hưu vì là cựu quân nhân nên sớm hơn dân sự 5 năm. Con Gái thì hối thúc Ba nghỉ việc đi; tiền hưu Ba đủ sức tiêu dùng; nếu có cần mua gì hay đi đâu con lo cho ba được.
Tôi xin nghỉ việc về hưu. Sáng nào 5.30AM cũng đi bơi để chữa trị bệnh đau lưng. Con gái cũng đi theo. Sáng nào hai cha con xe ai nấy lái đến hồ bơi. Con tập Gym, cha thì Bơi. Con gái đem quần áo uniform thay đi làm luôn.
Một hôm con gái tôi nói:
- Ngày mai con không đi làm; Ba có muốn con chở Ba đi thăm Bác Hoàn không? Con nghe con gái của Bác nói Bác đã bị đưa vào Viện Dưỡng lão tuần rồi.
- Sau con lại dùng chữ “bị”? Chẵng lẽ Bác Hoàn không muốn vào Nursing home mà bị bắt buộc vào hay sao?
- Bác Hoàn bị stroke té; xe cấp cứu đem vào nhà thương; Bác bị méo mặt và miệng không nói được nên các con của Bác xin Bác sĩ cho vào Viện Dưỡng lão; vì nếu về nhà sau nầy xin vào thì Bộ Y tế sẽ check sức khỏe và trí nhớ khó khăn lắm mới được chấp nhận nên để nhà Thương quyết định thì khỏi phải check gì hết!
- Bác chỉ hơn Ba có 2 tuổi và trí nhớ còn tốt lắm mà! Ừ! Ba với con đi thăm Bác kẻo tội nghiệp; hơn nữa mai mốt Ba có vào sẽ có người thăm lại ba.
- Không bao giờ có chuyện đó Ba đừng mơ; Con không bao giờ gởi Ba vô Viện Dưỡng Lão đâu. Con tập Gym để đủ sức bồng Ba khi Ba cần đến; Con cũng chọn chồng lớn con để phụ với Con. Ba xài Computer và Internet thường xuyên, trí nhớ của ba sẽ không bị Dementia hay Alzheimer.
- Cám ơn con; nhưng con còn công việc và cuộc sống của riêng con.
- Viện Mồ Côi không dành cho con thì Viện Dưỡng Lão cũng không dành cho ba.
- Con nhớ mua trái cây biếu Bác; nhớ đừng mua bánh ngọt vì Bác ấy cử ăn đường.
Hai cha con tôi vào Viện Dưỡng Lão Cửu Long vừa sau giờ ăn sáng; nên gặp Bác Hoàn ngay phòng ăn. Mặt và miệng của Bác Hoàn trở lại gần bình thường và giọng nói tuy có biến giọng nhưng vẫn còn nghe rõ lắm. Bác bắt tay tôi coi vẻ mừng và cảm động lắm nhưng hai mắt lệ ứ tròng. Con gái tôi lúc nào đi với tôi đều là mục tiêu để nhiều người chú ý và tò mò muốn biết về Cha Con Viêt Mỹ nầy. Hơn nữa vẻ trìu mến và lúc nào cũng như nhõng nhẽo với cha từ lúc còn bé thành thói quen làm mọi người càng chú ý hơn. Thăm Bác Hoàn khoảng một tiếng sau hai cha con xin phép ra về. Con gái tôi lái xe ghé Chợ và nói:
- Con đãi ba ăn bún bò Huế.
- Ừ! ăn thì ăn.
Con gái mở cửa cho tôi và kéo ghế cho tôi ngồi; gần như ai cũng quay ngó chúng tôi. Cô bé chạy bàn thì quen quá với cha con tôi vì nhiều lần ăn ở quán nầy.
- 2 tô bún bò Huế phải không Chú?
- Ờ! Cháu cho Chú 2 tô.
Con gái mở cái xách tay của nó ra; mà nó đổi cái xách tay lớn hơn hồi nào tôi không để ý. Nó kéo ra một bịch nylon và kéo Rau kinh giới ra. Nó để rau kinh giới tím qua một bên và nói:
- Cái nầy của Daddy.
Rồi kéo mớ khác là kinh giới xanh và nói:
- Cái nầy của con.
Ông ngồi bàn gần kế bên quay sang
- Cô Tây nầy sau nói tiếng Việt rành quá và rành ăn bún bò Huế hơn cả người Việt Nam!
- Nó là người Việt Nam chứ không phải Tây. Nó chê rau kinh giới tím ăn nồng quá mà tôi thì thích kinh giới tím hơn nên nó hái riêng hai loại cho cha con chúng tôi.
- Cô ta là Dâu của Anh?
- Không. Nó là con gái của tôi.
- Hai tô bún bò Huế được bưng ra; cuộc đàm thoại ngưng tại đây và có lẽ ai cũng liếc mắt xem khi cô Tây 100% vắt chanh và ngắt từng cọng rau bỏ vào tô cho cha. Tôi hãnh diện là đã không lầm khi bỏ công bao năm cơ cực nuôi “con của người ta.”
Về tới nhà chưa kịp thay quần áo thì điện thoại reo. Bạn Hoàn, người tôi vừa đi thăm, phone cho tôi từ Viện Dưỡng Lão.
- Anh mới về tới nhà phải không? Hồi nãy tôi gọi không ai bốc phone. Sau khi Anh về rồi có một Bà trong Viện dưỡng lão này hỏi anh có phải Hải Quân hay không và đứa con gái Mỹ đi theo Anh là con của Anh? Bà ta nói là người quen của Anh ở Nha Trang khi xưa; muốn xin số phone của Anh, nên tôi hỏi Anh trước. Có phải nhân tình cũ ngày xưa hay không? Nếu phải thì vào gặp gấp đi; dễ gì xa xứ gặp cố tri!
- Ừ! Thì Anh cứ cho; có sao đâu. Bốn mươi mấy năm rồi làm sao ai còn nhớ được ai!
Một ý nghĩ thoáng qua trong óc tôi: Không lẽ là Mẹ ruột của con gái của tôi? Chứ nếu bà ta là người vợ bỏ tôi ngày nào thì chắc chúng tôi phải nhìn nhau, chứ chẳng lẽ tình chồng vợ sống với nhau 5 năm mà nhìn nhau không ra! Nhưng nếu là mẹ ruột của con gái của tôi, tôi phải làm sao đây, vì dù sao cũng là... “Con gái của người ta”.
Trần Thiện Phi Trần Minh Hùng
Leave a comment:
-
Biết Sống Tùy Duyên...
Tùy duyên là hoan hỷ chấp nhận những gì xảy ra trong hiện tại, ngưng đối kháng và bình thản chờ đợi nhân duyên thích hợp hội tụ. Nhiều khi chính thái độ ngưng đối kháng và bình thản chờ đợi ấy lại là nhân duyên quan trọng để kết nối với những nhân duyên tốt đẹp khác. Ta đừng quên khi một việc được thành tựu thì phải hội tụ hàng triệu nhân duyên, nếu chỉ thiếu một duyên thì nó cũng có thể không tựu thành. Nếu ta có hiểu biết sâu sắc hay từng trải nghiệm thì trong vài trường hợp ta có thể đoán biết được mình nên làm gì và không nên làm gì để cho nhân duyên tốt hội tụ đầy đủ trở lại và nhân duyên xấu sớm tan biến đi.
Ta thường gọi nhân duyên tốt là thuận duyên, và nhân duyên xấu là nghịch duyên, tức là những điều kiện có lợi và bất lợi cho ta. Có những duyên thuận với ta, nhưng nghịch với kẻ khác và ngược lại. Đó chỉ là nói trong phạm vi con người, trong khi nhân duyên luôn xảy ra với vạn vật trong khắp vũ trụ. Bản chất của nhân duyên thì không có thuận nghịch, tốt xấu. Nó chỉ hội tụ hay tan rã theo sự thích ứng giữa các tần số năng lượng phát ra từ mọi cá thể mà thôi. Ấy vậy mà thói quen của hầu hết chúng ta khi đón nhận thuận duyên thì luôn cảm thấy sung sướng và rất muốn duy trì mãi nhân duyên ấy, cón khi gặp phải nghịch duyên thì luôn cảm thấy khó chịu và tìm cách tránh né hay loại trừ.
Nhưng chưa hẳn thuận duyên sẽ đem lại giá trị hạnh phúc hay nghịch duyên sẽ mang tới khổ đau, bởi có khi nghịch duyên đưa tới sự trưởng thành, còn thuận duyên sẽ khiến ta yếu đuối. Và nhiều khi thuận duyên ban đầu nhưng lại biến thành nghịch duyên sau này, có khi nghịch duyên bây giờ nhưng lại biến thành thuận duyên trong tương lai. Tất cả đều tùy thuộc vào bản lĩnh và thái độ sống của ta.
Do đó, ta không cần phải khẩn trương thay đổi những nhân duyên mà mình không hài lòng, hay cố gắng tìm kiếm những nhân duyên mà mình mong đợi. Khi tâm ta đã vững chãi đủ để tạo ra những nhân duyên an lành thì những nhân duyên tương ứng sẽ tự động kết nối. Mà sự thật khi tìm được sức sống từ nơi chính mình rồi thì ta sẽ không còn coi là quan trọng những giá trị bên ngoài nữa. Nhân duyên nào cũng được cả, thong dong tự tại. Đức Đạt-lai Lạt-ma có dạy: ''Hãy nhớ rằng khi không đạt được những gì bạn muốn, đôi lúc, lại là sự may mắn tuyệt vời.''
(Bodhgaya Monk)
Leave a comment:
-
Điều đại kỵ năm Ngọ...
Nói rốt ráo thì năm nào cũng vậy thôi, cũng 12 tháng với 4 mùa và loanh quanh mấy vụ nắng mưa lạnh nóng. Nhưng riêng cái năm Ngọ này hình như có chút đặc biệt, bởi cái hình ảnh con ngựa trong đó. Cứ nhắc đến ngựa thì trước hết và bao giờ tôi cũng nghĩ ngay đến cái câu Ngựa Quen Đường Cũ. Bốn chữ đó thâm hậu ghê gớm.
Cứ theo nhà Phật mà nói, luân hồi chỉ là hành trình ngựa quen đường cũ. Chữ Phạn Samsara cũng có nghĩa là ngựa quen đường cũ. Lịch sử thế giới, xét về mặt gì cũng cứ là ngựa quen đường cũ.
Muốn văn minh hơn, muốn sung sướng hơn, ngon lành hơn, con người phải thoát ra được cái được gọi là lối mòn hay đường cũ ấy.
Một cái tật xấu làm khổ mình, phiền người nhưng không thèm sửa hay sửa hoài không được, đó là ngựa quen đường cũ.
Mình hôm nay, năm nay không khá hơn mình hôm qua, năm trước cũng là ngựa quen đường cũ.
Chẳng ra gì mà cứ tự thấy ghê gớm vĩ đại, là ngựa quen đường cũ.
Một mối quan hệ bế tắc mà không rứt ra được, từ hôn nhân đến bất cứ quan hệ nào khác, cũng đều là ngựa quen đường cũ.
Với kẻ tu hành cứ quanh quẩn với chút thành tựu tu chứng hay danh lợi mà không tháo cởi ra được để đi xa hơn, lên cao hơn, cũng là ngựa quen đường cũ.
Biết đó là gánh nặng, là hệ lụy, là tào lao, là bậy bạ, là vô ích, là có hại... mà không bỏ được, cứ khư khư giữ lấy hay tiếp tục theo đuổi, thì đó là ngựa quen đường cũ.
Tất cả khổ ải nhân gian đều là do ngựa quen đường cũ. Không dám hoài nghi cái cũ, cứ e sợ cái mới, chỉ dám theo lối mòn, sống lồng chậu cũng được, đó là ngựa quen đường cũ.
Mẹ sinh ta ra hoàn toàn tự do, tay chân thoải mái, lớn lên vào đời bị đủ thứ ràng buộc một cách tội nghiệp mà không dám nghĩ đến chuyện thoát thân, đó cũng là do ngựa quen đường cũ...
Ngày nào cũng online, không có chuyện cần thiết cũng online, đó cũng là ngựa quen đường cũ.
Bận chuyện không vào được Facebook để hiệp thông thiên hạ thì lòng như lửa đốt, đó cũng là ngựa quen đường cũ.
Biết online là phiền nhiều hơn vui, hại nhiều hơn lợi, mà vẫn cứ miệt mài triền miên trên đó, cũng là ngựa quen đường cũ.
Sang năm Ngọ, ngựa không thể cứ QUEN đường cũ, mà ngược lại phải QUÊN cho bằng được con đường cũ. Cái dấu nón bên trên chữ quen đơn giản vậy mà có thể cứu lấy một đời người, một gia đình, một xã hội và biết đâu cả thế giới. Chính cái dấu nón đó đã biến một kẻ phàm phu thành bậc đại giác, một bóng người vô danh trở thành bóng mát cho hoàn vũ, chỉ vì cái dấu nón ấy thôi.
Viết đến đây hình như cũng đã quá nhiều, đành ngừng vậy, không khéo lại có người bảo là... ngựa quen đường cũ thì nguy!
Happy new year, xin chúc mọi người năm nầy sớm tìm thấy những con đường thiệt mới, thiệt đẹp cho một nơi đến thiệt lành. Mong lắm vậy thay!
(Toại Khanh)
Leave a comment:
-
Hãy sống như một triệu phú thực sự!
Thomas J.Stanley là nhà nghiên cứu, nhà tư vấn và tác giả của nhiều cuốn sách bán chạy như Triệu phú nhà bên (The Millionaire Next Door), Tư duy triệu phú (The Millionaire Mind). Những cuốn này cộng lại đã đứng vững 170 tuần trong danh sách bán chạy nhất của tờ Thời báo New York. Ông cũng là tác giả của hơn 40 bài báo đã được xuất bản liên quan đến người giàu ở Mỹ. Tiến sĩ Stanley là khách mời đặc biệt xuất hiện nhiều lần trên các chương trình The Today Whow, 20/20 và The Oprah Winfrey Show. Những công trình của ông được trích dẫn trên phương tiện truyền thông quốc gia gồm Wall Street Journal, New York Times, Forbes, Fortune Time, Money…
Năm 1979, tiến sĩ Stanley lần đầu tiên khái niệm hóa phân nhóm “người giàu cổ xanh”, báo trước cho loại hình học triệu phú nhà bên, trong một bài phát biểu thay mặt Sở giao dịch chứng khoán New York; văn bản của bài phát biểu này sau đó được Hiệp hội Tiếp thị Mỹ xuất bản. Năm 1980, tiến sĩ Stanley tiến hành cuộc khảo sát trên toàn quốc về đa triệu phú Mỹ - khảo sát đầu tiên về loại này. Kể từ đó, ông đã tiến hành nhiều nghiên cứu về người giàu và phỏng vấn nhóm chọn lọc những đáp viên có tài sản ròng cao cho đa số những định chế tài chính thuộc “top 50” của Mỹ.
Tiến sĩ Stanely cũng là Chủ tịch Viện Thị trường người giàu (Affluent Market Institute). Tại đó ông đã phát triển những chiến lược tiếp thị và bán hàng dựa trên kết quả nghiên cứu nhằm xác định, thu hút và giữ chân khách hàng giàu có. Tiến sĩ Stanley nhận học vị tiến sĩ quản trị kinh doanh từ Đại học Gegorgia. Ông là giáo sư đại học trong 20 năm trước khi theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu và viết sách về triệu phú Mỹ.
Trong Đừng ra vẻ ta đây giàu có – Hãy sống như một triệu phú thực sự, ông trình bày chi tiết tại sao có quá nhiều người không giàu nhưng lại chi tiêu quá mức cho những thứ xa xỉ.
Khác biệt giữa giàu có và hành xử giàu có
Khi mới là một cậu thiếu niên, bố tôi làm công việc giao báo. Qua tiếp xúc với khách hàng, theo bố tôi, có sự khác biệt giữa việc có vẻ giàu và thực sự giàu. Hầu hết những người trông có vẻ giàu lại không giàu - họ sống trên mức thu nhập của mình, vì thế thường ít có sẵn tiền để hào phóng với người khác.
Từ 13 đến 17 tuổi, tôi làm nhân viên kéo bao gậy trên sân golf, luân phiên làm việc giữa hai sân hoàn toàn khác biệt: một sân công cộng, một sân thuộc về một CLB tư nhân.
Hầu hết những người chơi golf ở sân của CLB tư nhân thuộc lại người khác hẳn với những người tôi phục vụ ở sân công cộng, họ lái những chiếc ô tô danh tiếng, họ phải thuê và chi trả cho mọi dịch vụ chơi golf.
Mọi chuyện khác hẳn ở sân công cộng. Nhiều người trong số này thực sự là người làm thuê cho chính mình, từ nghệ nhân cho đến chủ những doanh nghiệp. Một vài người trong số họ cũng lái những chiếc xe cực sang hay mặc trang phục đánh golf hàng đầu như những người chơi ở CLB tư nhân.
Trong 4 năm phụ khiêng gậy, sau mỗi vòng chơi, khách hàng ở sân công cộng đều mời tôi bữa trưa với xúc xích và cô ca. Nhưng chỉ có khoảng một trong bốn người chơi ở CLB tư nhân làm điều đó. Ngoài ra, hai phần ba số khách hàng của tôi ở sân công cộng có bồi dưỡng tiền, trong khi hầu hết người chơi ở CLB tư nhân không bao giờ bồi dưỡng tiền cho người phụ mang gậy.
Giờ đây tôi đã hiểu rõ hơn cả hai kiểu người này.
Hầu hết những người thưởng hậu là những người tiêu pha lớn theo kiểu cổ điển. Hàng đầu là những chủ tập đoàn tư nhân cực kỳ thành công. Một vài người là viên chức điều hành cao cấp của các cơ quan nhà nước. Khách hàng tốt nhất của tôi là vợ chồng báx sĩ. Họ sở hữu một số bệnh viện và nhiều loại bất động sản thương mại khác. Họ luôn sảng khoái dù không có được một cú đánh bóng xuất sắc. Và họ thực sự hào phóng.
Người cực giàu có những phương tiện kinh tế cần thiết để tạo ra tài sản đáng kể đồng thời trang trải cho phong cách sống tốn kém. Trả phí CLB hay mời bữa trưa cho nhân viên kéo gậy không mảy may ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của họ.
Còn kiểu người đánh golf khác mà tôi từng gặp là những người "khát khao thành đạt" - những người cư xử giàu có, muốn là người giàu nhưng lại thực sự không giàu. Họ thường cố sống theo những người cực giàu, tiêu pha nhiều nhưng lại hầu như không thể thực sự làm tất cả. Phần lớn thu nhập của người khát khao thành đạt đổ vào những hạng mục tiêu dùng được cho là của những người có địa vị nghề nghiệp cao và uy thế: nhà xe, áo quần, trang bị chơi golf đẳng cấp, và dĩ nhiên là hội viên của những CLB.
Những người khát khao thành đạt khác xa với những chủ doanh nghiệp mà tôi phục vụ ở sân golf công cộng. Những chủ doanh nghiệp này dường như luôn mang theo mình rất nhiều tiền mặt. Họ có đủ khả năng để hào phóng với những người phụ giúp mà họ thuê. Khác với những người khát khao thành đạt, họ không cảm thấy cần thiết phải trưng ra những huy hiệu đắt tiền được cho là thể hiện sự hơn hẳn về kinh tế. Họ mua những gì có thể chi trả, và hạnh phúc khi trả tiền cho điều đó. Họ không trả tiền để gia nhập CLB tư nhân khi sân công cộng cạnh đó tốt hơn nhiều.
Với kiến thức tôi có hiện nay về sự giàu có, đặc biệt là ở Mỹ, tính cả những gì tôi đã học được từ kinh nghiệm làm người kéo bao gậy, tôi kiết luận: Hầu hết những người hành xử giàu có thì không giàu!
TS. Thomas J.Stanley
Số đo thực sự của giàu có
Hành vi mua sắm của những người cực giàu, đặc biệt là việc chọn lựa nhãn hiệu hoàn toàn trái ngược với những triệu phú chưa bao giờ có thu nhập hàng năm 100.000 đô la trở lên trong đời. Phong cách tiêu dùng của họ tương xứng với loại nhà và khu vực họ sinh sống.
Trong nhận thức méo mó của bối cảnh hiện đại về sự giàu có, xã hội của chúng ta dành rất ít sự quan tâm đối với những người đạt được thành công kỳ diệu bằng cách làm việc cần mẫn. Chúng ta không quan tâm đến việc bắt chước những doanh nhân ăn mặc giản dị, lái xe Toyota. Thay vào đó, chúng ta chọn hình mẫu là những ngôi sao, các danh thủ thể thao. Thay vì tìm hiểu vận may của họ, chúng ta lại nghĩ rằng nếu chúng ta hành xử giống họ, trông giống họ, lái xe giống họ thì chúng ta sẽ trở nên giàu có. Chúng ta đã phung phí tài sản của mình khi bị cuốn vào những chiêu trò phóng đại của giới tiếp thị, quảng cáo.
Trong thực tế, gia tăng chi tiêu không làm bạn thỏa mãn hơn với cuộc sống. Vậy ai là những người hạnh phúc? Thông thường, họ là những người chi tiêu thấp hơn khả năng của họ trong khi xây dựng sự giàu có và cuối cùng trở nên an toàn về tài chính.
Hầu hết người giàu trở nên giàu có và duy trì điều đó vì họ chủ định cần kiệm và đầu tư chứ không phải tiêu dùng.
Đối với một vài người, siêu tiêu dùng là một cố gắng để phần nào thay đổi sự khởi đầu tiêm tốn, về sâu xa là thay đổi quá khứ. Nhưng điều đó vô ích. Con người không thể thay đổi lịch sử. Trước tiên hãy xem sự gia tăng thu nhập như là cơ hội để đầu tư nhiều hơn và trở nên độc lập về tài chính. Nếu nhu cầu chi tiêu cho những sản phẩm cao cấp tăng lên, bạn nên trì hoãn việc chi tiêu cho đến khi mình đã là người giàu có chứ không phải trước đó. Ngược lại, bạn sẽ không bao giờ được an toàn về tài chính.
Nếu bạn vẫn chưa giàu nhưng muốn giàu có vào một ngày nào đó thì đừng bao giờ mua một căn nhà đòi hỏi một khoản vay lớn gấp đôi thu nhập thực hằng năm của gia đình bạn!
Mọi điều bạn nghĩ về giàu có đều sai
Chúng ta chắc chắn không thể trở nên giàu có bằng cách thực hiện phần hành xử trước khi có đủ nguồn lực tài chính để chi trả cho một cuộc sống ngọt ngào.
Hãy xem những triệu phú thực sự chi tiêu tiền bạc như thế nào và những gì họ trả cho hàng hóa, dịch vụ.
Triệu phú thực thụ trả khoảng 16 đô la (kể cả tiền bo) cho một lần cắt tóc ở một tiệm hớt tóc truyền thống - không phải hẹn trước, không phải chọn màu.
Chỉ có 5,7% triệu phú được khảo sát trên toàn nước Mỹ trả 1.000 đô la hay hơn cho y phục mà họ mua gần đây nhất. Thực tế, ngay cả những người rất giàu có (những người có tài sản ròng theo giá trị tài chính 10 triệu đô la hay hơn), trung vị giá trả cho một bộ trang phục chỉ là 482 đô la. "Trang phục góp phần tạo nên thành công" vẫn là câu cách ngôn có giá trị cho môi trường văn phòng, nhưng chi tiêu quá lố trước cả sự thịnh vượng tài chính trong tương lai sẽ không giúp ai trở nên giàu có.
Những người giàu có mua đồng hồ đắt tiền không? Trey có tài sản trị giá hơn 20 triệu đô la. Đồng hồ mà ông ấy mang hằng ngày mua ở cửa hàng Wal-Mart giá 15 đô la.
Jim H. ở Texas có tài sản ròng trên 30 triệu đô la. Jim và gia đình của mình cùng sáu con chó sống trong ngôi nhà làm bằng gỗ súc. Đồng hồ ông ấy chọn là nhãn hiệu Swiss Army giá 300 đô la.
Trey và Jim còn chia sẻ vài điểm chung khác. Cả hai đều cảm thấy tự hào khi được Hiệp hội thương mại ngành công nghiệp mà họ tham gia công nhận như những người chiến thắng. Ngược lại, họ hiểu rằng thật vô nghĩa để được những người lạ công nhận và ghen tị chỉ vì một chiếc đồng hồ. Họ giàu có và không cần khoe khoang điều đó với những người họ tiếp xúc trong công việc hằng ngày.
Những người giàu, những triệu phú cũng rất thích thú với đồ ăn và thức uống ngon, đúng không?
Carlton, người có tài sản đến hơn 30 triệu đô la. Ông là thành viên một nhóm đặc biệt gồm những người giàu chi khoảng 17 đô cho một chai rượu Scotch 1,75l. Họ cũng thường tiệc tùng và xem mình là những chủ nhân hiếu khách. Nhưng tiệc tùng của họ là để thắt chặt quan hệ xã hội chứ không phải để khoe những nhãn hiệu rượu mà họ chiêu đãi.
Tất cả những người thành đạt đều lái xe "xịn" đúng không?
Nhiều người tin rằng tất cả những người thực sự giàu và thành đạt đều lái những chiếc xe hơi cao cấp. Đó là lý do tại sao có quá nhiều người muốn thành đạt lái những loại xe này. Nhưng, trung vị về giá mua xe của những triệu phú được khảo sát là 31.367 đô la. Người giàu thực sự không lái BMW, họ lái Toyota.
Không uống Grey Goose hay mua rượu vang đắt tiền, cũng không lái xe hơi hiệu châu Âu. Chắc họ phải mua du thuyền!
Không! Đa số triệu phú ở Mỹ (70%) chưa bao giờ sở hữu một chiếc thuyền hay du thuyền, thậm chí là xuồng hơi.
Thế còn những triệu phú đã từng mua thuyền trong đời thì sao? Hầu hết đều mua một chiếc, bán đi và không bao giờ mua lại chiếc khác. Những người này nhận ra họ không có chút thỏa mãn nào khi sở hữu và điều khiển thuyền. Nhưng sự thỏa mãn với cuộc sống của họ tăng lên ngay sau khi vứt bỏ gánh nặng tàu thuyền.
Nhiều nông gia giàu có vì họ kiên định với quy tắc nền tảng để xây dựng ự giàu có: Dù bạn thu nhập bao nhiêu, hãy sống thấp hơn khả năng tiền bạc của mình. Điều này rất khó làm nếu bạn sống ở khu vực siêu tiêu dùng. Chuyển đến vùng giàu có, sống cận kề các bác sĩ, gia nhập các CLB thể thao, bạn sẽ giao du với những người siêu tiêu dùng. Nhưng không nên lầm lẫn điều đó với triệu phú thực sự.
Chiếc áo có làm nên thầy tu?
Người ta không đạt được thành công vì họ mang đôi giày 800 đô la. Phải là điều ngược lại. Hầu hết động lực của các triệu phú là nhu cầu độc lập về tài chính. Với họ, tiêu dùng chỉ là khía cạnh phụ của việc trở nên giàu có. Nếu phải chọn, họ sẽ sẵn sàng vứt bỏ những thứ tiêu dùng chứ không bao giờ từ bỏ sự độc lập tài chính.
Những người trở thành triệu phú trong độ tuổi 20 hay 30 thường trở thành người siêu tiêu dùng.
Hầu hết triệu phú không đạt ngưỡng triệu phú cho đến khi gần 50 tuổi. Họ trở thành triệu phú vì họ có phong cách sống tiết kiệm. Sau khi trở thành triệu phú, họ vẫn giữ thói quen tiết kiệm đó.
Một nữ triệu phú tiêu biểu không bao giờ trả hơn 140 đô la (trung bình) cho một đôi giày, dù mua cho mình hay bất kỳ ai. Nữ triệu phú thường mang hiệu giàu "chất lượng tốt" chứ không phải hiệu giày đắt tiền.
Hầu hết triệu phú, đặc biệt là những siêu triệu phú, dường như không nhạy cảm lắm với giá thành hay giá mua giày. Họ nhạy cảm hơn với chất lượng nên thường chú trọng vào sự khác nhau của vòng đời sản phẩm.
Hầu hết triệu phú hết sức hài lòng với thành công nên họ không cần phải mặc những bộ comple thuộc bộ sưu tập trị giá 4 chữ số. Rất hiếm có triệu phú nào mặc bộ comple 5.000 đô la. Hơn nữa, triệu phú thực sự sẽ mua y phục chất lượng với giá hợp lý. Họ không mặc vì sự thành công, mà vì công việc, tập trung cho công việc.
Một doanh nhân Texas có tài sản ròng ở khoảng giữa của tám chữ số mời tôi ăn tối sau cuộc phỏng vấn. Ông ấy hỏi tôi thích ăn món nào. Mexico là nguyện vọng của tôi. Al và vợ ông ấy đề nghị đưa tôi đến "điểm ăn tối ưa thích" của họ, cũng là điểm đến thường xuyên của các triệu phú sinh ra và lớn lên ở Texas.
Al và vợ đón tôi bằng chiếc Lincoln 10 tuổi cũ mèm của Al. Sau một quãng đường ngắn, chúng tôi dừng xe tại một bãi đỗ kế bên nhà hàng. Nó trông giống một nhà máy nhỏ hơn là một nhà hàng. Nơi này không có người chào đón, không quản lý trưởng, không áo đuôi tôm và không người phục vụ rượu. Chỉ có tấm biển ghi "Bạn tự tìm chỗ ngồi". Bàn và ghế đều sơn màu vàng sáng, loại ghế dài dã ngoại thường thấy ở các công viên. Ngoài ra, một số bẫy côn trùng bằng điện (loại để dùng ngoài trời) cũng được treo có tính toán trên xà nhà trong quán.
Al nhận thấy chút ngạc nhiên của tôi về thiết kế nên nói, "Đừng để vẻ bề ngoài của nơi này đánh lừa anh. Đây là nhà hàng Mexico ngon nhất Texas".
Niềm tin của tôi lại thêm lung lay khi nhìn vào thực đơn. Món đắt nhất có giá 9,95 đô la. Chỉ có hai loại vang được liệt kê: đỏ và trắng.
Sau khi người phục vụ dọn ra rổ bánh tráng ngô và nước sốt cay, Al đứng dậy và thọc tay vào túi áo khoác. Ông lấy ra từ áo khoác khoảng hơn một lạng bơ "thật" mang theo từ nhà. Al đặt nó giữa bàn dã ngoại và nói một câu mà tôi không bao giờ quên được: "Tôi ghét những thứ tổng hợp. Đó là điểm dở duy nhất của chỗ này, không có bơ. Dùng tự nhiên nhé!".
Bạn có thể tự hỏi tại sao một triệu phú lại mang bơ của mình đến nhà hàng. Tại sao một cặp đôi triệu phú nhiều đô la vẫn nghĩ đến việc ăn tối tại một nhà hàng toàn những chiếc bàn dã noại và "đồ tổng hợp", đến nỗi khách hàng phải tự mang đồ ở nhà theo. Tại sao những người tự do về tài chính như Al và vợ lại ăn tối ở một nơi mà món đắt nhất là 9,95 đô la? Câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này hết sức đơn giản, nhưng có vài ý mà nhiều người không thể hiểu được.
Không có mối tương quan hoàn hảo nào giữa mức độ thỏa mãn với món ăn mà khách hàng chọn và giá mà một nhà hàng tính cho nó. Al và vợ rõ ràng đã hiểu thấu đáo điều này. Hơn nữa, phán xét của họ về thức ăn của nhà hàng ưa thích không bị tác động tiêu cực vì những chiếc bàn dã ngoại, chọn lựa hạn chế về rượu vang hay ngay cả chuyện không có bơ.
Al và vợ ăn tối ở nơi mà họ muốn ăn chứ không phải ở chỗ những nhà phê bình ẩm thực chỉ bảo. Chắc chắn họ đủ khả năng để ăn tại nhà hàng bốn sao vào tất cả các ngày trong tuần. Nhưng theo Al thì đã nhiều năm rồi kể từ lần cuối cùng họ đặt chân vào cái gọi là nhà hàng bốn sao.
Một vài người có thể lập luận rằng Al và vợ không có gu ẩm thực. Họ có thể giàu nhưng họ không biết thưởng thức những thứ tinh tế trong cuộc sống.
Al và vợ không chỉ giàu, cả hai đều tốt nghiệp đại học "top 20". Nhưng họ không cần phải khẳng định mình bằng nơi họ ăn tối. Giống với hầu hết người giàu tự tay làm nên, họ làm những gì muốn làm và không hề bối rối về cách họ sống. Họ không lo sợ về giá trị của bản thân khi ra ngoài ăn tối trên chiếc bàn dã ngoại với thanh bơ mang theo từ nhà.
Bạn có muốn ngày nào đó trở nên giàu có? Nếu thực lòng muốn vậy, hãy hoãn việc tạo bộ sưu tập lớn rượu vang, hoãn việc ăn tối ở những nhà hàng cao cấp và không thuê người làm cho đến khi bạn trở nên độc lập về tài chính.
Đường đến hạnh phúc
Tony D. của Văn phòng diễn giả Washington gọi cho tôi ngay sau khi cuốn sách đầu tiên của tôi, Tiếp thị cho người giàu (Marketing to the Affluent), được Best of Business chọn vào danh sách 10 cuốn sách kinh doanh hàng đầu. Ông ấy có hai câu hỏi dành cho tôi: Thứ nhất, tôi có thể diễn thuyết tại hai hội nghị dành cho đại lý của MBW tại Bắc Mỹ không; và thứ hai, tôi thích nhận thù lao bằng BMW (lái một chiếc BMW trong một năm) hay bằng đô la Mỹ.
Không nghi ngờ gì, BMW nghĩ (hy vọng) rằng tôi sẽ thích lái một chiếc BMW. Có lẽ họ ngạc nhiên khi tôi chấp nhận thù lao bằng tiền mặt.
Tại sao tôi chọn cách nhận đô la mà không phải là giao dịch hàng đổi hàng? Có một số lý do: Lái một chiếc BMW làm tôi không thoải mái. Điều đó bất thường với phong cách tiêu dùng và niềm tin của gia đình tôi. Nó cũng có thể chứng minh cho một sự trượt dốc. Vì tôi được lái miễn phí chiếc BMW trong một năm, và điều tiếp theo mà bạn biết chắc là để “không trượt dốc” tôi buộc phải mua một chiếc BMW khác. Tôi phải trả tiền để mua. Quan trọng hơn cả, tôi biết một chiếc xe sẽ gây ra và không gây ra điều gì với một người.
Bạn không thể lái con đường của mình đến hạnh phúc nhờ một chiếc xe. Tuy nhiên một số người tin vào điều ngược lại.
Hầu hết những người thành công và tự do về tài chính không cần đến hàng hiệu để tự thuyết phục mình hay những người xung quanh họ về điều đó. Mức độ thỏa mãn cao với cuộc sống của họ cũng không dựa trên loại xe mà họ lái.
Có hai loại người lái những chiếc xe hơi danh tiếng: người giàu và người tỏ ra giàu.
Nhưng có một sự khác biệt chính yếu giữa kiếm được thu nhập cao và thực sự giàu có (nghĩa là độc lập về tài chính). Thu nhập không cùng đơn vị đo lường với giàu có. Nếu bạn không có những khoản đầu tư (trong đó ngôi nhà của bạn không quá 25%) trị giá 1 triệu đô la (tối thiểu), bạn không giàu. Bạn học đại học nào, trong bao lâu hay số lượng và loại bằng cấp bạn nhận được không quan trọng. Thành tích học vấn không phải là sự giàu có.
Đám đông BMW hành xử giàu có thường gồm những người tốt nghiệp đại học kiếm được thu nhập tốt. Họ có cảm giác bị buộc phải thể hiện những sản phẩm và nhãn hiệu mà họ nghĩ rằng nhiều người giàu thực sự sở hữu. Về bản chất, họ đã cường điệu mức độ giàu có thực sự của mình. Thường thì họ phải vật lộn thực sự để chi trả các khoản phí CLB, trả góp tiền mua xe hàng hiệu, khoản phải trả cho bất động sản thế chấp với lãi suất khủng, học phí trường tư của con cái… Họ là bậc thầy lừa dối khi lừa cả chính mình bằng cách tin rằng họ giá trị hơn rất nhiều so với những gì bảng cân đối tài sản thể hiện.
Việc mua sắm không đúng với thu nhập thực tế không những khiến chúng ta tự mình lái thẳng đến viện tế bần bằng chiếc ô tô cực đẹp.
Người giàu thực sự không chỉ có một chiếc xe thể thao đa dụng Mercedes mà họ còn có 10 chiếc khác. Mức tiêu dùng của họ còn trên hàng “top” vì sự giàu có của họ cũng vượt hơn hàng “top” – hơn nữa, ở mức đó thì vẫn còn thấp hơn nhiều khả năng tiền bạc của họ.
Liệu có sung sướng gì khi lái xe Mercedes, sống trong ngôi nhà đắt tiền, là thành viên của CLB đặc biệt và vung tiền cho rượu vang, rượu mạnh, nếu bạn luôn phải sống trên bờ vực của khả năng phá sản về tài chính hay không thể chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bố mẹ hay ông bà mình?
Hầu hết triệu phú biết rằng mua ô tô liên quan đến một số đánh đổi. Vì thế hãy xem xét hành động mà các triệu phú đã làm: Khoảng 40% triệu phú có khuynh hướng trung thành với một nhãn hiệu ô tô nhất định. Chính những người thu nhập cao nhưng không phải triệu phú, còn gọi là chỉ hành xử giàu có, chọn đại lý gắt gao nhất về giá cũng như đẳng cấp của nhãn hiệu xe. Chỉ có 34% kiểu người này trung thành với đại lý.
Hầu hết triệu phú là nhóm người sắc sảo có khả năng phán xét xuất sắc về cả sản phẩm và dịch vụ. Nếu không thỏa mãn, họ sẽ thay đổi và ngược lại.
Có một mối tương quan mạnh mẽ giữa việc đóng góp cho những mục đích từ thiện và sự thỏa mãn nói chung với cuộc sống. Những nhà nghiên cứu đã phát hiện một cách nhất quán rằng những người hạnh phúc thường có khuynh hưởng đóng góp một tỷ lệ cao hơn thu nhập của họ cho những mục đích cao quý so với những người ít thỏa mãn hơn với cuộc sống.
Những bức thư được trao đổi sau là lời nhắc nhở tất cả chúng ta nên dành thời gian để dừng lại và thưởng thức hương hoa hồng.
Bức thư của ông H. – một người giàu ở Florida:
"Tiến sĩ Stanley thân mến,
Tôi đã đọc xong cuốn sách của ông, Triệu phú nhà bên. Tôi cũng có một vài kinh nghiệm với các triệu phú nên tôi có thể nói rằng ông đã liệt kê rất đầy đủ về họ. Tôi chắc chắn không tin vào lối sống cao hơn khả năng tiền bạc và cũng không bao giờ chọn cách sống đó. Đầu tư vào chính doanh nghiệp của mình, vào cổ phiếu và bất động sản là ý tưởng tuyệt vời. Điểm sai lầm duy nhất tôi nhận thấy trong sách của ông là những điều đó được coi là mục đích tối hậu và là tất cả của cuộc sống.
Một chiếc Mercedes tuyệt đẹp đắt hơn một chiếc Ford, vì nó là chiếc xe tốt hơn.
Bộ comple số một của Oxford hay Hickey Freeman tốt hơn so với loại bán phổ biến của Sear.
Một chiếc áo đánh golf rẻ tiền ở Wal-Mart giá 6 đến 10 đô la sẽ dùng được khoảng 1 đến 2 năm nếu bảo dưỡng đúng cách. Một chiếc áo đánh golf Ralph Lauren 50 đô la có chất lượng tốt hơn nhiều và nếu giữ gìn tốt sẽ dùng được khoảng 20 năm.
Tôi biết những điều đó, vì tôi có cả hai loại.
Một kỳ nghỉ ở Emporia, Kansas…, Athens, Georgia…, đi xuyên qua miền Nam nước Pháp hay đến Athens của Hy Lạp… Tôi không cho rằng tất cả những địa điểm này là tương đương nhau, và tôi cũng đã đến tất cả những điểm này.
Đi mua sắm ở Wal-Mart hay Sear không thể nào có được cảm giác như khi mua sắm ở Neiman Marcus hay Saks Fifth Avenue.
Thật tuyệt vời khi làm ra tiền và tiết kiệm tiền bạc, nhưng nếu những điều này không nâng chúng ta lên và biết “thưởng thức hương hoa hồng” thì chúng há không phải là những thứ hơi điên khùng sao? Theo như tôi nhớ, Sam Walton đã sống một cuộc đời rất giống những gì mà ông dường như xem là tuyệt vời. Không may cho Sam Walton, dường như tôi nhớ rằng ông ấy mắc phải một vài dạng ung thư khủng khiếp nào đó và nhận lấy cái chết sớm. Tôi tự hỏi không biết ông ấy có nói với bác sĩ và những người thân của mình trước khi mất, “Này, tôi ước là mình đã dành nhiều thời gian hơn cho cửa hàng”. Ông nghĩ sao?
Trân trọng,"
Thư trả lời của tôi:
"Ông H. thân mến,
Tích lũy tài sản không phải là “mục đích tối hậu và là tất cả” của cuộc sống. Tuy nhiên, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nhiều khi tích lũy tài sản nếu bạn có được sự thỏa mãn to lớn từ những yếu tố trong cuộc sống của mình mà không cần phải siêu tiêu dùng. Có quá nhiều người tin rằng để ngửi hương hoa hồng, bản chất là hưởng thụ cuộc sống, họ phải mua hàng hiệu. Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy rằng có tương quan rất ít giữa kiểu chi tiêu này và hạnh phúc. Những ai chi tiêu với hy vọng rằng hạnh phúc sẽ đến thì cũng sẽ thất vọng.
Căn bản của hạnh phúc là những nhân tố như sức khỏe, gia đình, công việc và các giá trị. Nếu bạn có sức khỏe tốt, một gia đình đáng yêu, bao bọc bằng một mạng lưới bạn bè tốt bụng, có một công việc yêu thích thì chuyện không có những thứ sang trọng chẳng có gì ghê gớm. Nhưng chuyện sẽ ra sao nếu công việc của bạn có lương cao nhưng không mang lại sự thỏa mãn? Bạn có thể nghĩ rằng chất đầy những thứ sang trọng có thể chữa lành nỗi bất mãn của mình. Nhưng siêu tiêu dùng chỉ làm mọi chuyện tồi tệ thêm. Trưng ra những nhãn hiệu xa xỉ có thể (hay không thể) gây ấn tượng với hàng xóm, nhưng nó sẽ không chuyển đổi một kẻ bất hạnh thành người hạnh phúc. Hay như nhiều triệu phú đã nói với tôi, “tiền bạc làm cuộc sống dễ dàng hơn nhưng không tốt đẹp hơn”.
Hầu hết triệu phú đều hạnh phúc ngay cả trước khi họ trở nên độc lập về tài chính. Họ đặt ra những mục đích và hoàn thành chúng. Một trong những mục đích của họ là tích lũy tài sản. Họ xây dựng sự giàu có của mình chậm nhưng chắc và kiểm soát chi tiêu thay vì đi con đường loanh quanh. Đó là những con người tự tin, những người kiểm soát được cuộc sống của mình. Sản phẩm và nhà cửa không kiểm soát họ.
Chắc chắn thưởng thức hương hoa hồng có liên quan đến việc cưới được người bạn đời tuyệt vời. Hầu hết triệu phú (91%) đều kết hôn (trung bình là 36 năm với chỉ một người bạn đời). Toàn bộ hai phần ba trong số đó không bao giờ ly hôn. Tôi thường nói rằng nếu bạn muốn sống mãi mãi, hãy cưới nhầm vợ/chồng. Hãy làm thế và mỗi ngày sẽ trở thành vô tận. Không có số lượng hàng hóa xa xỉ nào sẽ làm bạn hạnh phúc nếu mỗi ngày kéo dài vô tận. Nhưng nếu cưới đúng người bạn đời thì mỗi ngày là một niềm vui.
Triệu phú không phải là người bủn xỉn, đặc biệt là khi liên quan đến tiền bạc dành cho sự học hành của con và cháu (thậm chí cháu gọi bằng cậu hay chú/bác) cũng như ủng hộ cho những mục đích cao đẹp. Chắc chắn một phần hương hoa hồng là sự hiện thực việc giúp đỡ tài chính của bạn cho giáo dục của trường kinh doanh, trường y hay trường luật. Những loại hoa hồng phong phú này có hương thơm hơn hẳn việc sở hữu hàng chục chiếc xe đắt tiền, đồng hồ, comple, thuyền, hay thậm chí là những ngôi nhà nghỉ.
Những người cần kiệm trong chi tiêu có khuynh hướng sẽ rộng lượng nhất nếu làm từ thiện. Nhưng những người siêu tiêu dùng, còn lại rất ít tiền, nếu còn, để cho đi.
Ông đã lưu ý rằng người sáng lập Wal-Mart, Sam Walton, có thể đã không thưởng thức hương hoa hồng. Tôi chưa bao giờ có được vinh dự gặp Walton, nhưng từ những gì tôi đọc được, tôi có cách nhìn khác về người đàn ông này. Tôi thường tình cờ thấy đặc điểm và hình ảnh của ông ấy trên những ấn phẩm thể thao định kỳ hơn là trên những tờ báo về kinh doanh. Từ những đặc điểm sơ lược của ông ấy, tôi chỉ có thể phỏng đoán rằng Walton không phải là kiểu người “chỉ làm, không chơi”. Thường thì ông ấy được chụp hình trong những cuộc bắn chim, cùng với chiếc xe bán tải, súng săn Remington và chú chó săn ưa thích, Ol’Roy. Để tưởng nhớ Ol’Roy, ông có thể để ý tên của một nhãn hàng của một loại thức ăn riêng cho chó của Wal-Mart. Đúng vậy, đó là nhãn hàng Ol’Roy với nhiều kích cỡ và hình thức phong phú.
Không chỉ việc chọn xe của Walton, chiếc bán tải Ford, gây ấn tượng với tôi. Súng săn của ông ấy là loại Remington 870 Winmaster. Tôi đã mua cùng loại súng vì hình dung rằng nếu nó đáp ứng được cho một tỷ phú thì chắc chắn nó cũng đáp ứng cho tôi. Tôi không biết ông ấy mua khẩu Wingmaster bao nhiêu nhưng tôi đã trả 449,92 đô la cho khẩu của mình tại một cửa hàng Wal-Mart.
Bạn có thể trả 2.000, 5.000, 10.000 đô la hay thậm chí 50.000 đô la cho một khẩu súng săn, nhưng bạn không thể mua khẩu súng săn tốt hơn Remington 870. Tới nay đã có hơn 10 triệu khẩu 870 được bán ra. Đó là khẩu súng mạnh và cực kỳ đáng tin cậy. Nó mang đến cho tôi mọi đóa hồng mà mình cần, và tôi có cảm tưởng rằng Walton cũng có cảm giác như thế.
Gần đây tôi đọc một bài báo nhắc đến việc bán khẩu súng săn với giá 287.500 đô la. Nó vốn được chế tạo cho Nga hoàng Nicholas. Khẩu súng này không chỉ có nhiều ý nghĩa lịch sử mà nó còn được chạm khắc bằng tay toàn bộ. Đối với tôi nó rất xấu, giống như mạ vàng lên những lớp mạ vàng. Tôi hiểu rằng hầu hết những thứ mà Sa hoàng từng sở hữu đều là những nhãn hiệu tốt nhất. Ông ta dùng những “đồ” này để bảo cho thần dân và chính mình rằng ông ta đứng trên mọi người. À, chúng ta đều biết chuyện gì xảy ra cho ông ấy. (Vị hoàng đế hay Sa hoàng cuối cùng của Nga trị vì từ 1894 đến khi thoái vị vào ngày 15/3/1917, và sau đó bị giết chết cùng toàn bộ gia đình). Ngược lại, hầu hết những người giàu tự làm nên ở Mỹ không có cùng nhu cầu khẩn thiết là phải đưa ra bằng chứng chứng tỏ ưu thế của mình bằng cách thể hiện những nhãn hiệu danh tiếng.
Câu chuyện này nói cho chúng ta điều gì về những người cố hành xử giàu có bằng việc chi tiêu và trình diễn nhưng lại không giàu? Trong khi tìm kiếm hoa hồng để thưởng thức thì họ đã quá lố về trang phục, xe cộ và hành xử. Không, họ không phải là người mua sắm kiểu Wal-Mart. Nhưng họ sẽ tăng cường khả năng trở nên giàu có thực sự nếu thường mua hàng ở những cửa hàng như vậy…
Điều gì sẽ xảy ra khi việc sở hữu “những nhãn hiệu tốt hơn” lại được ưu tiên hơn khả năng thành đạt? Thành tựu cá nhân, dù nhỏ hay lớn, hôm nay hay ngày mai là những gì dẫn đến sự gia tăng tiêu chuẩn sống. Đó là những Bill Gates của những hãng làm ra những sản phẩm giúp cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn và hiệu quả hơn. Đó là những giáo viên cống hiến sức lực để dạy Toán cho học sinh lớp Năm. Đây là những thứ và những hoạt động dẫn đến sự cải thiện cuộc sống.
Ngắn gọn, khi chọn nhãn hiệu thì sẽ còn rất ít năng lượng và tiền bạc chi cho những thứ và hoạt động thực sự làm lợi cho con người.
Trân trọng
TS Thomas J.Stanley”.
PHƯƠNG THANH tóm tắt
Leave a comment:

Leave a comment: