• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Dòng Thơ Đường

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • M Mít Đặc
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi CONHAKO View Post
    Những bài dịch Đường Thi đầu tiên trong văn học Việt Nam

    Nguyễn Quảng Tuân


    Nói đến những bài dịch Đường thi người ta thường nghĩ đến bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, do Phan Huy Vịnh (1) dịch hoặc bài Thu hứng(2) của Đỗ Phủ do Ngô Thế Vinh dịch ra quốc âm. Hai bài thơ dịch này sở dĩ được phổ biến sâu rộng vì đã được các đào nương xưa, thường hát trong các xóm bình khang và cũng vì các khách yêu ca trù hết sức ưa thích. Ngoài hai bài kể trên còn có các bài Thu hứng (bài thứ tư) của Đỗ Phủ (Nguyễn Công Trứ dịch), bài Văn lân gia lý tranh của Từ An Trinh (Trương Minh Ký dịch), bài Há Chung Nam sơn, quá Hộc Tư Sơn Nhân túc, trí tửu của Lý Bạch (Nguyễn Khuyến dịch) cũng được nhiều người biết đến.
    Nhưng đó chỉ là những bài dịch về sau này vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, còn những bài dịch Đường thi đầu tiên phải kể đến những bài đã được dịch từ thế kỷ thứ XV và được sưu tầm trong bộ Hồng Đức quốc âm thi tập (đời vua Lê Thánh Tôn) như bài Xuân tịch lữ hoài dịch của Thôi Đồ và bốn bài dịch ở chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường.

    Bài Xuân tịch lữ hoài nguyên văn bằng chữ Hán như sau:
    春 夕 旅 懷
    水 流 花 謝 雨 無 情
    送 盡 東 風 過 楚 城
    蝴 蠂 夢 中 家 萬 里
    子 規 枝 上 月 三 更
    故 園 書 動 經 年 絕
    華 發 春 惟 滿 鏡 生
    自 是 不 歸歸 便 得
    五 湖 烟 景 有 誰 爭
    崔 涂


    XUÂN TỊCH LỮ HOÀI
    Thủy lưu hoa tạ lưỡng vô tình,
    Tống tận đông phong quá Sở thành.
    Hồ điệp mộng trung gia vạn lý,
    Tử quy chi thượng nguyệt tam canh.
    Cố viên thư động kinh niên tuyệt,
    Hoa phát xuân duy mãn kính sinh.
    Tự thị bất qui, qui tiện đắc,
    Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy tranh
    THÔI ĐỒ

    Dịch nghĩa:
    ĐÊM XUÂN ĐẤT KHÁCH NHỚ NHÀ
    Hoa bay nước chảy cũng vô tình,
    Gió quyến xuân đưa đến Sở thành.
    Hồ điệp mơ màng nhà vạn dặm,
    Tử qui khắc khoải nguyệt ba canh.
    Thư nhàn dễ cách lòng nên bạc,
    Tóc tuyết khôn cầm thức lại xanh.
    Nẻo ấy chẳng về, về ắt được,
    Năm hồ cảnh vắng có ai tranh.
    KHUYẾT DANH

    Bài dịch sang quốc âm đã rất thanh thoát nên các nhà sưu tầm về sau đã tưởng là thơ Nôm sáng tác và đã đưa vào bộ Hồng Đức quốc âm thi tập.

    Bộ này còn có bốn bài dịch chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường:

    1. LƯU NGUYỄN NHẬP ĐỘNG

    Cỏ rợp non tiên một nẻo phân,
    Đất chăng bụi bụi cỏ êm chân.
    Khói xanh bóng tiễn xem đương mặt,
    Nước biếc duyên ưa nọ có thân.
    Dải non cao, chăng khối nguyệt,
    Doành sông thắm, một dường xuân.
    Chẳng hay người ấy về đâu tá?
    Niệm đến Đào Nguyên hỏi chủ nhân.

    2. LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ

    Cây khói xanh xanh thức biếc tương,
    Trước đông thuở dãi bóng trì đường.
    Mây che cửa chim bay hết,
    Suối thay cầm tiếng nhặt xoang.
    Sông có bích đào non nước dẫy,
    Cõi nhiều hồng hạnh tháng ngày trường.
    Cánh hoa dầu chẳng ngươi tiêu rước,
    Chó sủa âu là hẳn ấy lang.

    3. TIÊN TỬ HOÀI LƯU NGUYỄN

    Chẳng còn nhớ đến khúc Nghê thường,
    Một phút chiêm bao một phút thương.
    Thuở động ngày chầy xuân vắng vẻ,
    Khi người đường cách nguyệt mơ màng.
    Đất nhiều có ngọc qua ưa biếc,
    Nước có hoa đào hết tấc hương.
    Gió thổi đèn tàn thêm lạnh lẽo.
    Thân này khôn chước hỏi lưu lang.

    4. LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO, BẤT KIẾN TIÊN TỬ

    Ngọc châu lại đến hỏi chưng đây,
    Rầy đã rêu rêu bụi bụi đầy.
    Ca khúc rền rền cách núi,
    Làng doanh văng vẳng khóa mây.
    Thức mây chẳng phải xanh phen nọ,
    Điểm khói nào còn biếc bầy chầy.
    Mặt nước hoa trôi lành lạnh đấy.
    Người tiên mời rượu ở đâu rầy?
    KHUYẾT DANH

    Nguyên văn bốn bài thơ của Tào Đường bằng chữ Hán như sau:

    入 天 臺

    樹 入 天 臺 石 路 新
    雲 和 草 靜 迥 無 塵
    烟 霞 不 省 生 前 事
    水 木 空 疑 夢 後 身
    往 往 鸡 鳴 岩 下 月
    時 時 犬 吠 洞 中 春
    不 知 此 地 歸 何 處
    須 就 桃 源 問 主 人

    1. NHẬP THIÊN THAI

    Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,
    Văn hòa thảo tĩnh quýnh vô trần.
    Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
    Thủy mộc không ghi mộng hậu thân.
    Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,
    Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
    Bất tri thử địa qui hà xứ,
    Tu tựu Đào nguyên vấn chủ nhân.
    TÀO ĐƯỜNG


    洞 中 遇 仙 人

    天 和 樹 色 靄 蒼 蒼
    霞 重 岩 深 路 渺 茫
    雲 寶 滿 山 無 鳥 雀
    水 聲 沿 澗 有 笙 簧
    碧 沙 洞 里 乾 坤 別
    紅 樹 枝 邊 日 月 長
    願 得 花 開 有 人 出
    兔 令 仙 犬 吠 劉 郎
    曹唐


    2. ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN NHÂN

    Thiên hòa thụ sắc ái thương thương,
    Hà trọng nham thâm lộ diểu mang.
    Vân đậu mãn sơn vô điểu tước,
    Thủy thanh duyên giản hữu sênh hoàng.
    Bích sa động lý càn khôn biệt,
    Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường.
    Nguyệt đắc hoa gian hữu nhân xuất,
    Miễn linh tiêu khuyển phệ Lưu lang.
    TÀO ĐƯỜNG


    洞 中 有 懷
    不 將 清 瑟 理 霓 裳
    塵 夢 那 知 鶴 夢 長
    洞 里 有 天 春 寂 寂
    人 間 無 路 月 茫 茫
    玉 沙 瑤 草 沿 溪 碧
    流 水桃 花 滿 澗 香
    曉 露 風 燈 易 零 落
    此 生 無 處 問 劉 郎
    曹唐

    4. ĐỘNG TRUNG HỮU HOÀI

    Bất tương thanh sắt lý Nghê thường,
    Trần mộng na tri hạc mộng trường.
    Động lý hữu thiên xuân tịch tịch,
    Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang.
    Ngọc sa dao thảo duyên khê bích,
    Lưu thủy đào hoa mãn giản hương.
    Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc,
    Thử sinh vô xứ vấn Lưu lang.


    再 到 天 臺

    再 到 天 臺 訪 玉 真
    蒼 苔 白 石 已 成 塵
    笙 歌 寂 寞 閑 深 洞
    雲 鶴 簫 條 絕 舊 鄰
    草 樹 總 非 前 度 色
    煙 霞 不 似 往 年 春
    桃 花 流 水 依 然 在
    不 見 當 時勸 酒 人
    曹唐


    5. TÁI ĐÁO THIÊN THAI

    Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân,
    Thương đài bạch thạch dĩ thành trần.
    Sênh ca tịch mịch nhàn thâm động,
    Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân.
    Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc,
    Yên hà bất tự vãng niên xuân.
    Đào hoa lưu thủy y nhiên tại,
    Bất kiến đang thời khuyến tửu nhân.
    TÀO ĐƯỜNG


    Như vậy có một bài thơ chữ Hán của Tào Đường đã không được dịch ra quốc âm. Đó là bài Thiên Thai tống biệt (bài thứ ba)


    天 臺 送 別

    殷 鴰 相 送 出 天 臺
    仙 景 那 能 欲 再 來
    雲 液 既 歸 須 強 飲
    玉 書 無 事 莫 頻 開
    花 流 洞 口 應 長 在
    水 到 人 間 定 不 回
    惆 悵 溪 頭 從 此 別
    碧 山 明 月 照 蒼 苔


    3. THIÊN THAI TỐNG BIỆT

    Ân cần tương tống xuất Thiên Thai,
    Tiễn cảnh na nàng khước tái lai.
    Vân dịch ký qui tu cưỡng ẩm,
    Ngọc thư vô sự mạc tần khai.
    Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
    Thủy đáo nhân gian định bất hồi.
    Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,
    Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.
    TÀO ĐƯỜNG


    Bài này, trong Hồng Đức quốc âm thi tập có tới năm bài vịnh cùng đề tài (Thiên tử tống Lưu Nguyễn hoặc Lưu Nguyễn từ tiên tử) nhưng không có bài nào dịch theo bài thơ của Tào Đường. Chúng tôi chỉ xin dẫn ra một bài:


    3. LƯU NGUYỄN TỪ TIÊN TỬ

    Một niềm nhớ chúa một âu nhà,
    Cửa động dùng dằng ngại bước ra.
    Hương tứ phiêu khi gió thổi,
    Cố viên lạc thuở trăng tà.
    Nom cao mây phủ dư ngàn dặm,
    Sông thẳm sầu đeo mấy phút hoa.
    Dầu nhẫn bắc nam đường có cách,
    Bao nhiêu cảnh cũ mựa quên mà.
    KHUYẾT DANH


    Đọc bài thơ Nôm sáng tác này và bốn bài thơ dịch ra quốc âm ở trên chúng ta nhận thấy có nhiều chữ cổ và thể thơ còn có chỗ viết theo thể lục ngôn.


    Về chữ cổ thì như: tiển (ưa thích), làng doành (làng xóm), mựa (chớ).

    Về các câu đặt theo thể lục ngôn thì có:

    Dải non cao, chăng khối nguyệt,
    Doành sông thắm, một dường xuân.
    (LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ)


    Hương tứ phiêu, khi gió thổi,
    Cổ viên lạc, thuở trăng tà.
    (LƯU NGUYỄN TỪ TIÊN TỬ)


    Ca khúc rền rền cách núi,
    Làng doành văn vẳng khóa mây.
    (LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO, BẤT KIẾN TIÊN TỬ)

    Thể lục ngôn này chúng ta thường thấy có trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi:

    Khách đến vườn còn hoa lác,
    Thơ nén cửa thấy nguyệt vào
    (BÀI XIII)

    Mắt hòa xanh, đầu dễ bạc,
    Lưng khôn uốn, lộc nên từ
    (BÀI XVI)

    Quét trúc bước qua lòng suối,
    Thưởng mai về đạp bóng trăng.
    (BÀI XIX)

    hoặc trong Bạch Vân âm quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

    Am Bạch Vân, rồi nhàn hứng,
    Dặm hồng trần vắng ngại chen.
    (BÀI XIII)

    Giàu có phận là ơn chúa
    Được làm người bởi đức cha
    (BÀI XVI)

    Đêm đợi trăng cài bóng trúc,
    Ngày chờ gió thổi tin hoa.
    (BÀI XIX)

    Theo nhận xét trên thì mấy bài dịch quốc âm chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường có thể được coi là xưa nhất, từ thời Lê vào thế kỷ thứ XV, xưa hơn cả bài dịch Tàn xuân lữ xá của Thôi Đồ đã được viết đúng theo thể thất ngôn bát cú và không có chữ cổ nào.

    Sở dĩ bốn bài thơ Nôm dịch chùm thơ Thiên Thai (thiếu bài số 3) không đủ nên các cụ ta xưa khi nghe hát ả đào thường cho hát đủ cả năm bài thơ chữ Hán của Tào Đường và ở dưới mỗi bài thơ lại có mấy câu thổng tóm tắt đại ý bài thơ bằng quốc âm theo thể lục bát như sau:

    I
    Cổ cây chẳng chút bụi trần,
    Lối vào không biết rằng gần hay xa.
    Xinh thay hỡi thú yên hà,
    Nguồn Đào ướm hỏi ai là chủ nhân.

    II
    Mây che khói tỏa khắp đường,
    Lối vào xa thẳm mơ màng bâng khuâng.
    Phách khe đàn suối vang lừng,
    Ước gì được kẻ tỏ chừng cho hay.

    III
    Ngậm ngùi ra cửa Thiên Thai,
    Tưởng chừng nước chảy hoa trôi lạnh lùng.
    Tiễn đưa luống ngẩn ngơ lòng,
    Đầu non xanh ngắt nguyệt lồng rêu in.

    IV
    Hoa trôi man mác suối vàng,
    Hỡi ai nhớ khúc Nghê thường ngày xưa.
    Trăng kề cửa động trơ trơ,
    Xuân về luống những ngẩn ngơ vì chàng.

    V
    Cỏ cây xem bẵng tần ngần,
    Yên hà năm trước mươi phần kém xa.
    Vẫn còn lưu thủy đào hoa,
    Mà người mời rượu biết là tìm đâu.
    (KHUYẾT DANH)

    Các câu thổng ấy rất hay nên các bài Thiên Thai dịch hay sáng tác trong Hồng Đức quốc âm thi tập đã không được các cụ ưa thích ca trù đem ra để các đào nương hát hoặc ngâm - như bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị dịch Nôm hay bài Thu hứng (bài thứ nhất) của Đỗ Phủ dịch Nôm - và do đó đã không được phổ biến rộng rãi mà cũng không ai để ý đó là những bài thơ Nôm dịch Đường thi đầu tiên trong văn học Việt Nam.

    CHÚ THÍCH(1) Nay có thuyết cho là của Phan Huy Thực
    (2) Thu hứng gồm 8 bài: Ngô Thế Vinh dịch bài thứ nhất, Nguyễn Công Trứ dịch bài thứ tư.

    Nguồn: Tạp chí Hán Nôm

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    XUÂN OÁN - Kim Xương Tự



    金昌緒
    春怨
    打起黃鶯兒,
    莫教枝上啼。
    啼時驚妾夢,
    不得到遼西。


    • Kim xương tự
    • Xuân oán
    Đả khởi hoàng oanh nhi
    Mạc giao chi thượng đề
    Đề thì kinh thiếp mộng,
    Bất đắc đáo Liêu Tây (tê ) .
    Chú thích:
    (1) Liêu Tây: nơi người chồng trú quân, ở vào khoảng tỉnh Trực Lệ và tỉnh Phụng Thiên ngày nay. (Chữ Tây đọc chuyển âm thành "tê" cho hiệp vần - Trong thơ chữ Hán, nếu đọc theo âm Hán Việt thì có một số trường hợp phải đọc chuyển âm cho hiệp vần).

    Dịch nghĩa:

    XUÂN OÁN

    Đánh đuổi con chim oanh vàng đi,
    Đừng cho nó kêu trên cành.
    Khi nó kêu làm kinh động giấc mộng của thiếp
    Không mơ đến được Liêu Tây (1)



    Dịch thơ:

    Con oanh vàng đuổi bay đi!
    Véo von để hót làm chi trên cành.
    Em mơ nghe hót giật mình
    Dở dang chẳng được tới thành Liêu Tây.


    Đánh đuổi con oanh vàng đi
    Đừng cho nó hót tỉ ti trên cành
    Chim kêu giấc mộng tan tành
    Chẳng cho thiếp tới được thành Liêu Tây.
    KD dịch thơ.


    Con oanh vàng đuổi nó đi,
    Không cho nó hót mãi chi trên cành.
    Véo von làm thiếp giật mình,
    Trong mơ chẳng được đến thành Liêu Tây.

    Đánh đuổi cái oanh vàng đi,
    Đừng cho nó hót tỉ ti trên cành.
    Nó kêu thiếp ngủ giật mình,
    Chẳng yên giấc mộng tới thành Liêu Tây.
    Hải Văn dịch thơ.


    Con oanh vàng đuổi bay đi!
    Véo von để hót làm chi trên cành.
    Em mơ nghe hót giật mình
    Dở dang chẳng được tới thành Liêu Tây.
    TP dịch thơ.


    KHÚC HÁT Y CHÂU
    Mau mau đuổi cái vàng anh,
    Đừng cho nó hót trên cành cây cao.
    Làm cho tan giấc chiêm bao,
    Làm cho thiếp chẳng được vào Liêu Tê.
    KD dịch thơ.


    Mau đuổi cái con vàng anh,
    Đừng cho nó hót trên cành líu lô.
    Làm ta tan cả giấc mơ,
    Liêu Tây chốn ấy bao giờ lại mơ?
    Đoàn Đức Thành dịch thơ.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Sơn Phòng Xuân Sự - Sầm Tham







    Sơn phòng xuân sự
    Sầm Tham
    Lương viên nhật mộ loạn phi nha
    Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia
    Đình thụ bất tri nhân khứ tận
    Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.

    Chú thích: Lương viên Sách "Tây kinh tạp ký" chép đời Nam Bắc triều (420-581), Lương Hiếu Vương là con thứ vua Lương Vũ Đế (502-550) mở vườn Đông uyển ở trong thành Thư Dương chu vi hàng mấy dặm, để làm chỗ chiêu tập hào kiệt bốn phương và những người du thuyết trong thiên hạ. Lương thường cùng tân khách và cung nhân hội yến trong vườn, rồi thả thuyền câu cá trong ao. Đời sau gọi vườn Đông uyển là Lương viên. trước là nơi sầm uất mà bây giờ thì tiều tụy.


    Nét xuân ở nhà trong núi
    Trời tối, vườn Lương quạ dập dìu
    Nhà xa mấy nóc cảnh đìu hiu
    Cây sầu chẳng biết người đi hết
    Xuân tới hoa xưa vẫn nở đều.
    (Người dịch: Ngô Tất Tố)
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 22-02-2011, 06:18 PM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Những bài dịch Đường Thi đầu tiên trong văn học Việt Nam

    Những bài dịch Đường Thi đầu tiên trong văn học Việt Nam

    Nguyễn Quảng Tuân


    Nói đến những bài dịch Đường thi người ta thường nghĩ đến bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, do Phan Huy Vịnh (1) dịch hoặc bài Thu hứng(2) của Đỗ Phủ do Ngô Thế Vinh dịch ra quốc âm. Hai bài thơ dịch này sở dĩ được phổ biến sâu rộng vì đã được các đào nương xưa, thường hát trong các xóm bình khang và cũng vì các khách yêu ca trù hết sức ưa thích. Ngoài hai bài kể trên còn có các bài Thu hứng (bài thứ tư) của Đỗ Phủ (Nguyễn Công Trứ dịch), bài Văn lân gia lý tranh của Từ An Trinh (Trương Minh Ký dịch), bài Há Chung Nam sơn, quá Hộc Tư Sơn Nhân túc, trí tửu của Lý Bạch (Nguyễn Khuyến dịch) cũng được nhiều người biết đến.
    Nhưng đó chỉ là những bài dịch về sau này vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, còn những bài dịch Đường thi đầu tiên phải kể đến những bài đã được dịch từ thế kỷ thứ XV và được sưu tầm trong bộ Hồng Đức quốc âm thi tập (đời vua Lê Thánh Tôn) như bài Xuân tịch lữ hoài dịch của Thôi Đồ và bốn bài dịch ở chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường.

    Bài Xuân tịch lữ hoài nguyên văn bằng chữ Hán như sau:
    春 夕 旅 懷
    水 流 花 謝 雨 無 情
    送 盡 東 風 過 楚 城
    蝴 蠂 夢 中 家 萬 里
    子 規 枝 上 月 三 更
    故 園 書 動 經 年 絕
    華 發 春 惟 滿 鏡 生
    自 是 不 歸歸 便 得
    五 湖 烟 景 有 誰 爭
    崔 涂


    XUÂN TỊCH LỮ HOÀI
    Thủy lưu hoa tạ lưỡng vô tình,
    Tống tận đông phong quá Sở thành.
    Hồ điệp mộng trung gia vạn lý,
    Tử quy chi thượng nguyệt tam canh.
    Cố viên thư động kinh niên tuyệt,
    Hoa phát xuân duy mãn kính sinh.
    Tự thị bất qui, qui tiện đắc,
    Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy tranh
    THÔI ĐỒ

    Dịch nghĩa:
    ĐÊM XUÂN ĐẤT KHÁCH NHỚ NHÀ
    Hoa bay nước chảy cũng vô tình,
    Gió quyến xuân đưa đến Sở thành.
    Hồ điệp mơ màng nhà vạn dặm,
    Tử qui khắc khoải nguyệt ba canh.
    Thư nhàn dễ cách lòng nên bạc,
    Tóc tuyết khôn cầm thức lại xanh.
    Nẻo ấy chẳng về, về ắt được,
    Năm hồ cảnh vắng có ai tranh.
    KHUYẾT DANH

    Bài dịch sang quốc âm đã rất thanh thoát nên các nhà sưu tầm về sau đã tưởng là thơ Nôm sáng tác và đã đưa vào bộ Hồng Đức quốc âm thi tập.

    Bộ này còn có bốn bài dịch chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường:

    1. LƯU NGUYỄN NHẬP ĐỘNG

    Cỏ rợp non tiên một nẻo phân,
    Đất chăng bụi bụi cỏ êm chân.
    Khói xanh bóng tiễn xem đương mặt,
    Nước biếc duyên ưa nọ có thân.
    Dải non cao, chăng khối nguyệt,
    Doành sông thắm, một dường xuân.
    Chẳng hay người ấy về đâu tá?
    Niệm đến Đào Nguyên hỏi chủ nhân.

    2. LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ

    Cây khói xanh xanh thức biếc tương,
    Trước đông thuở dãi bóng trì đường.
    Mây che cửa chim bay hết,
    Suối thay cầm tiếng nhặt xoang.
    Sông có bích đào non nước dẫy,
    Cõi nhiều hồng hạnh tháng ngày trường.
    Cánh hoa dầu chẳng ngươi tiêu rước,
    Chó sủa âu là hẳn ấy lang.

    3. TIÊN TỬ HOÀI LƯU NGUYỄN

    Chẳng còn nhớ đến khúc Nghê thường,
    Một phút chiêm bao một phút thương.
    Thuở động ngày chầy xuân vắng vẻ,
    Khi người đường cách nguyệt mơ màng.
    Đất nhiều có ngọc qua ưa biếc,
    Nước có hoa đào hết tấc hương.
    Gió thổi đèn tàn thêm lạnh lẽo.
    Thân này khôn chước hỏi lưu lang.

    4. LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO, BẤT KIẾN TIÊN TỬ

    Ngọc châu lại đến hỏi chưng đây,
    Rầy đã rêu rêu bụi bụi đầy.
    Ca khúc rền rền cách núi,
    Làng doanh văng vẳng khóa mây.
    Thức mây chẳng phải xanh phen nọ,
    Điểm khói nào còn biếc bầy chầy.
    Mặt nước hoa trôi lành lạnh đấy.
    Người tiên mời rượu ở đâu rầy?
    KHUYẾT DANH

    Nguyên văn bốn bài thơ của Tào Đường bằng chữ Hán như sau:

    入 天 臺

    樹 入 天 臺 石 路 新
    雲 和 草 靜 迥 無 塵
    烟 霞 不 省 生 前 事
    水 木 空 疑 夢 後 身
    往 往 鸡 鳴 岩 下 月
    時 時 犬 吠 洞 中 春
    不 知 此 地 歸 何 處
    須 就 桃 源 問 主 人

    1. NHẬP THIÊN THAI

    Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,
    Văn hòa thảo tĩnh quýnh vô trần.
    Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
    Thủy mộc không ghi mộng hậu thân.
    Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,
    Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
    Bất tri thử địa qui hà xứ,
    Tu tựu Đào nguyên vấn chủ nhân.
    TÀO ĐƯỜNG


    洞 中 遇 仙 人

    天 和 樹 色 靄 蒼 蒼
    霞 重 岩 深 路 渺 茫
    雲 寶 滿 山 無 鳥 雀
    水 聲 沿 澗 有 笙 簧
    碧 沙 洞 里 乾 坤 別
    紅 樹 枝 邊 日 月 長
    願 得 花 開 有 人 出
    兔 令 仙 犬 吠 劉 郎
    曹唐


    2. ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN NHÂN

    Thiên hòa thụ sắc ái thương thương,
    Hà trọng nham thâm lộ diểu mang.
    Vân đậu mãn sơn vô điểu tước,
    Thủy thanh duyên giản hữu sênh hoàng.
    Bích sa động lý càn khôn biệt,
    Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường.
    Nguyệt đắc hoa gian hữu nhân xuất,
    Miễn linh tiêu khuyển phệ Lưu lang.
    TÀO ĐƯỜNG


    洞 中 有 懷
    不 將 清 瑟 理 霓 裳
    塵 夢 那 知 鶴 夢 長
    洞 里 有 天 春 寂 寂
    人 間 無 路 月 茫 茫
    玉 沙 瑤 草 沿 溪 碧
    流 水桃 花 滿 澗 香
    曉 露 風 燈 易 零 落
    此 生 無 處 問 劉 郎
    曹唐

    4. ĐỘNG TRUNG HỮU HOÀI

    Bất tương thanh sắt lý Nghê thường,
    Trần mộng na tri hạc mộng trường.
    Động lý hữu thiên xuân tịch tịch,
    Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang.
    Ngọc sa dao thảo duyên khê bích,
    Lưu thủy đào hoa mãn giản hương.
    Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc,
    Thử sinh vô xứ vấn Lưu lang.


    再 到 天 臺

    再 到 天 臺 訪 玉 真
    蒼 苔 白 石 已 成 塵
    笙 歌 寂 寞 閑 深 洞
    雲 鶴 簫 條 絕 舊 鄰
    草 樹 總 非 前 度 色
    煙 霞 不 似 往 年 春
    桃 花 流 水 依 然 在
    不 見 當 時勸 酒 人
    曹唐


    5. TÁI ĐÁO THIÊN THAI

    Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân,
    Thương đài bạch thạch dĩ thành trần.
    Sênh ca tịch mịch nhàn thâm động,
    Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân.
    Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc,
    Yên hà bất tự vãng niên xuân.
    Đào hoa lưu thủy y nhiên tại,
    Bất kiến đang thời khuyến tửu nhân.
    TÀO ĐƯỜNG


    Như vậy có một bài thơ chữ Hán của Tào Đường đã không được dịch ra quốc âm. Đó là bài Thiên Thai tống biệt (bài thứ ba)


    天 臺 送 別

    殷 鴰 相 送 出 天 臺
    仙 景 那 能 欲 再 來
    雲 液 既 歸 須 強 飲
    玉 書 無 事 莫 頻 開
    花 流 洞 口 應 長 在
    水 到 人 間 定 不 回
    惆 悵 溪 頭 從 此 別
    碧 山 明 月 照 蒼 苔


    3. THIÊN THAI TỐNG BIỆT

    Ân cần tương tống xuất Thiên Thai,
    Tiễn cảnh na nàng khước tái lai.
    Vân dịch ký qui tu cưỡng ẩm,
    Ngọc thư vô sự mạc tần khai.
    Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
    Thủy đáo nhân gian định bất hồi.
    Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,
    Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.
    TÀO ĐƯỜNG


    Bài này, trong Hồng Đức quốc âm thi tập có tới năm bài vịnh cùng đề tài (Thiên tử tống Lưu Nguyễn hoặc Lưu Nguyễn từ tiên tử) nhưng không có bài nào dịch theo bài thơ của Tào Đường. Chúng tôi chỉ xin dẫn ra một bài:


    3. LƯU NGUYỄN TỪ TIÊN TỬ

    Một niềm nhớ chúa một âu nhà,
    Cửa động dùng dằng ngại bước ra.
    Hương tứ phiêu khi gió thổi,
    Cố viên lạc thuở trăng tà.
    Nom cao mây phủ dư ngàn dặm,
    Sông thẳm sầu đeo mấy phút hoa.
    Dầu nhẫn bắc nam đường có cách,
    Bao nhiêu cảnh cũ mựa quên mà.
    KHUYẾT DANH


    Đọc bài thơ Nôm sáng tác này và bốn bài thơ dịch ra quốc âm ở trên chúng ta nhận thấy có nhiều chữ cổ và thể thơ còn có chỗ viết theo thể lục ngôn.


    Về chữ cổ thì như: tiển (ưa thích), làng doành (làng xóm), mựa (chớ).

    Về các câu đặt theo thể lục ngôn thì có:

    Dải non cao, chăng khối nguyệt,
    Doành sông thắm, một dường xuân.
    (LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ)


    Hương tứ phiêu, khi gió thổi,
    Cổ viên lạc, thuở trăng tà.
    (LƯU NGUYỄN TỪ TIÊN TỬ)


    Ca khúc rền rền cách núi,
    Làng doành văn vẳng khóa mây.
    (LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO, BẤT KIẾN TIÊN TỬ)

    Thể lục ngôn này chúng ta thường thấy có trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi:

    Khách đến vườn còn hoa lác,
    Thơ nén cửa thấy nguyệt vào
    (BÀI XIII)

    Mắt hòa xanh, đầu dễ bạc,
    Lưng khôn uốn, lộc nên từ
    (BÀI XVI)

    Quét trúc bước qua lòng suối,
    Thưởng mai về đạp bóng trăng.
    (BÀI XIX)

    hoặc trong Bạch Vân âm quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

    Am Bạch Vân, rồi nhàn hứng,
    Dặm hồng trần vắng ngại chen.
    (BÀI XIII)

    Giàu có phận là ơn chúa
    Được làm người bởi đức cha
    (BÀI XVI)

    Đêm đợi trăng cài bóng trúc,
    Ngày chờ gió thổi tin hoa.
    (BÀI XIX)

    Theo nhận xét trên thì mấy bài dịch quốc âm chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường có thể được coi là xưa nhất, từ thời Lê vào thế kỷ thứ XV, xưa hơn cả bài dịch Tàn xuân lữ xá của Thôi Đồ đã được viết đúng theo thể thất ngôn bát cú và không có chữ cổ nào.

    Sở dĩ bốn bài thơ Nôm dịch chùm thơ Thiên Thai (thiếu bài số 3) không đủ nên các cụ ta xưa khi nghe hát ả đào thường cho hát đủ cả năm bài thơ chữ Hán của Tào Đường và ở dưới mỗi bài thơ lại có mấy câu thổng tóm tắt đại ý bài thơ bằng quốc âm theo thể lục bát như sau:

    I
    Cổ cây chẳng chút bụi trần,
    Lối vào không biết rằng gần hay xa.
    Xinh thay hỡi thú yên hà,
    Nguồn Đào ướm hỏi ai là chủ nhân.

    II
    Mây che khói tỏa khắp đường,
    Lối vào xa thẳm mơ màng bâng khuâng.
    Phách khe đàn suối vang lừng,
    Ước gì được kẻ tỏ chừng cho hay.

    III
    Ngậm ngùi ra cửa Thiên Thai,
    Tưởng chừng nước chảy hoa trôi lạnh lùng.
    Tiễn đưa luống ngẩn ngơ lòng,
    Đầu non xanh ngắt nguyệt lồng rêu in.

    IV
    Hoa trôi man mác suối vàng,
    Hỡi ai nhớ khúc Nghê thường ngày xưa.
    Trăng kề cửa động trơ trơ,
    Xuân về luống những ngẩn ngơ vì chàng.

    V
    Cỏ cây xem bẵng tần ngần,
    Yên hà năm trước mươi phần kém xa.
    Vẫn còn lưu thủy đào hoa,
    Mà người mời rượu biết là tìm đâu.
    (KHUYẾT DANH)

    Các câu thổng ấy rất hay nên các bài Thiên Thai dịch hay sáng tác trong Hồng Đức quốc âm thi tập đã không được các cụ ưa thích ca trù đem ra để các đào nương hát hoặc ngâm - như bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị dịch Nôm hay bài Thu hứng (bài thứ nhất) của Đỗ Phủ dịch Nôm - và do đó đã không được phổ biến rộng rãi mà cũng không ai để ý đó là những bài thơ Nôm dịch Đường thi đầu tiên trong văn học Việt Nam.

    CHÚ THÍCH(1) Nay có thuyết cho là của Phan Huy Thực
    (2) Thu hứng gồm 8 bài: Ngô Thế Vinh dịch bài thứ nhất, Nguyễn Công Trứ dịch bài thứ tư.

    Nguồn: Tạp chí Hán Nôm
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 18-02-2011, 07:28 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Thu Đăng Lan Sơn ký Trương Ngũ - Mạnh Hạo Nhiên



    THU ĐĂNG LAN SƠN ký Trương Ngũ

    Mạnh Hạo Nhiên

    Bắc sơn bạch vân lý ,
    Ẩn giả tự di duyệt.
    Tương vọng thí đăng cao ,
    Tâm tùy nhạn phi diệt.
    Sầu nhân bạc mộ khởi ,
    Hứng thị thanh thu phát.
    Thời kiến quy thôn nhân ,
    Sa hành độ đầu yết.
    Thiên biên thụ nhược tề ,
    Giang bạn châu như nguyệt.
    Hà đương tái tửu lai ,
    Cộng túy trùng dương tiết.


    (Trùng dương =trùng-cửu = tiết ngày mồng
    9 tháng 9 âm lịch, ngắm hoa uống rượu)


    Mùa thu lên Lan Sơn viết tặng Trương Ngũ

    ( Hải Đà dịch )

    Núi cao mây trắng giăng đầy
    Người u cư sống tháng ngày ung dung
    Lên non nhìn xuống mịt mùng
    Gửi lòng theo cánh nhạn trùng bay xa
    Sầu nghiêng nghiêng bóng chiều tà
    Trời thu biếc ngọc chan hòa ý thơ
    Ai về thôn xóm thẫn thờ
    Dừng chân biển cát, ngồi chờ bến sông
    Hàng cây xanh đứng đợi mong
    Sông quê in bóng nguyệt lồng soi gương
    Rượu đây vui với bạn đường
    Nâng ly thưởng hội trùng dương quên đời.
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 04-12-2010, 07:30 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Đỗ Phủ - Bạc Mộ



    Thơ Đỗ Phủ

    薄暮

    江水長流地,
    山雲薄暮時。
    寒花隱亂草,
    宿鳥擇深枝。
    舊國見何日,
    高秋心苦悲。
    人生不再好,
    鬢發白成絲。


    Bạc mộ

    Giang thuỷ trường lưu địa
    Sơn vân bạc mộ thì
    Hàn hoa ẩn loạn thảo
    Túc điểu trạch lâm chi
    Cựu quốc kiến hà nhật ?
    Cao thu tâm khổ bi !
    Nhân sinh bất tái hảo
    Mấn phát tự thành ty



    Dịch nghĩa : Chiều hôm bên bến sông


    Nơi này nước sông chảy hoài
    Vào lúc chiều hôm nhuộm màu mây núi
    Hoa lạnh lẽo nấp trong đám cỏ rối
    Chim ngủ đêm chọn cành rậm
    Ngày nào thấy lại đất nước cũ ?
    Trời thu lồng lộng khiến lòng càng buồn !
    Một đời người không gặp dịp tốt hai lần
    Mái tóc mấy chốc mà thành tơ bạc !



    Dịch thơ :Chiều hôm bên bến sông

    Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

    Nơi nước sông tuôn đổ
    Chiều mây núi nhuộm màu
    Hoa vàng xen cỏ rối
    Chim tối chọn cành sâu
    Nước cũ bao giờ thấy ?
    Thu cao tấc dạ sầu !
    Dịp may đời hoạ hiếm
    Mấy chốc bạc phơ đầu


    ***

    Bản dịch của Nguyễn Phước Hậu

    Nơi này sông nước trôi mau
    Chiều hôm mây núi nhuộm màu thê lương.
    Cỏ hoa lạnh dưới làn sương
    Chim sâu cành rậm còn đương giấc nồng.
    Ngày về quê cũ hằng mong
    Trời thu lồng lộng, mênh mông sầu tình.
    Đời người phúc phận mỏng manh,
    Tóc mây mấy chốc đã thành sợi tơ!



    ***


    Bản dịch của Song Nguyễn Hàn Tú


    Chốn đây dòng nước trôi lờ lững
    Mây núi mờ đi giữa bóng chiều
    Bên cỏ hoa nép mình lặng lẽ
    Cành cao chim ẩn, cảnh đìu hiu
    Bao giờ về được nơi quê cũ
    Thu đến hồn vương lắm xót xa
    Chắc hẳn vận may không còn nữa
    Mái đầu mấy chốc nhuốm sương pha.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Thơ Đường - Tranh Tàu








    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Du Tử Ngâm - Mạnh Giao

    Tình Mẹ Qua Bài Thơ Đường: Du Tử Ngâm



    Sưu Khảo của Hải Đà - Vương Ngọc Long

    Thế giới của Đường Thi là một thế giới siêu thoát, không bến bờ, bát ngát, triền miên và vô tận. Thơ Đường đã đưa Đường Thi lên đến tuyệt đỉnh của nền thi ca nhân loại. Vì là tinh-hoa của nền văn hóa Trung Quốc , Đường thi đã làm rạng danh Đời Đường. Bộ Toàn Đường Thi soạn thảo vào đời Thanh gồm khoảng 900 tập, với gần 2900 thi sĩ đã sáng tác khoảng ngót 50,000 bài thơ, đó là chưa kể số lớn những bài thơ chưa thu góp lại được. Thơ Đường rất phong phú :tả tình, tả cảnh, nói lên cái khí hạo nhiên của con người, cái đạo Trung-Hiếu-Nhân-Nghĩa làm đầu .

    Thơ Đường chia ra nhiều thể loại và đa dạng, nội dung khác nhau: những bài thơ thời chinh chiến tả cảnh biên thùy, nỗi lòng người lính thú xa nhà, những bài thơ tả cảnh đồng quê dân dã, bốn mùa xuân hạ thu đông, những thú tiêu khiển thiên nhiên, hưởng nhàn, đọc sách, ngâm vịnh, câu cá, du thuyền, những bài thơ phơi bày thảm trạng chua xót của xã hội, những bài siêu trần thoát tục, hệ lụy nhân sinh v.v...không sao kể xiết.

    Tuy thế-giới Đường Thi lớn lao và đồ sộ như vậy nhưng chỉ có một số ít ỏi những bài thơ Đường ca tụng nghĩa Mẹ ơn Cha. Bài thơ Du Tử Ngâm là một bông hoa hiếm hoi đã vươn mình khoe sắc rực rỡ trong khu rừng Đường Thi trùng trùng điệp điệp.





    ĐÔI DÒNG VỀ THI-SĨ MẠNH GIAO (751-814)

    Thi sĩ Mạnh Giao sống vào thời Trung Đường (cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Gia Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ...) MạnhGiao tự là Đông Dã, sinh quán tại Vũ-Khang, Hồ-Châu (nay là huyện Vũ-Khang, tỉnh Chiết-Giang).
    Công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ được tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện úy Lật Dương (tỉnh Giang-Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết.

    Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý-tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí-thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao-động tay lấm chân bùn.

    Tác phẩm của ông còn lưu truyền cho hậu thế là "Mạnh Đông Dã" gồm 2 tập thơ . Thơ của ông gồm khoảng hơn bốn trăm bài nhạc phủ và cổ thi. Ông rất thận trọng, cân nhắc trong việc lựa chọn chữ nghĩa, ý từ, làm nhiều bài thơ rất khúc chiết, sâu sắc, khó hiểu.

    Bài thơ Du-Tử-Ngâm của ông là một ngoại lệ, là một bài thơ hay với lời lẽ giản-dị, chân thật và dễ hiểu. Hàn Dũ đã mô tả tài năng về thơ của Mạnh Giao như là con ngựa bất kham, thông suốt kim cổ.


    **************



    CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ: DU TỬ NGÂM



    Với một ý thức hệ nho gia phong kiến, lấy "trung-hiếu" làm đầu, dựa trên nền tảng triết-lý nhân sinh đại chúng và đạo-lý cương thường xã hội, trong một chế-độ quân-chủ về chính trị và phụ quyền về xã-hội, tại sao rất it những bài thơ Đường ca tụng Tình Mẹ?

    Phải chăng những nhà thơ Đường, trong cái sĩ-khí của nhà Nho, ngày đêm dùi mài kinh sử để mong đến ngày thi đỗ ra làm quan, thực hiện cái hoài bão "kinh bang tế thế, trị quốc an-dân..." hoặc nếu không thành-đạt như ý, họ bất lực chán nản buông xuôi và tự ẩn dật chìm mình trong tư-tưởng vô vi, hướng về những đề tài thiên nhiên, sơn thủy điền viên, với tư tưởng "lạc thiên tri mệnh" (vui trời biết mệnh).

    Phải chăng họ đã mang mặc cảm ngại phơi bầy những tình cảm gia đình mật thiết riêng tư, những xúc động chân thành như tình mẹ, vì bị ràng buộc bởi quan niệm nghiệt ngã trọng nam khinh nữ,tam tòng tứ đức đè nặng trong xã hội hủ tục phong kiến, sợ người đời gán cho là kẻ yếu đuối, hèn nhát không phải là bậc đại-trượng-phu trong thiên hạ?

    Hình ảnh người phụ nữ trong xã hội đó phải chăng chỉ là những chiếc bóng âm thầm, tủi nhục, mang cái thân phận bèo bọt chồng chúa vợ tôi, có nhiệm vụ tôi mọi nô bộc, chỉ biết đầu tắt mặt tối làm việc và không được chia sẻ cái chân lý căn bản của lẽ sống gia-đình: hạnh phúc và tình yêu. Thật là thảm thương khi ta mường tượng đến hình ảnh của người phụ nữ, một người Mẹ, một người vợ trong cái xã hội quan- liêu bất công đó:
    Loạn bồng vi mấn, bố vi cân

    Hiểu đạp Hàn sơn tự phụ tân (Bạch Cư Dị)

    Dịch:
    Tóc tua cỏ dại rối bù
    Dung nhan tàn tạ, khăn thô che đầu
    Nắng mưa sương gió dãi dầu
    Đầu non nặng gánh củi sầu thế gian (Hải Đà dịch)
    Nói đến sự đề cao người phụ nữ hay vinh danh người Mẹ trong Đường Thi, thì ai ai cũng phải nhắc đến bài thơ DU TỬ NGÂM. Đó là bài thơ với những lời lẽ chân tình, giản dị, là những tiếng lòng tỏa ra những âm vang huyền diệu, những nỗi niềm tha thiết dễ làm rung động người đọc, vì đó là nhừng lời lẽ phát xuất tự một con tim chân thật, bộc trực của một người con rất có hiếu, nhà tuy nghèo nhưng đã được Mẹ, hy sinh, tần tảo, dãi dầu nắng sương , chăm lo, nuôi nấng cho đến khi thành tài, dù rất muộn màng mãi đến năm 50 tuổi, cái tuổi tri thiên mệnh mới được bổ làm quan. Khi được làm quan , ông đã nghĩ ngay đến Mẹ già ở quê và vội vàng đón Mẹ về chung sống với ông.

    Tác giả đã sáng tác bài thơ "Du Tử Ngâm" khi đón Mẹ lên Lật Dương (Nghênh Mẫu Lật Dương tác, như lời chú giải của ông). Bài thơ có nội dung ngắn gọn, nhưng mỗi từ ngữ trong thơ rất dạt dào, súc tích, tạo một sự truyền cảm mãnh liệt đến người đọc. Chỉ nhìn những công việc nho nhỏ thôi, những sợi chỉ trên tay của bà mẹ già, những giây phút thầm lặng, cúi đầu chăm chú từng đường kim, múi chỉ để, may, khâu, vá áo cho con, chờ ngày con lên đường đi xa.

    Qua bao dặm trường ngăn cách, trắc trở, qua bao cạm bẫy nguy hiểm của đường đời, Mẹ biết bao giờ con trở lại? Đợi ngày vinh qui bái tổ quá xa vời vợi trong trí tưởng của người Mẹ. Cái gì để gửi gắm cho con? Tấm áo khoác trên mình con trên khắp nẻo đường lãng du, dù ở một bến bờ nào đều mang tâm tình ấp ủ, khăng khít của lòng Mẹ. Lòng Mẹ thương con như sông rộng, biển đầy, mênh mang, bát ngát. Nước mắt chảy xuôi, có bao giờ chảy ngược? và người con có đền đáp lại được gì mà người Mẹ đã cho ? Cái tâm tình nầy đã trải rộng trong hai câu thơ kết:
    "Thùy ngôn thốn thảo tâm

    Báo đắc tam xuân huy?"

    Ai có thể nói rằng tấc lòng của cỏ non đền đáp được ánh sáng của ba tháng mùa Xuân nắng ấm? Đứa con là "tấc lòng của cỏ", còn Mẹ hiền là "nắng ấm của ba tháng mùa xuân" khi mà những tia nắng đầu tiên xuyên qua kẽ lá, đã phả hơi ấm, làm đâm chồi nẩy lộc những cọng cỏ co ro, ủ rũ, tàn héo, nằm rạp mình trong những ngày đông lạnh lẽo, u ám. Cỏ cũng như những cánh én không tạo dựng một mùa xuân, không đem lại nắng ấm mùa Xuân, nhưng chính những tia nắng ấm đó từ lòng Mẹ đã làm cỏ thắm tươi, xanh ngát để hãnh diện khoe màu cùng vũ trụ. Chính Lòng Mẹ đã hy sinh cho con, muốn cho con nên người, công thành danh toại hầu nở mày nở mặt với thiên hạ.
    Bài thơ Du Tử Ngâm đúng là một tuyệt tác diễn tả được lòng mẹ bao la, đã xuất phát tự con tim, đáy lòng như sự nhận xét của Tô-Thức "Thi tùng phế phủ xuất, xuất thiếp sầu phế phủ" (bài thơ xuất phát từ ruột gan, tâm can mà ra, và đã làm gan ruột phải bồi hồi xao xuyến).

    Những điệp tự như "mật mật phùng " (mật = dầy, nhặt, gần, khít / phùng =may) đã đối lại với "trì trì quy" (trì = chậm, trễ, muộn, lâu / quy =về) tạo nên những giai điệu rất hài hoà, âm thanh tình mật thiết quyện vào nhau, đã diễn tả được những gì khăng khít nhất, những khắc khoải lo lắng bồi hồi của người mẹ, sợ con đi xa lâu trở về, trên bước đường viễn du không một bàn tay săn sóc, Mẹ chỉ mong sao cho manh áo được dầy, kín, để đủ sưởi ấm thân con trẻ trên bước đường tha phương lưu lạc.

    Bài thơ với từ ngữ mộc mạc, giản dị, nhưng đã diễn đạt được cái tận cùng của một bản sắc dân tộc, một cội nguồn của nhân bản: Tình Mẹ, của một đời dầm mưa dãi nắng, của những chuỗi ngày triền miên, cay đắng, chịu đựng, và đợi chờ, khi những đứa con của Mẹ, phải làm "du tử" ra đi thời chinh chiến..., không hẹn ngày trở về ...
    "Mẹ buồn thắp lửa hư vô,

    Năm canh khắc khoải sững sờ đợi con"
    để mà
    "Đêm đêm trên cánh đồng khô,
    Đôi tay vô vọng mẹ quờ trăng mơ" (Mẹ Trầm Luân , Thơ Hải Đà)
    Hai câu cuối của bài thơ "Du Tử Ngâm" đã đi vào văn học Trung Quốc, đã tạo ra những thành ngữ trong tự điển Hán-Học như:

    "Thốn thảo tâm"= tấc lòng nhỏ ví như tấc cỏ, lòng con hiếu thảo với cha mẹ

    "Thốn thảo tâm bi" = tấc lòng của con thương cha mẹ

    "Thốn thảo xuân huy" = Tấc cỏ và ánh sáng mùa xuân. Xin đem tấm lòng của con ví như một tấc cỏ mà báo đáp công ơn cha mẹ ví như ánh hồng của ba tháng mùa xuân.

    "Xuân Huyên" = công cha nghĩa mẹ như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
    "Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê,

    Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao.
    Xuân huyên lo sợ xiết bao,
    Quá ra khi đến thế nào mà hay ! "

    hoặc :
    "Xuân huyên nhớ thuở đời tàn
    Mẹ ta dầu dãi tảo tần nuôi con
    Cha già cải tạo đầu non,
    Giao thừa mắt mẹ lệ mòn phương nao"
    (Nhắn Hỏi Xuân Đài, thơ Hải Đà)

    Chuyện Kiều đã đề cập đến chữ Hiếu rất nhiều, hiếu thảo với cha mẹ là việc con cái luôn mong ước được báo đền :

    "Duyên hội ngộ, đức cù lao,
    Bên tình bên hiếu , bên nào nặng hơn?
    Để lời thệ hải minh sơn,
    Làm con trước phải đền ơn sinh thành".

    Nguyễn Du cũng đã mượn hai câu thơ cuối của bài Du Tử Ngâm để diễn tả nỗi lòng tha thiết muốn báo hiếu cha mẹ, đền ơn sinh thành của người hiếu nữ Thúy Kiều dù phải chịu đựng bao nhục nhằn đau khổ:

    Đau lòng tử biệt sinh ly,
    Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!
    Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
    Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.


    ***********************

    DU TỬ NGÂM với những dịch giả muôn phương

    1- Bản dịch của Lương Thúc Ký :

    Mảnh áo thân con trẻ
    Đường kim tay mẹ già
    Con đi mẹ may kỹ
    Kẻo nữa lâu về nhà
    Tấc cỏ dưới bóng xuân
    Báo đáp đâu đặng mà


    2-Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu:

    Áo ấy thân con mặc
    Chỉ này tay mẹ khâu
    Con đi mẹ nhíp kỹ
    Mẹ sợ con về lâu....
    Ai rằng lòng tấc cỏ
    Đền được ánh xuân đâu !


    3-Bản dịch của Khương Hữu Dụng:

    Sợi chỉ trên tay mẹ
    Tấm áo trên mình con
    Kịp đi khâu nhặt mũi
    Sợ về còn chậm chân
    Ai bảo lòng tấc cỏ
    Báo được ánh ba xuân ?


    4-Bản dịch của Trần Trọng San:

    Mẹ hiền sợi chỉ cầm tay
    Khâu lên tấm áo trước ngày con đi
    Đường kim khăng khít chinh y
    Sợ con chậm trễ không về lại ngay
    Ai rằng tấc cỏ lòng này
    Mà đền đáp nỗi ánh trời ba xuân?


    5-Bản dịch của Trần Trọng Kim

    Mẹ từ sợi chỉ trong tay
    Trên mình du tử áo may vội vàng
    Sắp đi mũi chỉ kỹ càng
    Sợ con đi đó nhỡ nhàng trễ lâu
    Chút lòng tấc cỏ dễ đâu
    Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho người


    6- Bản dịch của Vương Hồ

    Trên tay sợi chỉ mẹ cầm
    Thương con áo mỏng âm thầm mẹ may
    Đường kim ấp ủ thân nầy
    Đi lâu chắc Mẹ quắt quay tháng ngày
    Lòng son tấc cỏ có hay
    Nắng ba xuân đủ đong đầy ơn sâu?


    7-Bản dịch của Đinh Vũ Ngọc:

    Mẹ hiền sợi chỉ trên tay
    Khâu vào thân áo con ngày ra đi
    Chỉ khâu cẩn thận từng li
    Ý chừng mẹ sợ con đi quên về
    Tấm lòng một tấc cỏ quê
    Ánh ba xuân ấy dễ chi báo đền


    8- Bản dịch anh ngữ của Jennifer Hsu:

    Song of a Roamer
    The threads in the hand of a loving mother
    The clothes for her son going on a long journey
    Tightly stitched before he takes his leave
    For fear that he would be late in coming home
    How could the heart of a blade of grass ever repay
    The warmth that the sun imparts to it in the spring?


    9- Bản phỏng dịch anh ngữ:

    A Roamer's Song
    My benevolent mother
    With thread and needle in hand
    Mends the garment I have on,
    Ere I leave my native land.
    More stiches, ere I take leave
    To hold the seams firm and fast
    As itinerant worker,
    To come home I 'd be the last
    With what can I repay Ma?
    Whatever others may say,
    For what she has done for me,
    Her, I can never repay!
    THAY LỜI KẾT LUẬN:

    Trên thế gian nầy có nhiều kỳ quan nhưng trái tim của Mẹ mới thật là đệ nhất kỳ quan. Vì trái tim của Mẹ là một thứ kỳ quan sống động linh hoạt. Trong khi các kỳ quan khác đều chết đứng bất động. Đối với kỳ quan nầy chúng ta không cần phải phí công tốn của để tìm kiếm quan chiêm, vì chính kỳ quan tuyệt bích ấy đã ở trong ta từ lúc mới tượng hình, và theo năm tháng kỳ quan nầy lại càng trở nên kỳ ảo, vĩ đại, vô tiền khoáng hậu. (Tình Mẹ của HT Thích-Hộ-Giác)

    Và trái tim Mẹ bao dung nhân hậu đó chỉ có bốn ngăn thôi, và bốn ngăn đó là bốn mùa hiu hiu gió, man mác lời mẹ ru con ngủ, thoang thoảng hương thơm của bốn loài thụy thảo: mai, lan, trúc, cúc; là bốn phương trời đau đáu ánh mắt mẹ hiền dõi trông bước chân phiêu bạt của người con du-tử. Bốn ngăn tim đó chứa đầy bốn thể tánh vô- ượng của đất trời : Từ, Bi, Hỉ, Xả. Mẹ phải là một kỳ-quan vô-giá, kỳ-diệu nhất trong vũ-trụ vô thường và hữu hạn nầy...

    Thôi hết rồi kỳ quan tuyệt vời nhất
    Nơi viễn phương màu nắng cũng hoang sơ
    Thành phố buồn từ khi xa vắng Mẹ
    Trong lòng con hiu hắt cả trời thơ "

    (Thơ Thái-Tú-Hạp "Thành Phố Buồn Từ Khi Xa Vắng Mẹ")

    HẢI ĐÀ – VƯƠNG NGỌC LONG
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 03-11-2010, 09:19 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    “Cẩm sắt” của Lý Thương Ẩn

    .


    Về bài “Cẩm sắt” của Lý Thương Ẩn – Từ ý nghĩa bài thơ đến tiếng đàn sum họp của Thúy Kiều

    VĨNH SÍNH






    Trên đường từ Việt Nam trở về lại Canada, tôi ghé Tokyo, thăm anh bạn cũ đang ốm nặng. Một tối, trước giờ đi ngủ, tình cờ trong nhà có cuốn Ri Shôin (Lý Thương Ẩn; 812?-858), tôi lấy ra xem. Lý sống vào thời vãn Đường Trung Quốc, một thời kỳ có lắm bế tắc về chính trị và xã hội, nhưng chín mùi về văn hóa nghệ thuật. Tuy đỗ đạt cao, Lý không mấy may mắn trên bước hoạn lộ. Thơ Lý được ưa chuộng nhưng nổi tiếng hóc búa. Trong thơ có nhiều điển tích, giàu hình tượng, mà cũng chứa lắm ẩn dụ khó giải mã.


    “Cẩm sắt” thường được xem là bài thơ hay nhất và cũng là bài thơ khó hiểu nhất của họ Lý. Chả vậy mà nhà thơ đời Thanh Vương Sĩ Trinh đã nhận xét: “Nhất biên Cẩm sắt giải nhân nan” (Bài thơ Cẩm sắt hiểu sao đây!) (1)

    Tối đó tôi khẽ đọc bài cẩm sắt qua âm Hán Việt. Ngâm chầm chậm hai câu mở đầu “Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền/Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên”, tự dưng tôi thấy xúc động mạnh. Chỉ có hai câu mà họ Lý đã đưa người đọc đến ngay ngưỡng cửa của những dĩ vãng xa xôi, sâu lắng. Ngâm xong cả bài, tuy không nắm hết ý nhưng tôi vẫn cảm thấy những âm hưởng trong Cẩm sắt có sức quyến rũ, có một ma lực lạ lùng.

    Người dịch, chú thích và bình luận tập thơ Ri Shôin là Takahashi Kazumi (1931- 71), một nhà văn, nhà thơ, và cũng là một nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc xuất sắc nhưng mệnh bạc. Những lời bình của Takahashi như những tia chớp sáng, trong khoảnh khắc một sát na đưa người đọc đi thẳng vào thế giới thẩm mỹ của thơ Lý Thương Ẩn mà các nhà bình luận thơ Đường xưa nay vẫn thường nói tới.

    Đọc lui đọc lại, tôi như bị thu hút bởi bài thơ. Duyên nọ dẫn đến duyên kia, sau đó cũng do tình cờ, tôi được biết là trong phần cuối Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã mượn bốn câu trong bài thất ngôn bát cú này để diễn tả cảnh Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm cách biệt.

    Khi so sánh bốn câu trong nguyên tác với đoạn thơ phóng dịch trong Kiều, chúng tôi phát hiện một điều khá kì thú: Tiên Điền tiên sinh đã thay đổi không khí u uất trong nguyên tác thành một bầu không khí đầm ấm, êm ái, tươi sáng cho phù hợp với cảnh sum hợp vui vầy giữa Kiều với Kim Trọng!

    Mục đích của chúng tôi khi viết bài này là hy vọng được chia sẻ với độc giả một bài thơ hay, đồng thời cũng mong được mạn đàm về một số chi tiết xung quanh bài thơ và đưa ra một số nhận xét về đoạn thơ phỏng dịch trong Truyện Kiều nói trên. Trước hết, ta thử xem qua gốc gác những từ cần giải thích cùng những điển tích trong bài Cẩm sắt.

    Cẩm sắt

    Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,

    Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.

    Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,

    Vọng đến xuân tâm thác đỗ quyên.

    Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,

    Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.

    Thử tình khả đãi thành truy ức,

    Chỉ thị đương thì dĩ vong nhiên.


    Câu 1) Cẩm sắt: Có người dịch là đàn gấm (2), nhưng trên thực tế là cây đàn sắt có chạm trổ. Đàn sắt là loại đàn lớn làm bằng gỗ cây ngô đồng. Đàn sắt và đàn cầm là hai loại đàn cổ, chữ cầm sắt (3) thường dùng để chỉ vợ chồng hòa hợp, như đàn sắt đàn cầm hòa nhau. Theo Daijigen (Đại từ nguyên), cẩm sắt là mỹ nhân của cây đàn sắt
    (4). Vô đoan: do đâu, từ đâu, không có lý do.

    Ngũ thập huyền: Theo truyền thuyết, khi Tố Nữ gảy đàn sắt tế trời theo lệnh vua Phục Hy (5), đàn này có 50 dây. Nhưng vì tiếng đàn quá ai oán não nùng, Phục Hy cấm không cho sử dụng đàn này nữa. Sau đó, vì dân chúng vẫn không chịu tuân lệnh, Phục Hy mới cho phép dùng nửa số dây, từ đó đàn sắt chỉ có 25 dây (theo “Phong thiền thư”, Sử ký của Tư Mã Thiên; hoặc “Giao tự chí”, Hán Thư của Ban Cố đời Hậu Hán) (6).

    Câu 2) Tru: trụ, trục; hay “con nhạn” đỡ dây đàn (huyền). Hoa niên: Thanh xuân; tuổi trẻ; thời kỳ rạo rực yêu đương. Tư; tứ: nghĩ, nhớ; ở đây dùng theo nghĩa “gợi nhớ”. Mỗi dây đàn, mỗi trục, xui nhớ lại tuổi hoa niên. Đọc hai câu mở đầu, ta không khỏi liên tưởng đến hai câu hát ru con Việt Nam “Hai tay cầm bốn tao nôi / Tao thẳng tao dùi, tao nhớ tao thương” – tuy dân dã mộc mạc nhưng có sức gợi cảm vô cùng mãnh liệt.

    Câu 3) Trang sinh: tức Trang Chu, nhà tư tưởng thời Chiến Quốc. Sách Trang Tử ghi lại những ngôn thuyết của Trang Tử và những người cùng phái, chủ trương là mọi việc trên đời như lớn nhỏ, khôn dại, sống chết, v.v… chẳng có gì khác nhau cho lắm; xem vô vi, tự nhiên là đạo đức cao nhất.

    Thuyết giải về sự khó phân biệt giữa tỉnh và mộng, sống và chết, thiên “Tề vật luận” trong Trang Tử viết: “Ngày xưa, Trang Chu chiêm bao thấy mình hóa bướm bay nhởn nhơ, tự lấy làm thích chí, quên mình là Chu. Bất giác tỉnh giấc, thấy hình thù mình vẫn là Chu. Không biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Chu!”

    Câu 4) Vọng đế: đế hiệu của vua Đỗ Vũ nước Thục cuối đời Chu (nên còn gọi là Thục đế) (7). Tương truyền Vọng đế ra lệnh bộ hạ là Miết Linh đi cứu lũ ở xa nhằm thừa dịp tư tình với vợ của Miết Linh. Sau đó Vọng đế tự hổ thẹn về hành vi bất chính của mình, từ ngôi rồi mai danh ẩn tích. Mỗi năm cứ vào tháng hai âm lịch (Vọng đế rời đất Thục cũng vào tháng này), đêm đêm chim đỗ quyên lại cất tiếng sầu thảm. Bởi vậy, người nước Thục mỗi lần nghe tiếng chim đỗ quyên lại nhớ đến Vọng đế (8). Xuân tâm: lòng xuân, còn có nghĩa như “xuân tình”: tình yêu trai gái, có thể bao hàm hơi hướng tình dục. Nguyễn Du cũng đã dùng chữ “xuân thì” khi phỏng dịch đoạn thơ này trong Truyện Kiều.

    Câu 5) Thương hải: Biển xanh, còn có nghĩa là biển rộng, biển cả. Thương hải cũng có khi dùng để chỉ tên một biển hư cấu ở cõi tiên. Nguyệt minh châu hữu lê: Theo Văn tuyển (Lý Thiện chú thích), “khi trăng đầy, trai có ngọc (châu), khi trăng khuyết trai không có ngọc” (nguyệt mãn tức châu toàn, nguyệt khuy tức châu khuyết). Theo cuốn Biệt quốc động minh ký thời Lục Triều, ngày xưa có người lặng xuống đáy biển tìm ngọc, lạc vào cung điện của nhân ngư, tìm được bảo ngọc do nước mắt của nhân ngư đọng lại (9). Ngoài ra câu này còn có thể hiểu theo điển tích “thương hải di châu” (hạt ngọc bỏ rơi trong biển cả), ngụ ý là người có tài mà không có chỗ thi thố.

    Câu 6) Lam Điền: tên một ngọn núi ở Thiểm Tây (Lam Điền sơn), còn gọi là Ngọc Sơn, nổi tiếng có nhiều ngọc quý. Theo Sơn hải kinh, Ngọc Sơn là nơi bà tiên Tây Vương Mẫu ở – chi tiết này khiến người đọc liên tưởng đến một cõi tiên hư cấu, giống như Thương hải trong câu 5 (10) Ngọc sinh yên: Theo Lục dị truyện, con gái Ngô Phù Sai là Tử Ngọc yêu người lính hầu là Hàn Trọng nhưng không được Ngô vương chấp thuận, mang mối bi tình xuống tuyền đài.

    Một sáng, khi Ngô vương đang dùng lược chải tóc, nhìn ra vườn thấy có viên ngọc lớn màu tím chiếu sáng, phu nhân nghe nói chạy ra vườn, khi vừa ôm chầm hòn ngọc thì ngọc tan thành khói biến mất. Lại có thuyết cho rằng tứ thơ trong câu này lấy từ ý nghĩa câu sau đây của nhà thơ Đái Thúc Lân (732- 789) thời Trung Đường: “Cảnh, đối với nhà thơ, tựa như viên ngọc quý bốc tan thành khói khi Lam Điền ửng nắng, chỉ có thể đứng nhìn từ xa chứ không được lại gần” (thi gia chi cảnh như Lam Điền nhật noãn lương ngọc sinh yên, khả vọng nhi bất khả trí ư mi tiệp chi tiền giã) (11).


    Hai câu 5 và 6 đối nhau, bởi vậy khi chuyển ngữ chúng tôi đã cố gắng giữ nguyên những chữ đối nhau ở trong câu. Nói một cách khác, khi xem Thương hải là một danh từ riêng; chúng tôi cũng xem Lam Điền là một dnah từ riêng; và khi dịch “Thương hải” như một danh từ chung (biển cả), chúng tôi cũng dịch “Lam Điền” như một danh từ chung (đồng xanh).

    Hai câu 7 và 8 Khả (đãi): trợ từ có nghĩa là: phải, nên, đáng, có thể, chắc có thể, có lẽ, hình như, hoặc là trợ từ nghi vấn (làm sao có thể…). Võng nhiên: không biết gì cả, ngơ ngác như mất hồn, phôi pha. Câu 7 có thể dịch là “Tình này (giả sử) có thể trở thành một cái gì đáng ghi nhớ?” Chúng tôi đã chọn cách dịch thứ nhất. Câu 8 có nghĩa là “Thì lúc ấy thời gian/ duyên tình cũng đã phôi pha/ tàn phai/ nhạt nhòa”.

    Sau đây là hai bản dịch bài Cẩm sắt của chúng tôi:

    Bản dịch 1:

    Cẩm sắt vì đâu năm chục dây?
    Mỗi dây mỗi trục nhớ thương đầy.
    Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
    Thục đế tình xuân tiếng cuốc chầy.
    Thương hải trăng thanh châu nhỏ lệ,
    Lam Điền nắng ấm ngọc tan bay.
    Tình này ví thử sau còn nhớ,
    Lúc đã tàn phai với tháng ngày!

    Bản dịch 2:

    Cẩm sắt vì đâu ngũ thập huyền?
    Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.
    Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
    Thục đế xuân tình gửi tiếng quyên.
    Bể cả trăng thanh châu đẫm lệ,
    Đồng xanh nắng ửng ngọc tan liền.
    Tình này ví thử sau còn nhớ;
    Khi đã qua rồi thưở lứa duyên!

    Như chúng ta đã thấy, lời thơ trong bài cẩm sắt đượm nét buồn man mác, như chất chứa một “nỗi sầu vạn đợi”. Có người cho rằng Lý đã viết bài thơ này vào những năm cuối đời để khóc người vợ quá cố của mình, có kẻ bảo Lý viết để than tiếc cho người yêu mang tên là Cẩm Sắt. Ngoài ra còn có không biết bao nhiêu giả thuyết khác (12). Có lẽ chúng ta nên hiểu là Lý muốn nói về bản chất mộng ảo, mong manh của cuộc đời và tình yêu, không chỉ của nhà thơ mà của con người nói chung. Những năm tháng đã trôi qua trong cuộc đời (mà trăm năm là giới hạn) như thâu gọn lại trong năm chục sợi dây đàn.

    Từ mỗi dây, tiếng đàn ngân lên như khơi dậy lại tuổi hoa niên, của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Ngàn năm chưa dễ đã ai quên” (Thế Lữ)! Làm sao phân biệt được thực với mộng? Trang Chu hay con bướm, Thục đế hay chim đỗ quyên, bên nào thực, bên nào mộng? Ngay giữa lúc “Thương hải trăng thanh” thì “châu đẫm lệ”, và ngay khi “Lam Điền nắng ấm” thì “ngọc tan bay”! Và tình yêu, khi muốn ghi nhớ, muốn trân trọng, thì hỡi ôi, lúc đó thời gian đã phôi pha; duyên tình, hương nguyền ngày trước còn đâu nữa! Tất cả đều mong manh, mộng ảo.

    Cho dầu chúng ta không thể giải thích một cách thỏa đáng tất cả những ẩn dụ trong Cẩm sắt, nhưng vẫn có thể cảm nhận được giá trị của bài thơ, đúng như Lương Khải Siêu (1873-1929) đã nhận xét khi đọc những bài thơ khó giải mã của Lý. Lương viết: “Tôi không hiểu và thậm chí không thể giải thích ý nghĩa của từng câu thơ, nhưng tôi vẫn yêu và vẫn bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của thơ họ Lý (13).

    Cuối cùng chúng tôi xin đưa ra một vài nhận xét về đoạn phóng dịch bốn câu 3, 4, 5,6 của bài Cẩm sắt trong Kiều. Đoạn này nằm trong phần cuối của Truyện Kiều, khi Kiều và Kim Trọng gặp lại sau sau mười lăm năm cách biệt. Kim Trọng nhờ Kiều đánh đàn cho mình nghe, và Kiều đã “Nể lòng người cũ vâng lòng một phen”.

    Trước đó, khi Kiều đàn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên, hay trong những lần Kiều bị buộc phải gảy đàn cho Thúc Sinh, Hoạn Thư v.v… nghe, thì tiếng đàn của nàng lâm ly, não nùng “nghe ra như oán như sầu phải chăng”. Nhưng lần này, khác hẳn với những lần trước, tiếng đàn của Kiều nghe thật ấm áp, êm ái, trong sáng.

    Nguyễn Du đã phóng dịch bốn câu trên nhằm diễn tả tiếng đàn sum họp của Kiều như sau:

    Khúc đâu đầm ấm dương hòa

    Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh.

    Khúc đâu êm ái xuân tình,

    Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?

    Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,

    Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

    Qua tiếng đàn vui tươi, ấm áp trong đoạn phóng dịch này, người đọc không còn thấy bóng dáng trăn trở hoài nghi của một Trang Chu nguyên sơ trong thiên Tề vật luận (14), tiếng ca của chim đỗ quyên không còn nhuốm máu vì Thục đế – mà chỉ là một giai điệu êm ái gợi nhớ vị quân vương đa tình, những hạt châu không còn đẫm lệ ở Thương hải vào những đêm trăng tỏ, và hạt ngọc kia cũng không còn bốc khói khi ửng nắng ở Lam Điền!

    Dĩ nhiên Tiên Điền tiên sinh đã không hiểu lầm ý thơ của họ Lý. Do đâu mà chúng ta có thể khẳng định như vậy? Ngoài bản lĩnh của nhà học giả này như ta đã biết, lý do là ngày sau đó, khi Kim Trọng hỏi Kiều: “Tiếng đàn ngày trước sao ai oán, não nùng, mà hôm nay em đàn nghe sao vui thế?”

    Chàng rằng: Phổ ấy tay nào?
    Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy”

    thì Nguyễn Du đã thay nàng Kiều đáp lời:

    “Tẻ vui bởi tại lòng này
    Hay là khổ cận đến ngày cam lai?”.

    Mặc dù phải đối đầu với định mệnh phũ phàng, nghiệt ngã trong suốt mười lăm năm chia cách (“Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa/ Bấy chầy gió táp mưa sa”), Nguyễn Du đã thay Kiều khẳng định phẩm chất đẹp đẽ trong sạch của nàng: “Chữ Trinh còn một chút này”. Chữ Trinh ở đây dĩ nhiên phải hiểu theo nghĩa tinh thần. Kiều cảm kích bởi tấm lòng của người cũ, vì hơn ai hết Kim Trọng hiểu được điều đó, bởi thế Kiều mới nói:

    “Thân tàn gạn đục khơi trong
    Là nhờ quân tử khác lòng người ta
    Mấy lời tâm phúc ruột rà
    Tương tri dường ấy mới là tương tri!

    Trong không khí “tình xưa lai láng khôn hàn”, Kim Trọng nhờ Kiều gảy cho nghe một khúc (“Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa”). Đoạn Nguyễn Du phỏng dịch từ Cẩm sắt chính là để diễn tả tiếng đàn của Thúy Kiều lúc đó.

    Ta hãy thử suy luận. Phải chăng Nguyễn Du đã thay đổi hẳn bầu không khí “một cách sáng tạo” khi phỏng dịch đoạn trên nhằm nói lên rằng: “Tẻ vui bởi tại lòng này” và trong giờ phút tương phùng, Kiều cảm thấy đã được phỉ nguyền (Ba sinh đã phỉ mười nguyền”), hay nói đúng hơn, nàng cảm thấy đã được giải thoát khỏi nghiệp chướng? Chắc hẳn chính vì vậy, nên ngay cả giai điệu lâm ly, u uất của bài Cẩm sắt mà nghe vẫn êm ái, đầm ấm!

    Bằng chứng cụ thể và hùng hồn nhất về sự cố ý thay đổi một cách sáng tạo của Nguyễn Du có thể tìm thấy ở câu cuối cùng trong sáu câu thơ phỏng dịch. Trong câu này, thiên tài họ Nguyễn đã đảo ngược hiện tượng, biến “Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên” (Lam Điền nắng ấm ngọc tan bay) thành “Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông”, tức “ngọc tan thành khói” trong nguyên tác đã trở thành “ngọc… mới đông” trong Truyện Kiều! Vì “ngọc… mới đông” nên Nguyễn Văn Vĩnh khi chuyển ngữ sang tiếng Pháp, đã dịch câu này là: “Et c’était chaud comme une de ces gouttes qui viennent de se cristalliser en perles sur la plaine de Lam Điền” (15).

    Trong Truyện Kiều, điều đáng chú ý là Nguyễn Du đã khởi đầu bằng thuyết “tài mệnh tương đố” cũng có xuất xứ từ thơ của Lý Thương Ẩn (“Cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương”, tức “Xưa nay tài mệnh thường hay kỵ nhau”, và như chúng ta đã thấy, trong phần kết thúc, Nguyễn cũng đã phóng dịch một đoạn thơ của họ Lý trong khúc đàn cuối cùng của nàng Kiều nhằm chứng minh là “tẻ vui” là “bởi tại lòng này” và niềm vui sẽ có được khi trong lòng không còn bị vướng vất bởi các nghiệp chướng. Theo Nguyễn Du, đánh thức thiện căn, thiện tâm chính là chìa khóa đưa đến sự giải thoát

    “Thiện căn ở tại lòng ta
    Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Sự thay đổi nội dung, từ bốn câu thơ trong bài Cẩm sắt sang đoạn phóng dịch trong phần kết thúc Truyện Kiều, nghĩ cho cùng, là một hiện tượng khúc xạ xảy ra khá phổ biến, với mức độ khác nhau khi nước này tiếp thu văn hóa nước kia trong quá trình giao lưu, giao thoa văn hóa.

    Điều đáng chú ý là trong trường hợp này, thiên tài “Nguyễn Du” đã “Việt Nam hóa” bốn câu thơ trong bài Cẩm sắt một cách điêu luyện nhằm bảo vệ nàng Kiều, nạn nhân của nghịch cảnh xã hội, và chứng minh rằng mặc bao “gió táp mưa sa”, nàng Kiều đã giữ được phẩm giá trong trắng của mình. Như nhiều thức giả đã nhận xét, đành rằng Tố Như tiên sinh đã ít nhiều ký thác tâm sự vào Kiều khi bảo vệ cho nàng (16), tuy nhiên tâm thức “tấm lòng như tuyết như băng”, hoặc “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” mà Tố Như tiên sinh đã khẳng định qua Kiều nằm ngay trong cốt lõi tâm tình dân tộc của người Việt. Có lẽ vì thế nên Truyện Kiều, ngoài những vần thơ điêu luyện, đã được người Việt – nạn nhân của không biết bao cơn binh lửa cùng nghịch cảnh xã hội – yêu chuộng mãi không thôi.




    (1)

    Trích lại từ Wang Chiu-kuei (Vương Thu Quế) “Objective Correlative” in the love Poems of Li Shang-yin (Tương quan khách quan trong những bài thơ tình của Lý Thương Ẩn), Trung tâm Nghiên cứu Ngữ văn Ngoại quốc, Đại học Quốc lập Đài Loan (Taipei: Quỹ Văn Hóa, Gia Tân Thủy Nê Công Ty, 1970), trang 31.

    (2)

    Ví dụ, xem Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch (Huế: Nxb Thuận Hóa, 1997), tập 2, trang 1331.

    (3)

    Có học giả nhầm tên bài thơ này là Cầm sắt, thay vì Cẩm sắt; ví dụ: Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải. Truyện Kiều (Hà Nội: Nxb Giáo dục, 1996, xuất bản lần thứ XIII), trang 234; hoặc Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo và chú thích, Truyện Thúy Kiều (Fort Smith, AR: Nxb Sống mới, không ghi năm in lại), trang 206.

    (4)

    Tokyo: Kadokawa Shoten, 1992, trang 1820

    (5)

    Có sách ghi là Thái đế. Xem James Liu, The Poetry of Li Shang-yin (Thơ Lý Thương Ẩn). (Chicago: The University of Chicago Press, 1969), trang 51.

    (6)

    Trích dẫn lại từ Takahashi Kazumi, Ri Shôin (Lý Thương Ẩn) (Tokyo: Kawade Bunko, 1996), trang 40.

    (7)

    Đối với độc giả Việt Nam, tuy cách gọi Thục đế nghe quen tai hơn Vọng đế, nhưng nguyên văn chữ Hán để là Vọng đế thì ta phải theo đúng vậy, khi dịch sang tiếng Việt dĩ nhiên ta có thể chuyển thành Thục đế; chẳng hạn như: Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, sđd, trang 234; Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chú giải, Vương Thúy Kiều (Đoạn trường tân thanh) Sài Gòn: Tủ sách Hương Sơn, 1960), trang 234.

    (8)

    Takahashi Kazumi, sđd, trang 40.

    (9)

    Như trên

    (10)

    Như trên, trang 40-41.

    (11)

    Trích lại từ Wang Chiu-kuei, sđd, trang 38.

    (12)

    Xem James Liu, Sđd, trang 52-57.

    (13)

    Xem Fusheng Wu, The Poetics of Decadence: Chinese Poetry of Southem Dynasties and Late Tang Periods (Thi ca đồi phế: Thơ Trung Quốc vào thời Lục Triều và Vãn Đường) (Albany, NY: State University of New York, 1998), trang 169.

    (14)

    Về điểm này, học giả Đặng Thanh Lê cũng đã đưa ra nhận xét tương tự trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1979), trang 141. Cách lý giải trong sách này về ý nghĩa của đoạn phỏng dịch từ Cẩm sắt hay phần “Tái hồi Kim Trọng” nói chung có điểm khác với cách lý giải của chúng tôi.

    (15)

    Nguyễn Du, Kim Vân Kiều: Traduction en Francais par Nguyễn Văn Vĩnh (in theo bản của Nhà Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943: Nxb Văn học, 1994), trang 780. Người viết gạch dưới để nhấn mạnh.

    (16)

    Theo quan niệm “Trung thần bất sự nhị quân” (tôi trung không thờ hai vua) ngày trước, việc làm quan cho hai triều (trước làm tôi nhà Lê và sau ra làm quan cho nhà Nguyễn) chắc đã làm Nguyễn Du trăn trở không ít.

    .
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 15-09-2010, 09:40 PM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi CONHAKO View Post

    感遇 - 陳子昂
    蘭若生春夏,
    芊蔚何青青!
    幽獨空林色,
    朱蕤冒紫莖。
    遲遲白日晚,
    嫋嫋秋風生。
    歲華盡搖落,
    芳意竟何成!






    .


    Trần Tử Ngang tự Bá Ngọc là một trong những nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ. Ông ra làm quan vào đời Võ Hậu đến chức Thập Di. Bài thơ này tác giả muốn mượn chòm Lan, khóm Nhược để ví với thân phận mình.
    Lan và Nhược là hai loài cỏ đẹp mọc ở ven rừng. Hoa thì đỏ mà cuống hoa thì tím. Hoa nở liên tục suốt hai mùa Xuân,Hạ. Ðến Thu sang thì hai loại hoa này tàn tạ. Trần Tử Ngang có ý muốn được đời dùng mình song cứ sợ e mình đã quá muộn tài đã tàn rồi chẳng khác nào cánh hoa kia tàn tạ thì hương thơm của thuở còn tươi thắm đâu còn nữa!

    Hai câu:

    ” Thôi rồi! Chết cả mùa hoa
    Hương thơm rốt lại có ra nghĩa gì!”

    đã nói lên thân phận của một kẻ đã luống tuổi mà vẫn tiếc nuối được giúp ích những gì còn lại cho đời!

    Không tìm thấy trang này | Quảng Ngãi Nghĩa Thục



    *****

    PS :Thế đấy , UKH ạ....



    .
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 11-09-2010, 08:20 PM.

    Leave a comment:


  • Uất Kim Hương
    replied
    Cám ơn chị nhé! Em cần bản gốc chữ Hán. Vì hôm qua đọc bài thơ thấy hay nhưng hơi lấn cấn câu sau:
    "Khứ tuế Kinh Nam mai tứ tuyết,"

    Hôm nay thấy bản chữ Hán thì mới biết là có nhiều người đánh máy lộn quá

    Nó là "Tự Tuyết" chứ không phải là "Tứ Tuyết" Người đánh máy là giáo sư trường Khoa học xã hội nhân văn, VN....Hihihi...Em cũng chào thua luôn đó CO à. Tam sao thất bổn đó.

    Bài nào em thích mờ không có nguyên bản, em để lên, chị kiếm cho em nhé.

    Em
    UKH

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Uất Kim Hương View Post
    Giang bạn độc bộ tầm hoa
    Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê,
    Thiên đoá vạn đoá áp chi đê.
    Lưu liên hí điệp thời thời vũ,
    Tự tại kiều oanh kháp kháp đề
    Đỗ Phủ

    U Châu tân tuế tác
    Khứ tuế Kinh Nam mai tứ tuyết,
    Kim niên Kế Bắc tuyết như mai.
    Cộng ta nhân sự vô thường định,
    Thả hỉ niên hoa khứ phục lai
    Trương Duyệt

    Cảm ngộ
    Lan nhược tự xuân hạ,
    Thiên uất hà thanh thanh.
    U độc không lâm sắc,
    Chu nhuy xương tử hành
    Trần Tử Ngang



    Vì Bạn hiền , CO dán bi nhiêu bài thơ cũng được , nhưng về Đường thi diễn dịch thì mười người mười ý , mà ko phải bài dịch nào cũng thấu tình đạt ý của tác giả. Trong thơ cổ , đôi khi " ý tại ngôn ngoại " , phải hiểu về thời của tác giả , đúng hoàn cảnh ra đời của bài thơ...CO lấy nguồn mấy bài này bên Thivien , người dịch ko biết là ai , nên có chút ngần ngừ... Nếu UKH kiếm được trọn bài CO sẽ " vì người " mà thức đêm gõ VNI - gõ trật hoài !

    Trong trang thơ của Trần Tử Ngang bên Thivien , Cảm ngộ của Trần Tử Ngang có đến 38 bài , Đây là bài thứ hai...



    ********************

    幽州新歲作

    去歲荊南梅似雪,
    今年薊北雪如梅。
    共知人事何常定,
    且喜年華去複來。
    邊鎮戍歌連夜動,
    京城燎火徹明開。
    遙遙西向長安日,
    願上南山壽一杯。


    U châu tân tuế tác - Trương Duyệt

    Khứ tuế Kinh Nam mai tự tuyết
    Kim niên Kế Bắc tuyết như mai
    Cộng ta nhân sự vô thường định
    Thả hỉ niên hoa khứ phục lai
    Biên trấn thú ca liên dạ động
    Kinh thành liệu hỏa triệt minh khai
    Dao dao tây hướng Trường An nhật
    Nguyện thướng Nam Sơn thọ nhất bôi.

    Dịch nghĩa

    Năm ngoái ở Kinh Nam (nay thuộc tỉnh Hồ Quảng), hoa mai trắng như tuyết,
    Năm nay ở Kế Bắc (nay là Bắc Kinh), tuyết trắng như hoa mai
    Ở đâu cũng bùi ngùi: việc đời không có gì là nhất định
    Nhưng hãy mừng: cảnh xuân qua qua rồi lại trở lại
    Tiếng ca của lính thú ở biên trấn vang mấy đêm liền
    Lửa đình liệu trong kinh đô cháy rực suốt sáng
    Xa xa hướng phía tây, trông ngóng mặt trời Trường An
    Mong được dâng một chén rượu chúc quân vương thọ như Nam Sơn.

    Năm mới ở U Châu
    Kinh Nam năm ngoái mai như tuyết
    Kế Bắc giờ đây tuyết tựa mai
    Buồn nỗi việc người thay đổi mãi
    Mừng thay xuân mới trở xoay hoài
    Biên cương lính hát đêm vang tiếng
    Đế khuyết đèn chong sáng rực trời
    Trông ngóng Trường An dâng chén chúc
    Cùng Nam Sơn đứng vững muôn đời.


    *****************



    Giang bạn độc bộ tầm hoa -Đỗ phủ có đến 7 bài.

    Đây là bài thứ sáu :

    江畔獨步尋花 其六

    黃四娘家花滿蹊,
    千朵萬朵壓枝低。
    留連戲蝶時時舞,
    自在嬌鶯恰恰啼。


    Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 6 -Đỗ phủ

    Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê
    Thiên đoá vạn đoá áp chi đê.
    Lưu liên hí điệp thời thời vũ,
    Tự tại kiều oanh kháp kháp đề.

    Đi bộ một mình ven sông tìm hoa

    Bên nhà cô Tứ hoa đầy suối,
    Ngàn đoá muôn bông ép trĩu cành.
    Lưu luyến quẩn quanh vờn lũ bướm,
    Ung dung thánh thót hót hoàng anh.


    .
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 10-09-2010, 01:11 AM.

    Leave a comment:


  • Uất Kim Hương
    replied
    Giang bạn độc bộ tầm hoa
    Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê,
    Thiên đoá vạn đoá áp chi đê.
    Lưu liên hí điệp thời thời vũ,
    Tự tại kiều oanh kháp kháp đề
    Đỗ Phủ

    U Châu tân tuế tác
    Khứ tuế Kinh Nam mai tứ tuyết,
    Kim niên Kế Bắc tuyết như mai.
    Cộng ta nhân sự vô thường định,
    Thả hỉ niên hoa khứ phục lai
    Trương Duyệt

    Cảm ngộ
    Lan nhược tự xuân hạ,
    Thiên uất hà thanh thanh.

    U độc không lâm sắc,

    Chu
    nhuy xương tử hành
    Trần Tử Ngang


    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied


    Mười tài tử thời Đại Lịch và những nét đặc sắc trong thơ ca của họ (1)

    Chúc Minh Hoa




    Loạn An Lộc Sơn làm tan cảnh tượng thăng bình thời thịnh Đường, từ đó vương triều nhà Đường tụt dần vào con đường suy thoái, văn hoá nghệ thuật trong thời kỳ này do vậy cũng biến đổi sâu sắc. Một mặt, dòng văn học hiện thực mà đại diện là Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị… đã phát triển đến mức thành thục, thì mặt khác không ít các nhà thơ “lấy cảnh núi xanh, mây trắng, gió xuân, cỏ thơm làm của riêng mình”, dấy lên một phong trào thơ ca hoa mỹ, điển nhã, xướng hoạ. Những người mà đời sau gọi là “Mười tài tử thời Đại Lịch” chính là những đại biểu tiêu biểu cho dòng thơ ca trong thời kỳ này.


    Mười tài tử thời Đại Lịch gồm những ai? Có rất nhiều thuyết khác nhau. Theo ghi chép của Diêu Hợp thời Đường trong Cực Huyền tập thì gồm có Lý Đoan, Lư Luân, Cát Trung Phù, Hàn Hoành, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Miêu Phát, Thôi Động, Cảnh Vi, Hạ Hầu Thẩm(2). Trong Lư Luân truyện ở sách Tân Đường thư cũng ghi chép gần như thế. Nhưng ở các tài liệu khác như Đường thi kỷ sự của Kế Hữu Công, Tạp chí của Giang Linh Kỷ, Thương Lang thi thoại của Nghiêm Vũ đời Tống, Độc Tuyết Sơn phòng đường thi sao của Quản Thế Minh đời Thanh thì có tăng có giảm. Ngoài mười người kể trên, những người sau đây cũng được gọi là mười tài tử gồm Lang Sĩ Nguyên, Lý Ích, Lý Gia Hựu, Hoàng Phủ Tằng, Hoàng Phủ Nhiễm, Lưu Trường Khanh, Lãnh Triêu Dương, Cát Húc(3)…

    Thuyết nào đúng thuyết nào sai quả thực khó mà biết được. Diêu Hợp là người thời Đường biên chép thơ Đường, có lẽ là đáng tin hơn. Tác phẩm của Mười tài tử tuy lưu truyền lại rất ít nhưng thời đó lại rất có tiếng tăm, vả mỗi thời mỗi khác không thể dùng nhãn quang bây giờ để phê phán họ được. Người đáng ngờ nhất trong nhóm tài tử là Lý Ích, bởi phong cách thơ của ông hùng hồn sâu lắng khác xa với phong cách thơ của Mười tài tử, nhất là thơ thất ngôn tuyệt cú ở mảng đề tài biên tái của Lý Ích được xem là đệ nhất từ thời Khai Nguyên về sau, có thể sánh cùng với thơ của Vương Xương Linh và Lý Bạch. Vì Lý Ích là người thân với Lư Luân nhất, lại hay xướng hoạ qua lại với nhau nên người đời Tống, Nguyên xếp ông cùng với Lư Luân và đưa ông vào danh sách Mười tài tử thời ấy (Dung Trai tuỳ bút của Hồng Mại, Ngô Lễ bộ thi thoại của Ngô Sư Đạo), làm thế quả không tránh khỏi khiên cưỡng.


    Trong Tiền Trọng Văn tập ở Tứ khố toàn thư tổng mục chép “đến thời Đại Lịch, thi cách đã bắt đầu thay đổi. Cái khí hồn hậu của thời Khai Bảo đã dần dần xa vắng, tuy phong điệu cao vời nhưng hơi đến chỗ phù phiếm, sáo rỗng. Cánh cửa của sự thăng trầm thực là ở Mười tài tử. Lang Sĩ Nguyên là người khởi xướng, cũng có thể gọi ông là người tiêu biểu vậy. Lời thơ ôn hoà đẹp đẽ, uyển chuyển mà không mất đi phong cách của mình, lại giữ được phong thái của các bậc tiền bối”. Lời bình luận này khá công bằng và chính xác. Tác phẩm của mười tài tử tuy khí cách không bằng thời Thịnh Đường, nhưng họ quả là có sự tiếp bước của các bậc tiền bối, trong thơ họ luôn có dáng dấp của tiền nhân.



    Điểm đặc sắc chủ yếu trong thơ ca của mười tài tử thể hiện ở mấy điểm sau:


    1. Ký tình sơn thuỷ, vịnh tụng tự nhiên (gởi tình vào sông núi, ca vịnh cảnh thiên nhiên).


    Mười tài tử đã nối gót Vương Duy, lấy phong cảnh điền viên làm đề tài chủ yếu. Như bài Mộ xuân quy cố sơn thảo đường của Tiền Khởi:


    谷口春殘黃鳥稀

    辛夷花盡杏花飛

    始憐幽竹山窗下

    不改清陰待我歸


    Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hy,

    Tân di hoa tận hạnh hoa phi.

    Thuỷ liên u trúc sơn song hạ,

    Bất cải thanh âm đãi ngã quy.


    Xuân tàn hang thẳm, vắng oanh vàng,

    Hoa hạnh, tân di phai sắc hương.

    Khóm trúc, mừng thay, bên cửa núi,

    Vẻ xanh chưa đổi, đợi người sang. (4)


    Thời gian tiến dần, vật - ngã tương thân, trong động có tĩnh, thể hiện cái tình nhàn dật của tác giả.


    Bài Bách Lâm tự nam vọng của Lang Sĩ Nguyên:


    溪上遙聞精舍鐘

    泊舟微徑度深松

    青山霽後雲猶在

    畫出西南四五峰


    Khê thượng dao văn tinh xá chung,

    Bạc chu vi kính độ thâm tùng.

    Thanh sơn tễ hậu vân do tại,

    Hoạch xuất tây nam tứ ngũ phong.


    Nghe vẳng chuông chùa trên suối khe,

    Dừng thuyền rẽ lối bóng thông che.

    Núi xanh mưa tạnh mây còn quyến,

    Mấy ngọn non nhô mé nam tê.


    Quả là trong thơ có hoạ dẫn người vào cảnh, độc giả đọc lên tưởng như chính mình đi trong đó, tận mắt thấy cảnh kia. Bài Giang thôn tức sự của Tư Không Thự:


    釣罷歸來不繫船

    江村月落正堪眠

    縱然一夜風吹去

    只在蘆花淺水邊


    Điếu bãi quy lai bất hệ thuyền,

    Giang thôn nguyệt lạc chính kham miên,

    Túng nhiên nhất dạ phong xuy khứ,

    Chỉ tại lô hoa thiển thuỷ biên.


    Thuyền lá câu về chẳng buộc dây,

    Làng chày trăng xế, giấc nồng say.

    Cả đêm mặc gió xô trôi dạt,

    Còn cạnh bờ lau nước liếp đầy.


    Thanh tân nhàn dật, yên ắng hài hoà, hệt như người nông phu trong nguồn nước Đào hoa, tự do tự tại, chẳng màng thế sự. Các bậc tiền bối đã chỉ ra rằng loại thơ này có sự kế thừa thơ sơn thuỷ mang thiền vị của Vương Duy. Đồng thời ta cũng dễ dàng nhận thấy quả thực nó thiếu đi cái khí hùng hồn hào sảng của thời Thịnh Đường và luẩn quẩn trong cảnh giới khá chật chội, nhỏ hẹp.


    2. Cách luật quy chỉnh, tự cú tinh công (cách luật chặt chẽ, câu chữ điêu luyện).


    Đây là điểm đặc sắc thể hiện rõ nhất trong tác phẩm của Mười tài tử. Họ làm thơ rất chuyên chú, thái độ nghiêm túc, tác phẩm của họ rất hay dùng thể thơ cách luật cận thể, âm luật hài hoà, rất ít khi dùng thể ca hành nhạc phủ. Như bài Thù Trình Diên thu dạ tức sự đề tặng của Hàn Hoành:


    長簟迎風早

    空城澹月華

    星河秋一鴈

    砧杵夜千家

    節候看應晚

    心期臥已賒

    向來吟秀句

    不覺已鳴鴉


    Trường điếm nghênh phong tảo,

    Không thành đạm nguyệt hoa.

    Tinh hà thu nhất nhạn,

    Châm chử dạ thiên gia.

    Tiết hậu khan ưng vãn,

    Tâm kỳ ngoạ dĩ xa.

    Hướng lai ngâm tú cú,

    Bất giác dĩ minh nha.


    Trải chiếu chờ cơn gió,

    Bên thành rạng ánh trăng.

    Ngân hà con nhạn liệng,

    Châm chử mọi nhà vang.

    Giấc mộng lòng hò hẹn,

    Trời thu cảnh muộn màng.

    Ngâm nga bài tuyệt tác,

    Quạ sớm bỗng kêu sang.(5)


    Có âm thanh có màu sắc, thế thuận nối nhau, chương pháp rất tinh tế chặt chẽ.


    Bài Quy nhạn của Tiền Khởi:


    瀟湘何事等閑回

    水碧沙明兩岸苔

    二十五弦彈夜月

    不勝清怨卻飛來


    Tiêu Tương hà sự đẳng nhàn hồi?

    Thuỷ bích sa minh lưỡng ngạn đài.

    Nhị thập ngũ huyền đàn dạ nguyệt,

    Bất thăng thanh oán khước phi lai.


    Tiêu Tương hà cớ lại về đây?

    Nước biếc rêu xanh, bãi cát dài.

    Đàn sắt đêm trăng khoan nhặt khảy (6),

    Oán hờn khôn xiết, xốn xang bay.




    Lời đã đẹp mà ý càng hay, bài thơ được xem là thượng phẩm trong thể thất ngôn tuyệt cú.


    Bài Vân Dương quán dữ Hàn Thân túc biệt của Tư Không Thự:


    故人江海別

    幾度隔山川

    乍見翻疑夢

    相悲各問年

    孤燈寒照雨

    深竹暗浮煙

    更有明朝恨

    離杯惜共傳


    Cố nhân giang hải biệt,

    Kỷ độ cách sơn xuyên.

    Sạ kiến phiên nghi mộng,

    Tương bi các vấn niên.

    Cô đăng hàn chiếu vũ,

    Thâm trúc ám phù yên.

    Cánh hữu minh triêu hận,

    Li bôi tích cộng truyền.


    Giang hồ biệt cố nhân,

    Sông núi cách bao lần.

    Chợt gặp ngờ như mộng,

    Thương nhau, hỏi tuổi xuân.

    Mưa thu, đèn dọi bóng,

    Khói nhạt, trúc khoe xanh.

    Thêm hận bình minh đến,

    Giã từ, chén cứ nâng,



    Liên đầu tương truyền là thiên cổ danh cú, liên sau cũng tự nhiên, hầu như không có chữ nào không đẹp, cái tình chợt gặp đó rồi li biệt đó được biểu hiện dưới ngòi bút thật ướt át lâm li. Những câu hay lời đẹp trong thơ của mười tài tử có rất nhiều. Như:


    竹憐新雨後

    山愛夕陽時


    Trúc liên tân vũ hậu,

    Sơn ái tịch dương thời.


    Mến thay khóm trúc sau mưa tạnh,

    Yêu lắm sườn non dưới bóng tà.(7)
    (Tiền Khởi, Cốc Khẩu thư trai ký Dương bổ khuyết)


    曲終人不見

    江山數峰青


    Khúc chung nhân bất kiến,

    Giang sơn sổ phong thanh.


    Khúc tàn người chẳng thấy,

    Trên bến mấy non xanh.
    (Tiền Khởi, Tỉnh thí Tương Linh cổ cầm)


    估客晝眠知浪靜

    舟人夜語覺潮生

    三湘愁鬢逢秋色

    萬里歸心對月明


    Cô khách trú miên tri lãng tĩnh,

    Chu nhân dạ ngữ giác triều sinh.

    Tam Tương sầu mấn phùng thu sắc,

    Vạn lý quy tâm đối nguyệt minh.


    Thương lái ngủ ngày hay sóng lặng,

    Bạn sào đêm nói biết triều dâng.

    Tam Tương tóc bạc màu thu nhuộm,

    Muôn dặm lòng quê ánh nguyệt tràn.

    (Lư Luân, Vãn thứ Ngạc Châu)


    曉月過殘壘

    繁星宿故關


    Hiểu nguyệt quá tàn luỹ,

    Phồn tinh túc cố quan.


    Trăng sớm, qua luỹ vắng,

    Sao dày, trọ ải xưa.

    (Tư Không Thự, Tặc bình hậu tống nhân bắc quy)


    疏松影落空壇靜

    細草春香小洞幽


    Sơ tùng ảnh lạc không đàn tĩnh,

    Tế thảo xuân hương tiểu động u.


    Thông thưa bóng ngả che đàn vắng,

    Cỏ mướt hương đưa ngát động sâu.

    (Hàn Hoành, Đồng đề Tiên Du quán)

    …v.v…



    Có thể thấy sự tu dưỡng về nghệ thuật của họ khá thâm hậu vì vậy có khi ngòi bút khiến người ta kinh ngạc, nhưng cũng có khi không tránh khỏi việc để lộ ngấn tích mài giũa, vì cái nhỏ mà mất cái lớn rồi đi đến chỗ duy mỹ, tuy có câu thơ khiến người ta sửng sốt, kinh ngạc nhưng toàn bài chưa hẳn đã hay. Điều này chính là do phong khí của cả một thời đại tạo ra. Trong Thi tẩu của Hồ Ứng Lân người đời Minh có viết: “Thịnh Đường trở về trước, tuy lời lẽ bình dị nhưng khí tượng ung dung; thời Trung Đường về sau, lời lẽ khéo dần nhưng khí tượng xúc bách…”. Dẫu đó chỉ là lời nói khái quát nhưng cũng không phải không có lý.


    3. Tình tứ miên mạc, khinh thù thiển xướng (tình ý miên man, nội dung xướng hoạ nông cạn).

    Đây là đặc điểm quan trọng nhất trong thi ca của Mười tài tử. Thông thường người ta cho rằng phong cách thơ ca thời Vãn Đường đẹp đẽ uỷ mị, thật ra trong tác phẩm của Mười tài tử cũng có rất nhiều câu như thế, chỉ có điều không đến nỗi nhu nhược mềm yếu quá thôi.


    Bài Thính tranh của Lý Đoan:


    鳴箏金粟柱

    素手玉房前

    欲得周郎顧

    時時誤拂弦


    Minh tranh kim túc trụ,

    Tố thủ ngọc phòng tiền.

    Dục đắc Chu lang cố,

    Thời thời ngộ phất huyền.


    Cần vàng nắn tiếng ngân vang,

    Ngọc phòng tay nõn nhẹ nhàng lướt sang,

    Cố lòng lọt mắt Chu lang,(8)

    Đôi khi giả bộ gảy đàn sai dây.


    Bài Bái tân nguyệt:


    開簾見新月

    即便下階拜

    細語人不聞

    北風吹羅帶


    Khai liêm kiến tân nguyệt,

    Tức tiện há giai bái.

    Tế ngữ nhân bất văn,

    Bắc phong xuy la đái.


    Mở rèm trăng non sáng,

    Vội xuống thềm chấp tay.

    Lời nhỏ nghe chẳng đặng,

    Dải là gió bấc lay.


    Bài Khuê tình rằng:


    月落星稀天欲明

    孤燈未滅夢難成

    披衣更向門前望

    不忿朝來鶴喜聲


    Nguyệt lạc tinh hy thiên dục minh,

    Cô đăng vị diệt mộng nan thành.

    Phi y cánh hướng môn tiền vọng,

    Bất phẫn triêu lai hạc hỉ thanh.


    Sao chìm trăng lặn, sắp bình minh,

    Le lói đèn khuya mộng khó thành.

    Khoác áo ra sân mong ngóng mãi,

    Chẳng hờn tiếng hạc vọng đêm thanh.


    Tình cảm tràn trề, hình tượng sinh động mà truyền thần, chỉ bằng vài nét nhẹ nhàng mà khắc hoạ được tình tứ của người thiếu nữ. Trong đó ít nhiều vẫn có bóng dáng của dân ca, nhưng nó khác với kiểu thơ từ hoa mỹ thơm tho thời Vãn Đường.


    Lại thêm như bài Tống Lý Đoan của Lư Luân:


    故關衰草變

    離別正堪悲

    路出寒雲外

    人歸暮雪時

    少孤為客早

    多難識君遲

    掩泣空相向

    風塵何所期


    Cố quan suy thảo biến,

    Li biệt chính kham bi.

    Lộ xuất hàn vân ngoại,

    Nhân quy mộ tuyết thì.

    Thiếu cô vi khách tảo,

    Đa nạn thức quân trì.

    Yểm khấp không tương hướng,

    Phong trần hà sở kỳ.


    Ải xưa đầy cỏ úa,

    Li biệt buồn chưa vơi.

    Anh đến ngoài mây lạnh,

    Người về chiều tuyết rơi.

    Mồ côi, làm khách sớm,

    Nhiều nạn, biết anh chầy.

    Nuốt lệ nhìn nhau mãi,

    Phong trần gặp nữa thôi?


    Lời lẽ thành khẩn, cảm tình thân thiết.


    Lại như bài Tặng Khuyết hạ Bùi xá nhân của Tiền Khởi:


    二月黃鸝飛上林

    春城紫禁曉陰陰

    長樂鐘聲花外盡

    龍池柳色雨中深

    陽和不散窮途恨

    霄漢長懸捧日心

    獻賦十年猶未遇

    羞將白髮對花簪


    Nhị nguyệt hoàng li phi Thượng lâm,

    Xuân thành tử cấm hiểu âm âm.

    Trường Lạc chung thanh hoa ngoại tận,

    Long Trì liễu sắc vũ trung thâm.

    Dương hoà bất tán cùng đồ hận,

    Tiêu hán trường huyền phủng nhật tâm.

    Hiến phú thập niên do vị ngộ,

    Tu tương bạch phát đối hoa trâm.


    Thượng lâm oanh đến tháng hai,

    Thành xuân cung cấm ban mai mịt mờ.

    Chuông Trường Lạc vọng ngoài hoa,

    Long Trì sắc liễu nhạt nhoà trong mưa.

    Cùng đường uất hận chưa vơi,

    Sông Ngân vẫn buộc lòng son sắt lòng,

    Mười năm dâng phú chưa xong,

    Phơ phơ đầu bạc thẹn cùng trâm hoa.


    Đây là bài thơ đề tặng, nhưng biểu lộ mối cảm hoài không gặp vận, cực kỳ hàm súc, lời lẽ thê lương. Những bài thơ kiểu này không phải là hiếm thấy trong sáng tác của mười tài tử.


    Thơ ca của Mười tài tử tuy thoát li hiện thực, điểm xuyết thêm bóng dáng của thời thăng bình, nhưng ở vào hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động, chiến tranh loạn lạc, nỗi thống khổ của nhân dân không phải không khiến họ rung động, trái lại còn có những tác động nhất định. Thỉnh thoảng ta cũng có thể thấy những biểu hiện ấy trong tác phẩm của họ.


    Như bài Phùng bệnh quân nhân của Lư Luân.


    行 多 有 病 住 無 糧

    萬 里 還 鄉 未 到 鄉

    蓬 鬢 哀 吟 古 城 下

    不 堪 秋 氣 入 金 瘡


    Hành đa hữu bệnh trú vô lương,

    Vạn lý hoàn hương vị đáo hương.

    Bồng mấn ai ngâm cổ thành hạ,

    Bất kham thu khí nhập kim sang.


    Đường dài mắc bệnh không lương,

    Muôn dặm về quê chửa đến làng.

    Tóc bạc buồn ngâm bên lũy cổ,

    Hơi thu xỉa xói vết đao thương.


    Bài Đại viên trung lão nhân của Cảnh Vi:


    佣賃難堪一老身

    皤皤力役在青春

    林園手種唯吾事

    桃李成陰歸別人


    Dung nhẫm nan kham nhất lão thân,

    Bà bà lực dịch tại thanh xuân.

    Lâm viên thủ chủng duy ngô sự,

    Đào lý thành âm quy biệt nhân.


    Làm thuê khốn đốn một thân già,

    Đổ sức thanh xuân đến tóc hoa.

    Gây giống vườn rừng, ta quản hết.

    Mận đào bóng cả, thuộc người ta.


    Bài Lộ bàng lão nhân cũng của Cảnh Vi:


    老人獨坐倚官樹

    欲語潸然淚便垂

    陌上歸心無產業

    城邊戰骨有親知

    餘生上在艱難日

    長路多逢輕薄兒

    綠水青山雖自舊

    如今貧後复何為


    Lão nhân độc toạ ỷ quan thụ,

    Dục ngữ san nhiên lệ tiện thuỳ.

    Mạch thượng quy tâm vô sản nghiệp,

    Thành biên chiến cốt hữu thân tri.

    Dư sinh thượng tại gian nan nhật,

    Trường lộ đa phùng khinh bạc nhi.

    Lục thuỷ thanh sơn tuy tự cựu,

    Như kim bần hậu phục hà vi?


    Lão già lặng lẽ dựa cây quan,

    Muốn nói mà sao lệ ứa tràn.

    Trên lối lòng quê, không sản nghiệp,

    Bên thành xương trắng, chẳng người thân.

    Kiếp thừa sống giữa ngày gian khó,

    Đường thẳm gặp chi kẻ phụ phàng.

    Nước biếc non xanh tuy vẫn thế

    Mà nay nghèo khổ biết sao đang?


    Hoặc tả nỗi thống khổ của thương binh, hoặc tả sự nghèo khó của nông dân, hoặc tả cảnh thê lương thảm thiết của người già cô quả; Lư Luân còn có một bộ phận thơ biên tái, tất cả đều có sự phản ánh đời sống nhân dân, xã hội ở những mức độ khác nhau, có thể thấy dòng thơ hiện thực của Đỗ Phủ có những ảnh hưởng nhất định đối với mười tài tử thời Đại Lịch.


    Bài Hàn thực của Hàn Hoành rằng:


    春城無處不飛花

    寒食東風御柳斜

    日暮漢宮傳蠟燭

    輕煙散入五候家


    Xuân thành vô xứ bất phi hoa,

    Hàn thực đông phong ngự liễu tà.

    Nhật mộ Hán cung truyền lạp chúc,

    Khinh yên tán nhập ngũ hầu gia.


    (Thành xuân hàn thực ngập hương hoa,

    Dáng liễu nghiêng nghiêng mặc gió sà.

    Cung Hán chiều buông truyền thắp nến,

    Khói mờ lan nhẹ chốn hầu gia.)


    Mượn chuyện xưa nói chuyện nay, chất nghệ thuật cũng như tính tư tưởng đều rất cao, có thể gọi là “không mất đi ý chỉ của bậc phong nhân”.

    Nói tóm lại, sáng tác của Mười tài tử có cái được có cái mất, phải nhìn toàn diện mới có thể đánh giá một cách khách quan.ª




    Thành phố Hồ Chí Minh, 05/2005

    LÊ QUANG TRƯỜNG dịch và chú thích





    Chú thích:



    (1). Nguyên tựa của Chúc Minh Hoa là Đại Lịch thập tài tử bao quát na ta nhân? Tha môn đích tác phẩm hữu hà đặc sắc? in trong Cổ điển văn học tam bách đề, In lần thứ 7, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 11.1999.


    (2) Lý Đoan (732-792), tự Chính Kỷ, người Triệu Quận (nay gần huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc). Lư Luân (748?-800?), tự Doãn Ngôn, người Hà Trung Bồ (nay là Bồ Châu, huyện Vĩnh Tế, Sơn Tây). Cát Trung Phù (chưa tìm thấy tiểu sử). Hàn Hoành (còn đọc là Hồng, Hoằng, có tài liệu viết Hủ, là nhầm), tự Quân Bình, người Nam Dương, Hà Nam. Tiền Khởi (722-780), tự Trọng Văn, người Ngô Hưng (nay là vùng Hồ Châu, tỉnh Triết Giang). Tư Không Thự (720?-794?), tự Văn Minh, (có chỗ chép là Văn Sơ), người ở Quảng Bình, Hà Bắc. Miêu Phát (chưa tìm thấy tiểu sử). Thôi Động (chưa tìm thấy tiểu sử). Cảnh Vi (730?-790?), tự Hồng Nguyên, người Hà Đông (nay là Bồ Châu, huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây). Hạ Hầu Thẩm (chưa tìm thấy tiểu sử).


    (3) Lang Sĩ Nguyên (727- khoảng 780) tự Quân Trụ, người Định Châu (nay ở Hà Bắc); Lý Ích (748-827) tự Quân Ngu, người Cô Tang (nay là huyện Vũ Uy, tỉnh Cam Túc); Lý Gia Hựu (719-khoảng 781) tự Tùng Nhất, người Triệu Châu; Hoàng Phủ Tằng (?-785) tự Hiếu Thường, là em của Hoàng Phủ Nhiễm; Hoàng Phủ Nhiễm (716?-770), tự Mậu Chính, người Đan Dương, Nhuận Châu (nay là huyện Đan Dương, tỉnh Giang Tô); Lưu Trường Khanh (725?-khoảng 790), tự Văn Phòng, người ở Hà Gian; Cát Húc (chưa tìm thấy tiểu sử).


    (4). Các bản dịch thơ dưới đây là của chúng tôi. Bản dịch của các tác giả khác sẽ được ghi chú rõ.


    (5). Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu. Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch, 2 tập, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1997, tập 2, tr. 975-976 chép bài này có tựa là Thù Trình Cận tức sự, kiến tặng của Hàn Hủ.


    (6) Nguyên văn là Nhị thập ngũ huyền tức là đàn sắt. Theo sách Hán thư, đàn sắt lúc trước có năm chục dây, vua bảo Tố nữ đàn, tiếng ai oán, buồn quá, mới sai phá bỏ chỉ còn hai mươi lăm dây.


    (7) Bản dịch của Trần Trọng San. Trần Trọng San, Thơ Đường, Tủ sách Đại học Tổng hợp TP. HCM, 1990, tr. 89-90.


    (8) Chu lang tức Chu Du, người thời Tam quốc. Lúc nhỏ Du là người rất tinh ý với âm nhạc, ai đàn mắc lỗi nhỏ, Du liền biết ngay, mà biết thì ngoái đầu lại. Người đương thời có câu: “Khúc đàn có lỗi, chàng Chu quay đầu”

    Khoa Văn học và Ngôn ngữ

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .





    Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ - Giả Đảo

    Tùng hạ vấn đồng tử

    Ngôn sư thái dược khứ

    Chỉ tại thử sơn trung

    Vân thâm bất tri xứ.


    尋 隱 者 不 遇

    松下問童子,
    言師採藥去。
    只在此山中,
    雲深不知處。


    Dịch Thơ

    Tìm Ẩn Sĩ Không Gặp

    Gốc thông hỏi chú học trò
    Rằng: thầy hái thuốc lò mò đi xa
    Ở trong núi ấy thôi mà
    Mây che mù mịt biết là đi đâu.

    (Tản Đà)


    Dưới thông hỏi chú tiểu đồng,
    Rằng :” Thầy hái thuốc, nên không có nhà.
    Núi này quanh quất không xa,
    Nhưng mây nhiều, biết đâu là chốn đi.

    (Trần Trọng San)


    Dưới tùng hỏi tiểu đồng,
    Nói: Thầy đi hái thuốc.
    Chỉ trong dãy núi này,
    Mây mù không thấy được.

    (Tương Như)


    Dưới cội tùng nghe trẻ
    Rằng thầy hái thuốc xa
    Chỉ trong vòng núi ấy
    Mây thẫm khó tìm ra

    (Shiroi)


    .

    Leave a comment:

Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom