..::~Trích dẫn nguyên văn bởi CONHAKO
View Post
Những bài dịch Đường Thi đầu tiên trong văn học Việt Nam
Nguyễn Quảng Tuân
Nói đến những bài dịch Đường thi người ta thường nghĩ đến bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, do Phan Huy Vịnh (1) dịch hoặc bài Thu hứng(2) của Đỗ Phủ do Ngô Thế Vinh dịch ra quốc âm. Hai bài thơ dịch này sở dĩ được phổ biến sâu rộng vì đã được các đào nương xưa, thường hát trong các xóm bình khang và cũng vì các khách yêu ca trù hết sức ưa thích. Ngoài hai bài kể trên còn có các bài Thu hứng (bài thứ tư) của Đỗ Phủ (Nguyễn Công Trứ dịch), bài Văn lân gia lý tranh của Từ An Trinh (Trương Minh Ký dịch), bài Há Chung Nam sơn, quá Hộc Tư Sơn Nhân túc, trí tửu của Lý Bạch (Nguyễn Khuyến dịch) cũng được nhiều người biết đến.
Nhưng đó chỉ là những bài dịch về sau này vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, còn những bài dịch Đường thi đầu tiên phải kể đến những bài đã được dịch từ thế kỷ thứ XV và được sưu tầm trong bộ Hồng Đức quốc âm thi tập (đời vua Lê Thánh Tôn) như bài Xuân tịch lữ hoài dịch của Thôi Đồ và bốn bài dịch ở chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường.
Bài Xuân tịch lữ hoài nguyên văn bằng chữ Hán như sau:
Dịch nghĩa:
Bộ này còn có bốn bài dịch chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường:
Theo nhận xét trên thì mấy bài dịch quốc âm chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường có thể được coi là xưa nhất, từ thời Lê vào thế kỷ thứ XV, xưa hơn cả bài dịch Tàn xuân lữ xá của Thôi Đồ đã được viết đúng theo thể thất ngôn bát cú và không có chữ cổ nào.
Sở dĩ bốn bài thơ Nôm dịch chùm thơ Thiên Thai (thiếu bài số 3) không đủ nên các cụ ta xưa khi nghe hát ả đào thường cho hát đủ cả năm bài thơ chữ Hán của Tào Đường và ở dưới mỗi bài thơ lại có mấy câu thổng tóm tắt đại ý bài thơ bằng quốc âm theo thể lục bát như sau:
Các câu thổng ấy rất hay nên các bài Thiên Thai dịch hay sáng tác trong Hồng Đức quốc âm thi tập đã không được các cụ ưa thích ca trù đem ra để các đào nương hát hoặc ngâm - như bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị dịch Nôm hay bài Thu hứng (bài thứ nhất) của Đỗ Phủ dịch Nôm - và do đó đã không được phổ biến rộng rãi mà cũng không ai để ý đó là những bài thơ Nôm dịch Đường thi đầu tiên trong văn học Việt Nam.
CHÚ THÍCH(1) Nay có thuyết cho là của Phan Huy Thực
(2) Thu hứng gồm 8 bài: Ngô Thế Vinh dịch bài thứ nhất, Nguyễn Công Trứ dịch bài thứ tư.
Nguyễn Quảng Tuân
Nói đến những bài dịch Đường thi người ta thường nghĩ đến bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, do Phan Huy Vịnh (1) dịch hoặc bài Thu hứng(2) của Đỗ Phủ do Ngô Thế Vinh dịch ra quốc âm. Hai bài thơ dịch này sở dĩ được phổ biến sâu rộng vì đã được các đào nương xưa, thường hát trong các xóm bình khang và cũng vì các khách yêu ca trù hết sức ưa thích. Ngoài hai bài kể trên còn có các bài Thu hứng (bài thứ tư) của Đỗ Phủ (Nguyễn Công Trứ dịch), bài Văn lân gia lý tranh của Từ An Trinh (Trương Minh Ký dịch), bài Há Chung Nam sơn, quá Hộc Tư Sơn Nhân túc, trí tửu của Lý Bạch (Nguyễn Khuyến dịch) cũng được nhiều người biết đến.
Nhưng đó chỉ là những bài dịch về sau này vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, còn những bài dịch Đường thi đầu tiên phải kể đến những bài đã được dịch từ thế kỷ thứ XV và được sưu tầm trong bộ Hồng Đức quốc âm thi tập (đời vua Lê Thánh Tôn) như bài Xuân tịch lữ hoài dịch của Thôi Đồ và bốn bài dịch ở chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường.
Bài Xuân tịch lữ hoài nguyên văn bằng chữ Hán như sau:
春 夕 旅 懷
水 流 花 謝 雨 無 情
送 盡 東 風 過 楚 城
蝴 蠂 夢 中 家 萬 里
子 規 枝 上 月 三 更
故 園 書 動 經 年 絕
華 發 春 惟 滿 鏡 生
自 是 不 歸歸 便 得
五 湖 烟 景 有 誰 爭
崔 涂
水 流 花 謝 雨 無 情
送 盡 東 風 過 楚 城
蝴 蠂 夢 中 家 萬 里
子 規 枝 上 月 三 更
故 園 書 動 經 年 絕
華 發 春 惟 滿 鏡 生
自 是 不 歸歸 便 得
五 湖 烟 景 有 誰 爭
崔 涂
XUÂN TỊCH LỮ HOÀI
Thủy lưu hoa tạ lưỡng vô tình,
Tống tận đông phong quá Sở thành.
Hồ điệp mộng trung gia vạn lý,
Tử quy chi thượng nguyệt tam canh.
Cố viên thư động kinh niên tuyệt,
Hoa phát xuân duy mãn kính sinh.
Tự thị bất qui, qui tiện đắc,
Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy tranh
THÔI ĐỒ
Thủy lưu hoa tạ lưỡng vô tình,
Tống tận đông phong quá Sở thành.
Hồ điệp mộng trung gia vạn lý,
Tử quy chi thượng nguyệt tam canh.
Cố viên thư động kinh niên tuyệt,
Hoa phát xuân duy mãn kính sinh.
Tự thị bất qui, qui tiện đắc,
Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy tranh
THÔI ĐỒ
Dịch nghĩa:
ĐÊM XUÂN ĐẤT KHÁCH NHỚ NHÀ
Hoa bay nước chảy cũng vô tình,
Gió quyến xuân đưa đến Sở thành.
Hồ điệp mơ màng nhà vạn dặm,
Tử qui khắc khoải nguyệt ba canh.
Thư nhàn dễ cách lòng nên bạc,
Tóc tuyết khôn cầm thức lại xanh.
Nẻo ấy chẳng về, về ắt được,
Năm hồ cảnh vắng có ai tranh.
KHUYẾT DANHHoa bay nước chảy cũng vô tình,
Gió quyến xuân đưa đến Sở thành.
Hồ điệp mơ màng nhà vạn dặm,
Tử qui khắc khoải nguyệt ba canh.
Thư nhàn dễ cách lòng nên bạc,
Tóc tuyết khôn cầm thức lại xanh.
Nẻo ấy chẳng về, về ắt được,
Năm hồ cảnh vắng có ai tranh.
Bài dịch sang quốc âm đã rất thanh thoát nên các nhà sưu tầm về sau đã tưởng là thơ Nôm sáng tác và đã đưa vào bộ Hồng Đức quốc âm thi tập.
Bộ này còn có bốn bài dịch chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường:
1. LƯU NGUYỄN NHẬP ĐỘNG
Cỏ rợp non tiên một nẻo phân,
Đất chăng bụi bụi cỏ êm chân.
Khói xanh bóng tiễn xem đương mặt,
Nước biếc duyên ưa nọ có thân.
Dải non cao, chăng khối nguyệt,
Doành sông thắm, một dường xuân.
Chẳng hay người ấy về đâu tá?
Niệm đến Đào Nguyên hỏi chủ nhân.
Đất chăng bụi bụi cỏ êm chân.
Khói xanh bóng tiễn xem đương mặt,
Nước biếc duyên ưa nọ có thân.
Dải non cao, chăng khối nguyệt,
Doành sông thắm, một dường xuân.
Chẳng hay người ấy về đâu tá?
Niệm đến Đào Nguyên hỏi chủ nhân.
2. LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ
Cây khói xanh xanh thức biếc tương,
Trước đông thuở dãi bóng trì đường.
Mây che cửa chim bay hết,
Suối thay cầm tiếng nhặt xoang.
Sông có bích đào non nước dẫy,
Cõi nhiều hồng hạnh tháng ngày trường.
Cánh hoa dầu chẳng ngươi tiêu rước,
Chó sủa âu là hẳn ấy lang.
Trước đông thuở dãi bóng trì đường.
Mây che cửa chim bay hết,
Suối thay cầm tiếng nhặt xoang.
Sông có bích đào non nước dẫy,
Cõi nhiều hồng hạnh tháng ngày trường.
Cánh hoa dầu chẳng ngươi tiêu rước,
Chó sủa âu là hẳn ấy lang.
3. TIÊN TỬ HOÀI LƯU NGUYỄN
Chẳng còn nhớ đến khúc Nghê thường,
Một phút chiêm bao một phút thương.
Thuở động ngày chầy xuân vắng vẻ,
Khi người đường cách nguyệt mơ màng.
Đất nhiều có ngọc qua ưa biếc,
Nước có hoa đào hết tấc hương.
Gió thổi đèn tàn thêm lạnh lẽo.
Thân này khôn chước hỏi lưu lang.
Một phút chiêm bao một phút thương.
Thuở động ngày chầy xuân vắng vẻ,
Khi người đường cách nguyệt mơ màng.
Đất nhiều có ngọc qua ưa biếc,
Nước có hoa đào hết tấc hương.
Gió thổi đèn tàn thêm lạnh lẽo.
Thân này khôn chước hỏi lưu lang.
4. LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO, BẤT KIẾN TIÊN TỬ
Ngọc châu lại đến hỏi chưng đây,
Rầy đã rêu rêu bụi bụi đầy.
Ca khúc rền rền cách núi,
Làng doanh văng vẳng khóa mây.
Thức mây chẳng phải xanh phen nọ,
Điểm khói nào còn biếc bầy chầy.
Mặt nước hoa trôi lành lạnh đấy.
Người tiên mời rượu ở đâu rầy?
KHUYẾT DANH
Rầy đã rêu rêu bụi bụi đầy.
Ca khúc rền rền cách núi,
Làng doanh văng vẳng khóa mây.
Thức mây chẳng phải xanh phen nọ,
Điểm khói nào còn biếc bầy chầy.
Mặt nước hoa trôi lành lạnh đấy.
Người tiên mời rượu ở đâu rầy?
KHUYẾT DANH
Nguyên văn bốn bài thơ của Tào Đường bằng chữ Hán như sau:
入 天 臺
樹 入 天 臺 石 路 新
雲 和 草 靜 迥 無 塵
烟 霞 不 省 生 前 事
水 木 空 疑 夢 後 身
往 往 鸡 鳴 岩 下 月
時 時 犬 吠 洞 中 春
不 知 此 地 歸 何 處
須 就 桃 源 問 主 人
雲 和 草 靜 迥 無 塵
烟 霞 不 省 生 前 事
水 木 空 疑 夢 後 身
往 往 鸡 鳴 岩 下 月
時 時 犬 吠 洞 中 春
不 知 此 地 歸 何 處
須 就 桃 源 問 主 人
1. NHẬP THIÊN THAI
Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,
Văn hòa thảo tĩnh quýnh vô trần.
Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
Thủy mộc không ghi mộng hậu thân.
Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,
Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
Bất tri thử địa qui hà xứ,
Tu tựu Đào nguyên vấn chủ nhân.
TÀO ĐƯỜNG
Văn hòa thảo tĩnh quýnh vô trần.
Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
Thủy mộc không ghi mộng hậu thân.
Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,
Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
Bất tri thử địa qui hà xứ,
Tu tựu Đào nguyên vấn chủ nhân.
TÀO ĐƯỜNG
洞 中 遇 仙 人
天 和 樹 色 靄 蒼 蒼
霞 重 岩 深 路 渺 茫
雲 寶 滿 山 無 鳥 雀
水 聲 沿 澗 有 笙 簧
碧 沙 洞 里 乾 坤 別
紅 樹 枝 邊 日 月 長
願 得 花 開 有 人 出
兔 令 仙 犬 吠 劉 郎
曹唐
霞 重 岩 深 路 渺 茫
雲 寶 滿 山 無 鳥 雀
水 聲 沿 澗 有 笙 簧
碧 沙 洞 里 乾 坤 別
紅 樹 枝 邊 日 月 長
願 得 花 開 有 人 出
兔 令 仙 犬 吠 劉 郎
曹唐
2. ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN NHÂN
Thiên hòa thụ sắc ái thương thương,
Hà trọng nham thâm lộ diểu mang.
Vân đậu mãn sơn vô điểu tước,
Thủy thanh duyên giản hữu sênh hoàng.
Bích sa động lý càn khôn biệt,
Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường.
Nguyệt đắc hoa gian hữu nhân xuất,
Miễn linh tiêu khuyển phệ Lưu lang.
TÀO ĐƯỜNG
Hà trọng nham thâm lộ diểu mang.
Vân đậu mãn sơn vô điểu tước,
Thủy thanh duyên giản hữu sênh hoàng.
Bích sa động lý càn khôn biệt,
Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường.
Nguyệt đắc hoa gian hữu nhân xuất,
Miễn linh tiêu khuyển phệ Lưu lang.
TÀO ĐƯỜNG
洞 中 有 懷
不 將 清 瑟 理 霓 裳
塵 夢 那 知 鶴 夢 長
洞 里 有 天 春 寂 寂
人 間 無 路 月 茫 茫
玉 沙 瑤 草 沿 溪 碧
流 水桃 花 滿 澗 香
曉 露 風 燈 易 零 落
此 生 無 處 問 劉 郎
曹唐 不 將 清 瑟 理 霓 裳
塵 夢 那 知 鶴 夢 長
洞 里 有 天 春 寂 寂
人 間 無 路 月 茫 茫
玉 沙 瑤 草 沿 溪 碧
流 水桃 花 滿 澗 香
曉 露 風 燈 易 零 落
此 生 無 處 問 劉 郎
4. ĐỘNG TRUNG HỮU HOÀI
Bất tương thanh sắt lý Nghê thường,
Trần mộng na tri hạc mộng trường.
Động lý hữu thiên xuân tịch tịch,
Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang.
Ngọc sa dao thảo duyên khê bích,
Lưu thủy đào hoa mãn giản hương.
Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc,
Thử sinh vô xứ vấn Lưu lang.
Trần mộng na tri hạc mộng trường.
Động lý hữu thiên xuân tịch tịch,
Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang.
Ngọc sa dao thảo duyên khê bích,
Lưu thủy đào hoa mãn giản hương.
Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc,
Thử sinh vô xứ vấn Lưu lang.
再 到 天 臺
再 到 天 臺 訪 玉 真
蒼 苔 白 石 已 成 塵
笙 歌 寂 寞 閑 深 洞
雲 鶴 簫 條 絕 舊 鄰
草 樹 總 非 前 度 色
煙 霞 不 似 往 年 春
桃 花 流 水 依 然 在
不 見 當 時勸 酒 人
曹唐
蒼 苔 白 石 已 成 塵
笙 歌 寂 寞 閑 深 洞
雲 鶴 簫 條 絕 舊 鄰
草 樹 總 非 前 度 色
煙 霞 不 似 往 年 春
桃 花 流 水 依 然 在
不 見 當 時勸 酒 人
曹唐
5. TÁI ĐÁO THIÊN THAI
Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân,
Thương đài bạch thạch dĩ thành trần.
Sênh ca tịch mịch nhàn thâm động,
Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân.
Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc,
Yên hà bất tự vãng niên xuân.
Đào hoa lưu thủy y nhiên tại,
Bất kiến đang thời khuyến tửu nhân.
TÀO ĐƯỜNG
Thương đài bạch thạch dĩ thành trần.
Sênh ca tịch mịch nhàn thâm động,
Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân.
Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc,
Yên hà bất tự vãng niên xuân.
Đào hoa lưu thủy y nhiên tại,
Bất kiến đang thời khuyến tửu nhân.
TÀO ĐƯỜNG
Như vậy có một bài thơ chữ Hán của Tào Đường đã không được dịch ra quốc âm. Đó là bài Thiên Thai tống biệt (bài thứ ba)
天 臺 送 別
殷 鴰 相 送 出 天 臺
仙 景 那 能 欲 再 來
雲 液 既 歸 須 強 飲
玉 書 無 事 莫 頻 開
花 流 洞 口 應 長 在
水 到 人 間 定 不 回
惆 悵 溪 頭 從 此 別
碧 山 明 月 照 蒼 苔
仙 景 那 能 欲 再 來
雲 液 既 歸 須 強 飲
玉 書 無 事 莫 頻 開
花 流 洞 口 應 長 在
水 到 人 間 定 不 回
惆 悵 溪 頭 從 此 別
碧 山 明 月 照 蒼 苔
3. THIÊN THAI TỐNG BIỆT
Ân cần tương tống xuất Thiên Thai,
Tiễn cảnh na nàng khước tái lai.
Vân dịch ký qui tu cưỡng ẩm,
Ngọc thư vô sự mạc tần khai.
Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
Thủy đáo nhân gian định bất hồi.
Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,
Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.
TÀO ĐƯỜNG
Tiễn cảnh na nàng khước tái lai.
Vân dịch ký qui tu cưỡng ẩm,
Ngọc thư vô sự mạc tần khai.
Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
Thủy đáo nhân gian định bất hồi.
Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,
Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.
TÀO ĐƯỜNG
Bài này, trong Hồng Đức quốc âm thi tập có tới năm bài vịnh cùng đề tài (Thiên tử tống Lưu Nguyễn hoặc Lưu Nguyễn từ tiên tử) nhưng không có bài nào dịch theo bài thơ của Tào Đường. Chúng tôi chỉ xin dẫn ra một bài:
3. LƯU NGUYỄN TỪ TIÊN TỬ
Một niềm nhớ chúa một âu nhà,
Cửa động dùng dằng ngại bước ra.
Hương tứ phiêu khi gió thổi,
Cố viên lạc thuở trăng tà.
Nom cao mây phủ dư ngàn dặm,
Sông thẳm sầu đeo mấy phút hoa.
Dầu nhẫn bắc nam đường có cách,
Bao nhiêu cảnh cũ mựa quên mà.
KHUYẾT DANH
Cửa động dùng dằng ngại bước ra.
Hương tứ phiêu khi gió thổi,
Cố viên lạc thuở trăng tà.
Nom cao mây phủ dư ngàn dặm,
Sông thẳm sầu đeo mấy phút hoa.
Dầu nhẫn bắc nam đường có cách,
Bao nhiêu cảnh cũ mựa quên mà.
KHUYẾT DANH
Đọc bài thơ Nôm sáng tác này và bốn bài thơ dịch ra quốc âm ở trên chúng ta nhận thấy có nhiều chữ cổ và thể thơ còn có chỗ viết theo thể lục ngôn.
Về chữ cổ thì như: tiển (ưa thích), làng doành (làng xóm), mựa (chớ).
Về các câu đặt theo thể lục ngôn thì có:
Dải non cao, chăng khối nguyệt,
Doành sông thắm, một dường xuân.
(LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ)
Doành sông thắm, một dường xuân.
(LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ)
Hương tứ phiêu, khi gió thổi,
Cổ viên lạc, thuở trăng tà.
(LƯU NGUYỄN TỪ TIÊN TỬ)
Cổ viên lạc, thuở trăng tà.
(LƯU NGUYỄN TỪ TIÊN TỬ)
Ca khúc rền rền cách núi,
Làng doành văn vẳng khóa mây.
(LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO, BẤT KIẾN TIÊN TỬ)
Làng doành văn vẳng khóa mây.
(LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO, BẤT KIẾN TIÊN TỬ)
Thể lục ngôn này chúng ta thường thấy có trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi:
Khách đến vườn còn hoa lác,
Thơ nén cửa thấy nguyệt vào
(BÀI XIII)
Thơ nén cửa thấy nguyệt vào
(BÀI XIII)
Mắt hòa xanh, đầu dễ bạc,
Lưng khôn uốn, lộc nên từ
(BÀI XVI)
Lưng khôn uốn, lộc nên từ
(BÀI XVI)
Quét trúc bước qua lòng suối,
Thưởng mai về đạp bóng trăng.
(BÀI XIX)
Thưởng mai về đạp bóng trăng.
(BÀI XIX)
hoặc trong Bạch Vân âm quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Am Bạch Vân, rồi nhàn hứng,
Dặm hồng trần vắng ngại chen.
(BÀI XIII)
Dặm hồng trần vắng ngại chen.
(BÀI XIII)
Giàu có phận là ơn chúa
Được làm người bởi đức cha
(BÀI XVI)
Được làm người bởi đức cha
(BÀI XVI)
Đêm đợi trăng cài bóng trúc,
Ngày chờ gió thổi tin hoa.
(BÀI XIX)
Ngày chờ gió thổi tin hoa.
(BÀI XIX)
Theo nhận xét trên thì mấy bài dịch quốc âm chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường có thể được coi là xưa nhất, từ thời Lê vào thế kỷ thứ XV, xưa hơn cả bài dịch Tàn xuân lữ xá của Thôi Đồ đã được viết đúng theo thể thất ngôn bát cú và không có chữ cổ nào.
Sở dĩ bốn bài thơ Nôm dịch chùm thơ Thiên Thai (thiếu bài số 3) không đủ nên các cụ ta xưa khi nghe hát ả đào thường cho hát đủ cả năm bài thơ chữ Hán của Tào Đường và ở dưới mỗi bài thơ lại có mấy câu thổng tóm tắt đại ý bài thơ bằng quốc âm theo thể lục bát như sau:
I
Cổ cây chẳng chút bụi trần,
Lối vào không biết rằng gần hay xa.
Xinh thay hỡi thú yên hà,
Nguồn Đào ướm hỏi ai là chủ nhân.
Cổ cây chẳng chút bụi trần,
Lối vào không biết rằng gần hay xa.
Xinh thay hỡi thú yên hà,
Nguồn Đào ướm hỏi ai là chủ nhân.
II
Mây che khói tỏa khắp đường,
Lối vào xa thẳm mơ màng bâng khuâng.
Phách khe đàn suối vang lừng,
Ước gì được kẻ tỏ chừng cho hay.
Mây che khói tỏa khắp đường,
Lối vào xa thẳm mơ màng bâng khuâng.
Phách khe đàn suối vang lừng,
Ước gì được kẻ tỏ chừng cho hay.
III
Ngậm ngùi ra cửa Thiên Thai,
Tưởng chừng nước chảy hoa trôi lạnh lùng.
Tiễn đưa luống ngẩn ngơ lòng,
Đầu non xanh ngắt nguyệt lồng rêu in.
Ngậm ngùi ra cửa Thiên Thai,
Tưởng chừng nước chảy hoa trôi lạnh lùng.
Tiễn đưa luống ngẩn ngơ lòng,
Đầu non xanh ngắt nguyệt lồng rêu in.
IV
Hoa trôi man mác suối vàng,
Hỡi ai nhớ khúc Nghê thường ngày xưa.
Trăng kề cửa động trơ trơ,
Xuân về luống những ngẩn ngơ vì chàng.
Hoa trôi man mác suối vàng,
Hỡi ai nhớ khúc Nghê thường ngày xưa.
Trăng kề cửa động trơ trơ,
Xuân về luống những ngẩn ngơ vì chàng.
V
Cỏ cây xem bẵng tần ngần,
Yên hà năm trước mươi phần kém xa.
Vẫn còn lưu thủy đào hoa,
Mà người mời rượu biết là tìm đâu.
(KHUYẾT DANH)
Cỏ cây xem bẵng tần ngần,
Yên hà năm trước mươi phần kém xa.
Vẫn còn lưu thủy đào hoa,
Mà người mời rượu biết là tìm đâu.
(KHUYẾT DANH)
Các câu thổng ấy rất hay nên các bài Thiên Thai dịch hay sáng tác trong Hồng Đức quốc âm thi tập đã không được các cụ ưa thích ca trù đem ra để các đào nương hát hoặc ngâm - như bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị dịch Nôm hay bài Thu hứng (bài thứ nhất) của Đỗ Phủ dịch Nôm - và do đó đã không được phổ biến rộng rãi mà cũng không ai để ý đó là những bài thơ Nôm dịch Đường thi đầu tiên trong văn học Việt Nam.
CHÚ THÍCH(1) Nay có thuyết cho là của Phan Huy Thực
(2) Thu hứng gồm 8 bài: Ngô Thế Vinh dịch bài thứ nhất, Nguyễn Công Trứ dịch bài thứ tư.
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm














Leave a comment: