• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Dòng Thơ Đường

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • CONHAKO
    started a topic Dòng Thơ Đường

    Dòng Thơ Đường


    Khuê Oán - Vương Xương Linh


    閨怨
    王昌齡

    閨中少婦不知愁, 春日凝妝上翠樓。
    忽見陌頭楊柳色, 悔教夫婿覓封侯。


    Phiên Âm

    Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

    Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu

    Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

    Hối giao phu tế mịch phong hầu.


    Tạm dịch nghĩa :


    Phòng khuê thiếu phụ không biết sầu là gì
    Ngày xuân ngưng trang điểm bước lên lầu thuý
    Chợt thấy sắc dương liễu ở đầu đường
    Hối tiếc đã khuyên chồng đi tìm để được phong tước hầu.



    Dịch Thơ Quốc Âm của LaiQuangNam

    Khuê Oán

    Khuê phòng nàng biết chi sầu,
    Ngày xuân ngưng phấn thuợng lầu thúy sang.
    Đầu đàng…chợt sắc liễu dương,
    Giục chàng bén chốn quan trường làm chi !

    Laiquangnam

    Chú Vài Từ

    1- Khuê trung ,phòng khuê của người phụ nữ trong chốn đài các;
    2- Ngưng trang : là trang điểm hoàn tất, ngày xưa theo lễ thì người phụ nữ quyền quý không được đề gương mặt không điểm trang ra mắt chồng, nhất là các bà hậu ,bà phi đối với vua .Trong Việt ngữ chữ " ngưng " có hai nghĩa một là dừng đột ngột, hai là dừng khi đã xong việc .
    3- Thúy là lầu thúy, lầu có ánh ngọc xanh, thường nhà cực giàu có mới có
    4- Dương liễu , dương liễu là hai cây cùng họ mới nhìn hơi giống nhau, nhưng dương cây lá cứng ( chỉ đàn ông ) liễu cây lá mềm, rũ ( chỉ người phụ nữ ).
    5- Sắc , là cảnh tượng, hình thái ,
    6- thướng , tiếng Việt " thượng lên", là trèo lên một cách háo hức .


    ****************


    Khuê oán, là bài thơ thuộc dòng thơ biên tái, là tác phẩm nổi tiếng của Vương Xương Linh, người được khen là Thi Thiên tử thời Thịnh Đường. Ông dùng chữ cân nhắc, chắc lọc và rất tài hoa trong dòng tuyệt cú. Bài thơ này đối với học sinh Việt Nam nghe rất quen thuộc vì nhắc họ nhớ đến câu thơ dịch tài hoa của bà Đoàn thị Điểm trong Chinh phụ ngâm ngày xưa .

    Lúc ngoảnh mặt ngắm màu dương liễu
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
    Chẳng hay muôn dặm ruổi rong
    Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng? (1)

    (Chinh Phụ Ngâm )



    (1) Nguyên tác của Ôn Như Hầu Đặng Trần Côn

    Hồi thủ trường đê dương liễu sắc
    Hối giao phu tế mịch phong hầu
    Bất thức ly gia thiên lý ngoại
    Quân tâm hữu tự thiếp tâm phầu.


    nguồn : NewVietart


    %%%%%%%%%%%%%%%%

    Vương Xương Linh tự là Thiếu Bá, người đất Giang Ninh, tỉnh Giang Tô. Đậu Tiến sỹ, làm chức Hiệu thư lang, sau bị biếm chức ra làm quan úy tại Long Tiêu. Gặp lúc loạn lạc, ông bị Thứ sử Lư Khưu Hiển vì tư thù giết chết. Vương Xương Linh nổi tiếng thơ hay được gọi là Thi thiên tử cũng như Vương Duy là Thi Phật, Lý Bạch là Thi Tiên, Đỗ Phủ là Thi Thánh. ông có để lại một thi tập gồm 5 bài, Khuê oán là một trong các bài thơ đó.


    .
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 26-02-2011, 07:02 PM.

  • CONHAKO
    replied
    Tạ Diễu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân

    Tạ Diễu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân

    Nguyên tác: Lý Bạch




    宣州謝朓樓餞別校書叔雲

    棄我去者
    昨日之日不可留
    亂我心者
    今日之日多煩憂
    長風萬里送秋雁
    對此可以酣高樓
    蓬萊文章建安骨
    中間小謝又清發
    俱懷逸興壯思飛
    欲上青天覽明月
    抽刀斷水水更流
    舉杯銷愁愁更愁
    人生在世不稱意
    明朝散髮弄扁舟
    ____________


    Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân

    Khí ngã khứ giả
    Tạc nhật chi nhật bất khả lưu
    Loạn ngã tâm giả
    Kim nhật chi nhật đa phiền ưu
    Trường phong vạn lý tống thu nhạn
    Đối thử khả dĩ hàm cao lâu
    Bồng lai văn chương Kiến An cốt
    Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát
    Cụ hoài hứng dật tráng tứ phi
    Dục thướng thanh thiên lãm minh nguyệt
    Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu
    Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu
    Nhân sinh tại thế bất xứng ý
    Minh triêu tản phát lộng biên chu.


    Dịch nghĩa:


    Tuyên Châu trên lầu Tạ Diểu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân

    Bỏ ta mà đi

    Ngày của ngày qua không giữ được

    Làm rối lòng ta

    Ngày của ngày nay biết bao chuyện ưu phiền

    Gió dài vạn dặm đưa cánh nhạn thu bay đi

    Trước cảnh ấy chỉ có thể say trên lầu cao

    Văn chương Bồng Lai có cái cốt cách Kiến An

    Trung gian lại có ông Tiểu Tạ phong cách tuyệt vời

    Mang đầy hứng khởi, ý tứ hùng tráng bay lên

    Muốn lên đến trời xanh để nắm bắt vầng trăng sáng

    Rút đao chém xuống nước nước càng chảy mạnh

    Nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm

    Con người ta ở nơi trần thế nếu chưa thoả ý

    Sớm mai xoã tóc luớt chiếc thuyền nhỏ rong chơi.



    --Bản dịch của Nguyễn phước Hậu--


    Bỏ ta mà đi

    Ngày của ngày qua giữ lại gì ?

    -Chỉ lòng ta rối

    Ngày nay ngày của bao phiền toái.

    Vạn dặm gió thu cánh nhạn khơi

    Lầu cao trước cảnh gợi say thôi

    Kiến An thi tứ Bồng lai vận

    Tiểu Tạ phong lưu nét tuyệt vời.

    Hùng tráng ý văn đầy hứng khởi

    Muốn lên trời thẳm nắm trăng soi

    Rút đao chém nước trôi càng mạnh

    Nâng chén tiêu sầu chẳng được vơi.

    Trần thế con người chưa thỏa ý

    Sớm mai tóc xõa lướt thuyền chơi.



    English--



    Seven-character-ancient-verseLi Bai

    A FAREWELL TO SECRETARY SHUYUN
    AT THE XIETIAO VILLA IN XUANZHOU


    Since yesterday had to throw me and bolt,
    Today has hurt my heart even more.
    The autumn wildgeese have a long wind for escort
    As I face them from this villa, drinking my wine.
    The bones of great writers are your brushes, in the School of Heaven,
    And I am a Lesser Xie growing up by your side.
    We both are exalted to distant thought,
    Aspiring to the sky and the bright moon.
    But since water still flows, though we cut it with our swords,
    And sorrows return, though we drown them with wine,
    Since the world can in no way answer our craving,
    I will loosen my hair tomorrow and take to a fishingboat.







    ******************

    nghe vài câu đầu của bài hát này trong phim Bao Công , có thấy quen quen ko....các vị....


    Mộng Uyên Ương Hồ Điệp




    Zuo ri xiang na dong liu shui Li wo yuan qu bu ke liu
    Jin ri luan wo xin duo fan you
    Chou dao duan shui shui geng liu Ju bei xiao chou chou geng chou
    Ming chao qing feng si piao liu
    You lai zhi you xin ren xiao You shei ting dao jiu ren ku
    Ai qing liang ge zi hao xin ku
    Shi yao wen yi ge ming bai Hai shi yao zhuang zuo hu tu
    Zhi duo zhi shao nan zhi zu
    Kan si ge yuan yang hu die bu ying gai de nian dai
    Ke shi shei you neng bai tuo ren shi jian de bei ai
    Hua hua shi jie yuan yang hu die
    Zai ren jian yi shi dian He ku yao shang qin tian
    Bu ru wen rou tong mian


    Dịch nghĩa


    Ngày hôm qua như dòng nước chảy về đông
    Mãi xa ta không sao giữ lại được
    Hôm nay lại có bao chuyện ưu phiền làm rối cả lòng ta
    Rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnh
    Nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm
    Gió sớm mai thổi đi bốn phương
    Xưa nay chỉ thấy người nay cười
    Có ai nghe thấy người xưa khóc đâu
    Hai tiếng ái tình thật cay đắng
    Muốn hỏi cho rõ hay giả vờ ngây ngô
    Chỉ có thể biết nhiều hay ít
    Sao có thể biết cho đủ
    Giống như đôi uyên ương bươm bướm trong những năm tháng khó khăn này
    Ai có thể thoát được mối sầu nhân thế
    Trong thế giới phù hoa đó
    Sống ở trên đời đã là chuyện điên rồ
    Đôi uyên ương đã yêu nhau sao còn muốn lên tận trời xanh?
    Chi bằng hãy cùng ngủ yên trong sự dịu êm


    Tiếng Việt

    Thời gian vẫn cứ trôi âm thầm
    Như dòng sông nước trôi xa dần
    Sao nỗi đau trong lòng ta vẫn đây
    Làm sao giữ nước thôi xuôi dòng
    U buồn nâng chén thêm u buồn
    Ai biết mai đây đời mình về đâu
    Tình yêu đến thắm trên môi cười
    Khi tình đi mắt ai vương lệ
    Ôi biết sao cho vừa tình thế nhân
    Lòng sao mãi vấn vương tơ tình
    Nhân tình kia biết sao cho vừa
    Ôi luyến lưu thôi đành tình làm ngơ
    Hỡi ơi tình yêu như bướm hoa, như cánh mây trôi bềnh bồng
    Tình yêu ơi ta có mấy ai qua mà không một lần khổ đau
    Trần gian đắm chìm lợi danh chói lòa
    Thôi đừng mơ mộng trời mây
    Thôi đừng xa rời người ơi,
    Hãy đưa nhau tới mộng bình yên!


    Uyên ương hồ điệp mộng (Can't let you go ) - Richard Clayderman




    .



    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 13-06-2010, 10:43 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Xuân giang hoa nguyệt dạ


    春 江 花 月 夜

    春 江 潮 水 連 海 平
    海 上 明 月 共 潮 生
    灩 灩 隨 波 千 萬 里
    何 處 春 江 無 月 明

    江 流 宛 轉 繞 芳 甸
    月 照 花 林 皆 似 霰
    空 里 流 霜 不 覺 飛
    汀 上 白 沙 看 不 見

    江 天 一 色 無 纖 塵
    皎 皎 空 中 孤 月 輪
    江 畔 何 人 初 見 月
    江 月 何 年 初 照 人

    人 生 代 代 無 窮 已
    江 月 年 年 望 相 似
    不 知 江 月 待 何 人
    但 見 長 江 送 流 水

    白 云 一 片 去 悠 悠
    青 楓 浦 上 不 勝 愁
    誰 家 今 夜 扁 舟 子
    何 處 相 思 明 月 樓

    可 憐 樓 上 月 徘 徊
    應 照 離 人 妝 鏡 台
    玉 戶 帘 中 卷 不 去
    擣 衣 砧 上 指 還 來

    此 時 相 望 不 相 聞
    愿 逐 月 華 流 照 君
    鴻 雁 長 飛 光 不 度
    魚 龍 潛 躍 水 成 文

    昨 夜 閒 潭 夢 落 花
    可 憐 春 半 不 還 家
    江 水 流 春 去 欲 盡
    江 潭 落 月 復 西 斜

    斜 月 沉 沉 藏 海 霧
    碣 石 瀟 湘 無 限 路
    不 知 乘 月 几 人 歸
    落 月 搖 情 滿 江 樹

    張 若 虚

    "Xuân giang hoa nguyệt dạ" là bài thơ trữ tình nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc. Nhà nghiên cứu văn học đời Thanh Vương Khải Vận khen bài thơ này là "chỉ một thiên tuỵêt diệu, đủ xứng đáng là đại gia" (cô thiên hoành tuyệt, cánh vi đại gia); nhà thơ hiện đại Văn Nhất Đa thì ca ngợi rằng bài thơ này là "Thơ trong thơ, đỉnh núi trên các đỉnh núi" (Thi trung đích thi, đỉnh phong thượng đích đỉnh phong).

    Theo lời Lưu Kế Tài thì đối với người Nhật Bản hiện đại, hai bài thơ Đường được hâm mộ nhất là "Xuân giang hoa nguyệt dạ" của Trương Nhược Hư và "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị.


    Mạn đàm "Xuân giang hoa nguyệt dạ":

    Nhà thơ Trương Nhược Hư (660 – 720) người ở Dương Châu. Ông cùng với Hạ Tri Chương, Trương Húc, Bao Dung được gọi là "Ngô trung tứ sĩ" vì Hạ Tri Chương tự xưng là Tứ Linh cuồng khách, Trương Húc cùng với Lý Bạch, Bùi Uẩn múa kiếm làm thơ và tự xưng là tam tuyệt, nên bốn nhà thơ nầy quy tụ lại với danh xưng để ngạo với đời. Phong cách thơ ông trong sáng hoa lệ, giàu chất trữ tình, Ông có vị trí quan trọng giai đọan thi ca thời Sơ Đường.

    Thơ ông thất lạc gần hết. "Toàn Đường thi" chỉ ghi lại được hai bài thơ của ông là "Đại Đáp Khuê Mộng Hoàn" và "Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ".

    Bài "Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ" này cũng đủ để Trương Nhược Hư trở thành bất tử. Tại Nhật Bản hai bài thơ Đường nầy được yêu thích nhất có lẽ nó mang hình ảnh thấp thoáng đâu đó trên xứ sở Phù Tang.


    Xuân giang hoa nguyệt dạ là một bức tuyệt tác tổng hợp cảnh vật, tình cảm, triết lý vào trong một đêm xuân có (trăng) sáng, trên con (sông), bên cạnh một rừng (hoa). Câu chuyện đi từ cảnh xa cho đến gần, cảnh vĩ đại cho dến cảnh đơn thuần (con trăng), cảnh chuyển qua tình, từ triết lý nhân sinh đi tới nội tâm của con người rồi của chính mình, một lúc nào đó cảnh và người hòa hợp với nhau, không còn phân biệt.

    Lồng trong câu chuyện, mặt trăng là vai chính, từ lúc mới lên cùng với thủy triều, cho đến lúc lừng lững giữa trời không, cho đến lúc lặng xuống, cho ta hình ảnh rõ ràng của một du khách (trên sông) qua một đêm không ngủ, lặng nhìn trăng sáng, thưởng thức trọn vẹn một Xuân giang hoa nguyệt dạ.

    Nét bút tả cảnh tả tình của thi nhân thật là huyền diệu. Còn gì huy hoàng thơ mộng hơn cho bằng lặng lẻ nhìn vũ trụ từ từ hiện ra trước mắt mình qua hìn ảnh của một mặt hồ mênh mông, và ánh trăng vằng vặc. Còn gì thẫn thờ hơn cái ngẫn ngơ của linh hồn trước một thiên nhiên vô cùng, bí mật, còn gì cô đơn hơn con thuyền lẽ loi trên mặt sông, không biết về đâu. Còn gì thương nhớ vô vàn hơn nỗi tương tư của hai người xa cách chỉ còn biết nhờ trăng gởi cho nhau nỗi thân tình tới người yêu.

    Còn gì bàng hoàng hơn giây phút cuối cùng của câu chuyện, có ai như mình không nhĩ, ngồi đây với bao nhiêu nỗi niềm, muốn bao trùm cả vạn vật, nhớ đến câu: "Tịch dương vô hạn hảo, Chỉ thị cận hoàng hôn" mà bàng hoàng ngẩn ngơ...

    Âm luật tiết tấu trong bài thơ cũng rất đặc sắc, diễn tả tâm trạng của thi nhân trong đêm đó, không kịch liệt, không ai oán, không cấp xúc, mà là mộng ảo, ôn nhu, hòa hài, tình cảm thâm trầm mà nhiệt liệt, tự nhiên, bình hòa như máu chạy trong tim, nhịp theo quy luật, tiết tấu. Cả bài có 36 câu, 4 câu lại đổi vần, bình trắc đổi nhau vận dụng, như một bài nhạc đi theo tình cảm trong thơ.







    Xuân giang hoa nguyệt dạ

    Trương Nhược Hư

    Xuân giang triều thủy liên hải bình,
    Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.
    Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,
    Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh.

    Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,
    Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển.
    Không lý lưu sương bất giác phi,
    Đính thượng bạch sa khan bất kiến.

    Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,
    Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.
    Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt ?
    Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân ?

    Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
    Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.
    Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
    Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.

    Bạch vân nhất phiến khứ du du,
    Thanh phong giang thượng bất thăng sầu.
    Thùy gia kim dạ biên chu tử,
    Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?

    Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,
    Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.
    Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,
    Đảo y châm thượng phất hoàn lai.

    Thử thời tương vọng bất tương văn,
    Nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.
    Hồng nhạn trường phi quang bất độ,
    Ngư long tiềm dược thủy thành văn.

    Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,
    Khả liên xuân bán bất hoàn gia.
    Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,
    Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

    Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,
    Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.
    Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui,
    Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.


    --Dịch Nghĩa--

    Thủy triều lên, mặt sông xuân ngang mặt bể,
    Trên bể, trăng sáng cùng lên với thủy triều .
    Lấp loáng theo sóng trôi muôn ngàn dặm,
    Có nơi nào trên sông xuân là không sáng trăng ?

    Dòng sông lượn vòng khu cồn hương thơm,
    Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết .
    Trên sông sương trôi tưởng như không bay
    Bãi sông cát trắng, nhìn chẳng nhận ra

    Sông và trời, một màu không mảy bụi,
    Ngời sáng trong không, vầng trăng trơ trọi
    Người bên sông,ai kẻ đầu tiên thấy trăng ?
    Trăng trên sông, năm nào đầu tiên rọi xuống người ?

    Người sinh đời đời không bao giờ ngừng
    Trăng trên sông năm năm ngắm vẵn y nguyên
    Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai
    Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy

    Mây trắng một dải, vẩn vơ bay
    Cây phong biếc xanh trên bờ buồn khôn xiết
    Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ
    Người nơi nao trên lầu trăng sáng đương tương tư ?

    Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi
    Phải chiếu sáng đài gương người biệt ly
    Rèm nhà ngọc cuốn lên rồi, trăng vẫn không đi
    Phiến đá đập áo lau đi rồi, trăng vẫn cứ lại

    Giờ đây cùng ngắm trăng mà không cùng nghe tiếng nhau
    Nguyện theo ánh đẹp vầng trăng trôi tới chiếu sáng bên người
    Chim hồng nhạn bay dài không thể mang trăng đi
    Cá rồng lặn nhảy, chỉ khiến làn nước gợn sóng

    Đêm qua thanh vắng, mơ thấy hoa rơi,
    Đáng thương cho người đã nửa mùa xuân chưa về nhà
    Nước sông trôi xuôi, xuân đi sắp hết
    Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây

    Trăng xế chìm dần lẩn trong sương mù mặt bể
    Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng
    Chẳng biết nhân ánh trăng đã mấy người về
    Trăng lặn, rung rinh mối tình, những cây đầy sông


    Chú thích :

    * Chày đập áo [Đảo y châm ], là dụng cụ để đập áo khi giặt.
    * Ngư long là con cá lớn sống trong nước, cá kình,cụ Nguyễn Trãi thì cho đó là một giống thú rất lớn sống trong nước.
    * Lì là giữ yên vị trí ,vị thế cũ.
    * Kiệt Thạch, là núi Kiệt thạch ở vùng biên giới phía bắc ở huyện Xương Lê, Tiêu Tương là hai dòng sông Tiêu và Tương hợp lưu ở Hà Nam và chảy vào Động Đình Hồ.


    %%%%%%


    --Bản dịch của Khương Hữu Dụng--

    Đêm hoa trăng trên sông xuân

    Sông xuân triều dậy mặt biển bằng,
    Trên biển trăng cùng triều nước dâng.
    Dờn dợn vời theo muôn dặm sóng,
    Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng.

    Quanh co sông lượn cồn hương chảy,
    Trăng chiếu vườn hoa như tuyết rải.
    Tầng không sương tỏa tưởng không bay,
    Cát trắng bên doi nhìn chẳng thấy.

    Trong suốt trời sông suốt một màu,
    Trên sông vằng vặc một trăng cao.
    Ai người đầu đã trông trăng ấy ?
    Trăng ấy soi người tự thuở nao ?

    Người cứ đời đời sinh nở mãi,
    Trăng đã năm năm sông nước giãi.
    Soi ai nào biết được lòng trăng,
    Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy,

    Mây bạc lưng chừng trôi đến đâu,
    Cành phong xanh bến biết bao sầu.
    Đêm nay ai mảng buông thuyền đó,
    Ai ở lầu trăng nhớ chốn nào ?

    Trăng lầu quanh quẩn đáng thương ôi !
    Soi mãi đài gương kẻ lẻ đôi.
    Cửa ngọc cuốn rèm xua vẫn ở ;
    Hòn châm đập áo xóa liền soi.

    Chừ đây cùng ngóng , bẵng tăm hơi ;
    Mong quyến theo trăng đến rọi người.
    Bay mỏi, nhạn khôn mang ánh được,
    Vẫy ngầm, cá chỉ vẫy tăm thôi.

    Đêm qua thanh vắng mộng hoa rơi,
    Nhà chửa về, xuân quá nửa rồi !
    Nước cuốn xuân đi trôi sắp hết,
    Vòm sông trăng lại xế sang đoài.

    Trăng khuất mù khơi chìm chậm chậm,
    Dòng Tương non Kiệt ngàn muôn dặm.
    Nương trăng mấy kẻ nhớ về theo,
    Trăng lặn xao tình cây nước gợn.






    --Bản dịch của Tản Đà--

    Đêm trăng hoa trên sông xuân

    Sông xuân sáng nước liền ngang bể,
    Vầng trăng trong mặt bể lên cao.
    Ánh trăng theo sóng đẹp sao!
    Sông xuân muôn dặm chỗ nào không trăng?
    Dòng sông chảy quanh rừng hoa ngát,
    Trăng soi hoa như tán trập trùng.
    Sương bay chẳng biết trong không
    Trên soi cát trắng nhìn không thấy gì.
    Trời in nước một ly không bụi.
    Mảnh trăng trong ròi rọi giữa trời.
    Thấy trăng thoạt mới là ai?
    Trăng sông thoạt mới soi người năm nao?
    Người sinh mãi, kiếp nào cho biết,
    Nhìn trăng sông năm hệt không sai.
    Trăng sông chẳng biết soi ai,
    Dưới trăng chỉ thấy sông dài nước trôi.
    Đám mây trắng ngùi ngùi đi mãi,
    Rặng phong xanh một dải sông sầu.
    Đêm nay ai đó, ai đâu?
    Chiếc thuyền để nhớ trên lầu trăng soi.
    Trăng thờ thẫn nơi người xa ngóng,
    Chốn đài gương tựa bóng thương ai.
    Trong rèm cuốn chẳng đi thôi,
    Trên bàn đập áo quét rồi lại ngay.
    Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,
    Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.
    Hồng bay, ánh sáng không màng,
    Nước sâu cá quẫy chỉ càng vẩn tăm.
    Đêm nọ giấc trong đầm hoa rữa,
    Ai xa nhà xuân nửa còn chi!
    Nước sông trôi mãi xuân đi,
    Trăng tà lặn xuống bên kia cánh đầm.
    Vầng trăng lặn êm chìm khói bể,
    Đường bao xa non kệ sông Tương.
    Về trăng mấy kẻ thừa lương,
    Trăng chìm lay bóng đầy hàng cây sông.




    Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ - Cổ điển vũ
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 19-08-2010, 04:30 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Uất Kim Hương View Post
    Cám ơn Bác CONHAKO về bài viết này. Thật hay! Tuyệt cú thơ dùng chữ Hán để viết nên bao hàm nhiều ý tứ trong một chữ. Trong khi đó chữ quốc ngữ không thể diễn tả như thế được. Ý kiến Bác thì sao?

    UKH

    ..đã nói bác dẫn "nguồn " thôi mờ , câu hỏi ấy xin nhường cho các tâm hồn thơ chọn cho mình cách thể hiện. Có bao người làm thơ , là bấy nhiêu...

    nhớ hồi xưa đi học , thầy cô bắt học viết thơ Đường bằng Hán tự - giờ còn sợ (nhưng vẫn nhớ đấy ! )

    mong được đọc thêm thơ UKH . Chào .

    Cho bác nhắc một tí về thơ Đường :


    %%%%%%%%%%%%%%%%%

    Các thời kỳ trong Thơ Đường

    Thơ Đường là một thành tựu lớn nhất, là đỉnh cao sáng chói của mấy nghìn năm lịch sử Văn học Trung Quốc. Mỗi một bài thơ Đường là một bức tranh sống động với các màu sắc hài hòa, có âm vang kỳ diệu và sức truyền cảm tuyệt vời, gợi mở, quyến rũ và đi thẳng vào lòng người đọc, để lại những suy tư trầm lắng và rung động không nguôi …

    Đường Thi là sự kết tụ mỹ thuật, tinh hoa văn học nghệ thuật….Mỗi một bài thơ Đường nổi tiếng xứng đáng là viên ngọc quí vô giá lung linh sáng chói, chẳng bao giờ phai nhạt qua cơn bụi lốc mịt mù và gió bão của thời gian và không gian vô tận….

    Bộ Toàn Đường Thi ấn hành vào năm 1707 chia làm 30 tập, gồm 900 quyển, với hơn 49.000 của ngót hơn 2200 thi sĩ . Thơ Đường có thể nói đã trải qua gần 300 năm (618-907). Dựa vào sự biến chuyển của các triều đại nhà Đường, có thể chia ra làm 3 thời kỳ tóm tắt như sau với những sắc thái riêng biệt, đặc trưng của thi ca, và phong cách, trường phái của các nhà thơ :


    Thời Sơ Đường (618-713):

    Mang phong cách của thời Lục Triều … thi vị cung đình, lời lẽ hoa mỹ ca ngợi vua chúa (thời Võ Tắc Thiên cầm quyền, mua chuộc kẻ sĩ, văn nhân tài tử để làm thơ tán tụng nhà vua ..) hoặc thi ca tình cảm ủy mị, phần nhiều chú trọng về hình thức hơn là nội dung .. thơ theo đúng những qui luật về thanh điệu và biền ngẫu.

    Tuy nhiên trong giai đoạn nầy có sự xuất hiện “Sơ đường tứ kiệt” , tức là bốn nhà thơ trẻ Vương, Dương, Lư, Lạc, vì ảnh hưởng của chinh chiến, ly loạn, nên thơ văn của họ gần thực tế hơn, phản ảnh được đời sống đau thương, thực trạng xã hội đương thời, hoặc những hình ảnh oai hùng ở chốn biên cương, hay bày tỏ thái độ uẩn ức đối với chế độ phong kiến đương thời.

    Thời Sơ Đường còn có những nhà thơ nổi tiếng như Trần Tử Ngang đề cao khuynh hướng “phục cổ”, Trương Cửu Linh với những bài thơ tình cảm nhẹ nhàng, hoặc Hạ Tri Chương, Trương Nhược Hư với những bài thơ diễn tả tình cảm tha thiết hoặc tả cảnh thiên nhiên với bút pháp tài hoa và điêu luyện. Họ đã kết hợp được trường phái hiện thực với lãng mạn .


    Thời Thịnh Đường (713-846) :

    Với sự lên ngôi của Lý Long Cơ (tức Đường Minh Hoàng) đã đề ra sự “phục bích” (dựng lại bức tường cũ), nhắc lại sự việc lật đổ Võ Tắc Thiên (705) và Lý Long Cơ diệt Vi Hậu (713) để khôi phục nhà Đường. Đường Minh Hoàng là nhà vua có nhiều tài năng, là một nghệ sĩ (tự nhuận sắc khúc Nghê Thường), say mê ca múa thi văn, quí trọng văn nhân thi sĩ, đã lập ra Văn Học quán, nơi chốn để đàm đạo thảo luận thơ văn ..

    Văn họcTrung Quốc vào thời kỳ nầy đã có cơ hội phát triễn rực rỡ muôn màu, muôn sắc. .. Đây là thời kỳ đã đưa thơ Đường lên đỉnh cao chói lọi. Đại diện cho thời Thịnh Đạt nầy có thể nói có bà nhà thơ rất nổi tiếng, đó là Lý Bạch, Vương Duy và Đỗ Phủ. Lý Bạch với phong cách hào phóng đại diện cho dòng thơ lãng mạn bay bổng tự nhiên, đôi khi siêu thoát ra ngoài thực tế .

    Thơ Vương Duy (còn là một họa sĩ có tài) man mác hương vị thiền, thanh đạm hồn nhiên, chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Thiền Tông.. Đỗ Phủ đại diện cho dòng thơ hiện thực trữ tình, mang những tư tưởng Khổng Mạnh của một kẻ sĩ đứng đắn nhận thức được trách nhiệm đối với vua, nước và dân.

    Hơn nữa bản thân của Đỗ Phủ cũng sống trong cảnh cơ hàn nghèo khó. Thời kỳ thi ca của Đỗ Phủ cũng là giai đoạn cảnh thái bình thịnh trị trôi qua, khi Đường Minh Hoàng say mê nhan sắc Trương Quý Phi, bỏ bê công việc triều chính và chiến tranh nhiễu nhương xẫy ra, và chính Đỗ Phủ đã dùng ngọn bút tài ba của mình để miêu tả những hoàn cảnh xà hội tang thương trong giai đoạn nầy …

    Trong khi Vương Duy có những dòng thơ chịu ảnh hưởng Phật Giáo, thơ Lý Bạch man mác màu sắc Đạo Tiên, thì thơ Đỗ Phủ tiêu biểu tinh thần Nho Giáo, mang tính chất hiện thực của thời đại ..Cho nên người ta thường gọi Vương Duy là Thi Phật, Lý Bạch là Thi Tiên và Đỗ Phủ là Thi Thánh ..

    Thời kỳ Thịnh Đường còn có Mạnh Hạo Nhiên với những dòng thơ thanh thoát và chân thật, chịu ảnh hưởng triết lý Lão Trang . Thơ Vương Xương Linh với những bài xuất sắc diễn tả về cảnh cung đình biên tái. Những nhà thơ khác nổi tiếng trong thời kỳ nầy như Cao Thích, Sầm Tham, Vương Hàn, Vương Chi Hoán và Thôi Hiệu (Hoàng Hạc Lâu) .Vương Kiến và Trương Tịch nổi tiếng về các loại thơ nhạc phủ …

    Bạch Cư Dị đại diên cho dòng hiện thực phê phán vì ông đã trải qua một giai đoạn lịch sử đen tối với chế độ quan liêu phong kiến đồi trụy và Bạch Cư Dị đã dùng thi ca với những lời lẽ giản dị thành thực để mạnh dạn đấu tranh và tố cáo những hành vi áp bức, và sự bất công trong xã hội, tố cáo sự bóc lột của bonï quan lại quý tộc. Thơ của ông phản ảnh được nỗi lòng và nỗi trầm luân thống khổ của dân chúng trước thế sự thời cuộc ba chìm bảy nổi ..

    Cùng thời với ông có những nhà thơ khác như Hàn Dũ, Mạnh Giao, Giả Đảo, Trương Kế (Phong Kiều Dạ Bạc) v.v.. Mỗi nhà thơ có một phong cách tài hoa điêu luyện khác nhau, mỗi người một vẻ không sao kể xiết trong thời kỳ thịnh đạt nầy.


    Thời Vãn Đường (846-907) :

    Thời kỳ nầy nhà Đường đã xuống dốc, xã hội suy thoái, hỗn loạn, nhiều cuộc nổi dậy khắp nơi vì quan lại tham nhũng, sưu cao thuế nặng . Nền văn học Trung Quốc cũng bị chuyển biến theo và thơ văn mang tính cách tiêu cực, đề cao tình yêu trai gái lãng mạn thoát vòng lễ giáo, hoặc những bài thơ vịnh sử phê phán gay gắt giai cấp quan liêu thống trị, sự tệ hại của vua quan, nỗi đau khổ của dân nghèo cô thế . Giai doạn nầy có những nhà thơ nổi tiếng như Đỗ Mục, Ôn Đình Quân, Lý Thường Ẩn , Vương Vũ Xứng…

    Phân loại các nhà thơ Đường theo trường phái khác nhau có thể nói là khó khăn và phiến diện vì những nhà thơ có thể vừa miêu tả sự hiện thực trong xã hội mà cũng có những bài thơ phóng khoáng trữ tình, nghĩa là thể hiện nhiều khuynh hướng khác nhau … Đề tài trong thơ Đường có những nội dung rất đa dạng và phong phú .. có rất nhiều hình thức diễn đạt phóng khoáng từ những đề tài về an nhàn ẩn dật, vui thú điền viên, tả cảnh thiên nhiên, đến những bài thơ nói về cung đình, biên tái, chiến chinh, những đề tài liên quan đến xã hội, cảnh nghèo đói áp bức, nỗi bất công của phụ nữ, những bài thơ tâm tình, tình bè bạn thiên nhiên, đến tình yêu nam nữ, rồi những đề tài vịnh sử, hoặc những bài thơ mang hương vị Thiền, đạo giáo v.v.. không sao kể xiết ..

    Việc nghiên cứu, sưu khảo và dịch thuật thơ Đường đòi hỏi công phu của tác giả dịch thơ, phải tìm hiểu xuất xứ, nội dung, từ ngữ, điển tích, và nắm vững niêm luật bằng trắc, phép đối ngẫu v.v.. của các thể loại thơ Đường.. và mỗi dịch giả thể hiện một phong cách riêng biệt khi chuyển hóa qua một bài thơ Việt ..

    Mỗi tác giả có một cách nhìn khác nhau cũng như sự cảm nhận tình ý, và cái hay cái đẹp của một bài thơ Đường dưới các lăng kính đa dạng, nên mỗi tác giả có cách dịch thơ khác nhau, mỗi người một vẻ … nhưng phần đông các bản dịch đều diễn tả được đúng hình thức và nội dung của bài thơ gốc, thể hiện đúng ba nguyên tắc phiên dịch "tín, đạt, nhã " …



    (DTHOI.com )
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 30-01-2010, 08:24 AM.

    Leave a comment:


  • Uất Kim Hương
    replied
    Cám ơn Bác CONHAKO về bài viết này. Thật hay! Tuyệt cú thơ dùng chữ Hán để viết nên bao hàm nhiều ý tứ trong một chữ. Trong khi đó chữ quốc ngữ không thể diễn tả như thế được. Ý kiến Bác thì sao?

    UKH

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Tĩnh Dạ Tứ - Lý Bạch

    Cảm ơn UKH đã ghé vào đây.

    Ko dám - ko dám nhận là sưu tập đâu -. Chỉ vì thỉnh thoảng trong vài bài thơ , bản nhạc có nhắc đến một "nguồn "đã có tự ngày xưa xưa lắm. Tôi chỉ dẫn " nguồn " về đây , để ai cũng có dịp nhớ lại thôi. Chẳng hạn như trong bài Thu hát cho người - nhắc đến "hoàng hạc "....hoặc bài Hương Xưa nhắc đến " Phạm Thái - Quỳnh Như "...Còn nhiều nhiều...., mong có dịp nhắc dùm UKH chút gì của ngày xưa ( hôm trước lời chúc của UKH làm tôi phát khiếp , xách guốc chạy hơn chạy đua...).

    Cho tôi được nhắc lại bài Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch và Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương với UKH.....Chúc UKH vui.


    %%%%%%%%%%%%%%%%%%%






    Tĩnh dạ tứ - Một thân lữ khách!

    Lý Bạch là nhà thơ lớn thời Đường, là một ngôi sao sáng chói trên thi - văn - đàn Trung Quốc. Người ta thường gọi Ông là Thi Tiên (Trích Tiên Lý Bạch), Lý Dương Băng trong "Thảo đường tập tự" đã có câu nói bất hủ về thiên tài Lý Bạch "Thiên tải độc bộ, duy công nhất nhân" (hàng ngàn năm chỉ có một mình ông mà thôi) Lý Bạch đã để lại hơn một ngàn bài thơ có một ảnh hưởng rất sâu rộng trong lịch sử văn học Trung Quốc, phổ thông và được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian, cũng như nhiều học giả trên thế giới đã dày công nghiên cứu thi ca Lý Bạch. Thơ của Ông rất tự nhiên, không chải chuốt, gọt dũa mà ý thơ sâu sắc, có sức truyền cảm quyến rũ một cách lạ lùng.

    Lý Bạch là thiên tài của những bài thơ Tuyệt Cú (4 câu 5 chữ), ngắn gọn, nhưng cô đọng, hàm súc, đầy đủ, là những tuyệt tác bất hủ được lưu truyền trong nhân gian từ đời này qua đời khác.

    Bài thơ Tĩnh Dạ Tứ (Xúc Cảm Đêm Trăng) của Lý Bạch là một kiệt tác tuyệt vời trong thế giới Đường Thi trùng trùng điệp điệp… Hình thức cô đọng thâm thúy của bài thơ ngũ tuyệt 20 chữ nay là một thử thách lớn lao mà thi nhân phải đương đầu vì "ngôn bất tận ý" (lời không nói hết được ý) và thi nhân phải dùng ngôn từ tương ứng như thế nào để có thể vừa miêu tả cảnh vật và diễn đạt một ấn tượng dạt dào, một cảm xúc lai láng.

    Lý Bạch là một người có tài, nhưng lại là người ít may mắn trên đường công danh sự nghiệp. Ông là người hay đi đây đó, làm thân lữ khách nơi quán trọ tha phương, xa nhà, xa quê, xa gia đình bạn bè… Và bài thơ "Tĩnh Dạ Tứ" đã diễn tả nỗi cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến, cái nỗi niềm tha phương nhớ nhà da diết, khi màn đêm hoang vắng đã buông phủ bốn bề, trong khung cảnh tịch liêu, cô đơn, của người viễn khách một mình một bóng canh thâu… nhìn qua khung cửa, xa xa, chập chờn mộng ảo, là vầng trăng tỏa ánh sáng lung linh huyền ảo... đã làm cho nhà thơ chạnh lòng thương nhớ quê hương. Bài thơ đã bộc lộ những xúc cảm sống động, dạt dào, rung lên những âm vang tha thiết của nhạc điệu trữ tình…

    Trong sách Nghệ khái, Lưu Huy Tải đã nói: "Thơ tứ tuyệt dễ làm, không có chữ thừa, nhưng tạo được cái dư vị thật là khó". Cái "dư vị" trong bài thơ Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch chỉ là cảnh sắc "vô tình" của màn đêm huyền ảo với trăng, sương chập chùng, nhưng rất là "hữu tình" đã đem lại những cảm xúc nao nao xót dạ, đã đưa người thơ đi tìm lại những mảnh ký ức, hồi tưởng của cố quận, sông xưa, núi cũ, quê nhà. Người phương xa vẫn canh cánh nặng nợ tình quê…

    Tĩnh Dạ Tứ

    Sàng tiền minh nguyệt quang

    Nghi thị địa thượng sương

    Cử đầu vọng minh nguyệt

    Đê đầu tư cố hương!


    %%%%%%%%%

    Xúc Cảm Đêm Trăng

    Giường khuya trăng chiếu bời bời

    Sương rơi phủ đất ngỡ đời chiêm bao

    Ngẩng đầu trăng sáng trên cao

    Cúi đầu ngấn lệ nghẹn ngào... cố hương!

    Hải Đà


    Bức tranh thu đã được tô đẹp bằng một vầng trăng thu huyền ảo… Trăng soi lồng lộng trên sóng nước bập bềnh biến dòng sông thành một dải lụa vàng óng ả. Điểm đặc trưng quan trọng đối với vầng trăng trong thơ Lý Bạch là ánh trăng trong trắng, lung linh tỏa sáng, thêm màn đêm lạnh lẽo bao phủ không gian vô tận và con người nhỏ bé, khiến cảm xúc của con người sản sinh bộc phát ngẫu nhiên, mang những sắc thái tinh tế khó mà diễn tả.
    Trong một đêm trăng vắng vẻ nhà thơ Lý Bạch nằm trong thư phòng, bóng trăng khe khẽ len qua khung cửa sổ rọi sáng đầu giường, trong một không gian tịch mịch giữa đêm, hồn thơ đã nhập vào hồn trăng bay lâng lâng vào một cõi mộng ảo vô cùng… đã đi từ trạng thái mơ hồ đến tỉnh thức.

    Ánh trăng sáng vời vợi trên bầu trời cao kia, tỏa những tia sáng lặng lẽ, êm ái huyền diệu trên chiếc giường ngủ, rất gần gũi và thân thiết với nhà thơ làm sao, và đó cũng chính là vầng trăng mà Lý Bạch đã mải mê ngắm trên núi Nga My trong những ngày niên thiếu ở quê nhà. Những tia sáng của trăng chập chờn mờ ảo đã làm nhà thơ ngỡ ngàng như sương khói bao phủ đầu giường, nhìn trăng mà lòng buồn vời vợi, ngỗn ngang trăm mối tơ lòng…

    Sương và Trăng làm nổi bật sự trống vắng vô tận, làm tăng thêm khung cảnh u uẫn đìu hiu của trời đêm cô liêu, đã đem lại những cảm giác mông lung hư hư thật thật… quanh quất đâu nay: sương là trăng, hay trăng là sương. Trong cái ngây ngất chếnh choáng của màn đêm mờ ảo, nhà thơ đã tài hoa hữu hình hóa cái huyền diệu của trăng và sương…

    Cái tĩnh lặng của không gian bàng bạc trong bài thơ đã tràn ngập cảm xúc, nội tâm và tư duy khó mà diễn tả. Hình ảnh màn sương "ngờ ngợ" phủ trắng nền đất trong trời đêm đã mở ra một khoảng không gian tịch liêu cô quạnh mông lung, làm gia tăng nỗi cô đơn của người thơ. Nhà thơ đã dùng những hình tượng dựng cảnh, nhưng thật ra là muốn ngụ tình, gửi gắm những tâm sự thầm kín của tác giả.


    ************************

    Bài liên hệ:

    Nguyện Cầu

    Vũ Hoàng Chương

    ta còn để lại gì không

    kia non đá lở này sông cát bồi

    lang thang từ độ luân hồi

    u minh nẻo trước xa xôi dặm về

    trông ra bến hoặc bờ mê

    ngàn thu nửa chớp bốn bề một phương

    ta van cát bụi trên đường

    dù nhơ dù sạch đừng vương gót này

    để ta tròn một kiếp say

    cao xanh liều một cánh tay níu trời

    nói chi thua được với đời

    quản chi những tiếng ma cười đêm sâu

    tâm hương đốt nén linh sầu

    nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi

    đêm nào ta trở về ngôi

    hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian

    một phen đã nín cung đàn

    nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm

    Vũ Hoàng Chương

    (Rừng Phong - 1954)


    NHÂN ĐỌC THƠ LỆ CHI
    LẠI NHỚ ĐẾN NGUYỆN CẦU CỦA THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    Trong giờ phút này khi tôi đọc Tĩnh Lặng Vô Ngôn của Lệ Chi thì tâm trí tôi bừng sáng, hôm qua tôi vừa đọc bài thơ Nguyện Cầu của thi sĩ Vũ Hòang Chương. Bài thơ hay, người thi sĩ chắc đã đọc kinh Phật. Tạ ơn tác giả Lệ Chi và bài Tĩnh Lặng Vô Ngôn đã đưa tôi tới gần với kinh Phật và quê hương của chính tôi.

    Đạo Phật đã chỉ ra một cảnh giới tuyệt vời của không biên giới. Tại sao tôi cứ mãi chấp cảnh sống đây hay sống kia. Tại sao không là những hạt sương, hay là dòng nước trong để nhận ánh sáng huyền diệu của trăng. Tôi trong giây phút nầy cảm nhận được quê hương tâm linh là chân tâm sẽ không còn thổn thức như Lý Bạch trong bài
    Tĩnh Dạ Tứ:

    Sàng tiền minh nguyệt quang
    Nghi thị địa thượng sương
    Cử đầu vọng minh nguyệt
    Đê đầu tư cố hương


    Trước giưòng trăng muôn hướng
    Mặt đất phủ đầy sương
    Ngửng đầu nhìn trăng sáng
    Cúi đầu nhớ cố hương


    Vì hơn nửa đời ngừơi, tôi vẫn mãi như thi sĩ họ Vũ nói:

    Tâm hương đốt nén linh sầu
    Nhớ quê dằng dặc ta sầu đó thôi

    Trước khi đó tôi cứ ngỡ thi sĩ muốn nói về một quê hương thực thể mà thi sĩ đả bỏ lại khi di nam. Nhưng không người đả nói đến một quê hương vĩnh cửu của cõi chân tâm vậy mà:

    Lang thang từ độ luân hồì
    U minh nẻo trước xa xôi dặm về

    Ừ, thì ra thế một cái gì rất gần mà cũng rất xa từ bao nhiêu kiếp, trải qua bao nhiêu lần tái sinh, bao nhiêu quê hương, bao nhiêu gia đình bè bạn, bao nhiêu thua thiệt với đời, ngừơi chỉ đợi:

    Đêm nào ta trở về ngôi
    Hồn thơ sẻ hết luân hồi thế gian

    Tôi bất chợt nhìn ra cửa sổ, bên ngoài kia những bông tuyết nhẹ rơi lất phất, đẹp tinh khiết, đẹp mỏnh manh, như một kiếp người. Những bông tuyết kia là hình ảnh của những em bé thơ trong trẻo hồn nhiên và một lúc nữa đây khi đọng xuống lâu dần sẽ tan vào bùn đất lầy lội như đời người qua những thăng trầm của cuộc sống. Dòng đời vẫn trôi chẩy, kiếp người rồi tái sinh và vẫn đi:

    Ta van cát bụi bên đường
    Dù nhơ dù sạch đừng vương gót nầy

    Thi sĩ đã học Phật nhưng thi sĩ chưa muốn nhập vào vì lẽ đó người vẩn còn muốn một kiếp say:

    Để ta tròn một kiếp say
    Cao sanh liều một cánh tay níu trời
    Nói chi thua được với đời
    Quản chi những tiếng ma cười thâu đêm

    Thật là lạnh buốt khi tôi đọc những giòng thơ này, bằng nén trầm hương tỏa tôi kính cẩn gởi đến thi sĩ và những bằng hữu tôi đã quen và chưa quen một đất trời ấm áp từ bi khi Thế Tôn ngài nói với Phổ Hiền Bồ Tát trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh (phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát thứ 28):

    Thương với người đời sinh lòng từ
    Ngày đêm tự mình nương pháp ở
    Nguyện các thế giới thường an ổn
    Phúc trí vô biên lợi quần sanh
    Bao nhiêu tội nghiệp thẩy đều tiêu trừ

    Xin hương thơm ngàn đời của lời kinh Pháp hoa theo gió muôn phương bay đến tâm hồn chúng sinh đang còn trong phiền não vô tận. Xin lời kinh như đánh pháp cổ, như thổi pháp loa kéo con người mau ra khỏi vòng nhân qủa trầm luân.

    Tôi chấp tay nguyện cầu nơi đây tha thiết với một tâm từ đang bừng nở, cầu nguyện một cỏi người an tịnh sáng ngời chính pháp đến mọi sinh linh vô tình và hữu tình.

    Cuối năm Mậu Tý
    Nhã Lan Thư
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 22-07-2010, 06:18 PM.

    Leave a comment:


  • Uất Kim Hương
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi CONHAKO View Post

    (dựa theo ý thơ Đề Đô Thành Nam Trang – Thôi Hộ)

    Hoa Đào Năm Ngoái

    Tôi đã gặp em trước cổng nầy
    Ngày nầy năm ngoái gió xuân bay
    Ánh dương phơi phới hồng đôi má
    Ưng ửng đào hoa em ngất ngây

    Lẳng lặng nhìn em ánh mắt sâu
    Môi thơm ngan ngát lộc xuân đầu
    Trăm năm tơ ngãi là em đó
    Gặp gỡ làm chi để kiếp sầu

    Cầm tay chẳng nói một lời sao
    Tiễn biệt chia xa luống nghẹn ngào
    Có phải lương duyên trời đã định
    Mỏng manh phai nhạt sắc hương đào

    Tôi trở về đây đứng đợi mong
    Hương xưa tìm lại phấn xuân hồng
    Người đâu ? Còn lại hoa đào đó
    Cười cợt vô tình với gió đông

    Vương Ngọc Long

    (dactrung.com)

    ===========

    Đề Tích Sở Kiến Xứ

    YouTube- Đề Tích Sở Kiến Xứ
    Bác Sưu tập những bài thơ nay ở đâu mà quá xuất sắc. Slide show cũng tuyệt vời nữa. Tiếp tục làm nữa đi Bác. Vạn tạ!

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Đề Đô Thành Nam Trang

    Hoa Đào Năm Ngoái Còn Cười Gió Đông



    Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có một đoạn thơ tả lại cảnh lúc Kim Trọng trở lại vườn xưa cảnh cũ nơi mà Kim Trọng và Thúy Kiều đã nhiều lần hò hẹn tâm tình với nhau :

    "Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
    Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời
    Trước sau nào thấy bóng người
    Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
    Xập xè én liệng lầu không
    Cỏ lau mặt đất, rêu phong dấu giầy
    Cuối tường gai góc mọc đầy
    Đi về này những lối này năm xưa ....."

    Thật ra trong ngôi vườn tình ái hò hẹn giữa Kim Trọng và Thúy Kiều năm xưa chưa chắc đã có cây đào nở rộ đầy hoa đang cười bỡn cợt với gió đông (gió xuân) lơi lả ... Mà dù có cây đào đi chăng nữa cũng không là nét đặc trưng biểu tượng trong những vần thơ trữ tình nầy :

    "Trước sau nào thấy bóng người
    Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông .."

    mà chính Nguyễn Du đã muốn nhắc nhở lại cái điển tích của Thôi Hộ " Đào hoa y cựu tiếu đông phong ..." trong bài thơ “Đề Đô Thành Nam Trang “ như một yếu tố ngôn ngữ chủ yếu làm phương tiện để dẫn dắt độc giả vào cái nhận thức hiện tại : cảnh xưa vẫn còn đó... nhưng người đẹp nay còn đâu ? .. Cái tài hoa khéo léo của Nguyễn Du là ngoài cái biểu tượng chính " hoa đào năm ngoái" còn mang thêm những hình tượng ngôn ngữ để bổ sung cho nhận thức "cảnh đó người đâu ?" , tạo nên một bức tranh trữ tình lãng mạn và gợi sầu gợi cảm vô cùng qua những hình ảnh chất liệu như : cỏ, lau, song, vách, trăng, mưa, én, rêu, dấu giầy, tường gai v.v... đã gây ra những ấn tượng sâu sắc, nguồn cảm xúc dào dạt, nồng nàn, xao động lòng người …

    Nói đến mùa Xuân là nói đến nhựa sống căng tràn, là nói đến tình yêu lai láng dạt dào của những mối tình tuyệt đẹp giữa kẻ nam và người nữ . Bài thơ “Đề Đô Thành Nam Trang” của Thôi Hộ là một giai thoại văn học nói lên một mối tình xuân muôn thuở nầy.. Bài thơ còn có tên là “Đề Tích Sở Kiến Xứ “ (Thơ đề chỗ trông thấy năm trước) .

    Chuyện kể rằng chàng sĩ tử Thôi Hộ đi thi bị hỏng, nhân tiết thanh minh đi du xuân ở phía nam thành Đô, thấy một trang trại cây cối xanh tươi tốt đẹp, ghé lại gõ cửa xin nước uống, thì gặp một tuyệt sắc giai nhân đứng dựïa cành đào, ưng ửng má hồng, e lệ chẳng nói năng chi, mà chàng trai Thôi Hộ thì đắm đuối nhìn … Hoa đẹp mà người cũng đẹp thay! Cảnh vật tươi sáng rực rỡ, tinh khôi, đầy mộng mơ đã quyến rũ và làm say đắm thi nhân trước cảnh đẹp người xinh … Thôi Hộ từ giã bịn rịn ra về, năm sau cũng nhân tiết thanh minh ghé lại trang trại cũ đi tìm người xưa, cảnh vẫn không thay đổi, cây đào vẫn còn đó đùa cợt với gió xuân, mà người đi đâu vắng, cửa đóng then cài.. Thôi Hộ bồi hồi thương nhớ mà cảm xúc viết thành bài thơ đem gài vào cánh cửa … Một thời gian sau, Thôi Hộ thương nhớ quá, cầm lòng không đậu, trở lại chốn cũ, thì nghe tiếng khóc trong nhà vang rạ. Chàng gõ cửa , thì một ông già đi ra, nhìn chàng và hỏi : “ Người có phải là Thôi Hộ không ? Con gái tôi đã đọc bài thơ mà tương tư da diết, sầu khổ, không ăn uống và đã chết rồi …” Thôi Hộ hối hận vô cùng, chàng quỳ bên giường nàng, ôm xác nàng mà khóc lóc thảm thiết, khan vái và lay nàng dậy … Trời đã cảm thương cho mối tình chung thủy .. nàng đã hồi tỉnh và hai người đã kết duyên vợ chồng …. Một cuộc tình đẹp đã thành giai thoại và tương truyền mãi đến đời sau ..


    Đề Đô Thành Nam Trang

    Khứ niên kim nhật thử môn trung
    Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
    Nhân diện bất tri hà xứ khứ
    Đào hoa y cựu tiếu đông phong

    Thôi Hộ


    Dịch nghĩa:

    Năm ngoái, ngày này ở trong cánh cửa này
    Mặt người và hoa đào cùng chiếu ánh hồng cho nhau
    Mặt người không biết đã đi đâu rồi
    Hoa đào vẫn như xưa còn cười với gió đông (gió xuân)



    Đề Thơ Ở Nam Trang Thành Đô

    Năm ngoái hôm nay cũng cửa nầy
    Hoa đào má phấn đỏ hây hây
    Người đi đâu mất, còn hoa đó
    Ghẹo gió đông cười hoa ngất ngây

    Hải Đà cảm dịch


    Cửa nầy năm ngoái hôm nay
    Hoa đào ưng ửng đỏ hây má hồng
    Biết tìm đâu nữa chân dung
    Hoa đào bỡn cợt gió đông gọi về

    Hải Đà cảm dịch


    Trong một bài thơ "Sơn Phòng Xuân Sự" (Chuyện xuân ở nhà trên núi) của Sầm Tham cũng có hai câu thơ thể hiện những hình ảnh ước lệ tượng trưng như trong bài thơ của Thôi Hộ : người đã xa vắng rồi, cảnh vật hình như vẫn lãnh đạm vô tình ... nhưng hai cái hình tượng nhận thức đối nghịch đó đã có năng lực tạo ra một cảm xúc mãnh liệt, một tình cảnh xao xuyến, bồi hồi, chua xót phân ly đầy nhớ thương và luyến tiếc ....

    Lương viên nhật mộ loạn phi nha
    Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia
    Đình thụ bất tri nhân khứ tận
    Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa

    Sầm Tham


    Vườn chiều nhốn nháo quạ vờn bay
    Đôi mái nhà xiêu thấp thoáng đây
    Người vắng sân cây đâu có biết
    Xuân về hoa cũ nở thơm đầy

    Hải Đà cảm dịch


    Bài thơ trữ tình lãng mạn của Thôi Hộ, hàm súc mang nhiều hình ảnh linh động và ý tình thắm thiết, đã đúng như định nghĩa Thơ mà Lamartine đã nói : “Thơ là sự hiện thân cho những gì sâu sắc thầm kín nhất của con tim và huyền diệu thiêng liêng nhất của tâm hồn con người, và khơi động những hình ảnh tươi mát sống động nhất, âm thanh tuyệt vời nghệ thuật nhất trong thiên nhiên ..” Bài thơ cô đọng bốn câu của Thôi Hộ là một sự kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc, hình tượng, ý tình , âm thanh, nhịp điệu và nhạc tính đã gây sự rung động và mẫn cảm, biểu tượng một thế giới cảm xúc, làm xao xuyến tâm hồn người đọc khôn nguôi …
    Hải Đà



    Thơ phóng tác:

    (dựa theo ý thơ Đề Đô Thành Nam Trang – Thôi Hộ)

    Hoa Đào Năm Ngoái

    Tôi đã gặp em trước cổng nầy
    Ngày nầy năm ngoái gió xuân bay
    Ánh dương phơi phới hồng đôi má
    Ưng ửng đào hoa em ngất ngây

    Lẳng lặng nhìn em ánh mắt sâu
    Môi thơm ngan ngát lộc xuân đầu
    Trăm năm tơ ngãi là em đó
    Gặp gỡ làm chi để kiếp sầu

    Cầm tay chẳng nói một lời sao
    Tiễn biệt chia xa luống nghẹn ngào
    Có phải lương duyên trời đã định
    Mỏng manh phai nhạt sắc hương đào

    Tôi trở về đây đứng đợi mong
    Hương xưa tìm lại phấn xuân hồng
    Người đâu ? Còn lại hoa đào đó
    Cười cợt vô tình với gió đông

    Vương Ngọc Long

    (dactrung.com)

    ===========

    Đề Tích Sở Kiến Xứ

    [ame="http://www.youtube.com/watch?v=slg6jn5dHGY&translated=1"]YouTube- Đề Tích Sở Kiến Xứ[/ame]
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 28-01-2010, 09:13 AM.

    Leave a comment:

Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom