• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Hoàng Cầm

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Hoàng Cầm

    Hoàng Cầm

    Link" align="left" border="0" alt="" style="padding:7px;" />Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

    Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

    Năm 1944, do Thế chiến thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể.

    Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

    Tháng 10 năm 1954, đoàn văn công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm”, ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi.

    Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan, Kiều Loan và các bài thơ Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.

    Ngoài bút danh Hoàng Cầm ông còn có các bút danh: Bằng Việt, Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi.

    Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.

    Tác phẩm
    Hận ngày xanh (phóng tác theo Lamartine 1940);
    Bông sen trắng (phóng tác theo Andersen 1940);
    Cây đèn thần (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1941);
    Tỉnh giấc mơ vua (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1942);
    Thoi mộng (truyện vừa, 1941);
    Hận Nam Quan (kịch thơ, 1944, 1942);
    Bốn truyện ngắn (đăng Tiểu thuyết thứ Bảy từ 1939 đến 1943);
    Kiều Loan (kịch thơ, 1945)
    Ông cụ Liên (kịch nói, 1952);
    Đêm Lào Cai (kịch nói 3 hồi, 1957);
    Tiếng hát quan họ (trường ca, in chung trong tập Cửa Biển, 1956);
    Những niềm tin (thơ dịch của Bonalan Kanfa – Algérie, 1965);
    Men đá vàng (truyện thơ, 1989);
    Tương lai (kịch thơ, 1995);
    Bên kia sông Đuống (tập thơ chọn lọc, 1993) – Giải thưởng Nhà nước 2007
    Lá diêu bông (tập thơ chọn lọc, 1993) – Giải thưởng Nhà nước 2007
    Về Kinh Bắc (tập thơ, 1994);
    99 tình khúc (tập thơ tình, 1955) – Giải thưởng Nhà nước 2007
    Sống trên đời

    Similar Threads
  • #2

    ....cho CO bổ sung một ít. Cảm ơn HV.

    *******************

    Link


    Nhân Văn Giai Phẩm phần XII : Hoàng Cầm

    Thụy Khuê

    Bài đăng ngày 02/03/2010


    Muốn tìm hiểu một giai đoạn nào của Lịch Sử lớn, không thể không tìm hiểu lịch sử nhỏ của những người đã đóng góp tích cực vào sự tiến hoá hay thoái hoá của giai đoạn này. Trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, tiểu sử những người có công tiêu diệt phong trào NVGP được phóng đại tô màu, vinh thăng ca ngợi. Còn lịch sử những người có công đầu trong kháng chiến chống Pháp, nhưng sau này trở thành những thành viên NVGP, đã bị xoá, tẩy, bôi nhọ, tác phẩm bị loại trừ. Hoàng Cầm là một khuôn mặt điển hình.

    Tiểu sử







    Nhà thơ Hoàng Cầm thời còn đi Kháng chiến


    (Ảnh : DR)





    Hoàng Cầm sinh ngày 22/2/1922, tại làng Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; nguyên quán làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tên thật là Bùi Tằng Việt (chữ ghép của Phúc Tằng và Việt Yên). Bút danh khác: Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi... Tiểu học ở Bắc Giang, 1937 đỗ cao đẳng tiểu học ở Bắc Ninh. Trung học ở trường Thăng Long Hà Nội, đỗ tú tài năm 1940. Làm thơ từ 8 tuổi. Tác phẩm thành danh của Hoàng Cầm là kịch thơ Hận Nam Quan viết năm 1937, 15 tuổi, khi còn học đệ tứ ở Bắc Ninh (in năm 1942). Hận Nam Quan được đưa vào chương trình giáo dục (vùng quốc gia) trước 1954.

    1938, 16 tuổi, còn đi học Hoàng Cầm đã bước vào nghề văn, cộng tác với nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long, nổi tiếng từ thời kỳ này, với những tác phẩm Hận ngày xanh, phóng tác Graziella của Lamartine và những truyện rút trong Ngàn lẻ một đêm. 1942, 20 tuổi, viết kịch thơ Kiều Loan. Từ 1940-1945, Hoàng Cầm sống ở Thuận Thành và Hà Nội, ông lấy người vợ đầu tiên trong thời gian này.

    Tháng 9/1945, Hoàng Cầm cùng Hoàng Tích Chù lập ban kịch Đông Phương, trình diễn ở các vùng Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh... Ngày 26/11/46, Kiều Loan được trình diễn lần đầu tại nhà Hát Lớn Hà Nội.
    Tháng 12/46, chiến tranh bùng nổ, ban kịch Đông Phương rời Hà Nội, đi lưu diễn ở những vùng phụ cận. Hoàng Cầm và Tuyết Khanh (diễn viên chính đóng vai Kiều Loan) sống chung, giữa năm 1947, hai người cùng gia nhập Vệ Quốc Đoàn. Hoàng Cầm thành lập Đội văn nghệ tuyên truyền đầu tiên trong quân đội, điều khiển và phát triển đoàn Văn Nghệ Liên Khu Việt Bắc từ 1948 đến 1952.

    Tháng 8/1950, Hội nghị văn nghệ họp tại Việt Bắc, dưới sự chỉ đạo của Tố Hữu, quyết định vinh thăng kịch, loại trừ: tuồng, chèo, vọng cổ, kịch thơ... ra khỏi nền văn nghệ cách mạng. Hoàng Cầm phải tuyên bố "treo cổ" kịch thơ của mình.

    Tháng 7/1952, đại tướng Nguyễn Chí Thanh điều động Hoàng Cầm về làm đoàn trưởng đoàn Văn Công Tổng Cục Chính Trị. Ông giữ chức này đến đầu năm 1955.

    1954, Hoàng Cầm được cử tổ chức buổi Liên hoan mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong mười tiết mục, ông đưa vào màn quan họ Bắc Ninh "Yêu nhau cởi áo cho nhau", và bị "đả đảo!" là "đồi trụy!". Tướng Nguyễn Chí Thanh lên diễn đàn bênh vực Hoàng Cầm, hạ lệnh im bặt tiếng đả đảo, để đoàn văn công tiếp tục trình diễn hết màn quan họ.

    Tháng 10/54 Hoàng Cầm và đoàn văn công về tiếp quản Hà Nội.

    1/1/1955,Văn công quân đội chia làm ba đoàn, Hoàng Cầm điều khiển đoàn I, chuyên về kịch nói. Cùng thời gian này, Hoàng Cầm tham gia việc đòi cải tổ chính sách văn nghệ quân đội cùng với Trần Dần, Tử Phác, Lê Đạt...

    Tháng 12/1955, vì bất hoà với Cục phó Cục tổ chức (cũng nằm trong Tổng Cục chính trị), Hoàng Cầm xin chuyển sang Hội Văn Nghệ, làm việc ở nhà xuất bản Văn Nghệ.

    Tháng 2/1956 Hoàng Cầm cùng Lê Đạt chủ trương Giai phẩm mùa xuân.

    Tháng 9/1956 Hoàng Cầm cùng Nguyễn Hữu Đang chủ trương Nhân văn.
    Chịu kỷ luật cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng... tuy nhẹ hơn, chỉ bị một năm khai trừ khỏi Hội Nhà Văn, như Phùng Quán. 1982, Hoàng Cầm bị bắt, bị giam 18 tháng vì tác phẩm Về Kinh Bắc. 1988, ông được "phục hồi".

    Trong các bài đánh Hoàng Cầm, người ta luôn luôn dùng hai chữ "đồi trụy", nhắm vào đời tư của Hoàng Cầm: Ông nghiện thuốc phiện (như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Tử Phác) và có nhiều vợ. Bà vợ đầu tên là Hoàng Thị Hoàn, cưới khoảng 1940-1945, có ba con, chết cùng với con gái năm 1949. Bà Tuyết Khanh sống chung từ đầu năm 1947, tháng 1/48, sinh Kiều Loan, nhưng hai người phải xa nhau. Sau đó ông sống với bà Xuyến, cô hàng xén chợ Hạnh. Từ tháng 5/1955 Hoàng Cầm sống với bà Lê Hoàng Yến, cựu hoa khôi Hà thành, đã có 6 con riêng, ông ly dị bà Xuyến khoảng 1956.

    Xin nhắc lại: Những thành viên NVGP phần lớn là những người đã giữ trọng trách trong nền văn nghệ kháng chiến:

    Lê Đạt làm phụ tá cho Tố Hữu (1949).
    Tử Phác, Trưởng phòng Văn Nghệ Tuyên huấn Trung Ương (1951).
    Đặng Đình Hưng, đoàn trưởng kiêm chính trị viên đoàn Văn Công Nhân Dân Trung Ương (1952).
    Hoàng Cầm, đoàn trưởng Văn Công Tổng Cục Chính Trị (1952).

    Trong bài Múa sạp thấu lòng Tử Phác (Hoàng Cầm văn xuôi, nxb Văn học 1999, trang 129) Hoàng Cầm cho biết, thời 51- 52, Tử Phác là "cấp trên" của ông, chính Tử Phác đã "chỉ thị" cho Hoàng Cầm (trưởng đoàn văn công) và Mai Sao, nghiên cứu và thực hiện điệu múa sạp.

    Những chi tiết trên đây giải thích tại sao NVGP có thể thành tựu được, bởi những người chủ trương phong trào nắm giữ các cơ sở chính của nền văn nghệ kháng chiến lúc bấy giờ: Tử Phác trách nhiệm tờ Sinh Hoạt Văn Nghệ (tiền thân của tờ Văn Nghệ Quân Đội). Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang ở trong báo Văn Nghệ. Hoàng Cầm và Đặng Đình Hưng trước điều khiển toàn bộ Văn công quân đội và dân sự, từ 1955, Hoàng Cầm về nhà xuất bản Văn Nghệ (đọc và duyệt), nhờ ông mà một số tác phẩm không chính thống đã in được trong năm 1955-56.

    Tác phẩm:

    Kịch thơ:

    Hận Nam Quan nxb Người Bốn Phương, (viết 1937, in 1942)
    Kiều Loan nxb Văn học (viết 1942, diễn 1946, in 1992)
    Viễn Khách (viết 1942, diễn 1949, in 1952) của Hoa Thu, tuy Hoàng Cầm không xác nhận, nhưng cần nghiên cứu lại, nếu đúng, nên xác định đây là tác phẩm của Hoàng Cầm.
    Lên đường Tân Dân (1952)
    Cô gái nước Tần, Tân Dân (1952)
    Trương Chi, (chưa xuất bản), đánh dấu sự trở lại của Hoàng Cầm với kịch thơ, sau 1954. Có trích trên báo Văn số 24 (18/10/57), in lại trên Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí. Không biết hiện nay Trương Chi ở trong tình trạng như thế nào?

    Truyện:

    Thoi mộng (truyện vừa) nxb Tân Dân (viết 1940)
    Hai lần chết (truyện ngắn) Tân Dân, 1941.

    Kịch:

    Ông cụ Liêu (viết 1950, in 1951)
    Đêm Lào Cai (in 1957)

    Thơ:

    Mắt thiên thu (mất bản thảo, 1941)
    Bên kia sông Đuống (viết 1948, Văn hoá, 1993)
    Tiếng hát quan họ (in chung trong tập Cửa biển, 1956)
    Về Kinh Bắc (viết 1959, Văn học, 1994)
    Mưa Thuận Thành (Văn Hoá, 1987)
    Lá diêu bông (viết 1970, Hội Nhà Văn, 1993)
    Men đá vàng (truyện thơ, viết 1973, nxb Trẻ, 1989)
    Về cõi em, 1992, chưa in.

    Dịch, phóng tác:

    Hận ngày xanh (phóng tác Graziella của Lamartine, Tân Dân 1940).
    Bông sen trắng (truyện thần thoại của Anderson, Tân Dân, 1941).
    Những truyện thần thoại rút từ Nghìn lẻ một đêm: Mang xuống tuyền đài (Tân Dân, 1942). Cây đèn thần (Tân Dân, 1942), Tỉnh giấc mơ vua (Tân Dân, 1942).
    Những niềm tin (Dịch thơ Boualem Khanfa, Algérie, 1965)
    Mối tình cuối cùng (Dịch Dostoievski, Phụ nữ, 1988).



    **********************

    Vị trí Hoàng Cầm trong văn học

    Trong ba nhà thơ tác nhân chính của phong trào NVGP, Trần Dần và Lê Đạt thuộc thế hệ đàn em, chưa có sự nghiệp thơ trước kháng chiến. Hoàng Cầm thuộc thế hệ đàn anh.

    Vũ Hoàng Chương có nhắc đến Dạ Đài: "Hùng đứng làm cố vấn cho một nhóm thi hữu trẻ tuổi hơn trong đó có Vũ Hoàng Địch, Trần Dzần, Trần Mai Châu để xuất bản một giai phẩm lấy tên Dạ đài. Quả là cái tên "tiền định". (Nhớ Đinh Hùng, Loạn trung bút, Khai Trí 1970, trang 182). Khi Đinh Hùng mất (24/8/67), Vũ Hoàng Chương làm câu đối đặt trước áo quan:

    Hồn sáu đường mê tìm Phật độ
    Tình muôn trang sử mặc Trời ngâm

    Và trong bài ai điếu trước mộ, có câu:

    Mênh mang một tiếng cười dài
    Hồn lay bốn vách dạ đài cho tan!

    Vũ Hoàng Chương bao quát đời Đinh Hùng, từ Dạ đài đến Mê hồn ca, Đường vào tình sử ... trong bốn câu thơ rung động trời, đất, phật đài.
    Hoàng Cầm (sinh 1922) cùng thời với Vũ Hoàng Chương (1916) và Đinh Hùng (1920), là những nhà thơ nổi tiếng trước kháng chiến. Vũ Hoàng Chương lớn tuổi hơn cả, nhưng xong tú tài, ông còn học luật, rồi bỏ luật đi làm, sau lại học khoa học, cho nên ông vào nghề văn cùng thời với Hoàng Cầm, Đinh Hùng.

    *

    Trở lại vị trí của Hoàng Cầm: Trước kháng chiến, Hoàng Cầm cùng Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, là những nhà thơ thuộc thế hệ bắc cầu giữa thơ mớithơ hiện đại.

    Trong kháng chiến, Hoàng Cầm (1922) cùng Văn Cao (1923), Phạm Duy (1921), ba tên tuổi đã có những đóng góp lớn lao cho kháng chiến. Riêng Hoàng Cầm-Phạm Duy, ngoài sáng tác, còn trình diễn trên khắp chiến trường Việt Bắc (1947-1948), xây dựng tinh thần kháng chiến quân. Giọng ngâm "oanh vàng đất Bắc" của Hoàng Cầm, xung động tinh thần tự hào Vệ quốc: "Rằng ta là Vệ Quốc Đoàn". Tiếng hát Phạm Duy giục giã thanh niên "cùng nhau xông pha lên đường" bảo vệ tổ quốc.

    Hoàng Cầm ghi: "Từ sau cách mạng tháng Tám, Văn Cao với tôi và Phạm Duy đã trở thành bạn thân, lúc nào, ngày nào cũng có nhau, biểu diển, sáng tác đều có nhau, thậm chí đi nghe hát ca trù (ả đào) hoặc đi uống rượu, đi cà phê sớm tối đều có nhau, khiến rất nhiều văn nghệ sĩ lúc bấy giờ đã gọi ba đứa chúng tôi là: "Bộ ba bất khả li (Les trois inséparables). Vậy thì Văn Cao phải có mặt trong tập Giai phẩm [mùa xuân] này chứ?" (Cái gì thúc đẩy thơ, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 221).

    .................................................. ........
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 11-03-2010, 08:01 PM.
    ----------------------------

    Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

    Comment

    • #3



      Về Kinh Bắc là một trong những tác phẩm đã khiến Hoàng Cầm bị bắt giam 18 tháng vào năm 1982.



      Với kháng chiến, Hoàng Cầm còn là một trong những người đã đóng góp hai lần xương máu: máu xương văn nghệ trong 9 năm sáng tác, trình diễn và máu xương gia đình: một vợ, một con và một em trai, chết trong kháng chiến. Tìm lại lịch sử riêng của Hoàng Cầm, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tại sao Hoàng Cầm có đủ tư thế văn nghệ để mời Văn Cao, Phan Khôi tham gia NVGP, có đủ uy tín cách mạng để đương đầu với Tố Hữu, để bênh vực Trần Dần, và tại sao, khi chủ trương báo Nhân Văn, Nguyễn Hữu Đang phải thuyết phục Hoàng Cầm vào ban biên tập trước tiên. Khi NVGP bị thanh trừng, Hoàng Cầm viết Về Kinh Bắc ngay từ cuối năm 1959, tác phẩm kết tội triều đình. Năm 1982, Hoàng Cầm bị thanh trừng lần thứ nhì, khi chính quyền bắt được bản thảo Về Kinh Bắc...

      Cuộc đời Hoàng Cầm gắn bó với lịch sử, không chỉ lịch sử kháng chiến, lịch sử Nhân Văn Giai Phẩm, mà lịch sử dân tộc, từ tác phẩm đầu tay Hận Nam Quan, Hoàng Cầm đã xác định con đường dân tộc: phải đề phòng phương Bắc. Nhưng hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta vẫn còn chưa thoát khỏi cái nhục nô lệ Bắc phương: Khóc trong lòng ghi nhớ Hận nam Quan.

      Hận Nam Quan
      Bối cảnh: Phi Khanh bị bắt giải sang Tàu, Nguyễn Trãi bí mật theo cũi cha, cùng chết. Tới Ải Nam Quan, Phi Khanh biết, bắt con trở về, tìm đường khởi nghiã. Hận Nam Quan, Hoàng Cầm viết năm 15 tuổi, đã được đưa vào chương trình giáo dục, chưa biết rõ năm nào, nhưng những người sinh khoảng 1940 trở đi, đều thuộc lòng đoạn sau đây:

      - Con yêu quý! Chớ xuôi lòng mềm yếu
      Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!
      Con về đi! Tận trung là tận hiếu
      Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang
      Nếu trời muốn cho nước ta tiêu diệt
      Thì lưới thù sẽ úp xuống đầu xanh
      Không bao giờ! Không bao giờ con chết
      Về ngay đi rồi chí toại công thành!
      Nghĩ đến cha một phương trời ảm đạm
      Thì nghiến răng vung kiếm quét quân thù
      Trãi con ơi! Tương lai đầy ánh sáng
      Cha đứng đây trông suốt được nghìn thu.
      - Cha nói đến tương lai đầy ánh sáng
      Khiến lòng con bừng tỉnh một cơn mê
      Quỳ lạy cha, cha lên đường ảm đạm
      Rời Nam Quan, theo gió con bay về
      - Ôi sung sướng, trời sao chưa nỡ tắt
      Về ngay đi ghi nhớ Hận Nam Quan
      Bên Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt
      Cha nguyện cầu con lấy lại giang san

      Đoạn trên đây là bài học thuộc lòng thời tiểu học. Nhưng toàn thể vở kịch thơ là tác phẩm "classique" của học sinh trung học. Những buổi văn nghệ tất niên luôn luôn có màn trình diễn Hận Nam Quan. Trong trường nữ sinh, con gái giả trai "vào" vai Nguyễn Trãi, đeo râu dài để "nhập" Phi Khanh. Hoàng Cầm đi vào lòng dân tộc như thế. Tuy là tác phẩm đầu tay nhưng không hề non nớt, đã có những câu thơ tiên tri:

      Đây là ải địa đầu nước Việt
      Khóc trong lòng ghi nhớ Hận Nam Quan

      15 tuổi, nhắc trang sử oanh liệt:

      "Đây Nam Quan, quân Nguyên rời biển máu
      Thoát rừng xương, tơi tả kéo nhau về"

      15 tuổi, đe dọa quân Tàu:

      Hỡi quân Minh! Sao không nhìn lịch sử
      Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương?

      15 tuổi, xác định lòng quật khởi của dân tộc:

      Một ngày mai, khi Trãi này khởi nghiã,
      Kéo cờ lên, phất phới linh hồn cha
      Gạt nước mắt, nguyện cầu cùng thiên địa
      Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.

      Nhưng bọn bán nước cầu vinh nào có nghe.

      Lịch sử muôn đời lập lại.
      ----------------------------

      Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

      Comment

      • #4

        Hoàng Cầm- Tuyết Khanh- Vũ Hoàng Chương

        Tháng 9/1945, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Chù, Hoàng Tích Linh (cả hai là em ruột Hoàng Tích Chu), Kim Lân, Trần Hoạt lập ban kịch Đông Phương, với Hoàng Tích Chù làm trưởng ban. Mục đích chính của Hoàng Cầm là dựng vở Kiều Loan nhưng tìm gần một năm, vẫn chưa "thấy" Kiều Loan. Tháng 8/46, tìm được Tuyết Khanh, bắt đầu dựng Kiều Loan với Hoàng Tích Linh làm đạo diễn; Tuyết Khanh trong vai Kiều Loan; Hoàng Cầm vai Hiệu Úy; Kim Lân vai ông già, v.v...



        Ảnh hưởng Kiều Loan trong giới văn nghệ thời ấy khá rõ, Hoàng Cầm kể lại:
        "... Nguyễn Huy Tưởng, hầu như không buổi tập nào là vắng mặt anh. Anh còn theo dõi khả năng diễn xuất của các bạn để mong mỏi sau này, sau vở Kiều Loan, anh có thể dựa vào những năng lực dồi dào ấy mà đưa vở kịch nói Vũ Như Tô của anh lên sân khấu. Có lần anh nói với tôi: "Được chị Tuyết Khanh này mà nhận sắm vai Đan Thiềm cho mình thì thật sung sướng và hoàn toàn yên tâm". Đến anh Nam Cao thì tỏ ý thích vở kịch vì tư tưởng, nội dung hướng thiện, chống ác của nó (...)
        Cả nhà thơ Vũ Hoàng Chương không biết vì quá mê nàng Kiều Loan của vở kịch hay mê người sắm vai Kiều Loan mà từ ngày đầu đọc vở, anh đã trở nên một khán giả quá siêng năng cả đến khi Kiều Loan phải "tản cư" đi diễn ở mấy làng trong tỉnh Bắc Ninh. Ngày nào anh cũng đến từ sớm, có khi nán lại dùng cơm trưa với diễn viên tại nhà anh Chù. Còn hai anh Lưu Quang Thuận [cha Lưu Quang Vũ], Trúc Đường [anh Nguyễn Bính] là hai kịch tác gia mấy lần đến xem tập và phỏng vấn (...) và chuẩn bị ấn hành trọn vẹn kịch thơ Kiều Loan ngay trong năm 1946 " (Lận đận Kiều Loan, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 54).

        Vũ Hoàng Chương (xưng là Hoàng), kể lại, ông biết Tuyết Khanh là do người bạn Phan Khắc Khoan rủ đi xem kịch:
        "- Hoàng ạ, ban kịch Đông Phương của bọn Hoàng Tích Chù lực lượng có vẻ khá lắm (...) Tin đích xác đây này: Tối mai ban kịch Đông Phương trình diễn tại Thái Bình, và diễn liền mấy tối sau nữa. Ngay tỉnh lỵ, Hoàng có đi với tôi sang bên đó không nào? (...) Đối với họ Phan, người ta còn khách sáo ít nhiều; chứ đối với Hoàng thì, toàn ban đều thân mật, coi như "cố nhân". Có lẽ bởi hoạ sĩ Hoàng Tích Chù -em ruột Hoàng Tích Chu- là chỗ thế nghị của Hoàng chăng? Hay bởi tác giả quan trọng của ban kịch là thi sĩ Hoàng Cầm, chỗ thanh khí của Hoàng, từng đã gặp nhau ở xóm Niềm bên Kinh Bắc? (...)

        Tối hôm đó diễn vở kịch thơ Lên Đường của Hoàng Cầm. Chỉ có 4 vai - đều vai chính cả!- Nhưng điều đáng nói là một trong bốn vai ấy đã do Tuyết Khanh đóng. "Người đẹp" này, Hoàng đã từng chiêm ngưỡng trên màn bạc rồi -Phim Cánh đồng ma của ông bạn Đàm Quang Thiện [Nguyễn Tuân có đóng]- và cũng chẳng thấy gì đáng mê lắm. (...) Thế mà -ai học đến chữ ngờ!- Cơn mê đã bắt đầu chiếm đoạt Hoàng trọn vẹn, cách hai tuần sau, để kéo dài mãi, đến giờ phút này cũng chưa hẳn nhoà tan đấy (...)

        "Nửa đời sương gió ngang tàng lắm
        Mềm, chỉ vì Khanh, một trái tim..."

        Ôi, chỉ vì Khanh! Vì Khanh! Chắc chắn Khanh ngạc nhiên. Mà chính Hoàng lại đã ngạc nhiên trước hết. Ngạc nhiên gấp hai lần Khanh, gấp bốn lần Hoàng Cầm. Và gấp cả một trăm lần thiên hạ (...) Và hình như sau chuyến lưu diễn Thái Bình, mọi người đang sửa soạn tập vở Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm thì phải. (...) Thật ra, Khanh còn đang bận tập Kiều Loan, Hoàng cũng đang bận viết bài cho Thế sự, chẳng ai muốn mua dây tự buộc mình. Chỉ cốt hợp thức hoá mỗi liên hệ của Hoàng và Khanh thôi. Đừng để ai phá đám. Thí dụ nhà thơ Hoàng Cầm (...) Khăng khít như vậy mà rồi sau đêm mười chín tháng mười hai Dương lịch [19/12/1946, ban kịch Đông Phương rời Hà Nội] Khanh và Hoàng khởi sự lạc nhau. Lạc thôi chứ chưa mất. Hoàng trên bước tản cư phiêu lưu tới phủ Xuân Trường, lòng nhớ Khanh càng nổi dậy. Chẳng biết con người bạc mệnh kia đã phải trải qua những nhịp cầu đoạn trường nào thêm? Hiện nay ở đâu: Hưng Yên, Phủ Lạng Thương hay Bắc Kạn?...

        Khanh của Hoàng ơi, lửa bốn phương
        Khói lên ngùn ngụt chén tha hương,
        Nghe vang sóng rượu niềm ly tán
        Chạnh xót nòi thơ buổi nhiễu nhương" (...)

        Một đêm trăng, Thứ Lang [Đinh Hùng] dẫn Khanh từ Đống Năm vào, cùng với Kiều Liên [chắc là Kiều Loan, con gái Hoàng Cầm, lúc đó chưa đầy tuổi]. Mới tạm xa nhau chưa đến hai mươi tháng mà khi tái ngộ nhìn nhau cứ ngơ ngáo như trong mộng ấy thôi!

        Khanh đã về trong lửa Túy hương
        Khoé thu lộng gió tóc cài sương (...)

        Qua năm 1949, Hoàng dời chỗ ở sang làng Duyên Tục (thường gọi là làng Tuộc), rồi lại chuyển tới huyện Đông Quan (làng Trầu). Nhưng cách Đống Năm vẫn không xa. Và như vậy, Khanh vẫn gần Hoàng. Vì Khanh đã ly khai hẳn với ban kịch Đông phương, không theo họ đi lang thang lưu diễn vùng Bắc nữa, mà về ở Thái Bình, sống đơn chiếc như một ẩn sĩ thời loạn (...) Đầu năm 1950, Hoàng trở về Hà nội, giữa khi súng đạn tràn tới Liên khu ba, Đống Năm bị phá nát, chẳng hiểu Khanh trôi dạt nơi nào!
        (Duyên thơ nợ kịch, Vũ Hoàng Chương, trong tập hồi ký Ta đã làm chi đời ta, nxb Hội Nhà Văn in lại 1993, bị cắt nhiều chương, đoạn, so với bản in năm 1974 ở Sàigòn)

        Theo Hoàng Cầm, khi Tuyết Khanh có mang 6 tháng, phải ở lại "an dưỡng trong một quân y viện ở huyện Hữu Lũng", trong khi ông phải tiếp tục đi lưu diễn ở Việt Bắc. Đầu năm 1948, Tuyết Khanh sinh con gái là Kiều Loan. Nhưng hai người mất liên lạc. Sau này, tại Mỹ, Kiều Loan dựng lại tác phẩm của cha và thủ vai chính.

        Vũ Hoàng Chương gặp lại Tuyết Khanh giữa năm 1950. Năm 1952, Ban kịch Sông Hồng diễn vở Thằng cuội của Vũ Hoàng Chương, ông mời Tuyết Khanh đóng vai Hằng Nga, nhưng nàng từ chối. "Từ đó, Hoàng với Khanh chẳng còn sánh vai nhau trong ảo mộng sân khấu một lần nào nữa. Hoàng cũng chẳng còn đủ hào hứng để viết thêm một vở kịch thơ nào" (bđd, trang 127).

        Đoạn hồi ký trên đây cung cấp nhiều thông tin về đời sống kháng chiến, và có những chi tiết đáng chú ý:

        - Sự tương kính giữa Vũ Hoàng Chương và Hoàng Cầm, Vũ Hoàng Chương viết: "Hay bởi tác giả quan trọng của ban kịch là thi sĩ Hoàng Cầm, chỗ thanh khí của Hoàng, từng đã gặp nhau ở xóm Niềm bên Kinh Bắc?" . Những tài năng lớn thường kính trọng nhau.

        - Hai thi sĩ cùng yêu một người đẹp. Hoàng Cầm có lẽ quyến rũ hơn, với giọng oanh vàng đất Bắc, đã "được" Tuyết Khanh. [Vũ Hoàng Chương lúc đó đã có vợ là Đinh Thục Oanh, chị Đinh Hùng (từ 1944) và Hoàng Cầm cũng đã có vợ, ba con, tại quê nhà].

        - Thời ấy, Vũ Hoàng Chương đã in Thơ say (1940), Mây (1943) và kịch thơ Trương Chi (1944) gồm ba vở: Trương Chi, Vân Muội và Hồng Điệp. Trương Chi hay hơn cả, nhưng chưa thể sánh với Kiều Loan. Hoàng Chương nể Hoàng Cầm vì lẽ đó. Đến năm 1951, Vũ Hoàng Chương mới viết kịch thơ Tâm sự kẻ sang Tần (in năm 1961). Có thể nói, nếu không có Kiều Loan thì chưa chắc đã có Tâm sự kẻ sang Tần. Hai tác phẩm lớn.

        Vì người đẹp Tuyết Khanh mà Hoàng Chương bỏ kịch thơ. Hoàng Cầm, vì cách mạng phải treo cổ kịch thơ. Hai thi tài. Hai mệnh số. Hai quyết định bi đát.

        Kiều Loan

        Kiều Loan lênh đênh như toàn bộ tác phẩm của Hoàng Cầm.



        Bìa tác phẩm Kiều Loan của Hoàng Cầm




        Khởi thảo cuối xuân 1942 đến giữa năm 1943, đã tạm xong, Hoàng Cầm định đưa lên sân khấu Bắc Giang, nhưng bị viên chánh công sứ Pháp, thạo tiếng Việt, kiểm duyệt bỏ. Đến cuối năm 1943, ban kịch Hà Nội của Chu Ngọc định dàn dựng cũng bị kiểm duyệt Pháp chặn.

        Luyện tập trong bốn tháng. Trình diễn trong bốn giờ. Sáng ngày 26/11/1946, tại nhà Hát Lớn Hà Nội. Một buổi duy nhất, rồi bị Trần Duy Hưng ra lệnh đình chỉ. Đó là quyết định sai lầm đầu tiên của cách mạng về Kiều Loan. Hoàng Cầm kể lại:

        "Chúng tôi vừa hạ màn chót cho vở diễn lúc 1giờ 15 phút. Sau những tràng vỗ tay kéo dài thì ông Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng thành phố Hà Nội cho người ra mời anh Chù, anh Linh và tôi lên trụ sở Ủy ban. Ông ra lệnh cho chúng tôi phải hoãn những đêm diễn đã được Ủy ban cho phép. Lý do: quân đội Pháp đã đánh Hải Phòng và càng ngày càng khiêu khích trắng trợn Hà Nội. (...) Thế là số phận vở kịch lại lênh đênh. Tôi ngậm ngùi se sẽ ngâm câu Kiều;

        Phận bèo bao quản nước sa
        Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh..."

        Lần thứ nhì, trong kháng chiến, Hoàng Cầm định trình diễn Kiều Loan trong ngày khai mạc Đại hội Văn hóa Toàn quốc:

        "Tôi đưa đơn đến tận tay anh Nguyễn Đình Thi, lúc đó đang là Tổng thư ký Hội Văn hoá cứu quốc, đơn kèm theo kịch Kiều Loan. Rồi tôi hồi hộp chờ đợi...
        Với tôi hồi ấy cách mạng như một người khổng lồ mà tôi thì bé bỏng xa lạ quá. Cái uy thế của cách mạng tôi không thấy rõ lắm ở những người như các anh Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Kim Lân, Nguyên Hồng, nhưng lại thấy nổi bật hẳn lên ở anh Nguyễn Đình Thi. Ngồi trước mặt anh, bên cái bàn giấy lộng lẫy có đủ cả máy điện thoại và hai chồng sách dày, bìa cứng in nổi chữ vàng chữ bạc: Các Mác với vấn đề văn hoá, Tư bản luận, Chống Du-ring...tôi hoa cả mắt và cảm thấy mình là con chim chích vào rừng...
        Không khí cuộc gặp mặt bỗng trở nên nghiêm trang và lời mở đầu câu chuyện của anh Thi lại càng làm cho nó thêm lạnh nhạt, căng thẳng:
        - Tôi đã nhận được vở kịch của anh. Cả lá đơn nữa. Anh Nguyễn Huy Tưởng và anh Nguyên Hồng đã giới thiệu Kiều Loan với tôi. Tôi cũng đã đọc qua...
        Vừa nói, anh Thi vừa rút ở cái cặp da đen bóng tập bản thảo vở kịch đánh máy của tôi. Anh trao nó cho tôi với một nhếch mép cười mà cho đến nay tôi vẫn không sao hiểu được, nhất là câu nói ngay sau cái cười nửa miệng ấy:
        - Rằng hay thì thật là hay!
        Hai tiếng cuối câu đay xuống, tôi nghe như có vẻ vừa giễu cợt vừa hững hờ. Và anh Thi cũng chỉ nói có thế. Không hơn nửa lời. Rồi anh thu dọn sổ sách, như có ý bảo tôi "Về đi!". Cũng để cho anh lính mới làng văn biết rằng mỗi giờ mỗi phút với anh Thi là vàng ngọc đấy! "
        (Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi trong tôi - Nguyễn Đình Thi ngoài tôi, Tư liệu Talawas)

        Cũng Nguyễn Đình Thi đó, sau này nài nỉ Hoàng Cầm (trách nhiệm nhà xuất bản Văn Nghệ), in dùm tập thơ, thơ không vần sửa thành có vần theo lệnh Tố Hữu. Thế mới biết quyền lực tha hoá con người đến mức nào.

        Tháng 12/46 Hoàng Cầm cùng ban kịch rời Hà Nội, đi lưu diễn ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình. Kiều Loan phải tạm diễn ở cách đình làng vùng Bắc Ninh, nhưng đến ngày 19/12/46 chiến tranh bùng nổ, ban kịch Phương Đông phải giải tán. Kịch bản Kiều Loan, bị thất lạc trong những năm kháng chiến. Bản chính để in, do Lưu Quang Thuận giữ, khi Pháp nhẩy dù Bắc Cạn, phải ném bản thảo của các văn nghệ sĩ xuống hồ Ba Bể, trong đó có Kiều Loan, mãi đến năm 1970, nhờ một số bạn cũ còn giữ được bản đánh máy, Hoàng Cầm kết hợp, "trùng tu" lại bản thảo năm 1946.
        Và đến 1992, mới được xuất bản, sau khi sáng tác đúng 50 năm.
        Kiều Loan chính là hoá thân của Hoàng Cầm. Những nghệ sĩ lớn thường tạo những tình huống có tính cách tiên tri. Kiều Loan, sáng tác năm 1942, lúc Hoàng Cầm mới 20 tuổi đã nổi tiếng, trước một "tương lai sáng lạn" như thế, tại sao lại nghĩ đến một nhân vật bi thảm như Kiều Loan? Dường như Kiều Loan đã "vận" vào số phận Hoàng Cầm như một thực tại đớn đau mà người nghệ sĩ không tránh khỏi, trong cuộc đổi đời của đất nước.

        Sự lênh đênh của Kiều Loan trong thời Pháp thuộc và dưới thời cách mạng, không vì tình cờ, mà vì nội dung tác phẩm:

        Kiều Loan, con gái một cựu thần Tây Sơn, đi tìm chồng là Vũ Văn Giỏi. Mười năm trước, theo lời khuyên của nàng, Vũ lên đường giúp Quang Toản, sau khi Quang Trung băng hà. Tới Phượng Hoàng Trung Đô, Vũ nghe tin Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền làm bậy, ngả theo Nguyễn Ánh, trở thành Vũ tướng quân, tàn bạo càn quét những người dân chống lại nhà Nguyễn. Kiều Loan giả điên đến Phú Xuân, tại đây, nàng gặp ông già, thầy cũ của Vũ. Kiều Loan làm huyên náo cửa thành, cố tình để bị bắt vào dinh, nhìn lại người xưa. Kiều Loan và ông thày bị giam trong ngục. Kiều Loan uống thuốc độc tự vận cùng với ông già. Trước khi chết, nàng chém người chồng phản bội.

        Kiều Loan là một bi hùng ca bao quát lịch sử dân tộc, dõi vào những mốc chính: Nam Bắc phân tranh. Nguyễn Ánh cầu viện Pháp để tiêu diệt Tây Sơn. Gia Long thắng trận trở thành độc tài chuyên chế, tiêu diệt những khuynh hướng đối lập.
        Một nội dung như vậy, tất nhiên, không chỉ thực dân Pháp căm giận:

        "Vì chính sự bạo tàn Ôi! Nước mắt
        Bao nhiêu lần rỏ xuống những hồn oan?
        Chính sự gì đi cầu viện ngoại bang
        Về tàn sát những người dân vô tội"

        Mà tất cả những kẻ cầu viện nước ngoài để vững quyền chấp chính cũng phải hổ mình.

        Một triều đình vừa "thống nhất sơn hà", nhưng lệnh đầu phát ra là lệnh cấm:

        ... Vua cấm đèn cấm lửa
        Cấm dân gian đi lại ở kinh thành

        Lệnh thứ nhì là cấm hát:

        Vua có lệnh bắt những người hát nhảm
        Đầu sẽ bêu sương gió nếp hoàng thành

        Nhưng Kiều Loan, giai nhân tuyệt sắc, nào có sợ gì, nàng xuất hiện như một người điên, nàng cứ hát những lời phản biện:

        Chị buồn chị hát vang lừng
        Cỏ cây sa lệ núi rừng ngẩn ngơ

        Kiều Loan, là vở kịch thơ hay nhất của Hoàng Cầm, của thời tiền chiến. Mười năm sau, Tâm sự kẻ sang Tần với bút pháp bay bổng của Vũ Hoàng Chương mới có thể kế vị Kiều Loan.

        Kiều Loan nói lên chí khí bất khuất của Hoàng Cầm trong thi ca, tiên tri định mệnh đất nước:

        Về cuộc cải cách ruộng đất:

        Thà giết oan trăm mạng lương dân
        Hơn để thoát một tên phản nghịch

        Về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm:

        Mà trước mắt, cuộc xoay vần thời thế
        Gạt ra ngoài hầu hết bậc tài danh
        Bọn hủ nho nhan nhản khắp triều đình
        Nơi tù ngục chất đầy người nghiã khí
        Gỗ mục, thép cùn múa tay trong bị
        Lau sậy nghêng ngang làm cột trụ giang sơn

        Về cảnh chiến tranh cốt nhục tương tàn:

        Một nước nhỏ mà phân chia Nam Bắc
        Xâu xé nhau vì hai chữ lợi danh
        Tam vương, ngũ đế, cướp đất phá thành
        Mấy trăm năm nghe dân tình xao xao xác
        Thay cái đạo làm người bằng giáo mác
        Yến ẩm lầu cao... xương máu chan hòa

        Về ảo mộng chiến thắng:

        Cờ nêu cao chiến thắng nhuốm chiêu dương
        Mà rút lại cũng chỉ là giấc mộng.

        Với những câu thơ lạnh người:

        Chí lớn từ xưa chôn chật đất
        Riêng đàn đom đóm lại thênh thang

        Bọn "đom đóm" Hoàng Cầm đã thấy từ tuổi hai mươi, sau này sẽ sẽ ngập trời đất Bắc. Các "chí lớn" đã và hiện còn đang bị chôn vùi trong ngục tối.
        Nhưng Hoàng Cầm luôn luôn có lời chót:

        Làm mất nhân tâm thì miếu lớn tượng to
        Dân đạp dí xuống bùn là hết chuyện

        Viễn khách

        Về tiểu sử Hoàng Cầm, Hoàng Văn Chí có những chi tiết chính xác:

        "Ngay từ khi còn học lớp Đệ Tứ, ông đã dịch cuốn Graziella của Lamartine sang tiếng Việt, lấy nhan đề là Hận ngày xanh. Ông được nhiều người yêu chuộng từ ngày ấy. Tiếp theo, ông dịch cuốn Một nghìn một đêm lẻ, đăng trong Tạp chí Tân Dân.
        Hoàng Cầm cũng có viết một cuốn tiểu thuyết đầu tay nhan đề là Thoi mọng, nhưng nghệ thuật chính của Hoàng Cầm là viết kịch thơ. Cho đến ngày nay Hoàng Cầm giữ địa vị cao nhất trong văn học Việt Nam về ngành kịch thơ, vì những vở kịch sau đây:

        "Viễn khách", tả một câu chuyện về đời Hồ Quý Ly, đăng trong Tiểu Thuyết thứ bảy, với bút hiệu là Hoa Thu.

        "Kiều Loan", tả một câu chuyện đời Tây Sơn. "Lên đường" nói về thanh niên thời Nhật chiếm đóng." (Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 235)

        Hoàng Văn Chí, cùng thời với Hoàng Cầm -là chứng nhân đáng tin cậy về một giai đoạn lịch sử mà nhiều điều vẫn còn chìm trong bóng tối- xác định kịch thơ Viễn khách là của Hoàng Cầm. Tại sao? Việc này chẳng thể vô cớ.

        Trong cuốn Hoàng Cầm tác phẩm thơ (Lại Nguyên Ân sưu tầm với sự kiểm chứng của Hoàng Cầm), phần tiểu sử và tác phẩm không thấy nói đến Viễn Khách, các cuốn sách khác cũng vậy. Trong một bài đăng trên báo Văn Nghệ, Hoàng Cầm "đính chính" Viễn Khách không phải của ông:

        "Thì ra tác giả kịch thơ Viễn Khách lại chính là người yêu của Hoa Thu. Vì một lẽ riêng, tác giả lấy bút hiệu của người tình, Hoa Thu, ký dưới tác phẩm của mình, còn tên thật của Hoa Thu là Đặng Thị Đức Hoan, năm nay 69 tuổi, hiện ở bang Washington, Mỹ. Trong thư, sau những tâm sự buồn phiền, bà Hoan có yêu cầu tôi đính chính cho rằng: Hoàng Cầm không phải là tác giả kịch thơ Viễn Khách" (Văn Nghệ số 49, tháng 10/1993)

        Một "đính chính" đầu Ngô mình Sở, bởi nếu cái ông nào đó, lấy tác phẩm của người tình là bà Đặng Thị Đức Hoan, rồi ký tên Hoa Thu (bút hiệu của bà Hoan), thì chính "ông Hoa Thu giả" đó, phải viết bài đính chính, chứ đâu cần Hoàng Cầm? Bởi Hoàng Cầm có bao giờ chính thức nhận mình là tác giả Viễn Khách đâu? Vậy những dòng "đính chính" này, chỉ để "che mắt thế gian".

        Trong Hoàng Cầm văn xuôi, có bài "Sau giờ viễn khách đi" viết tháng 8/1995 rất đáng lưu ý, bài này viết cho những người làm văn học. Đọc kỹ sẽ thấy Viễn Khách đúng là tác phẩm của Hoàng Cầm như Hoàng Văn Chí đã xác nhận. Hoàng Cầm giải thích về niềm đam mê kịch thơ, về cái "luật" phải chọn bối cảnh lịch sử xưa để nói chuyện thời nay, như trong Hận Nam Quan, Kiều Loan, Lên đường:

        "Vậy thì năm 1943, một tác giả viết kịch thơ "Viễn khách" cũng không thể thoát khỏi cái lề luật ngặt ngèo ấy: Hoa Thu vẫn đang cảm xúc với bi kịch tình yêu trong thời đại mình, vẫn phải trốn về dĩ vãng xa xôi của lịch sử dân tộc, mượn chuyện sáu bẩy trăm năm để nói cái bây giờ. Nước lớn ăn hiếp nước nhỏ, mà ngày nay trong một nước nhỏ, người ta cứ tranh bá đồ vương khiến con người cứ phải chịu những bi kịch tàn khốc (...) Hoa Thu viết Viễn khách vào năm chiến tranh thế giới đã lên đến đỉnh cao của chết chóc tàn phá (1943)(...) chỉ tiếc là trong khoảng thời gian thế chiến ấy, Viễn khách không có dịp ra mắt công chúng. Viễn khách còn ở viễn phương hay còn đang viễn vọng điều gì?(...) Mãi đến 1949 (...) kịch thơ Viễn khách mới được đăng tải trên tạp chí Tiểu thuyết Thứ Bảy rồi lại phải đợi đến 1951, mới được trình diễn hai đêm trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội do đạo diễn Phan Tại dàn dựng". (Hoàng Cầm văn xuôi, trang 44-46).

        Tại sao Hoàng Cầm lại biết rõ "tâm sự tác giả" đến thế", nếu Hoa Thu không phải là Hoàng Cầm? Nhưng tại sao Hoàng Cầm lại không thể nhìn nhận tác phẩm của mình?

        - Trước hết, câu: Viễn khách còn ở viễn phương hay còn đang có viễn vọng điều gì? Chỉ vào Hoàng Cầm chứ không ai khác: Hoàng Cầm lúc ấy đang ở chiến khu (viễn phương), và còn đang viễn vọng vào cuộc cách mạng. Năm 1949, Viễn khách được đăng trên Tiểu thuyết Thứ bảy, tại Hà Nội (trong thành, tức là vùng địch). Đến năm 1951, Viễn khách được Vũ Khắc Khoan và Phan Tại dàn dựng ở nhà Hát Lớn. Lúc đó Hoàng Cầm vẫn còn đang ở chiến khu, chẳng thể để tên thật trên một tác phẩm in và trình diễn trong vùng "địch". Rồi sau 1954, Vũ Khắc Khoan di cư vào Nam, trở thành kịch tác gia hàng đầu của miền Nam với vở Thành Cát Tư Hãn. Phan Tại ở lại, hoạt động trong phong trào NVGP.

        - Lý do cuối và cũng là lý do chính: Viễn khách, cùng chủ đề "Đau khổ - Oan trái - Nước mắt" với Kiều Loan, cùng viết về thân phận dập vùi của một trang giai nhân tuyệt sắc: Hồ Thiên Hương. Nhưng nhân vật chính lại là cành vàng lá ngọc thời nhà Hồ. Đó là lý do chính, khiến Hoàng Cầm phải từ bỏ Viễn khách, bởi tất cả những gì liên quan đến "nhà Hồ", "họ Hồ", "triều Hồ", trong bối cảnh tranh bá đồ vương, đều phạm húy, đều nguy hiểm cho chính tác giả, từ 1945 đến ngày nay.

        .................................................. ...................
        Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 11-03-2010, 07:56 PM.
        ----------------------------

        Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

        Comment

        • #5

          Thứ Ba, 02/03/2010 12:5


          Hoàng Cầm của… "phút thứ 89"


          (TT&VH) - Ông bước sang tuổi 89 vào tối 25/2 vừa qua, một đêm trước ngày hội Lim. Bạn bè gọi vui rằng tuổi 89 ấy cũng là “phút thứ 89” của thi sĩ Bên kia sông Đuống, trước tuổi thượng thọ 90.

          Mọi năm, ngày sinh của Hoàng Cầm cũng chỉ có mặt bạn bè thâm giao, những người bạn đã gắn bó với ông vài chục năm trời qua đủ thăng trầm mà cuộc đời mang lại. Năm nay, số người có mặt đã thưa dần: chỉ có nhà văn Ngô Thảo, các nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán... Vài năm, lượng bạn bè ấy cứ vơi dần theo nhịp thời gian.




          Nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán (trái) chúc mừng sinh nhật nhà thơ Hoàng Cầm



          Khá giản dị, 2 chai rượu và một chút hoa quả được bày ra trong căn phòng nhà thơ đang nằm. Bạn bè cùng người nhà ngồi quanh thi sĩ quê Kinh Bắc. Vài lời hỏi thăm, những câu qua lại nhẹ nhàng. Lặng lẽ, nhà thơ như tách mình khỏi cuộc vui ấy.Cho dù, người nhà kể rằng buổi chiều hôm ấy, trước câu hỏi “hôm nay là ngày gì?”, ông vẫn khó nhọc mỉm cười.

          Buổi sinh nhật thứ 88 của Hoàng Cầm trở thành câu chuyện giữa bè bạn về những vất vả, cực nhọc trong cuộc đời ông. Nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán kể: Lần tiễn Nguyễn Lương Ngọc và Hòa Vang đi bộ xuyên Việt, tôi chở cụ chạy xe tà tà theo tiễn. Duyên nợ thế nào, cả 4 người cùng tuổi Tuất. Cụ Hoàng Cầm hể hả bảo: hôm nay có 4 con cún cùng đi. Cún lớn cún bé là Ngọc và Hòa Vang, Cún già là tao, Cún săn là thằng Toán, đi đâu cũng lăm lăm máy ảnh...

          Vậy mà chỉ còn lại có 2 người trong số họ ngồi lại tại căn phòng này, bây giờ và ở đây.

          Thêm một chút men, bè bạn của nhà thơ lần lượt đọc lại những Lá diêu bông, Về Kinh Bắc... từng làm nên cái tên của ông hoàng thơ tình Việt Nam. Cao hứng, nhà văn Ngô Thảo tuyên bố các năm sau sẽ kiếm võng điều, tìm người rước nhà thơ đi dự ngày hội thơ Việt Nam. Dĩ nhiên, nếu sức khỏe còn đủ níu nhà thơ ở lại lâu dài với cuộc đời, như mong mỏi của những người đang ngồi bên cạnh ông...

          Một phút hiếm hoi, như chợt bừng tỉnh và thoát khỏi quán tính của cõi hư vô, nhà thơ khẽ gọi tên những người xung quanh: Toán, Thảo, thậm chí kịp bông đùa vài câu với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, rồi lại lặng lẽ ngồi yên, đôi mắt thanh thản nhìn mọi người. Có lẽ, ngần ấy công việc cũng đã là quá sức với ông rồi.

          Người nhà bảo rằng hôm ấy, vào buổi sáng, nhà thơ cũng cố gắng nhấp môi một chén rượu thọ - điều mà ông rất ít khi làm từ mấy năm nay. Bước sang “phút thứ 89” nhưng thi sĩ không cần ghi bàn thắng nào cho cuộc đời nữa, bởi ông đã làm xong điều đó từ lâu rồi, với những bài thơ của mình...


          Minh Châu
          ----------------------------

          Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

          Comment

          • #6

            Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm



            Lá diêu bông chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của Hoàng Cầm. Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1921, Bắc Ninh, nổi danh vào thập niên 1940, với các tác phẩm kịch nghệ như Lên Đường, Kiều Loan, Viễn Khách, Hận Nam Quan... Lá Diêu Bông là bài thơ đã làm sống lại tên tuổi Hoàng Cầm tại hải ngoại.

            Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, từ tỉnh lỵ trọ học về thăm nhà bị "tiếng sét ái tình" khi gặp người con gái 16 tuổi tên Vinh. Tiếng sét ấy đã đi sâu vào trái tim, gần 70 năm sau, Hoàng Cầm tâm sự: "Trước mắt tôi, chị hiện ra sáng rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi bị chị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên hết học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số 1, xê xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ... Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng".

            Một buổi chiều mùa đông... Chị Vinh đi về phía cánh đồng chiều còn trơ cuống rạ. Hoàng Cầm bí mật, lặng lẽ lần theo, thấy chị thẩn thơ tìm đồng chiều, lẩm bẩm một mình: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay ta gọi là chồng...

            25 năm sau, năm 1959, bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm mới ra đời.


            Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
            Chị thẩn thơ đi tìm
            Đồng chiều,
            Cuống rạ.
            Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
            Từ nay ta gọi là chồng.


            Hai ngày em đi tìm thấy lá
            Chị chau mày:
            Đâu phải Lá Diêu Bông.
            Mùa Đông sau em tìm thấy lá
            Chị lắc đầu,
            Trông nắng vãn bên sông.
            Ngày cưới chị
            Em tìm thấy lá
            Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.
            Chị ba con
            Em tìm thấy lá
            Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
            Từ thuở ấy
            Em cầm chiếc lá
            Đi đầu non cuối bể.
            Gió quê vi vút gọi.
            Diêu Bông hời...
            ới Diêu Bông!.
            .




            Trích đoạn phỏng vấn thi sĩ Hoàng Cầm

            - Đọc thơ Hoàng Cầm, người ta tặng ông danh hiệu thi sĩ đa tình, ông nghĩ sao?

            - Người ta gọi tôi là đa tình có lẽ vì biết phần nào những câu chuyện tình yêu hơn tuổi của tôi. Nhưng nếu không có cái đa tình ấy thì cũng sẽ không có những Cây tam cúc hay Lá diêu bông, không có thơ Hoàng Cầm. Những người con gái luôn ở trong tiềm thức của tôi và là cảm hứng trực tiếp cho những bài thơ. Mà cái đa tình ở đây đâu đơn thuần là tình yêu lứa đôi. Bản chất của anh thi sĩ đã vốn sẵn máu phong tình, cho đến bây giờ tôi vẫn thế. Tôi còn dành cái tình đậm sâu cho một vùng quê sinh ra mình.

            - Nếu trong phong trào thơ mới, trước ông các thi sĩ thường chịu ảnh hưởng của thơ Pháp với các trào lưu khác nhau thì sự ảnh hưởng đó có ý nghĩa như thế nào với tác phẩm của ông?

            - Thế hệ các nhà thơ già như chúng tôi nói tiếng Pháp từ khi biết đọc, coi văn hóa Pháp là một nguồn mạch thứ hai nuôi dưỡng cảm hứng thơ ca. Đó là sự ảnh hưởng của cả một trào lưu chứ không riêng một tác giả nào. Khi mười sáu, mười bảy tuổi, tôi rất mê các nhà thơ lãng mạn như La Martine, Affrè de Musset. Khi đã trưởng thành hơn một chút, tôi thường chịu ảnh hưởng của các nhà thơ tượng trưng, siêu thực như Baudelaire, Verlaine. Nhưng cái ghi dấu ấn đậm nhất trong thơ tôi là đặc trưng của văn hóa vùng miền. Một vùng quê kinh bắc với dòng sông Đuống và những cô gái quan họ.

            - Người ta thấy trong thơ Hoàng Cầm có một vùng tâm linh vừa rất mờ, vừa rất thực, khi viết những dòng thơ "nghe như có ai đọc bên tai" đó, sự chi phối của lý trí như thế nào?

            - Trước khi cầm bút, bao giờ tôi cũng có sự suy tư trăn trở về tình yêu, hạnh phúc. Vùng miền tâm linh đó không phải là cái gì xa vời mà chính là những kỷ niệm sâu lắng nhất. Nó quen thuộc, thân thương với mình trong suốt những năm ấu thơ và đến lúc đó nó nhập vào mình như vô thức nhưng lại rất thực. Cái dòng sông Đuống "nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ" đó đã gắn bó với tôi từ những năm lên tám, chín tuổi. Và khi tôi xa Kinh Bắc, chứng kiến những hình ảnh người phụ nữ trăn trở nghĩ suy về số phận của mình thì cái dáng nằm nghiêng nghiêng của con sông ấy cũng là dáng vẻ của sự suy tư, trăn trở cho số phận dân tộc mình. Rồi khi viết diêu bông, tôi nào có định nghĩa được nó là cái gì. Chỉ có điều trong cảm giác của tôi "diêu bông" chính là cái mình cần tìm. Sau này tôi đi tìm cách giải nghĩa lại hai chữ diêu bông thì thấy diêu là nhẹ nhàng, phiêu diêu, không có thực như ma, còn bông lại là sự cụ thể khiến người ta nghĩ ngay đến sự yên ấm.




            Hoàng Cầm: 'Trời bắt tội tôi yêu sớm'

            Hà Linh


            Cậu bé ngày nào mải miết đi tìm lá diêu bông vì trót thương thầm nhớ trộm người chị xứ Kinh Bắc, giờ đã thành ông lão tuổi 84. Dấu ấn thời gian đổ cả vào mái tóc bạc trắng của ông để giữ lại vẹn nguyên đôi mắt tinh anh và một tâm hồn thi nhân rộng mở. Dưới đây là cuộc trò chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm.

            - Thưa ông, chàng trai trẻ Hoàng Cầm đã đến với những vần thơ tình như thế nào?

            - Tôi sớm viết thơ tình vì trời "bắt tội" tôi yêu sớm. 8 tuổi đã biết say mê. Nàng thơ đầu tiên của tôi hơn tôi 8 tuổi. Ngày ấy, mẹ tôi bán hàng xén. Một lần từ tỉnh lỵ trọ học về thăm nhà, tôi nhìn thấy chị mua hàng ở chiếc quầy nhỏ. Trong ánh nắng chiều, chị hiện ra trước mắt tôi, đẹp rực rỡ như một thiên thần.

            Từ đó trái tim tôi lao đao, choáng ngợp vì chị. Tôi hiểu đó là thứ tình cảm gái trai thật sự chứ không phải là tình chị em con trẻ. Trước, mỗi thứ bảy tôi mới về thăm nhà một lần thì từ khi biết chị, cứ đều đặn đến thứ tư và thứ bảy là tôi mua vé tàu về quê. Rồi tôi lẽo đẽo đi theo chị, chỉ để ngắm thôi. Hai chị em cứ quyến luyến nhau như thế cho đến ngày chị đi lấy chồng. Chị tên là Vinh, là người con gái đã gợi hứng cho bài thơ Lá Diêu Bông của tôi.

            - Cuộc đời ông có khá nhiều "lá diêu bông" bay qua. Tại sao không có chuyện tình nào kéo dài?

            - Khi yêu nhau, ai chẳng muốn có một tình yêu bền vững. Tôi cũng muốn tình yêu của mình được lâu dài chứ, nhưng hoàn cảnh và số phận vốn mang nhiều điều éo le, bất trắc. Khi một mối tình đi qua, cũng có nhớ, có tiếc thương, khổ đau... đủ cả. Nhưng số tôi vốn đào hoa, luôn luôn được sống trong trạng thái yêu và say mê. Thời gian dành để bâng khuâng và buồn đau quá ít. Bóng hồng này đi qua chưa lâu lại đã có bóng hồng khác tới.

            - Ngày xưa, ông thường tỏ tình với những người phụ nữ của mình như thế nào?

            - Ngày còn là cậu bé, say mê chị Vinh, tôi viết những vần thơ tình đầu tiên để mỗi dịp về quê lại dúi ngay vào tay chị. Những lần như thế, chị lại thận trọng đút vào túi áo. Tôi biết là chị Vinh hiểu rõ tình cảm của tôi.

            Còn những mối tình về sau là do các bà ngỏ lời trước. Cũng có những lúc vì nguyên nhân này nọ tôi phải từ chối nhưng thường thì họ cứ tỏ tình là tôi đồng ý luôn.

            - Trong cuộc đời mình, mối tình nào khiến ông phải hối tiếc, ân hận?


            - Đấy là chuyện tình với cô Ninh. Mối tình này ập đến khi tôi đã có vợ con đề huề. Nhưng cuộc hôn nhân đầu tiên không xuất phát từ tình yêu mà do mẹ thày sắp đặt và ấn định ngày cưới từ khi 17 tuổi.

            Ninh là một người xinh đẹp, sắc sảo, con gái của một gia đình địa chủ giàu có, chúng tôi đã quen biết nhau từ trước. Nhưng đến năm 1942, trong những ngày về Tiên Du (Bắc Ninh) với ý định nhờ Ninh đóng vai Kiều Loan, tôi mới thực sự mê cô ấy. Sau 3-4 chuyến đi đi về về giữa Hà Nội và Bắc Ninh, tôi đã chinh phục được cô Ninh. Ngày đó Ninh đẹp, thông minh, có nhiều gia đình thanh thế giàu có dạm hỏi. Nhưng mà Ninh từ chối hết để nhận lời tôi. Bởi vì tôi ngâm thơ rất hay, nhất là những đoạn trong kịch thơ Kiều Loan. Tôi còn đẹp trai nữa, nhất là khi diện complet, đi giày tây vào thì trông oách lắm. Từ đó, thỉnh thoảng tôi lại lặn lội từ Hà Nội về Bắc Ninh thăm Ninh. Ban ngày chúng tôi xuống làng chơi, còn ban đêm, nhất là những đêm trăng sáng thì đi dạo với nhau, lãng mạn vô cùng.

            Nhưng con gái có thì, cũng đến lúc Ninh phải lấy chồng, mà không thể lấy một người đàn ông đã có vợ con như tôi. Năm 1944, cô ấy rủ tôi bỏ trốn vào Sài Gòn nếu còn muốn duy trì mối tình oái oăm này. Đó là những tháng ngày tôi phải đấu tranh với bản thân rất quyết liệt. Bỏ đi là hành động đúng theo tiếng gọi của trái tim nhưng con người ta đâu chỉ có một tình yêu, mà còn biết bao mối quan hệ ràng buộc. Tôi còn bố mẹ già, vợ và con thơ. Đó là chưa kể, cuối năm đó hàng triệu người Việt Nam đang lâm vào cảnh chết đói. Trong lúc cả đất nước đang phải chống chọi với cái chết, tôi đâu đành bỏ tất cả vì hạnh phúc riêng tư. Chúng tôi chia tay nhau. Về sau cô ấy lấy chồng ở Hà Nội. Ông Trời cũng éo le. Trong những ngày tháng ăn ở với tôi, cô ấy không có mang. Nhưng khi lấy chồng, cô ấy đẻ một mạch 7-8 đứa con. Đến lần sinh nở cuối cùng thì cô ấy bị băng huyết và chết khi mới gần 40 tuổi. Đó là một cuộc tình vừa gây thương tiếc, vừa ân hận dẫu rằng nếu có quay ngược thời gian, tôi cũng không thể làm cách nào khác được. Cuộc chia tay ấy là tất yếu, như định mệnh vậy.

            - Những mối tình thực trong cuộc đời ảnh hưởng thế nào đến thơ ca của ông?

            - Thơ tôi thường nảy sinh từ những mối tình có thật trong đời. Tôi liên miên sống trong tình yêu, có những mối tình trở nên ám ảnh, khiến cho những bài thơ của tôi bật ra một cách tự nhiên và kỳ lạ như từ trong vô thức. Cũng có những bài thơ tôi làm có ý thức hẳn hoi nhưng cũng bắt nguồn từ những tiếc nhớ, yêu thương rất đỗi thật lòng dành cho một người phụ nữ nào đó.


            "Nhớ mưa Thuận Thành
            Long lanh mắt ướt
            Là mưa ái phi
            Tơ tằm óng chuốt
            Ngón tay trắng nuột
            Nâng bồng Thiên Thai..."
            (Mưa Thuận Thành).
            Đấy là những câu thơ rất giàu nhạc điệu, nghe như chính tiếng mưa rơi. Vậy theo ông, nhạc điệu có vai trò như thế nào trong thơ?

            - Nhạc điệu có vai trò rất quan trọng trong thơ tôi. Tôi học được điều này từ Verlaine (nhà thơ Pháp). Khi bàn về thơ, ông cho rằng: "Nhạc điệu trước hết". Tôi luôn chăm chút đến nhạc điệu trong những vần thơ của mình. Và trong thơ tôi, nhạc điệu cũng vang lên một cách rất tự nhiên chứ không phải gượng ép, chắp nối. Nó như là thứ đã hình thành sẵn trong lòng mình.

            - Trong số các tập thơ của mình, ông thích nhất tập nào?

            - Về Kinh Bắc. Tôi từng nói với các nhà phê bình là muốn nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm, chỉ cần mỗi tập thơ đấy thôi cũng đủ. Còn những thứ khác, có cũng tốt còn không thì cũng không sao. Tất cả đặc điểm, tính chất và linh hồn thơ Hoàng Cầm nằm cả trong Về Kinh Bắc.

            - Ông nghĩ thế nào về thơ trẻ ngày nay?

            - Thú thật là bây giờ tôi ít đọc hơn. Phần vì ốm đau, phải nằm một chỗ nên ít có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với báo chí; phần vì tôi cũng tránh đọc. Bởi tôi không đọc thơ một cách dửng dưng mà phải suy nghĩ nhiều nên rất mệt.

            Khi làm thơ về tình yêu, tôi không ngại bất cứ điều gì cả, kể cả việc đề cập đến tính dục. Còn hiện tượng nhà thơ, nhà văn trẻ viết về sex dung tục như hiện nay thì đó là những người không mang tâm hồn thi sĩ thực sự, có thể chỉ vì họ muốn nổi tiếng bằng cách tạo nên một điều gì khác lạ. Nhiều khi gặp những câu thơ hay những câu văn "gợn", tôi thường bỏ đi mà không đọc tiếp nữa.

            - Ông có những ấn tượng như thế nào với những nhà thơ cùng thời như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Văn Cao...?

            - Thực ra, khi tôi mới vào nghề văn, những người như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư... đã rất nổi tiếng. Tôi cũng thích làm bạn với họ lắm nhưng không dám vì thấy mình còn quá non nớt. Nói chung đối với những tác giả này, lúc bấy giờ tôi rất phục nhưng chỉ dám "kính nhi viễn chi".

            Văn Cao là bạn thân của tôi, nhưng thơ tôi và thơ ông khác nhau nhiều lắm. Tôi chú trọng đến nhạc điệu, trong khi Văn Cao không cần đến âm điệu, không cần đến vần. Thơ ông giàu ý tưởng, tư tưởng. Văn Cao là người thâm trầm, ít nói nhưng có rất nhiều tâm nguyện sâu xa.


            ............................................



            Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 11-03-2010, 08:20 PM.
            ----------------------------

            Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

            Comment

            • #7

              NẾU ANH CÒN TRẺ

              Hòang Cầm


              Nếu anh còn trẻ như năm ấy
              Quyết đón em về sống với anh
              Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
              Anh đàn em hát níu xuân xanh

              Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận
              Anh lụy đời quên bến khói sương
              Năm tháng... năm cung mờ cách biệt
              Bao giờ em hết nợ Tầm dương?

              Nếu có ngày mai anh trở gót
              Quay về lãng đãng bến sông xa
              Thì em còn đấy hay đâu mất?
              Cuối xóm buồn teo một tiếng gà...


              [ame="http://www.youtube.com/watch?v=AmpfNfs9GhM&feature=related"]YouTube- Tình Cầm - Tuấn Ngọc[/ame]

              .

              ----------------------------

              Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

              Comment

              • #8




                Khi lửa khói tàn đêm

                dòng sông êm ái

                Tôi lại gặp em

                tưởng tháng năm dài chững lại

                Em vẫn thế… thon cây mềm trái

                tóc hong chiều còn óng tuổi mơ xanh

                Sao mắt em cứ nhìn mê mải

                về một phương trời…

                - Có phải đấy phương anh

                Có phải sắc đời miên man tơ dệt liễu mành

                hay thời gian cũng đa tình đến thế

                không muốn trôi trên mặt em diễm lệ

                vun vút quay vòng

                Em vẫn đợi

                Nguyên trinh.

                Theo dõi một phương trời…

                - Có phải đấy phương anh?

                Tôi huyễn tưởng hay em là ảo tưởng

                Tôi vu vơ hoa?

                Hay em liệng xuống

                để sớm nay trao cánh thiếp hồng

                - Vâng. Đêm rằm…

                Anh có về dự cưới em không?
                Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 23-11-2010, 09:14 AM.
                ----------------------------

                Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

                Comment

                • #9



                  LÁ DIÊU BÔNG - Chiêu độc của HOÀNG CẦM


                  LỜI DẪN: Theo nhà thơ Hoàng Hưng ( VN Lagi & Talawas ngày 19-09-2010) thì: Nhà thơ Hòang Cầm viết tập thơ " về Kinh Bắc" từ 1959 -8/1982, chủ yếu lưu truyền bằng chép tay ( ngoài luồng)- đây là một sự kiện " hậu Nhân văn- Giai Phẩm", trong đó bộ 3 " cây-lá- quả"( cây tam cúc-lá Diêu bông- quả vườn ổi) là nổi bật nhất " vì chúng được (giới Văn nghệ) xì xầm diễn giải như một lời oán trách của " Em" ( văn nghệ sĩ) với " chị" ( Đảng) .. đại khái là " Em" yêu "chị" , nhưng "chị" đã lừa "Em" , cho "Em'' ăn toàn "quả rụng", rồi bỏ mặc "Em" bơ vơ để đi lấy chồng
                  Theo Hoàng Cầm kể, thì 1974 Công An Hà Nội có kêu tác giả lên răn đe về việc lưu truyền những bài thơ "có nội dung xấu ấy" ... Hoàng Cầm phải ngưng... hậu quả vụ án " về Kinh Bắc" là :
                  - Hoàng Cầm bị đi tù 16 tháng
                  - Hoàng Hưng vì xin được , có trong tay mấy bài thơ trên nên bị đi tù 39 tháng
                  - Nam Dao ( Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng) - Việt kiều yêu nước Canada bị "cấm cửa" không được về Việt Nam trong 20 năm .
                  Sau" Đổi mới" ( 1986) mãi tới 1994 "Về Kinh Bắc" mới được NXB VH in bằng loại giấy xấu.

                  Nguyễn Khôi BÌNH :

                  LÁ DIÊU BÔNG

                  Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
                  Chị thơ thẩn đi tìm
                  Đồng chiều
                  cuống rạ
                  Chị bảo
                  Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
                  Từ nay ta gọi là chồng

                  Hai ngày Em tìm thấy lá
                  Chị chau mày
                  đâu phải Lá Diêu Bông
                  Mùa đông sau Em tìm thấy lá
                  Chị lắc đầu
                  trông nắng vãn bên sông

                  Ngày cưới Chị
                  Em tim thấy lá
                  Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

                  Chị ba con
                  Em tìm thấy lá
                  Xòe tay phủ mặt Chi không nhìn

                  Từ thuở ấy
                  Em cầm chiếc lá
                  Đi đầu non cuối bể
                  Gió quê vi vút gọi
                  Diêu Bông hời...
                  ... Ới Diêu Bông... !

                  BÌNH : Bài này có 2 cách hiểu:

                  1) Theo kiểu ngây thơ, coi đây là một bài thơ tình thứ thiệt, là một khúc hồi tưởng ( viết trong một cơn mơ " vô thức" mà "Thần Linh đọc Diêu Bông, tôi chép Diêu Bông, thế thôi.)
                  Đó là mối tình đơn phương của cậu bé 12 tuổi (HC) với Chị Vinh ( 20 tuổi) ở ga Việt Yên, Bắc Giang thời trước 1945 ... một thứ tinh yêu đơn phương của một chú bé ngây thơ huyễn tưởng với một bà Chị sành sỏi " tung ra cái Lá Diêu Bông ( ảo huyền) "dứ " trêu chú bé ngây ngốc?

                  Bài thơ mở đầu bằng " Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng" là Thi Sỹ đã lấy cái địa danh( quê Vua Lý ) với cái Váy lưới Chai của gái Đình Bảng nổi tiếng thời bấy giờ để tạo sức hút ( gây ấn tượng)... tiếp theo là Tác giả tung ra cái Lá Diêu Bông ( lá Trời , huyền ảo, sắc sắc không không như một phép thần thông của" Chị" bủa vây giăng lưới "bẫy" Chú "Em"
                  ngây thơ chạy theo mối tình hư ảo vô vọng...

                  Thủ pháp "Váy Đình Bảng/ Lá Diêu Bông" quả thực là LINH NGHIỆM đã mê hoặc bao lớp độc giả say thơ Hoàng Cầm... Để rồi có Nhạc sỹ phổ thơ Lá Diêu Bông, Cô Nàng Sài Gòn mở " Quán Diêu Bông" như một tình thơ đẹp thu hút rung động bao con tim, trí tưởng tượng của một thời "gió quê vi vút gọi ..."

                  2) Hiểu theo cách : Thơ "ẩn dụ" , cái thâm nho của Thi sỹ (con nhà chữ nghĩa người làng Hồ- xứ Kinh Bắc) mượn truyện tình (bịa) để nói truyên Đời của một thời sau vụ NV-GP... Để ai đó tự suy diễn mà chia sẻ nỗi đau với tác giả.

                  VỀ NGHỆ THUẬT bài thơ : Đây là nghệ thuật bậc thầy Thi Sỹ Hoàng Cầm tạo ra hình tượng thơ "Lá Diêu Bông" huyền ảo gây mê hoặc lòng người:- yêu(tình) thì rất tình mà đau ( hờn đời) thì thấm tới cõi Thần Linh ma quái... Phải có một hồn thơ siêu viêt, một bút pháp kỳ tài (như viết trong mơ, nỗi đau tình, đau đời,ẩn hiện trong nhau, chữ ít ý nhiều - kể cả đầy ẩn ý ... Về ngôn từ: Thi Sỹ dùng cách nói của người Kinh Bắc rất Quan họ như: Trông nắng vãn bên sông (lưu ý tử VÃN) , xe chỉ ấm trôn kim, xòe tay phủ mặt... rất dân gian mà cũng rất Hàn lâm ; Tất cả ý tứ chữ nghĩa quyện vào nhau để Lá Diêu Bông còn mãi với Đời .

                  Tóm lại : Bài thơ Lá Diêu Bông nằm trong tập thơ liên hoàn Về Kinh Bắc là "một lâu đài tráng lệ với không gian văn hóa cổ kính hòa trộn với tâm linh hiện đâị , những ẩn ức về thân phận con người cùng khát vọng sống của nó- qua phía âm bản của thơ ta thấy được tiếng kêu bi thương thầm thĩ của người nghệ sỹ tài hoa đầy tính nhân văn, sự ám ảnh về thân phận con người nghệ sỹ trí thức, nỗi thất vọng to lớn giữa lý hưởng và hiện thực cuộc sống của một thế hệ văn nghệ sỹ .Theo thiển ý của NK thì có lẽ sau Tây Tiến ( Quang Dũng) thì Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm là một trong những đỉnh cao trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Sáng tác Lá Diêu Bông là Hoàng Cầm muốn gửi một thông điệp đến bạn đọc để giãi bày cái đau tình, đau đời mà Thi Sỹ ẩn nhẫn câm nín bao ngày không nói ra được.

                  "Lá Diêu Bông" là một bài thơ "thần khẩu hại xác phàm" thời nay, nó rất định mệnh- rất ĐỘC- ai nặng tình vướng phải nó ( ở một thời chưa Đổi mới mở cửa) thì đều chuốc lấy TAI HỌA !

                  Nay đã qua 50 năm , mấy nhân vật chính đã đi vào thiên cổ...thế mà nghe chuyện cũ (đọc) lại vẫn thấy sởn tóc gáy :
                  Diêu Bông hời ...
                  Ới Diêu Bông ...

                  Góc Thành Nam Hà Nội 20-09-2010
                  Nguyễn Khôi - cẩn bút ...

                  "ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO BẠN
                  HÃY TỰ HỎI BẠN ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC"

                  Comment

                  Working...
                  X
                  Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom