• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Dòng Thơ Đường

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • CONHAKO
    started a topic Dòng Thơ Đường

    Dòng Thơ Đường


    Khuê Oán - Vương Xương Linh


    閨怨
    王昌齡

    閨中少婦不知愁, 春日凝妝上翠樓。
    忽見陌頭楊柳色, 悔教夫婿覓封侯。


    Phiên Âm

    Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

    Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu

    Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

    Hối giao phu tế mịch phong hầu.


    Tạm dịch nghĩa :


    Phòng khuê thiếu phụ không biết sầu là gì
    Ngày xuân ngưng trang điểm bước lên lầu thuý
    Chợt thấy sắc dương liễu ở đầu đường
    Hối tiếc đã khuyên chồng đi tìm để được phong tước hầu.



    Dịch Thơ Quốc Âm của LaiQuangNam

    Khuê Oán

    Khuê phòng nàng biết chi sầu,
    Ngày xuân ngưng phấn thuợng lầu thúy sang.
    Đầu đàng…chợt sắc liễu dương,
    Giục chàng bén chốn quan trường làm chi !

    Laiquangnam

    Chú Vài Từ

    1- Khuê trung ,phòng khuê của người phụ nữ trong chốn đài các;
    2- Ngưng trang : là trang điểm hoàn tất, ngày xưa theo lễ thì người phụ nữ quyền quý không được đề gương mặt không điểm trang ra mắt chồng, nhất là các bà hậu ,bà phi đối với vua .Trong Việt ngữ chữ " ngưng " có hai nghĩa một là dừng đột ngột, hai là dừng khi đã xong việc .
    3- Thúy là lầu thúy, lầu có ánh ngọc xanh, thường nhà cực giàu có mới có
    4- Dương liễu , dương liễu là hai cây cùng họ mới nhìn hơi giống nhau, nhưng dương cây lá cứng ( chỉ đàn ông ) liễu cây lá mềm, rũ ( chỉ người phụ nữ ).
    5- Sắc , là cảnh tượng, hình thái ,
    6- thướng , tiếng Việt " thượng lên", là trèo lên một cách háo hức .


    ****************


    Khuê oán, là bài thơ thuộc dòng thơ biên tái, là tác phẩm nổi tiếng của Vương Xương Linh, người được khen là Thi Thiên tử thời Thịnh Đường. Ông dùng chữ cân nhắc, chắc lọc và rất tài hoa trong dòng tuyệt cú. Bài thơ này đối với học sinh Việt Nam nghe rất quen thuộc vì nhắc họ nhớ đến câu thơ dịch tài hoa của bà Đoàn thị Điểm trong Chinh phụ ngâm ngày xưa .

    Lúc ngoảnh mặt ngắm màu dương liễu
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
    Chẳng hay muôn dặm ruổi rong
    Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng? (1)

    (Chinh Phụ Ngâm )



    (1) Nguyên tác của Ôn Như Hầu Đặng Trần Côn

    Hồi thủ trường đê dương liễu sắc
    Hối giao phu tế mịch phong hầu
    Bất thức ly gia thiên lý ngoại
    Quân tâm hữu tự thiếp tâm phầu.


    nguồn : NewVietart


    %%%%%%%%%%%%%%%%

    Vương Xương Linh tự là Thiếu Bá, người đất Giang Ninh, tỉnh Giang Tô. Đậu Tiến sỹ, làm chức Hiệu thư lang, sau bị biếm chức ra làm quan úy tại Long Tiêu. Gặp lúc loạn lạc, ông bị Thứ sử Lư Khưu Hiển vì tư thù giết chết. Vương Xương Linh nổi tiếng thơ hay được gọi là Thi thiên tử cũng như Vương Duy là Thi Phật, Lý Bạch là Thi Tiên, Đỗ Phủ là Thi Thánh. ông có để lại một thi tập gồm 5 bài, Khuê oán là một trong các bài thơ đó.


    .
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 26-02-2011, 07:02 PM.

  • CONHAKO
    replied
    .




    Bạch Liên - Lục Quy Mông

    白蓮

    素 蘤 多 蒙 別 艶 欺
    此 花 端 合 在 瑤 池
    無 情 有 恨 何 人 覺
    月 曉 風 清 欲 墮 時



    Tố hoa đa mông biệt diễm khi


    Thử hoa đoan hợp tại Dao Trì

    Vô tình hữu hận hà nhân giác

    Nguyệt hiểu phong thanh dục đọa thì.


    Dịch Thơ


    Sen Trắng

    Sắc nõn ai vùi chịu lấn khi
    Nhưng hoa kết nụ tại Dao Trì
    Không tình nuốt hận nào ai biết
    Gió mát trăng non muốn đọa gì ?

    (Bài dịch của Shiroi)



    .

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .




    Trừ Châu Tây Giản - Vi Ứng Vật

    滁州西澗

    獨憐幽草澗邊生,
    上有黃鸝深樹鳴。
    春潮帶雨晚來急,
    野渡無人舟自橫

    Độc liên u giản thảo biên sinh

    Thượng hữu hoàng ly thâm thụ minh

    Xuân trào đái vũ vãn lai cấp

    Dã độ vô nhân chu tự hoành.


    Dịch nghĩa

    Lạch tây ở Trừ Châu

    Riêng thương cỏ âm thầm mọc bên lạch,
    Trên có cái oanh vàng hót trong cây um tùm.
    Thủy triều mùa xuân đem theo mưa, trời sập tối
    Đò đồng quạnh vắng, con thuyền tự quay ngang.


    Lạch tây ở Trừ Châu

    Xót thương bến nước cỏ xanh vàng,
    Cây rậm cành cao, oanh hót vang.
    Mưa dịp triều xuân, trời sập tối,
    Chiếc đò quạnh vắng tự quay ngang.

    (Bản dịch của Tương Như)


    .

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .




    Hoạ ưng - Đỗ Phủ


    Tố luyện phong sương khởi,

    Thương ưng hoạ tác thù.

    Song thân tư giảo thỏ,

    Trắc mục tự sầu hồ.

    Điều tuyền quang kham trích,

    Hiên doanh thế khả hô.

    Hà đương kích phàm điểu,

    Mao huyết sái bình vu.


    Dịch nghĩa


    Con ưng vẽ

    Ưng xanh ai khéo vẽ vời,
    Nổi trên lụa trắng, một trời gió sương.
    Gườm gườm đôi mắt liếc ngang,
    Nghiêng nghiêng mình né như đương rình mồi.
    Dây xinh, vòng sáng hẳn hoi,
    Gọi thường bay xuống hiên ngoài cũng nên!
    Bao giờ đánh bọn chim hèn,
    Máu lông tung rắc giữa miền đồng hoang?

    (Không rõ người dịch)

    .

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .




    Tương tư - Vương Duy

    相思

    紅豆生南國,
    春來發幾枝。
    願君多采擷,
    此物最相思。

    Hồng đậu sinh nam quốc,


    Xuân lai phát kỷ chi.

    Nguyện quân đa thái hiệt,

    Thử vật tối tương tư.


    Dịch nghĩa

    Tương tư

    Nước nam sinh đậu đỏ
    Xuân về nở cành xinh
    Chàng ơi hái nhiều nhé
    Nhớ nhau tha thiết tình

    (Bản dịch của Hải Đà)


    ( Hồng đậu có hột hình tròn, màu sắc tươi hồng,
    hình dạng đáng yêu, thường làm trang sức trên mái tóc phụ nữ.
    Người xưa lấy cây này biểu tượng cho tình yêu,
    nên mới có tên là cây "tương tư". )



    .

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .




    Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

    Lý Bạch


    黃鶴樓送孟浩然之廣陵

    故人西辭黃鶴樓,
    煙花三月下陽州。
    孤帆遠影碧空盡,
    惟見長江天際流。

    Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,

    Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

    Cô phàm viễn ảnh bích không tận,

    Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.



    Dịch nghĩa

    Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

    Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu
    Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
    Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc
    Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau

    (Bản dịch của Trần Trọng San)



    Phía tây bạn biệt Hạc lâu
    Tháng ba trẩy xuống Dương Châu thuận dòng
    Cánh buồm bóng hút màu không
    Trông xa trắng xoá nước sông bên trời

    (Bản dịch của Trần Trọng Kim )


    Hoàng Hạc lầu xưa bạn cũ rời
    Dương Châu hoa khói tháng ba xuôi
    Buồm đơn bóng hút vào xanh biếc
    Chỉ thấy Trường Giang chảy cuối trời

    (Bản dịch của Khương Hữu Dụng)


    Bạn từ lầu Hạc lên đường
    Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng
    Bóng buồm đã khuất bầu không
    Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời

    (Bản dịch của Ngô Tất Tố)


    .

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi CONHAKO View Post
    .





    Câu 1- “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi”

    a)-Rượu bồ đào (rượu nho) vốn là rượu tiến vua của các nước phía tây Tần thời đó. Dân nước ta ngày ấy phải làm cu li gánh vải từ Giao châu tiến cho vua Đường!,nước ta còn bị gọi là AN NAM đô hộ phủ, một phủ huyện của một thời ô nhục vì vong quốc.

    b)-dạ quang bôi là chén phát quang khi có ánh sáng chiếu vào.Đây là đặc sản bằng thạch anh của vùng Hồ, chỉ các nước thuộc phía tây nước Tàu, đó là nhóm các nước có nhiều người theo đaọ Hồi, ngày nay là những nước giáp giới với Turmekistan, Ubekistan. Có người Tàu còn cho rằng “dạ quang bôi “là chén làm bằng ngọc lưu ly(!&?), nôm na là một loại chén quý bằng ngọc dành cho hàng nguyên soái.

    c)-dạ quang bôi, theo nghĩa đen là “chén ánh lên ánh sáng ban đêm chiếu rọi “.

    d)-Có người còn giải thích “Dạ quang bôi” là thành ngữ chỉ sự “cạn chén” sao cho người đối diện có thể thấy ánh sáng đêm chiếu vào đáy cốc của mình, bây giờ gọi là “dô! dô! 100% “, rồi người uống úp ngược ly xuống .

    nguồn : NewVietArt
    Câu a) người viết về học lại lịch sử...

    Câu b ) Đây là loại ngọc Hòa Thiền , xuất hiện ở vùng Hotan. Ngọc được tìm thấy trên các con sông cạn hay suối sau mỗi mùa mưa ( Theo truyền thuyết chỉ có các cô gái đồng trinh lội suối không mặc quần mới dễ tìm được ngọc chất lượng cao hơn những người khác Thường loại ngọc mềm màu trắng được xếp chung với Ngọc Nephrite: độ cứng 5,5 - 6 Mors [Ca2(Mg,Fe2+)5(Si8O22)(OH,F)2, được thành tạo cách đây 100 triệu năm ở độ sâu dưới lòng đất 10km, nhiều nước có và dễ tìm thấy. Người thợ ngọc thường khắc những nét ẩn hình phía trong ngọc... Sau khi chế các chất lõng như rựu chẵng hạn vào , đưa ly soi dưới ánh sáng thì các hình khắc được nổi ra , có loại mõng được làm thấu quang thường phát sáng trong bóng tối...



    Thôi dzọt...

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Uất Kim Hương View Post
    Mình cũng bon chen góp với CO một bài nhé. Bài này mình chỉ biết, thích và hay dùng có một câu thôi "Nhất tướng công thành vạn cốt khô", nhưng may quá vừa mới kiếm ra bản gốc lẫn bản dịch Hán văn nữa. Lẽ dĩ nhiên là tài hèn sức mọn nên không dám dịch thêm thơ Đường, sợ thơ của mình bị biến thành đường...Thổt nốt mất....Hihihi....

    己亥歲二首 - 曹松

    澤國江山入戰圖,
    生民何計樂樵蘇。
    憑君莫話封侯事,
    一將功成萬骨枯。

    Kỷ Hợi tuế nhị thủ-Đào Tùng

    Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ,
    Sinh dân hà kế lạc tiều tô.
    Bằng quân mạc thoại phong hầu sự,
    Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

    " Đò có lưng ! "... Vốn liếng Hán tự của CO cũng chìm đáy sông tự hồi nào dzồi , chẳng qua không thể quên những bài thơ tuyệt đẹp í , nên mượn về gửi vào đây , nhưng cũng nhiều người như mình nên bài thơ thỉnh thoảng " thất bổn "...

    Cho phép CO thêm đoạn dịch nghĩa vào bài thơ của UKH nhe , thực ra bài này cũng mới thấy lần đầu ,trên Google cũng có vài bản ko giống nhau...


    己亥歲惑事
    曹松

    澤國江山入戰圖,
    生民何計樂樵蘇。
    憑君莫話封侯事,
    一將功成萬骨枯。

    __________

    Kỷ Hợi tuế hoặc sự
    Tào Tùng - Đường

    Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ
    Sinh dân hà kế lạc tiều tô
    Bằng quân mạc thoại phong hầu sự
    Nhất tướng công thành vạn cốt khô

    Dịch nghĩa:

    Sông núi nơi này rơi vào cảnh chiến tranh
    Đâu là cảnh an lạc cắt cỏ đốn củi của người dân
    Xin người đừng nói tới chuyện phong hầu
    Một viên tướng nên công đổi bằng vạn bộ xương trắng
    _____________

    Chú thích:

    Tào Tùng sau sự biến An Lộc Sơn - Sử Tư Minh thời Đường Huyền Tông, nhìn cảnh sinh dân lầm than mà cảm thán viết nên bài này...

    (*) Trạch quốc: vùng sông nước đầm lầy, chỉ vùng bờ nam sông Trường Giang...

    (*) Tiều: đốn củi, tô: cắt cỏ

    (*) nhập chiến đồ: xuất hiện trên bản đồ chiến trận, ý nói rơi vào cảnh chiến tranh


    **********************************


    己亥歲二首 - 曹松

    泽国江山入战图
    生民何计乐樵苏
    凭君莫话封侯事
    一将功成万骨枯

    Kỷ Hợi tuế nhị thủ - Tào Tùng, đời Đường.

    Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ
    Sinh dân hà kế nhạc tiều tô
    Bằng quân mạc thoại phong hầu sự
    Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

    Non nước giang sơn hóa chiến trường
    Muôn dân sao sống cảnh an lương
    Vua cao chớ nói phong hầu tước
    Một tướng danh thành, vạn máu xương.
    (hieusol dịch)



    Tặng UKH bài này nhe...





    Giai nhân ca - Lý Diên Niên

    Bắc phương hữu giai nhân,
    Tuyệt thế nhi độc lập.
    Nhất cố khuynh nhân thành,
    Tái cố khuynh nhân quốc.
    Ninh bất tri, khuynh thành dữ khuynh quốc,
    Giai nhân nan tái đắc.

    Phỏng dịch:

    Phương Bắc có một người đẹp
    Nhan sắc không ai sánh bằng
    Nhìn một lần là thành quách nghiêng ngả
    Nhìn lần nữa thì đất nước đảo điên
    Biết mà chi , nghiêng thành hay nghiêng nước
    Giai nhân khó lòng mà có lại được.

    Dịch thơ - Aficio + hieusol

    Phương Bắc có giai nhân,
    Xinh tươi nhất cõi trần.
    Liếc nhìn, thành quách đổ
    Nhìn thêm, quốc gia vong
    Mặc kệ thành nghiêng hay nước mất
    Giai nhân mấy khi gặp lại được ?


    .

    Leave a comment:


  • Uất Kim Hương
    replied
    Mình cũng bon chen góp với CO một bài nhé. Bài này mình chỉ biết, thích và hay dùng có một câu thôi "Nhất tướng công thành vạn cốt khô", nhưng may quá vừa mới kiếm ra bản gốc lẫn bản dịch Hán văn nữa. Lẽ dĩ nhiên là tài hèn sức mọn nên không dám dịch thêm thơ Đường, sợ thơ của mình bị biến thành đường...Thổt nốt mất....Hihihi....

    己亥歲二首-曹松

    澤國江山入戰圖,
    生民何計樂樵蘇。
    憑君莫話封侯事,
    一將功成萬骨枯。


    Kỷ Hợi tuế nhị thủ-Đào Tùng

    Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ,
    Sinh dân hà kế lạc tiều tô.
    Bằng quân mạc thoại phong hầu sự,
    Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .




    Nguyệt dạ

    Đổ Phủ


    Kim dạ Phu Châu nguyệt

    Khuê trung chỉ độc khan

    Dao liên tiểu nhi nữ

    Vị giải ức Tràng An

    Hương vụ vân hoàn thấp

    Thanh huy ngọc tý hàn

    Hà thời ỷ hư hoảng

    Song chiếu lệ ngân can



    Dịch nghĩa


    Vầng trăng ở Phu Châu đêm nay
    Trong phòng khuê chỉ một người đứng nhìn
    Ở xa thương cho con gái bé bỏng
    Chưa hiểu nỗi nhớ Trường An
    Sương thơm làm ướt mái tóc mai
    Ánh trăng trong sáng làm giá lạnh cánh tay ngọc
    Bao giờ được tựa bên màn mỏng
    Để trăng chiếu cả đôi ta cho ngấn lệ ráo khô?


    Đêm sáng trăng


    Châu Phu này lúc trăng soi
    Buồng the đêm vắng riêng coi một mình
    Đoái thương thơ dại đầu xanh
    Tràng An chửa biết đem tình nhớ nhau
    Sương sa thơm ướt mái đầu
    Cánh tay ngọc trắng lạnh màu sáng trong
    Bao giờ tựa bức màn không
    Gương soi chung bóng lệ dòng dòng khô

    (Bản dịch của Tản Đà)



    Đêm trăng

    Đêm nay Phu Châu sáng
    Mình em ngắm trăng khuya
    Nỗi nhớ Trường An ấy
    Thương con chửa biết gì
    Sương thơm làn tóc đẫm
    Ánh lạnh cánh tay tê
    Bao giờ cùng soi bóng
    Đôi mình ngấn lệ se.

    (Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied


    Nguyệt hạ độc chước

    Lý Bạch

    Hoa gian nhất hồ tửu

    Độc chước vô tương thân

    Cử bôi yêu minh nguyệt

    Đối ảnh thành tam nhân

    Nguyệt kí bất giải ẩm

    Ảnh đồ tuỳ ngã thân

    Tạm bạn nguyệt tương ảnh

    Hành lạc tu cập xuân

    Ngã ca nguyệt bồi hồi

    Ngã vũ ảnh linh loạn

    Tỉnh thì đồng giao hoan

    Tuý hậu các phân tán

    Vĩnh kết vô tình du

    Tương kỳ mạc phân tán


    Dịch nghĩa :

    Uống rượu một mình dưới trăng

    Giữa hoa một hồ rượu
    Một mình rót uống không người thân
    Nâng chén mời trăng sáng
    Cùng bóng mình thành ba người
    Trăng không biết uống rượu
    Bóng thì theo thân mình
    Tạm kết bạn với trăng và bóng
    Vui cho kịp với ngày xuân
    Ta hát trăng cũng bồi hồi
    Ta múa trăng cũng quay cuồng
    Khi tỉnh cùng vui với nhau
    Say rồi đều tan tác
    Tình giao kết buộc nhau lại mãi chi
    Hẹn hò nhau trên tít Vân Hán (sông Ngân Hà)


    .
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 20-08-2010, 06:14 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .

    Vọng Nguyệt Hoài Viễn - Trương Cửu Linh






    Vọng nguyệt hoài viễn

    Trương Cửu Linh

    Hải thượng sinh minh nguyệt

    Thiên nhai cộng thử thì

    Tình nhân oán dao dạ

    Cánh tịch khởi tương ti

    Diệt chúc liên quang mãn

    Phi y giác lộ ti

    Bất kham doanh thủ tặng

    Hoàng tẩm mộng giai ky


    Dịch Thơ (bản dịch Hải Đà)


    Nhìn Trăng Nhớ Phương Xa

    Trăng sáng trên biển cả
    Cuối trời rạng rỡ soi
    Sầu hận tình ly xứ
    Đêm dài nhớ khôn vơi
    Đèn tàn thương ánh tỏ
    Áo mặc đẫm sương rơi
    Tặng người tay khó vốc
    Đành hẹn giấc mơ thôi …


    .
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 19-08-2010, 05:10 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Ô hô !Ô hô ! M Mít nhỏ nhập cốc chưa xuống núi , CO đem về vài bài Đường thi cho các bạn thích Cổ thi đọc đỡ buồn !!!


    ***



    Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế

    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

    *********

    Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều

    Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
    Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
    Con thuyền đậu bến Cô Tô
    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

    (Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà)


    Ban đêm thuyền đậu bến Phong Kiều

    Trăng tà tiếng quạ vẳng sương rơi
    Sầu đượm hàng phong giấc lửa chài
    Ngoài lũy Cô Tô chùa vắng vẻ
    Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai

    (Bản dịch ra tiếng Việt của Trần Trọng San)


    Sương dầy quạ réo ánh trăng rơi
    Sầu ngủ bờ phong rọi lửa chài
    Đêm tối Cô Tô ngoài lũy vắng
    Chuông chùa vọng đến mạn thuyền ai

    (Shiroi)

    .

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    .
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Uất Kim Hương View Post
    Tặng bài ni cho CO! Chúc CO luôn vui hỉ!

    Vi thảo đương tác lan
    Tg: Lý Bạch

    Vi thảo đương tác lan
    Vi mộc đương tác tùng
    Lan u hương phong viễn
    Tùng hàn bất cải dung.


    UKH
    Jun 1, 2010
    Cảm ơn UKH thật nhìu nhìu , CO thích bài này nên tìm nguyên bản về cho mãn nhãn ......




    .

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Dòng Thơ Đường

    .




    VƯƠNG HÀN 王翰 (687 – 726)
    • 涼 州 詞


      LƯƠNG CHÂU TỪ


    Trong dòng thơ biên tái, bài Lương châu từ của Vương Hàn là bài nổi tiếng nhất, nhất là đối với Người Việt mình. Bài Lương châu từ có thể là bài thơ Đường được dịch ra tiếng nôm sớm nhất. Đối với Người Việt câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” một câu thơ trong nguyên tác đã trở thành gần như câu thơ thuần Việt. Với bài Lương châu từ của Vương Hàn có khi số người yêu thích nó còn cao hơn bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu.

    Vương Hàn 王翰,(687 – 726) tự Tử Vũ người tỉnh Sơn Tây- sống vào thời Thịnh Đường. Năm 710 ông đậu tiến sĩ và ra làm quan. Bài từ này Vương Hàn làm năm 713 khi Ông bị đày ra Lương Châu vì tật hay nói thẳng của mình.

    Nguyên tác chữ Hán


    涼 州 詞

    葡萄美酒夜光杯,
    欲飲琵 琶馬上催。
    醉臥沙場君莫笑,
    古來征戰幾人回。


    Phiên âm


    • LƯƠNG CHÂU TỪ
    • Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
      Dục ẩm tì bà mã thượng thôi
      Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
      Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
    Chú Vài Từ & Tạm Dịch Nghĩa

    Lương Châu là một địa danh chỉ vùng đất thuộc tỉnh Cam Túc, nằm ở phía tây nước Tàu giáp giới biên giới Liên xô cũ .

    Câu 1- “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi”

    a)-Rượu bồ đào (rượu nho) vốn là rượu tiến vua của các nước phía tây Tần thời đó. Dân nước ta ngày ấy phải làm cu li gánh vải từ Giao châu tiến cho vua Đường!,nước ta còn bị gọi là AN NAM đô hộ phủ, một phủ huyện của một thời ô nhục vì vong quốc.

    b)-dạ quang bôi là chén phát quang khi có ánh sáng chiếu vào.Đây là đặc sản bằng thạch anh của vùng Hồ, chỉ các nước thuộc phía tây nước Tàu, đó là nhóm các nước có nhiều người theo đaọ Hồi, ngày nay là những nước giáp giới với Turmekistan, Ubekistan. Có người Tàu còn cho rằng “dạ quang bôi “là chén làm bằng ngọc lưu ly(!&?), nôm na là một loại chén quý bằng ngọc dành cho hàng nguyên soái.

    c)-dạ quang bôi, theo nghĩa đen là “chén ánh lên ánh sáng ban đêm chiếu rọi “.

    d)-Có người còn giải thích “Dạ quang bôi” là thành ngữ chỉ sự “cạn chén” sao cho người đối diện có thể thấy ánh sáng đêm chiếu vào đáy cốc của mình, bây giờ gọi là “dô! dô! 100% “, rồi người uống úp ngược ly xuống .

    Câu 2-“Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.”

    e) Mã thượng là trên mình ngựa. Thôi là thôi thúc .
    “Mã thượng thôi” còn là cụm từ thành ngữ có nghĩa là “lè lẹ lên!” .
    Laiquangnam nghĩ đây là cách chơi chữ của người xưa. Vừa về âm ,vừa về ý, hai ý tương phản cùng song hành trong ba tiếng “Mã thượng thôi.”.Tài hoa!.

    f) Tì bà : : một loại đàn đặc chủng của người Hồ, người chiến binh kỵ mã dùng cây đàn tì bà hình tam giác nhỏ gọn đeo trên vai, dây lớn và căng rất thẳng, Đàn tì có âm vực cao , có thể át tiếng gió hú trong sa mạc. Đàn tì bà này được dùng thay cho tiếng kèn, tiếng khèn quân lệnh. Tùy theo cách gảy nhanh chậm , cao thấp, mà binh sĩ biết mình phải làm gì. Đó là lệnh tiến, lệnh thoái, xung phong hay lệnh rút lui. Tì Bà của Tàu được người Tàu thi vị hóa là nó làm bằng cây ngô đồng, Tàu “nổ” cho cố vào! Để xứng với chén lưu ly.

    Theo bạn thì câu : “Dục ẩm tì bà mã thượng thôi “, thì tiếng Tì bà trong bài là của ai vậy?, của bên Tàu ( phía thi nhân ), hay bên Hồ (đối kháng với Tàu ). Nếu tì bà là của Hồ, thì nó hàm ý ”lè lẹ đi mấy cha, tụi nó tới kìa !“. Điều này tương ứng với bài Cổ tòng quân hành của Lý Kỳ trong cùng trang web NVA này , Mã thượng thôi!. Nếu tiếng tì bà là của phía lính Tàu, rõ ràng họ đang phấn khích dô dô 100%. , nghĩa là người Tàu trong màu áo lính chiến trong bài đang thắng trận. Theo laiquangnam có lẽ là của địch, thì ý thơ câu 2 mới nhất quán về giòng thơ biên tái, một dòng thơ phản chiến, than thở về cuộc sống gian khổ của người lính vùng Lương Châu. Mời bạn đọc lại lần nữa , -“Dục ẩm! tì bà! mã thượng thôi.! “Ước gì!... lưng ngựa, thúc khan ! đàn tì!”.Mới định nhắp môi mà địch đã tới rồi, là chiến binh Lương Châu người lính Tàu dày dặn kinh nghiệm còn lạ gì tài bắn cung tên của người Hồ là bá chấy! mã thượng thôi.!

    Câu 3 “Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu”

    g) Chữ “ Quân” trong câu này là mắt thơ , nó được dùng như là từ YOU trong tiếng Anh , là một từ ngôi thứ hai trung tính, tiếng Việt chúng ta không có từ tương đương . Huynh thì có thể trung tính, nhưng lại dùng cho người đàn ông.

    Quân mạc tiếu “ You chớ cười”, You đây là ai?, là người chỉ huy, là người đang dấu mặt?, là khách thơ ? , hay là chính người thiếu phụ trong khuê phòng. Cười nụ ?, “You chớ cười”, You cười cái gì ? _cười vì người chiến binh sợ chết cho nên họ phải uống để quên ?, Cười vì Họ cần uống để thêm chút can đảm trước giờ xuất trận. Có thể lắm ! Thơ Đường ! Xin đọc thêm lịch sử của Tàu ở giai đoạn này. Tàu xâm lăng láng giềng và bị láng giềng xâm lăng lại . Xin đọc lại bài Cổ tòng quân hành của Lý Kỳ để biết sự ác liệt của chiến trường Lương Châu từ. Chính câu thứ ba, phủ nhận lời giả thích “dạ quang bôi” là chén ngọc lưu ly, một loại chén hạt mít, ngọc quý lấy đâu cho to mà làm chén lớn. Chén hạt mít mà uống cho say thì chiến trường hẳn êm ả lắm! Trong Chinh phụ ngâm từ câu 289 đến câu 292 khi cụ Đặng Trần Côn có viết về nỗi khiếp sợ của nàng thiếu phụ khi nghĩ đến chàng nay đang ở vùng Ngọc môn quan, một của ải nhìn vào vùng Lương Sơn , nàng chưa từng đến nhưng nghe tên cũng đà khiếp đảm, nói chi người trong cuộc.

    Trông bốn bề chân trời mặt đất
    Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen
    Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
    Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan
    (Chinh Phụ ngâm )


    Câu 4 , “ Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi “ ,

    Một câu thơ kinh điển mang tính nhân loại! .

    Dịch thơ Quốc Âm
    • Lương Châu Từ

      Bồ đào sánh chén dạ quang!
      Thèm chi !
      …lưng ngựa, thúc khan đàn tì !
      _Sa trường!
      _say bẹp!
      _cười chi (!&?)
      Xưa nay chinh chiến!,
      … người đi mấy về !

      LaiQuangNam


    Xin giới thiệu một bản dịch áp sát nguyên thể của cụ Bùi khánh Đản dành cho người thưởng ngoạn theo trường phái cổ điển .

    Bài Hát Lương Châu

    Bồ đào , rượu rót chén lưu ly
    Muốn uống , tỳ bà giục ngựa đi
    Bãi cát say nằm , chê cũng mặc
    Xưa nay chinh chiến mấy ai về .

    Bùi khánh Đản


    nguồn : NewVietArt
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 22-07-2010, 06:17 PM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Khúc Giang nhị thủ - Đỗ Phủ

    .



    曲江二首

    一片花飛減卻春,風飄萬點正愁人。
    且看欲盡花經眼,莫厭傷多酒入唇。
    江上小堂巢翡翠,花邊高塚臥麒麟。
    細推物理須行樂,何用浮名絆此身。

    朝回日日典春衣,每日江頭盡醉歸。
    酒債尋常行處有,人生七十古來稀。
    穿花蛺蝶深深見,點水蜻蜓款款飛。
    傳語風光共流轉,暫時相賞莫相違。

    杜甫

    Phiên âm :

    Khúc Giang nhị thủ

    Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân ,
    Phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân .
    Thả khan dục tận hoa kinh nhãn ,
    Mạc yếm thương đa tửu nhập thần .
    Giang thượng tiểu đường sào phỉ thuý ,
    Hoa biên cao trũng ngoạ kỳ lân .
    Tế suy vật lý tu hành lạc ,
    Hà dụng phù danh bạn thử thân .


    Triều hồi nhật nhật điển xuân y ,
    Mỗi nhật giang đầu tận tuý quy .
    Tửu trái tầm thường hành xứ hữu ,
    Nhân sinh thất thập cổ lai hi .
    Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện ,
    Điểm thuỷ thanh đình khoản khoản phi .
    Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển ,
    Tạm thời tương hưởng mạc tương vi .

    Đỗ Phủ

    Dịch nghĩa :


    Khúc Giang

    Mỗi mảnh hoa bay làm bớt đi một ít xuân

    Gió đưa muôn cánh hoa làm buồn lòng người

    Hãy nhìn tận hết hoa bay trước mắt

    Đừng buồn cho lắm mà đưa rượu vào môi

    Nhà nhỏ trên sông , chim phỉ thuý làm tổ

    Gò cao bên luống hoa , kỳ lân còn nằm

    Suy nghĩ kỹ chuyện đời , cũng nên vui thú

    Sao dùng cái danh hão huyền buộc tấm thân này



    Ngày ngày tan triều về đem cầm áo xuân

    Mỗi ngày ở đầu sông , rượu uống thật say mới về

    Nợ tiền rượu là chuyện thường đâu cũng có

    Đời người sống đến 70 tuổi , xưa nay hiếm thấy

    Xuyên qua hoa , bướm hiện ra mờ mờ

    Điểm mặt nước , chuồn chuồn bay chập chờn

    Truyền ngữ nói tháng ngày đi qua rất nhanh

    Vậy hãy cùng nhau thưởng thức chớ nên bỏ qua


    ***

    Thơ Đỗ Phủ đã nhập vào đời sống người Việt


    Người Việt mình phần phần đông đã từng nghe qua một câu thơ có ý nói về sự sống của con người, đó là câu : “ Nhân sinh thất thập cổ lai hy.”
    Câu này với cái nghĩa thật đơn giản là con người sống được bảy mươi tuổi đã là hiếm có. Đó là sự nhận xét có phần đúng với đời sống con người của thời xa xưa, khi mà đời sống loài người còn quá nghèo nàn, lạc hậu và cũng là thơì kỳ mà nền văn minh của nhân loại chưa được phát triển.

    Tuy nhiên câu thơ này đã được truyền tụng thật rộng rãi trong nhân gian nước ta, làm cho ai cũng biết đến, thậm chí nó trở thành như một mẫu mực : Ai sống được từ 70 tuổi trở lên thì khi từ giã cõi đời được người đời tôn vinh là THỌ ( sống lâu), còn sống dưới 60 tuổi thì chỉ được coi là hưởng dương mà thôi.

    Nhưng, điều đặc biệt là mấy ai đã biết xuất xứ của câu thơ này, từ đâu mà có, được rút ra từ bài thơ nào và ai là tác giả ? Cho nên có lẽ chúng ta cũng cần nên tìm hiểu để biết xem sao?
    Thì đây chính là một câu thơ trong bài KHÚC GIANG II của nhà thơ Đỗ Phủ - một trong ba nhà thơ nổi tiếng, được người đời xưng tụng là ba thi hào Trung Quốc dưới đời nhà Đường: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.


    Khúc Giang II

    Triệu hồi nhật nhật điển xuân y
    Mỗi nhật giang đầu tận tuý quy
    Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
    Nhân sinh thất thập cổ lai hy
    Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện
    Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi
    Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
    Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.


    Nhà thơ Tản Đà của ta đã dịch :

    “Khỏi bệ Vua ra, cố áo hoài
    Bên sông say khướt, tối lần mai
    Nợ tiền mua rượu đâu không thế ?
    Sống bảy mươi năm đã mấy người ?
    Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn
    Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi.
    Nhắn cho: quang cảnh thường thay đổi
    Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài”
    ( trích báo Ngày Nay, số ra ngày 19-12-1937)


    Đỗ Phủ sinh năm 712 dưới triều đại nhà Đường Trung Quốc, tại làng Đỗ Lăng, phủ Kinh Triệu tỉnh Thiểm Tây, vì vậy người ta còn gọi ông là Đỗ Thiếu Lăng hay Đỗ Công Bộ vì ông đã có chức vụ Công bộ viên ngoại lang.
    Đỗ Phủ có tên tự là Tử Mỹ là người đươc nổi tiếng thông minh và hay chữ từ thuở nhỏ . Khi mới lên 9 tuổi ông đã viết được chữ Đại tự - Một thứ bút pháp rất khó viết của thời Sơ Đường. Bản tính của Đỗ Phủ thích ngao du sơn thủy đó đây. Năm 19 tuổi (730 ) ông đã đi xuống đất Hoàng Hà, qua Tuần Hà, sang Hoài Âm, ghé Dương Châu rồi đến Trường An, sau đó lần xuống Giang Nam, Cô Tô rồi vượt sông Tiền Đường đến Viêm Khê đậu thuyền dưới núi Thiên Mụ thuộc huyện Tân Xương tỉnh Chiết Giang.
    Năm 33 tuổi, Đỗ Phủ đến Lạc Dương rồi làm quen và kết bạn thi hữu với Lý Bạch, nhưng sau đó vì thời cuộc và đời sống ông đành chia tay với Lý Bạch mà trở lại cuộc sống rày đây mai đó. Ông đã liên tục rong ruổi cuộc sống trên các phần đất thuộc các nước Ngô, Việt, Triệu, Tề…

    Sau mấy năm ngao du, ông quay trở về quê mình để dự khoa thi tiến sĩ. Tiếc thay đời Đỗ Phủ dù học giỏi tài cao nhưng lại không mặn nồng với con đường khoa bảng nên thi đã không được chấm đậu !

    Trước sự không may đó, cộng thêm chứng kiến cảnh khoa trương hưởng lạc của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi, và những chuyện tham quan ô lại lộng hành sanh ra cảnh tranh dành phản loạn như chuyện Phạm Dương tiết độ sứ An Lộc Sơn đem quân cướp ngôi nhà Đường, rồi đến chuyện con An Lộc Sơn là An Khánh Tự đứng lên giết cha xưng Đế …, Đỗ Phủ chán nản thời thế và tiếp tục ngao du. Càng ngao du Đỗ Phủ càng lâm vào cảnh bần cùng thêm và Đỗ Phủ đã chiụ đựng trong suốt hơn 10 năm trời ,có lúc tận cùng đến nỗi nghe tin con chết vì thiếu ăn mà không phương giúp đỡ! Phải chăng vì cuộc sống bần hàn như vậy càng khiến cho thơ của Đỗ Phủ càng thêm thâm thúy và kiệt xuất chăng ?

    Cuối cùng, Đỗ Phủ cũng đã tạo được cho mình một chỗ để dừng chân giang hồ tại đất Thành Đô, đó là Đỗ Phủ Thảo Đường hay còn gọi là Thành Đô Thảo Đường mà ngày hôm nay hậu thế còn có nơi lai vãng viếng thăm di tích của thi nhân nổi danh này.

    Đỗ Phủ mất năm 59 tuổi tại Hồ Nam vẫn trong sự nghèo cùng, gia đình không đủ tiền làm đám tang đành phải đặt linh cữu ở Nhạc Dương thuộc tỉnh Hoài Nam. Mãi sau đến đời cháu mới được người cháu là Đỗ Tư Nghiệp đến Nhạc Châu mang linh thần về mai táng tại chân núi Thủ Dương tức là gần mộ ông cha là Đỗ Dự và Đỗ Thẩm Ngôn.

    Đỗ Phủ có hai người con trai là Tông Văn và Tông Vũ. Đỗ Tư Nghiệp là con của Tông Vũ.
    Khi Đỗ Tư Nghiệp đưa linh thần Đỗ Phủ qua Kinh Châu, trên đường đi đã gặp thi sĩ Nguyên Chấn, một thi sĩ lừng danh lúc bấy giờ, Nguyên Chấn đã viết một bài minh đề trên mộ Đỗ Phủ nói rằng:“ Từ khi có thi nhân đến giờ, không có ai vĩ đại bằng Tử Mỹ”.

    Tôi viết bài này để kỷ niệm chuy ến đi Trung Quốc do A.V Travel tổ chức đã đến thăm Thành Đô Thảo Đường của thi sĩ và xúc động với những di tích còn đó !

    California cuối thu năm 2006.
    * Lê Hoàng &Hồng Mai.


    ***
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 27-11-2010, 12:00 AM.

    Leave a comment:

Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom