• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Điểm sách

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Điểm sách

    Điểm sách




    Tôi vẫn chưa bỏ được thói quen khi gặp sách hay và hợp với ý mình sẽ mua hai bản ,một để đọc ,và một để tặng người nào đó hoặc để phòng hờ khi có ai đó quên trả sách .Nhưng không phải lúc nào cũng được vậy .Một quyển sách ở V.N. số lượng in chỉ khoảng 1000 bản ,có khi mình biết trễ , có khi hình thức và nội dung sách không phù hợp nhau ,có khi sự quảng cáo cao hơn giá trị thực Tôi lại có tật chỉ chọn sách của những tác giả mình yêu thích vì tư tưởng và văn phong của họ mà không quan tâm xưa hoặc nay , Âu , Á hoặc ,Mỹ , Phi Thế thì sao đây ? Hãy dạo qua nội dung và đôi chút về tác giả trước khi đem sách về nhà . Với suy nghĩ này ,tôi mong được giới thiệu với các bạn mục "Điểm sách " (tôi mượn bên trang eVan và nơi khác...) để đem lại chút lợi ích cho người thích đọc sách vào một phút nào đó.

    Rất mong sự tham gia của các bạn
    Thanks !
    G.
    Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 08-11-2010, 11:48 PM.
    Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......
    Similar Threads
  • #46

    Constant Virgil Gheorghiu

    Tình Trên Non Cao
    Constant Virgil Gheorghiu







    Tình Trên Non Cao được giới thiệu trên trang vinabook.com.

    Trong phần giới thiệu không có tên dịch giả như các cuốn sách khác. Điều này dễ hiểu nếu như bạn đọc biết rằng tác giả C.V Gheorghiu là một linh mục, một nhà thần học và cũng là một tiểu thuyết gia lừng danh trên thế giới bởi những tác phẩm lẫy lừng như Giờ Thứ 25, Lối Thóat Cuối Cùng, Đức Mẹ Chỉ Bảo Đường Lành. Hầu hết tác phẩm của ông đều thương cảm những thân phận bị xô đẩy, oan ức bởi những thể chế chính trị độc đoán, bạo tàn hay lạnh lùng tàn nhẫn.

    Bởi lẽ thế tác phẩm của ông trước kia chỉ có được dịch sang Việt Ngữ tại miền Nam Việt Nam Cộng Hòa. Mãi những năm gần đây một số sách của ông được tái bản đó là cuốn Lối Thóat Cuối Cùng được đổi tên thành Cơ May Thứ Hai do NXB CAND và cuốn Tình Trên Non Cao này. Cuốn Tình Trên Non Cao sở dĩ không đề tên dịch giả vì người ta không muốn nhắc đến tên một dịch giả của chế độ miền Nam Việt Nam.

    Tác phẩm của CV Gheorghiu tuy được biết đến nhiều trên văn đàn thế giới là vậy, nhưng tại Việt Nam ít người biết đến vì không được nhắc nhiều, do trong tiểu thuyết của ông phê phán nhiều thể chế chính trị không từ thể chế nào. Bởi thế Tình Trên Non Cao chỉ đứng 4273 cuốn sách bán chạy ở Việt Nam và chưa có nhận xét nào. Cho dù tư tưởng đấu tranh với cái ác, tính nhân bản và lòng vị tha đầy ắp trong tiểu thuyết của ông đáng phải để người đời trăn trở và suy ngẫm.


    Trở lại sơ lược nội dung cuốn tiểu thuyết Tình Trên Non Cao.

    Một thanh niên sống tại một xứ độc tài ở Nam Mỹ.Ngày nọ anh phát hiện vợ mình ngủ với tướng quân. Anh vác súng rình bắn tên tướng đã ép buộc vợ mình phải quan hệ với hắn, nhưng không may anh lại bắn chết người vợ yêu quý của mình. Còn tên tướng chạy thoát.

    Anh muốn trả thù cho người vợ, bằng cách ra cảnh sát đầu thú, kể mọi sự việc. Anh mong có phiên tòa xét xử anh.Để tên tướng gian ác kia cũng phải đứng ra vành móng ngựa vì tội tư tình với vợ người khác. Tất cả bằng chứng rõ ràng, chỉ đợi có phiên tòa. Cảnh sát thụ lý, tra hỏi, ghi chép và bảo anh về nhà đợi phiên tòa.

    Nhưng mãi chả có phiên tòa nào cả,anh được tự do tại ngoại để chờ phiên tòa. Anh sống để vận động các cơ quan hành pháp sớm xét xử anh về tội giết người, anh tha thiết, mong mỏi và cầu xin.
    Cuối cùng anh chẳng có phiên tòa nào,anh cũng không sống yên ổn vì anh là kẻ giết người đang đợi xử. Cứ dằng co như vậy, anh mòn mỏi điên cuồng, quẫn trí sống cuộc đời vất vưởng rồi bị đấy vào cảnh không còn có những quyền là con người nữa.

    Mong các bạn có dịp tìm đọc những tác phẩm của C V Gheorghiu.

    nguoibuongio.com
    .................................................. ...........................................


    Constant Virgil Gheorghiu sinh ngày 15-09-1916 tại Rumani, Constant Virgil Gheorghiu nghiên cứu triết học và thần học ở Bucarest và Heidelberg trước khi trở thành ký giả, rồi khâm sứ tại Bộ Ngoại giao Lỗ. Chống đối chế độ cộng sản, ông sang Pháp ở năm 1948. Cuốn tiểu thuyết đã làm thế giới tự do biết đến danh ông là "Giờ Thứ Hai Mươi Lăm"; ông lại càng nổi danh hơn nhờ một cuốn khác viết về cuộc tái chiếm đóng xứ Bessarabie. Ông sang Mỹ sống một thời gian, sau đó trở lại Pháp. Ông đã dùng ngòi bút để chống đối mãnh liệt cái thời đại phi nhân của chúng ta hiện nay trong hầu hết các tác phẩm của ông... Ngày 23-05-1963 V.Gheorghiu được tấn phong linh mục Giáo hội chính thống.

    .................................................. ..............

    ( quái thật ,thế mà đây lại là tác giả số một tôi yêu thích.Trước 1975 tôi gần như đã đọc hầu hết truyện được dịch sang tiếng Việt của Ông .Đó là Giờ thứ 25 , Độc hành , Kiếp đoạ đày , Chiếc roi ngựa , Lối thoát cuối cùng ,và còn vài truyện nữa Mất hết cả ! Đến khi nhìn thấy Tình trên non cao ở Fahasa ,hình như tôi đã khóc ! ,,,) G.

    L'homme qui voyagea seul có hai bản dịch là Độc hành và Người lữ hành cô đơn . Trên trang đầu tiên của quyển Độc hành có bốn câu thơ của Nguyễn Bính

    Có lần tôi thấy một người đi
    Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
    Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
    Một mình làm cả cuộc phân ly......
    Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 29-06-2009, 07:34 PM.
    Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

    Comment

    • #47

      Không và sắc

      Thái Nam Thắng



      Mới nghe cái tên Không và Sắc, thoạt đầu chúng ta có cảm giác đây là một tiểu thuyết huyền ảo, đầy hư - thực và sẽ khó đọc. Tuy nhiên, sự thật không phải như thế, bởi Không và Sắc là một tiểu thuyết có nét duyên rất riêng và khá hấp dẫn.

      Sức lôi cuốn của nó chính là những cảm xúc tự nhiên, chân thật rất con người, rất đời, pha lẫn với màu sắc huyền thoại về những con người đang nỗ lực đem ánh sáng hòa vào cát bụi, làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn, nhiều ý nghĩa hơn.

      Bên cạnh đó, chúng ta có thể tiếp xúc với những giáo lý uyên áo mang đầy giá trị thực nghiệm của triết lý nhân sinh Phật giáo bằng ngôn ngữ văn học...
      Vốn sống phong phú, nhận thức, tư duy Phật học khá cơ bản, cộng với bản lĩnh của một tâm hồn văn chương nhạy cảm với một niềm tin tha thiết vào con người, tác giả đã đi từ cái khó nắm bắt trở về với những điều gần gũi, thân quen.

      Để tránh khỏi lối viết theo kiểu hòa âm một cách đơn điệu về Phật giáo, tác giả xây dựng thành công rất nhiều nhân vật: một Trưởng lão Chân Tâm hành động kì quặc, nói năng vu vơ một cách rất diệu kỳ; một Thượng tọa Thiện Luật có vẻ lạnh lùng nhưng mau nước mắt; một Sa di Thiện Tuệ nỗ lực tu hành đến mức hóa điên; một Thiện Tài mong được xuất gia cống hiến cả cuộc đời mình cho Phật pháp nhưng vẫn không vượt ra ngoài những khát khao nhục cảm mãnh liệt; một Tiểu Vân Tử không rõ là nam hay nữ...

      Khéo nắm bắt được mối quan hệ giữa ý thức và bản năng, tác phẩm xuất hiện nhiều trang viết trữ tình, lung linh huyền ảo. Chúng ta nhiều lần xúc động trước vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết từ hòa của những bậc thầy khả kính. Chúng ta thông cảm và đồng cảm với những cảm xúc rất bản năng, những dằn vặt khổ đau của kiếp con người mà không rơi vào cách nhìn dung tục hóa tới mức tầm thường các giá trị khác trong cuộc sống.
      Lợi thế của Không & Sắc chính là không thể nói hết, không thể giải quyết hết mọi vấn đề. Vì thế, có những điều nửa muốn thổ lộ, nửa muốn giữ riêng cho mình, có nhiều điều nói chưa hết, chưa thỏa. Điều này tạo ra sức gợi và sự liên tưởng, không buộc người ta tin nhưng cần người ta hiểu.

      Cũng vì thế, tác phẩm thể hiện sự đan cài những yếu tố tâm lý muốn vươn lên, thoát ra nhưng cũng không ngần ngại khi bị buộc ràng. Như vậy, Không & Sắc cũng bộc lộ rất rõ đâu là nhận thức, kinh nghiệm và sự từng trải, đâu là niềm tin và sự hoài nghi.
      Có thể nói, còn nhiều điều chúng ta chưa biết nên không thể vội vã kết luận bằng những tiêu chuẩn đã được định hình, định tính. Vạn pháp do duyên sinh nên pháp thiện, pháp ác cũng sinh không thật sinh, diệt không tận diệt. Vì vậy, hãy tiếp xúc với cuộc đời theo cách riêng và bản lĩnh của chính mình.

      Với sự giao hòa vô bờ của Không & Sắc, có lẽ cả những lý thuyết đa trị và bất trị đều trở nên lạc điệu. Ta không nên mất sức vào công việc cố tình xóa đi những cái mà bản thân nó vốn không có hình tướng nào cụ thể, bất biến.
      Ai đó có thể bằng lòng hoặc không bằng lòng với cách giải quyết vấn đề của tác giả, nhưng quả thật, sự minh chứng về một hệ thống giáo lý đa phương tiện đã làm cho cách giải quyết vấn đế có nhiều hợp lý. Nếu đứng ở một góc nhìn nào đó để đánh giá, tất nhiên, chuyện bàn cãi là không thể tránh khỏi.

      Quá khứ không truy tìm
      Tương lai không ước vọng
      Quá khứ đã đoạn tận,
      Tương lai lại chưa đến.
      Chi có pháp hiện tại
      Tuệ quán chính ở đây
      Không động, không rung chuyển,
      Biết vậy, nên tu tập.
      Hôm nay nhiệt tâm làm.
      Ai biết chết ngày mai
      Không ai điều đình được.
      Với đại quân thẩn chết.
      Trú như vậy nhiệt tâm,
      Đêm ngày không mệt mỏi.
      Xứng gọi nhất dạ hiền,
      Bậc an tịnh, trầm lặng.
      Kinh Nhất Dạ Hiền Giá
      Người ta vẫn có thể thẩm định giá trị đích thực của kinh điển mà tác giả đã minh họa. Tuy nhiên, trong một tiểu thuyết, tính đúng đắn của những khái niệm đã vượt ra ngoài sự định danh. Bằng những dụng ý riêng, tác giả có thể trích dẫn những câu trong kinh cho phù hợp với ý đồ nghệ thuật của mình. Vì thế, chúng ta cũng không nên hiểu đó chính là toàn bộ tư tưởng của Phật giáo.

      Tác phẩm có lúc cho chúng ta chứng kiến những cuộc bàn cãi nẩy lửa chỉ vì ai cũng cho tông phái của mình là đúng. Cái đúng ghét cái sai, thói thường xưa nay vẫn thế, nhưng cái đẹp lại vốn ghét chính bản thân nó thì sự thật lại trớ trêu.

      Ở đâu đó, đằng sau suy nghĩ hành động của một số nhân vật, ta có thể hình dung ra sự xuất hiện của một thế lực đang trở nên cuồng tín với tất cả các giác quan đang quằn quại, rỉ máu. Nhưng ta cũng trở nên yêu thương hơn và không có lý do gì để xa lánh những con người ấy. Bởi khi Trưởng lão Chân Tâm đặt vấn đề tiếng “hét” của ngài Lâm Tế và “con chó” của Thiền sư Triệu Châu thì ít nhiều những áp đặt tư tưởng đều sa vào giáo điều và cực đoan một cách vô lối.

      Tiếng vọng khổ đau từ ngọn đời của kiếp nhân sinh vẫn là nỗi lo lắng khắc khoải khôn nguôi trong lòng người về thiện – ác. Niềm tin trở nên mong manh trước vô vàn những xao động của cuộc đời. Những mâu thuẫn giằng xé lại chính là biểu hiện đẹp của tính chất “thấu tình” trong tâm địa chúng sinh.

      Và vì thế, các giác quan vừa có tội, vừa vô tội bởi nó mang trong mình cả hai chiều tác động của tịnh uế, thiện ác, trí ngu... Thật khó để phân biệt, lúc cần phân biệt vẫn phải phân biệt nhưng cũng không gì ngớ ngẩn hơn là sự phân biệt. Mỗi người đến thế gian bằng một cách và ra đi bằng một cách.

      Đến và đi, cái thấy muôn đời vẫn không gì hơn sự ngây thơ đáng thương hại của nhục nhãn. Đừng lấy tâm địa của chúng sinh để đo lường Phật trí... Tác giả đã cho nhân vật của mình đặt ra rất nhiều câu hỏi.
      Tuy nhiên, vấn đề không phải ở câu trả lời mà là ở cách chúng ta nghĩ và đối xử thế nào về những điều xảy ra trong thực tại. Đức Phật bị ngoại đạo nguyền rủa đó có phải là nghiệp không? Đề Bà Đạt Đa đang ngồi trên chậu lửa mà thấy nó là hoa sen có phải là nghiệp không? Quả thật, sự phân biệt của con người đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính con người.

      Đọc kỹ Không & Sắc, chúng ta thấy tác phẩm đôi lúc còn dừng lại ở tư duy khái niệm, nặng về minh họa, và không khỏi có những tham vọng muốn bao quát hết tư tưởng Phật giáo.

      Chính vì giới hạn này, mà nhiều vấn đề đặt ra còn nông, vẫn còn ở một vài câu nói mang tính chất "an ủi", khiến cho tác phẩm có phần loãng. Nếu như sự chuyển đổi từ một ngôi chùa của Thiền tông sang Tịnh độ tông còn khá bình yên, quen thuộc thì sự chuyển đổi từ một ngôi chùa Tịnh độ sang ngôi chùa Mật tông lại sóng gió và đầy xa lạ.

      Cái lạ thường hấp dẫn trí tò mò của con người nhưng không vì thế mà làm cho cái lạ trở thành phản cảm. Xung đột tông phái xảy ra trong con người Thượng tọa Thiện Luật không hẳn là xung đột mang tính chất thuôn tôn giáo mà nó còn là xung đột văn hóa.

      Việc đẩy xung đột này trở thành cao trào và kết cuộc bi thảm là Thượng tọa Thiện Luật đã hành động như một kẻ điên cuồng, khát máu, chém chết hai vị sư Mật tông và tự đốt chết mình, đó là điều quá sức tưởng tượng của người đọc.

      “Tựa như nước của bể cá,
      chí thấm nhuần một hương vị, hương vị mặn.
      Đạo lý của ta cũng chỉ thấm nhuần một hương vị, hương vị của sự giải thoát”

      Lời dạy của Thế Tôn
      Mọi chuyện trên đời đều có thể xảy ra, tuy nhiên, với mâu thuẫn không phải mang tính cá nhân như vậy thì câu chuyện đã bị thổi phồng quá chăng? Khả năng về sự “biến thái tâm lý” ấy chính là do thượng tọa khi xưa là một thái giám. Vì để mèo ăn một con chim quý của Ninh Vương nên phải bỏ trốn và luôn sợ bị phát hiện. Cách lý giải như vậy có nhiều khiên cưỡng. Điều này, có khả năng xuất phát từ ấn tượng không tốt về một hạng người nào đó. Cho nên, hình tượng nhân vật có thể đã bị bóp méo bằng chủ quan tính, làm cho câu chuyện thiếu thuyết phục.

      Tuy nhiên, chính sự nhận thức về giáo lý Phật giáo của tác giả đã phần nào bổ sung vào khiếm khuyết ấy làm cho ngòi bút không thể vượt ra ngoài quỹ đạo của sự bao dung cần phải có.
      Sự việc đã xảy ra không phải để chúng ta chán nản, bi quan, ghét người, giận đời, mà chính từ đó, hình tượng cái đẹp được tôn vinh thêm bằng một kinh nghiệm mới hơn về cách nhìn nhận cái đẹp.

      Các giá trị đang có của thực tại càng được nhận thức và trân trọng một cách nghiêm túc. Có thể có những cái xấu sẽ ngày một đẹp và cái đẹp sẽ không còn đẹp nữa. Nhưng dẫu sao, với Không & Sắc, mọi cách nhìn chưa chín kỹ về thiện-ác, khen-chê của con người đều có nguy cơ bị cuốn vào vòng xoáy của cơn lốc ghét-yêu. Nếu không thận trọng thì niềm tin vào con người sẽ ngày một có nguy cơ bị hủy báng.
      Ngôn ngữ của Không & Sắc phần nào thuyết lý và khá tỉnh táo. Chính vì vậy, nhiều lúc chúng ta thấy nó sa vào ngôn ngữ bài giảng và có độ chênh nhất định khi một số vấn đề không được đặt đúng không gian văn hóa mà tác phẩm đề cập.

      Tuy nhiên, ấn tượng hiện đại mà tác phẩm đem lại chính là mạnh dạn đề cập đến vấn đề khá nhạy cảm của tôn giáo. Đó là vấn đề dục vọng và những biểu hiện của chúng trong hàng ngũ Tăng sĩ trẻ.
      Từ cơ sở này, tác phẩm đã đặt ra vấn đề vai trò của những vị thầy tâm linh trong việc đào tạo con người. Hãy trang bị cho họ bản lãnh trí tuệ, nội lực tâm linh để họ tự hóa giải khổ đau. Cần hiểu biết về dục vọng bằng chính năng lực chuyển hóa chứ không phải bằng sự cấm đoán. Do đó, kinh nghiệm chuyển hóa của các vị thầy chính là đánh thức khả năng tự thanh lọc nơi đệ tử, và nó phải trở thành thực tại sống động cho một minh chứng về sự điều phục và chiến thắng.

      Thành công của tác giả chính là ở chỗ mở đầu bằng tư tưởng Bát Nhã và kết thúc cũng bằng tư tưởng Bát Nhã, cho nên những điều khẳng định hoặc phủ định trong cốt truyện vẫn có sức mạnh thay nghĩa, biến nghĩa. Vì thế, độc giả, ở nhiều trình độ khác nhau đều có thể tìm ra cho mình một ý nghĩa riêng nào đó...

      “...Đừng xét những soi lầm của người khác, mà hãy sửa đổi những sai lầm của chính mình. Đừng xét những khuyết điểm của người khác, hãy xét những khuyết điểm của chính mình. Điều xấu nhất là có thành kiến tôn giáo và phê phán người khác trong khi không biết rõ tâm trí của họ. Vậy hãy bỏ thành kiến như bỏ thuốc độc”.

      [url="http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Sach-Hay/Khong_va_sac/"][SIZE=2][COLOR=black]Welcome...


      Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

      Comment

      • #48



        Ps,I Love You : Sức mạnh tình yêu.

        Có người phải mất cả cuộc đời để đi tìm một nửa còn lại của mình, ở một nơi nào đó rất gần mà cũng có thể rất xa. Có những người yêu nhau phải trải qua trăm ngàn khó khăn, thử thách mới đến được với nhau. Nhưng, tất cả những điều đó đều không đúng với Holly và Gerry.
        Họ làm bạn với nhau từ thuở thiếu thời và yêu nhau tự lúc nào không biết. Họ hiểu nhau hơn bất cứ người nào, gắn bó với nhau như thể không một sức mạnh nào có thể chia lìa được.

        Cho đến một ngày, chuyện không ngờ nhất đã xảy ra. Gerry ra đi mãi mãi. Hollly suy sụp, rơi vào tận cùng đau khổ. Nhưng rồi, vào đúng sinh nhật lần thứ 30 của mình, nàng đã nhận được những phong thư của chàng. Chàng nhẹ nhàng dẫn dắt nàng bước vào cuộc sống mới. Và mỗi lá thư ấy đều được chàng âu yếm kết thúc bằng dòng chữ: "Tái bút: Anh yêu em".

        Mỗi ngày trôi qua, mỗi lá thư được mở ra, Holly lại tìm thấy ở đó nguồn động viên, cổ vũ, và những thử thách. Người đàn ông mà Holly yêu thương nhất đã giúp cô nhận ra rằng, cuộc sống của cô vẫn đang tiếp tục, dù anh không còn kề cận bên cô. Holly bỗng khám phá ra chính mình, với một sức mạnh lạ kỳ, đã trở nên can đảm hơn bao giờ hết.
        Sống là cống hiến và tận hưởng hạnh phúc mà mình đáng được hưởng. Holly cần nhận ra điều tuyệt vời đó, và cô còn biết được rằng, sẽ còn tốt đẹp hơn khi có một thiên thần luôn che chở và dẫn lối cho cô trong cuộc sống - thiên thần đó chính là Gerry.

        "Holly áp chiếc áo len vào lòng. Những hồi ức lại ùa về theo mùi hương quen thuộc. Một nỗi buồn vô hạn, một nỗi đau sâu thẳm khiến tim cô nặng trĩu. Cô hoảng sợ. Ngôi nhà yên ắng quá! Trong nhà, chỉ còn tiếng kêu o­ng o­ng phát ra từ chiếc tủ lạnh và tiếng tích tắc kim đồng hồ chậm rãi gõ nhịp thời gian.
        Gerry đã ra đi và mãi mãi không bao giờ trở lại. Điều đó là sự thật. Cô sẽ không còn được luồn tay vào mái tóc mềm mại của anh, không còn được cùng anh nói cười hạnh phúc trong những buổi tối ấm cúng, không còn được anh vỗ về sau một ngày làm việc vất vả, không còn được cận kề bên anh mỗi đêm dài, không còn được nghe tiếng anh hắt hơi làm cô tỉnh giấc mỗi sớm mai, không còn phải nạnh nhau chuyện tắt điện trước khi lên giường..... Tất cả chỉ còn là hoài niệm.

        Họ từng có một ước muốn rất đơn giản: được ở bên nhau cho đến hết cuộc đời này. Bất cứ ai quen biết Holly và Gerry đều ủng hộ cho mối tình của họ, bởi anh và cô là hai người bạn thân thiết, là cặp tình nhân đẹp đôi và là đôi tri kỷ đã được định mệnh gắn kết. Nhưng mấy ai ngờ được rằng định mệnh đôi lúc lại quá khắc khe và không chiều theo lòng người.
        Sau vài ngày bị đau nửa đầu, và mắt bắt đầu mời dần, Gerry đồng ý gặp bác sĩ vì sự thúc giục của Holly. Cả hai đều nghĩ chứng đau đầu này là do căng thẳng hay mệt mỏi gây nên mà thôi. Nhưng không. Chuyện không đơn giản như thế. Một khối u đang lớn dần trong não Gerry.

        Holly với tay gạt cần nước bồn vệ sinh, cô run lên vì cái lạnh toát ra từ sàn nhà và cố đứng vững để khỏi bị ngã. Gerry đã ra đi ở độ tuổi 30. Khi căn bệnh bước vào giai đoạn trầm trọng nhất, anh can đảm đùa rằng, lẽ ra anh không nên sống một cuộc sống quá lành mạnh như thế, ít nhất thì cũng phải tận hưởng thêm vài thú vui "phàm tục" của cuộc đời này.... Dù anh cười lớn khi nói điều đó, cô vẫn có thể nhìn thấy sự hối tiếc trong mắt anh. Anh hối tiếc về những điều mà trước đây đã không bao giờ anh nghĩ là sẽ dành thời gian để làm, hối tiếc là đã chưa đến được hết những nơi anh muốn đến, và buồn vì không còn được buồn vui với những trải nghiệm đang còn ở phía trước của cuộc đời......"

        Một tác phẩm của nữ con gái thủ tướng Ailen viết khi cô 21 tuổi và hiện nay được dịch ra nhiều thứ tiếng.Sách xuất bản vào năm 2004. Ngay khi vừa phát hành, cuốn sách đã giữ kỷ lục bán chạy nhất trong 19 tuần liền ở Ireland, 52 tuần ở Đức và sau đó là ở Anh, Mỹ, Hà Lan.

        .Cô đã cho độc giả thấy được tình yêu vẫn tồn tại kể cả khi chúng ta mất đi và có lẽ hơi cổ tích rằng tình yêu là vĩnh hằng.Với giọng văn trẻ cô đã cho bạn đọc một cảm nhận mới về tình yêu thay vì những tình yêu thác loạn và vụ lợi trong xã hội hiện nay.Tác phẩm cũng được mua bản quyền và dựng thành phim với sự trờ lại của Hilary Swank.Cùng đọc để cảm nhận một tình yêu cổ tích nhé.



        .taoxanh.net


        Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 09-11-2010, 12:10 AM.
        Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

        Comment

        • #49




          Mùi Hương
          Nguyên tác: Das Perfum
          Patrick Süskind
          Dịch giả: Lê Chu Cầu


          Một câu chuyện kỳ lạ và mê hoặc, nơi Patrick Suskind đã tạo riêng cho văn chương của mình một sức hút ma quái, trộn lẫn giữa cảm giác ghê tởm và thành kính, mê đắm và run sợ.

          Nếu tác phẩm của John Banville là lời minh chứng xác đáng nhất cho nhận định văn học là nghệ thuật ngôn từ, thì với Mùi hương, Patrick Suskind đã thuyết phục người đọc rằng văn học còn là nghệ thuật của hương thơm nữa.

          Nhân vật chính của Mùi hương là Jean-Baptiste Grenouille - một thiên tài đồi bại có đầy đủ các tố chất kiêu ngạo, coi rẻ con người, vô đạo đức, và sở dĩ tên tuổi của hắn không còn lưu lại chỉ bởi "thiên tài và khát vọng duy nhất của gã giới hạn trong một lĩnh vực không để lại dấu vết nào trong lịch sử: đó là vương quốc phù du của hương thơm". Sinh ra trong một ngày nồng nực giữa Paris - thành phố hôi thối nhất nước Pháp, tiếng khóc khai sinh của thằng nhỏ Grenouille bị nghẹn tắc bởi đống lòng ruột lẫn máu cá nhầy nhụa nhưng vẫn đủ sức khiến mẹ nó phải chịu án treo cổ vì đã cố ý bỏ mặc nó chết ngạt trong đám hôi tanh ấy như đã làm với bốn đứa con trước của thị.

          Không có được, và cũng chẳng cần đến tình yêu thương của con người, thằng nhỏ Grenouille nhục nhằn lầm lũi lớn lên, đói khát không làm nó chết, bệnh tật khiến nó càng dẻo dai, và công việc nặng nhọc là thứ duy nhất khiến loài người chấp nhận chung sống với nó, cái thằng nhỏ kỳ dị không mùi mang theo mầm họa. Ngoài cái chân cà nhắc, cái mặt chi chít sẹo và đống quần áo rách nát mắc tạm trên hình dạng hơi gù, vật duy nhất có giá trị của cái thây ma còn chuyển động ấy là cái mũi cực nhạy và một trí nhớ tuyệt vời. Mũi là khứu giác, thị giác, vị giác, cảm giác, thậm chí còn là cảm xúc của hắn. Grenouille không chỉ có thể nhận biết, ghi nhớ, phân tách rành rọt từng làn hương mảnh nhất mà còn khao khát sáng tạo ra những hương thơm độc đáo của riêng hắn. Và khao khát ấy đã đưa Grenouille vào một cuộc săn đuổi man rợ chưa từng có: săn đuổi hương thơm của hai mươi lăm trinh nữ...

          Nếu như sức hấp dẫn của một cuốn tiểu thuyết trước hết đến từ câu chuyện được kể thì Mùi hương là một cuốn tiểu thuyết có sức lôi cuốn mãnh liệt. Chẳng màng tới những lời tụng ca của The New York Times, Time, Le Figaro, Daily Telegraph..., hay thái độ bất ngờ đến kinh ngạc của các nhà phê bình khắp châu Âu, chỉ cần chính bạn, Mùi hương và hãy để Patrick Suskind mê hoặc bằng câu chuyện kể của riêng mình. Tác phẩm này là một hỗn hợp hoàn hảo được tạo nên từ sự ly kỳ của một cuộc đời tài hoa, quái dị, sự rùng rợn của hàng loạt vụ án mạng bí ẩn, cái ồn ào điên loạn của giống người mê đắm nhục cảm và vẻ thanh khiết hoang dại của con thú cô độc Grenouille.

          Ngay cả phức cảm mà Patrick Suskind mang lại cho người đọc cũng là một hỗn hợp hài hoà đến kỳ lạ, được tinh cất và trộn lẫn giữa những cung bậc cảm xúc đối lập. Cùng là một nhân vật Grenouille với hành động săn đuổi cô gái tóc đỏ thứ hai mươi lăm, ngoài tâm trạng hồi hộp thường thấy của bất cứ cuộc săn đuổi nào, người đọc bị ám ảnh bởi cảm giác vừa căm giận ghê tởm, vừa đam mê đến sùng kính hương thơm của người trinh nữ được Grenouille lưu lại mãi mãi. Với một công thức đặc biệt và thứ rượu tinh cất là văn phong lôi cuốn, biểu cảm, hài hước, đầy ắp ngôn từ chỉ mùi và hương cùng những cảm nhận kỳ lạ về thế giới mùi và hương, phù thuỷ Patrick Suskind đã đem lại cho người đọc một tác phẩm văn học độc đáo, một làn hương đậm quyến rũ giữa cõi sống nhàn nhạt này


          Copy from Kẻ Lãng Du Blog

          có thể xem ở :
          404 Not Found

          ...hoặc coi film :



          Perfume: The story of a murder - Mùi hương: Câu chuyện của kẻgiết người.
          Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 09-11-2010, 12:06 AM.
          Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

          Comment

          • #50




            Thấy Phật

            Tác giả: Cao Huy Thuần.
            Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức

            Thấy Phật là tác phẩm mới của giáo sư Cao Huy Thuần vừa được công ty Phương Nam và nhà xuất bản Tri Thức ấn hành. Những tản văn trong tập sách là những “cái thấy” của tác giả từ những kinh nghiệm học và hành Phật của ông. Giáo sư Cao Huy Thuần hiện đang sống ở Pháp, đã xuất bản nhiều tác phẩm có tiếng vang trong nước, trong đó có Nắng và hoa, Thế giới quanh ta.


            Đỗ Hồng Ngọc


            Thư gửi anh Cao Huy Thuần (nhân đọc Thấy Phật)

            Anh Cao Huy Thuần ơi,
            Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì ra là ngày Phật đản!



            BS Đỗ Hồng Ngọc

            Tôi mừng cho anh, anh Thuần à, mừng anh đã “thấy Phật”, à mà không, anh thấy pháp thân của Phật, à mà không nữa, anh thấy Như Lai. Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật, Như Lai là Như Lai. Là cánh hoa mai nở thiên thu giữa đêm trừ tịch, là cánh hoa đào “năm ngoái” vẫn còn cười với gió đông. Thật ra anh biết đó, làm gì có hoa đào năm ngoái, hoa đào thiên thu thì có, đời đời kiếp kiếp, chẳng sinh chẳng diệt thì có. Nó cứ việc nở với gió đông và ngộ thay, nó cười mỉm, cười mũi vào anh chàng thi sĩ ngờ nghệch kia cứ tưởng hoa đào năm ngoái của anh còn đó để mà than thở nhân diện đào hoa nay đã về đâu? Về đâu? Chẳng về đâu cả, bởi chẳng đến từ đâu. Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ…
            Tôi khoái cái “tiếu đông phong” của hoa đào trong thơ Thôi Hộ. Cái hoa đào đó nó cười tủm tỉm anh chàng thi sĩ chưa thấy biết như lai kia. Còn người đẹp nhân diện đào hoa nọ có mất đi đâu bao giờ, có nhạt phai bao giờ đâu, ngàn năm trước ngàn năm sau vẫn vậy, vẫn tương ánh hồng mãi đó thôi. Chỉ có chàng thi sĩ loay hoay trong cái ngã của mình, là ta, của ta, nên mới buồn rầu, than thở. Anh không phải là chàng thi sĩ đó, nhưng như anh nói, cũng chỉ là một người mù với chiếc gậy, tệ hơn, “mắt mở nhưng nào thấy” như phần đông chúng ta, trong đó có tôi. Nhưng vì anh là một phật tử trí thức, tôi không tin là anh “xớ rớ uyên thâm” như người ta vẫn nói mà anh quả đã có con đường để đi, để thấy, để “ngộ” và để “nhập”. Tôi tin anh đã thõng tay vào chợ từ lâu. Anh đã thấy hoa mai nở giữa đêm trừ tịch, anh đã lại thấy mặt trăng tròn nhất, sáng nhất giữa ngày Vu lan, và anh còn thấy được cả bầy khỉ nắm đuôi nhau mò trăng đáy nước, chẳng chịu nhìn lên một chút! Có điều khi thấy biết (tri kiến) như vậy rồi thì người ta thường ú ớ, nói không được, bất khả thuyết, nên phải dùng ẩn dụ, ngụ ngôn. Thấy Phật của anh đầy những ẩn dụ, ngụ ngôn là vậy. Nói vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vậy. Tức phi thị danh. Anh bắt chước Pháp Hoa kể chuyện trên trời dưới đất để “ẩn đi chỗ khác” mà chỉ đây là diệu pháp, kia là liên hoa, đưa đạo vào đời, cư trần lạc đạo, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Anh nhìn bất nhị, anh thấy cái chẳng khác trong cái chẳng một, nên chẳng cần dính mắc đó đây.

            “Tôi tin anh đã thõng tay vào chợ từ lâu. Anh đã thấy hoa mai nở giữa đêm trừ tịch, anh đã lại thấy mặt trăng tròn nhất, sáng nhất giữa ngày Vu lan”

            Nhưng thú vị nhất trong Thấy Phật, theo tôi, là anh đã bắt chước người xưa mà đi “chăn trăng”. Đầu tiên là anh mơ trăng, rồi nhìn trăng, thấy trăng, theo trăng, tán tỉnh đùa cợt với trăng để rồi sau cùng… trời ơi, hoá ra đằng sau trăng là nguyệt! Chả có trăng nào cả. Anh theo trăng mà gặp nguyệt! Tôi bỗng nhớ Trịnh Công Sơn. “Từ khi trăng là nguyệt, cho tôi bóng mát thật là…”. Thật là sao thì chàng không nói được, chàng ú ớ, bất khả thuyết. Cái không may của Trịnh là “từ khi em là nguyệt”, thì “trong ta có những mặt trời”!




            Tâm bình dị, dạ chân chất, nhìn đâu cũng thấy Phật… Ảnh: Tiến Đạt

            Anh Thuần, anh “chăn trăng” là để thấy nguyệt. Nhìn trăng thấy Phật. Nhìn Phật thấy Như Lai. Ấy là con đường tất yếu. Nếu không vậy thì Bồ tát Thường Bất Khinh đâu có cả đời chắp tay cung kính vái chào mọi người, rằng “Ngài sẽ là một vị Phật tương lai”. Vấn đề còn lại là mê ngộ như anh nói. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nhưng ngộ cái gì, ngộ cái đằng sau trăng là nguyệt, nguyệt Như Lai, nguyệt vĩnh hằng, thường lạc ngã tịnh. Nó vằng vặc ngàn đời, nó tự tròn đầy, nó không dao động… Anh nói “Bây giờ tóc bạc cả rồi, đọc đoạn kinh Ta ẩn đi chỗ khác mà họ không biết, tôi rung động cả người” thì tôi hiểu cái sự rung động đó của anh, đó là cái rúng động của sáu thức đã chuyển hoá thành diệu quan sát trí, khi người ta đã biết nhìn “với mắt ở trong lòng”, mắt Tuệ, mắt Không.

            Cho nên khi một nhà văn, một trí thức, chữ nghĩa như anh mà ú ớ, mà nói không được, mà rúng động, thì tôi không ngạc nhiên chút nào cả khi đọc mấy câu thơ “hò hẹn” của anh, khi khép lại cuốn sách. Khác với Trịnh Công Sơn, “những hẹn hò từ nay khép lại”, với anh, thì những hẹn hò từ nay… mở ra!

            Đâu có lạ quen gì
            Gặp nhau không hò hẹn
            Bởi nó là “cái đó”. Nó vậy đó! Cho nên tôi mừng anh chẳng những “thấy Phật” mà còn thấy cả “cái đó”, Tathagata.

            Ngày 9.5.2009

            Thân mến,





            ******************************

            Giới thiệu về nội dung

            Trách nhiệm của người trí thức ở đời, cách thức gánh vác số phận chung cũng là cái tứ bàng bạc trong nhiều bài viết của Cao Huy Thuần. Cũng vậy, ẩn hiện sau những tinh túy của triết học Phật giáo được chuyển hóa nhuần nhuyễn trong mỗi câu chuyện còn là một tình yêu với đất nước, với dân tộc VN - một dân tộc may mắn có "một văn hóa hòa bình" mang truyền thống hiền hòa của Phật giáo: làm lành, tránh ác.

            Bay trên đôi cánh của lòng tin và trí tuệ, những câu chữ cứ mở ra những nụ cười đạo vị, có nụ cười tủm tỉm, thâm trầm; có nụ cười sảng khoái, khinh an. Sự tự tại từ tác giả cứ tự nhiên mà chuyển lưu sang người đọc để càng đọc càng thấy "sáng" ra một niềm hoan hỉ.

            Nếu ví trăng như một hình ảnh của sự tỉnh thức, tác giả đã "nhìn trăng", "theo trăng" và cả đùa được với trăng bằng cái thấy của một thiện tri thức thật hiểu, thật tin vào Phật tính nơi mỗi người, biết làm cho "trống" những tạp niệm, tham dục trong tâm.

            Thấy Phật, không hề siêu hình, rốt ráo nhắc ta học chữ "không" - trước mắt là không với lợi, không với danh bởi chính sự vướng mắc, tham đắm vào đó làm ta che phủ mất bản tính vốn trong sáng như mặt trời, mặt trăng nơi mình - Phật ở trong tâm mình.

            *******************************


            Báo chí giới thiệu
            Theo Tuần Việt Nam
            Thấy Phật
            Thứ hai, 01/06/2009

            Lòng tin đức Phật pháp nhân không phải là lòng tin yếu đuối gửi vào sức mạnh siêu nhiên nào đó từ bên ngoài. Đó là lòng tin ở con người. Trong mỗi chúng ta đều có đức Phật pháp nhân, chỉ vì ta không nhìn, không thấy, không biết, nên mới tưởng là không có mà thôi.


            Vượt lên khả năng hiểu biết hạn hẹp của tri thức suông, Bắc tạng dạy cho chúng ta rằng đức Phật vẫn còn đấy chứ chẳng đi đâu mất cả. Ngài ở cùng khắp, Ngài ở chung quanh chúng ta, ai cũng có thể thấy Ngài nếu tâm sáng, và tùy tâm sáng đến đâu thì thấy Phật rõ đến đấy. Niệm Phật là làm cho tâm sáng và tâm sáng thì Phật hiện, bởi vì Phật ở cùng khắp thì tất nhiên Phật cũng ở trong tâm ta. Đức Phật đó, Bắc tạng gọi là Phật pháp nhân. Kinh Kim Cương nói:


            Người nào dung sắc thấy ta
            Dùng âm thanh cầu ta
            Người ấy hành tà đạo
            Không thấy được Như Lai.


            Phật pháp nhân không hình không tướng nên không sinh không diệt. Đức Phật đó không rời chúng ta, ta nghĩ đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài hàng ngày để tăng trưởng lòng tin đã có sẵn nơi ta. Ai đi sâu vào Phật học sẽ thán phục mối tương quan sâu thẳm giữa trí tuệ và lòng tin. Trong Phật giáo, lòng tin luôn dựa trên trí tuệ, và trí tuệ chỉ có thể sáng chiếu đến chân lý nếu được lòng tin hỗ trợ.


            Lòng tin đức Phật pháp nhân không phải là lòng tin yếu đuối gửi vào sức mạnh siêu nhiên nào đó từ bên ngoài. Đó là lòng tin ở con người. Trong mỗi chúng ta đều có đức Phật pháp nhân, chỉ vì ta không nhìn, không thấy, không biết, nên mới tưởng là không có mà thôi. Bởi vậy, đức Bổn Sư của chúng ta cứ nhắc nhở ta hoài: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”.


            Là Phật sẽ thành, làm sao có ai không thấy Phật được! Tất nhiên, muốn thấy thì phải tìm. Không tìm cái kim thì dù kim có chích chảy máu tay cũng không thấy. Mà hễ tìm thì chắc chắn phải thấy. Thấy Phật cả trong những sự việc bình thường nhất của đời sống hàng ngày.


            Thấy Phật cũng chỉ bình thường vậy thôi. Không phải ở trên ngôi sao kia, mà ở ngay trong lòng. Ra đời cách đây 2.546 năm, đức Phật vẫn còn ở quanh ta để luôn luôn nói với ta tiếng nói từ trong tâm, rằng: Ta đã sinh làm người và từ người, chứ không từ đâu khác, từ Ta, từ chính Ta, Ta đã chứng ngộ.

            Cao Huy Thuần
            (Nguồn: Báo Tuần Việt Nam)


            *******************************


            Theo Báo Tuổi trẻ

            "Trời trống mây thì trăng mới sáng" (Chuyện thiền). Ai có trí đều biết điều hiển nhiên ấy, nhưng làm sao để "trời trống mây" - ở đây có thể hiểu là làm tâm sáng lại, lau bụi cho tâm - là cả một sự thật nghiệm lâu dài. Những tản văn trong tập sách Thấy Phật là những "cái thấy" của Cao Huy Thuần từ những kinh nghiệm học và hành Phật của ông.


            Linh hoạt trong ngôn ngữ; khúc chiết, phân minh trong triết luận, Cao Huy Thuần cứ "vén mây" dần dần trong mỗi câu chuyện kể bằng tất cả sự uyên thâm và hóm hỉnh của mình. Trò chuyện với người trẻ, ông có những câu chuyện về bình đẳng nam nữ, về tình yêu, đám cưới, về chiếc nhẫn đôi lứa trao nhau để chia sẻ cách yêu nhau thế nào cho... bớt khổ, để hiểu chính gia đình "là chỗ để học và để hành hai chữ vô ngã"... (Quà tết, Ðám cưới, Nhẫn).

            Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sau "sự cố" nhà văn bị kiểm điểm, ông nói về "cái giận" một cách thâm thúy, để dù ai đang giận cũng phải vứt giận mà cười... mình (Vẽ cây vẽ chim).

            Từ bài thơ Ði chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Cao Huy Thuần kết nối sang câu chuyện tín ngưỡng của dân tộc để nhắc mình, nhắc người đừng đánh mất cái tâm bình dị (Chùa Hương)
            "Tâm bình dị, dạ chân chất, nhìn đâu cũng thấy Phật". Từ khả năng tập trung chú ý của học sinh, ông diễn giải thật thơ về "định" và "tuệ" (Trên ghế nhà trường).
            Từ câu chuyện với "người quét chùa", ông đặt ra câu hỏi cho người trí thức về nghĩa vụ "làm sạch cho đất nước" (Tặng người quét chùa trên núi Túy Vân).

            Trách nhiệm của người trí thức ở đời, cách thức gánh vác số phận chung cũng là cái tứ bàng bạc trong nhiều bài viết của Cao Huy Thuần. Cũng vậy, ẩn hiện sau những tinh túy của triết học Phật giáo được chuyển hóa nhuần nhuyễn trong mỗi câu chuyện còn là một tình yêu với đất nước, với dân tộc VN - một dân tộc may mắn có "một văn hóa hòa bình" mang truyền thống hiền hòa của Phật giáo: làm lành, tránh ác.

            Bay trên đôi cánh của lòng tin và trí tuệ, những câu chữ cứ mở ra những nụ cười đạo vị, có nụ cười tủm tỉm, thâm trầm; có nụ cười sảng khoái, khinh an. Sự tự tại từ tác giả cứ tự nhiên mà chuyển lưu sang người đọc để càng đọc càng thấy "sáng" ra một niềm hoan hỉ.

            Nếu ví trăng như một hình ảnh của sự tỉnh thức, tác giả đã "nhìn trăng", "theo trăng" và cả đùa được với trăng bằng cái thấy của một thiện tri thức thật hiểu, thật tin vào Phật tính nơi mỗi người, biết làm cho "trống" những tạp niệm, tham dục trong tâm. Và Thấy Phật, không hề siêu hình, rốt ráo nhắc ta học chữ "không" - trước mắt là không với lợi, không với danh bởi chính sự vướng mắc, tham đắm vào đó làm ta che phủ mất bản tính vốn trong sáng như mặt trời, mặt trăng nơi mình - Phật ở trong tâm mình.

            Linh Thoại
            (Nguồn: Báo Tuổi Trẻ)
            Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 09-11-2010, 12:04 AM.
            Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

            Comment

            • #51

              ConMotSach.com

              con mọt sách “chấm com” - cõi đi về của dân mê sách


              Những cây cầu ở quận Madison (The Bridges of Madison County) - Robert James Waller





              Người gửi: hoangnguyet


              Một cuốn sách quá nổi tiếng cho những con-mọt-sách. Tuy nhiên lại không phù hợp lắm với trào lưu hiện nay-trào lưu yêu cuồng sống vội và tự do sex.

              Một chuyện tình lãng mạn, day dứt và ám ảnh đến chết , sự hòa hợp giữa “ Francesca Johnson- người vợ của một trại chủ Iowa và Robert Kincard-một sinh vật ở điểm tối hậu trên một nhánh của dòng tiến hoá, chàng cao bồi cuối cùng trên mặt đất”

              Francesca là một người phụ nữ đã có gia đình với cụôc sống bình dị ở một thị trấn nhỏ thuộc bang Iowa nước Mỹ, nơi nổi tiếng với những cây cầu mái che. Và những cây cầu này đã trở thành nhân chứng cho một tình yêu gần như là mụôn mằn, bất diệt và toàn vẹn của Francesca với Robert, một nhiếp ảnh gia tài năng, phóng túng và khác biệt-một người luôn coi mình “là con đường, là kẻ lữ hành và là những cánh buồm dẫn về biển cả”…

              Một tình yêu trong 4 ngày, và đủ cho cả đời người, tình yêu ấy quá lớn để Francesca không thể giữ chân kẻ lữ hành Kincard và cũng đủ bao la để kẻ lữ hành ấy không thể dứt người phụ nữ của đời mình ra khỏi gia đình đang êm ấm của bà.


              .

              Mỗi người vẫn quay về với con đường đã chọn và tình yêu kia trở thành một nỗi đau âm thầm trong cả hai cuộc đời, để đến khi chết đi, hai thân xác ấy cũng lựa chọn được hòa vào nhau bên cây cầu mái che màu đỏ, nơi dắt họ đến bên nhau.

              Đọc “Những chiếc cầu ở quận Madison” để thấy một tình yêu thuần khiết, không toan tính, không cần lý giải, để ám ảnh day dứt với những mối quan hệ bền chặt và lý tưởng giữa người với người. Một quyển sách đẹp như tranh, một bức tranh buồn nhưng dấy lên cho người thưởng ngoạn những niềm tin vào tình yêu và cuộc sống.

              [url="http://www.conmotsach.com/blog/?p=573"][COLOR=black]Just a moment...


              Tải bản tiếng Việt (prc) tại [url="http://conmotsach.com/books/nhung_chiec_cau_o_quan_madison.prc"][COLOR=black]Just a moment...
              hoặc bản pdf tại [url="http://conmotsach.com/books/nhung_chiec_cau_o_quan_madison.pdf"][COLOR=black]Just a moment...



              *Truyện được chuyển thể thành phim cùng tên do Clint Eastwood vừa làm đạo diễn vừa thủ vai Robert Kincard, diễn viên gạo cội Meryl Streep vào vai Francesca Johnson.


              Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 09-11-2010, 12:37 AM.
              Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

              Comment

              • #52

                Tuổi thơ dữ dội - Phùng Quán




                Người gửi: Trần Anh Khôi

                Tôi phân vân không biết bắt đầu thế nào, giới thiệu thế nào về tuyệt tác này. Bởi sự trân trọng tôi dành cho tác phẩm quá lớn. Hình như đây là tác phẩm gây xúc động nhất cho tôi, mà tôi từng được đọc. Cũng có thể do tôi đọc Tuổi Thơ Dữ Dội khi còn nhỏ, nên cảm xúc có thể chưa chai lì như bây giờ chăng, tôi không dám chắc; nhưng tôi vẫn tin rằng, đây là cuốn sách đem đến cảm xúc nhiều nhất.


                Sách viết về tuổi thơ, viết cho tuổi thơ và cả cho người lớn. Bối cảnh là chiến trường Huế thập niên 40, những cậu bé với lòng yêu nước & sự hồn nhiên, đã tạo nên những khúc bi hùng đáng được ghi danh. Những tình tiết hài hước, những câu chuyện cảm động, những nhân vật dường như sống mãi với thời gian.

                Tôi thử tìm bằng Google và thấy vô số bài viết giới thiệu tác phẩm này. Có lẽ tôi không cần làm thêm động tác tóm tắt hay tổng kết. Đây là cuốn sách tất nên đọc và phải đọc. Nhất là những thế hệ không chạm trán với chiến tranh.

                Những cậu bé như Lượm, như Bồng vẫn còn mãi trong trí nhớ người đọc. Riêng tôi xúc động mãnh liệt nhất khi đọc đoạn cậu bé “Quỳnh sơn ca” chết đi. Một cái chết bi thương và dữ dội như chính tuổi thơ của cậu và bè bạn, như chính tác phẩm mà nhà văn Phùng Quán đã viết suốt mười mấy năm ròng rã.
                Càng hát, gương mặt em càng tái xanh như người đang mất máu. Tưởng chừng như máu trong những mạch xanh xao của em đang chảy tràn ra khỏi thân thể em theo cùng với những câu hát. Đang ngồi, em vụt đứng thẳng dậy chênh vênh bên mép sạp nứa. Khi hát đến hai câu cuối cùng:
                Sông Ô Lâu đôi bờ trắng tóc lau Hát lời thề kháng chiến đến bạc đầu…
                Toàn thân em run bắn. Cặp mắt mở to bỗng dạỉ đi. Ánh lửa cảm hứng rực sáng trong đáy mắt em vụt tắt ngấm như một ánh chớp. Và em ngã nhào từ trên sạp nằm xuống đất, bất ngờ đến nỗi không ai kịp đưa tay ra đỡ. Một dòng máu đỏ gắt từ trong miệng trào ra, giàn giụa trên vành môi mở he hé của em. Anh So súng-cối nhào tới, bế xốc em lên ôm chặt vào lòng.
                Cặp mắt anh mở trừng trừng nhìn như chết lặng, gương mặt xanh lét với cặp môi trẻ thơ he hé giàn giụa máu hồng của thằng em chiến sĩ, mà nửa giờ trước đây, anh còn cõng nó trên lưng. Anh bỗng kêu thét rung chuyển cả gian lán.
                - Quỳnh! Quỳnh!
                Bác sĩ Thiền tay run run vạch mi mắt em ra. Ông khoát tay ra hiệu cho chị y tá nước mắt đầm đìa đang run rẩy lấy thuốc ở ống tiêm vào xi- ranh:
                - Thôi o ạ, muộn mât rồi! Mắt em đã giãn đồng tử…
                Lúc đó vây quanh em có đến hàng trăm người. Phần lớn là các chiến sĩ đã quần nhau suốt năm mươi lăm ngày đêm với giặc ở mặt trận Huế. Họ đã được chứng kiến không ít những cái chết của đồng đội trong các đợt xung phong. Nhưng chưa một ai nhìn thấy một cái chết lạ lùng, đột ngột, dữ dội, như cái chết của người chiến sĩ mới mười ba tuổi ấy.
                Chỉ biết cám ơn Phùng Quán đã để lại cho cuộc đời, cho Việt Nam một tác phẩm hay đến thế.
                (Một điều tiếc của tôi là các bìa sách của nhiều bản in khác nhau đều chưa xứng với nội dung cuốn sách).


                ConMotSach.com

                Bản prc tập 1: [url="http://conmotsach.com/books/tuoi_tho_du_doi_tap_1.prc"][I][COLOR=#c97e00]Just a moment...
                Bản prc tập 2: [url="http://conmotsach.com/books/tuoi_tho_du_doi_tap_2.prc"][I][COLOR=#c97e00]Just a moment...
                Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 05-07-2009, 07:56 AM.
                Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                Comment

                • #53

                  ConMotSach.com

                  con mọt sách “chấm com” - cõi đi về của dân mê sách

                  (Bá tước) Dracula - Bram Stoker

                  Người đăng: Trần Anh Khôi



                  Một điều nghịch lý với tôi (và có lẽ cũng của nhiều người khác) là tên Dracula quá quen thuộc nhưng thật sự đọc tác phẩm này thì… chưa. Mãi đến cách đây 2 năm tôi mới tìm mua và đọc cuốn sách về “ma cà rồng” đã nổi tiếng từ lâu.
                  Cũng chẳng cần giới thiệu gì nhiều: đây là câu chuyện dựa trên truyền thuyết về bá tước Dracula ở xứ Ru-ma-ni. Và đã là chuyện về “ma cà rồng” thì ắt hẳn phải… thót tim, dù sự thật nhà văn không viết một cuốn sách kinh dị. Giọng kể là của một nhân vật trong câu chuyện, xen lẫn là nhật ký các nhân vật khác, để kể về các biến cố trong lâu đài ma quái của bá tước Dracula và cuộc chiến của họ chống lại ma cà rồng.

                  Trong truyện ta sẽ gặp thêm Val Helsing - một nhân vật đã được dựng thành phim - bên cạnh những nhân vật đã lên màn ảnh không chỉ một lần. Không khí của câu chuyện khá là u ám, nặng nề; và bạn không nên đọc một mình giữa đêm khuya. Dù sao, theo tôi đây cũng là một tác phẩm thuộc nhóm “nên đọc”, tương tự “Kỵ sỹ không đầu”, vì ai cũng cũng từng “nghe nói” đến.

                  Tải bản tiếng Việt (dạng chm): [url="http://conmotsach.com/books/dracula.chm"][COLOR=#c97e00]Just a moment...
                  Tham khảo bản tiếng Anh online: [url="http://conmotsach.com/books/dracula.html"][COLOR=#c97e00]Just a moment...
                  Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                  Comment

                  • #54

                    Chuyện tình núi Brokeback

                    Tác giả: Annie Proulx.
                    - Dịch giả: Phạm Văn.
                    Nhà xuất bản: Văn Học


                    Tập truyện ngắn của văn sĩ Annie Proulx trong đó có một số truyện từng gây tiếng vang tại Mỹ Núi Brokeback (giải O.Henry 1998), Bùn lầy (giải O.Henry 1999).

                    Sau đó, Núi Brokeback được chuyển thể kịch bản điện ảnh và tiếp tục gây tiếng vang lớn qua bộ phim cùng tên do Lý An đạo diễn. Những truyện ngắn xuất sắc của bà trong tập: Con bò lột da dở, Người dưới địa ngục chỉ cần một ngụm nước mang đậm dấu ấn riêng – những câu chuyện “kể được” bằng thứ văn phong tinh tế, sắc sảo và dữ dội; về thân phận con người ứng phó trước đời sống hoang dã, luôn cố tin rằng trên đời có những “khoảng trống mênh mang”, nhưng họ cam chịu, hoặc chưa biết làm gì với nó.

                    Tờ People bình luận: “Khi xua tan những quan niệm lãng mạn vốn có của chúng ta về miền viễn Tây, hẳn Proulx đã đặt ra câu hỏi chúng ta có thể chối bỏ nguồn gốc của mình như thế nào. Câu trả lời của bà trong Chuyện tình núi Brokeback khiến tuyển tập này càng thêm hấp dẫn”



                    Mục lục:
                    Con bò lột da dở
                    Bùn lầy
                    Quá trình làm việc
                    Con ngựa tía
                    Người dưới địa ngục chỉ muốn một ngụm nước
                    Mép cỏ thế gian
                    Cặp dinh thúc ngựa
                    Dốc biển cô đơn
                    Các vị thống đốc Wyoming
                    Núi Brokeback
                    Bảng chú giải

                    Giới thiệu về nội dung

                    Chuyện tình núi Brokeback của nhà văn từng đoạt giải Pultizer cho tiểu thuyết The Shipping News được coi là tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng nhất thời đại.
                    Bao gồm 11 truyện ngắn, là những câu chuyện về nỗi tuyệt vọng và niềm vui không thực, diễn ra giữa khung cảnh của một miền quê ảm đạm nhưng hùng vĩ, trong đó Núi Brokeback được đạo diễn Lý An chuyển thể thành phim và đạt nhiều giải thưởng điện ảnh uy tín.

                    Ngôn ngữ bậc thầy cùng tình yêu mãnh liệt mà Annie Proulx dành cho vùng đất Wyoming đã khiến những câu chuyện về một nỗi cô đơn, cuộc sống bạo lực và những câu chuyện tình ngang trái nơi đây đầy cuốn hút. Mỗi chân dung nhân vật đều bộc lộ những nét tính cách thật riêng, được xây dựng bằng một ngòi bút vô cùng chuẩn xác, uyển chuyển và sắc sảo.



                    Link

                    Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 05-07-2009, 08:55 AM.
                    Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                    Comment

                    • #55

                      Đừng nói một ai
                      Harlan Coben



                      Bác sĩ David Beck cùng vợ đi tới hồ Charmaine vào ngày kỷ niệm lần thứ mười ba nụ hôn đầu của họ trong một kỳ nghỉ cuối tuần bình dị. Nhưng, ngay trong giây phút lãng mạn đó, tai họa bất ngờ ập xuống đầu họ. Elizabeth bị tấn công và bắt cóc, bác sĩ Beck bị đánh bất tỉnh. Ít lâu sau người ta tìm thấy một thi thể đã được xác nhận chính là Elizabeth. Tám năm trôi qua, bác sĩ Beck tưởng chừng không vượt qua nổi nỗi đau. Nhưng mọi thứ đã thay đổi đúng vào ngày kỷ niệm tròn tám năm Elizabeth mất: bác sĩ Beck nhận được một tin nhắn nặc danh kèm theo một đường link đã hỏng.

                      Sự kiện đó mở đầu cho những biến cố phức tạp, những bước ngoặt bất ngờ, những tình tiết gay cấn ly kỳ đến thót tim và cả những mẩu chuyện đầy xúc động của cuốn tiểu thuyết Đừng nói một ai (Tell No One) của Harlan Coben mà Nhã Nam sắp sửa giới thiệu với bạn đọc.

                      Harlan Coben là nhà văn trinh thám hàng đầu ở Mỹ. Ông từng thành công vang dội với loạt sách về Myron Bolitar (một cuốn trong seri này sẽ được Nhã Nam cho ra mắt độc giả trong thời gian tới). Tiểu thuyết Đừng nói một ai là tác phẩm được viết ra ngay sau seri nức tiếng kia, và cũng không kém phần, cuốn sách gặt hái bội thu cả trên phương diện doanh số và giải thưởng. Hơn thế, Đừng nói một ai còn được các nhà làm phim Pháp chuyển thể thành phim Ne le dis a Personne, bộ phim đã giành được bốn giải César, hai giải Lumiere (giải thưởng mang tên một trong những người làm phim đầu tiên) cho phim hay nhất và phim được nhiều khán giả ưa thích nhất, hai giải Étoile d'Or của các nhà phê bình Pháp.


                      Yahoo | Mail, Weather, Search, Politics, News, Finance, Sports & Videos nhãnam/blog


                      Ne le dis a Personne








                      ***************

                      Phim rất hay !!! L.G.
                      Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 09-11-2010, 12:34 AM.
                      Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                      Comment

                      • #56

                        sachhay.com

                        Người giới thiệu: Lê Minh Khương


                        >

                        The Deep End of the Ocean
                        Tác giả:
                        Jacquelyn Mitchard

                        Năm 1999, một lần xem trên truyền hình tôi vô tình coi bộ phim gia đình. Tôi không nhớ từng chi tiết nó ra sao, chỉ mường tượng lại lúc kết thúc bộ phim, tôi không cách gì ngừng khóc được.

                        Mười năm sau, một lần vô tình trong chuyến dẫn tour du lịch, tôi được một người bạn tặng lại quyển sách - "The Deep End Of The Ocean" - "Như Đại Dương Sâu Thẳm", và chỉ đọc sơ qua vài trang những ký ức về câu chuyện buồn đó ập lại trong tâm trí, kéo tôi vào những xúc cảm triền miên buồn về câu chuyện một gia đình.

                        Suốt một tuần liền tôi đã không dám ra khỏi nhà, tôi ngồi lỳ bên mẹ mình, nói chuyện với mẹ, ở bên bà như thể chỉ cần bước chân ra khỏi tầm mắt của mẹ, dù chỉ một giây, tôi sẽ chẳng còn được bên bà nữa.
                        Đó là niềm ám ảnh của tôi khi đọc xong "Như Đại Dương Sâu Thẳm"…

                        Có bao giờ bạn tự hỏi rằng: Mẹ yêu bạn nhiều như thế nào? Và tình yêu bạn dành cho mẹ liệu có bằng được những gì bà dành cho bạn? Nếu bạn vẫn đang phân vân không biết phải trả lời như thế nào, thì chỉ cần đọc một vài chương trong cuốn sách này, bạn sẽ biết được sự vô tận của tình mẫu tử, và sẽ khóc khi hạnh phúc nhận ra rằng đã luôn có một người luôn luôn yêu thương bạn.

                        "Như Đại Dương Sâu Thẳm" là câu chuyện kể về một gia đình nhỏ ở Illinois. Benth, một người vợ, người mẹ trẻ dường như luôn cảm thấy quá sức khi phải chăm sóc ba đứa con mình, vừa theo đuổi đam mê của chị, chụp ảnh. Trong một lần cả gia đình đi du lịch ở Chicago, chị để đứa con nhỏ lại trong hội sảnh khách sạn Chicago, và chưa đầy một phút sau đó, đứa con thứ hai của chị, Ben, đã mất tích!

                        Từ đó, cơn ác mộng của gia đình chị mới bắt đầu. Sống giống như đã chết, Benth gần như cùng kiệt với hy vọng tìm ra Ben. Tất cả vô vọng, chị phải nhận một cuộc sống mới, một cuộc sống thiếu vắng đứa con trai mà chị yêu thương nhất. Và tình yêu đó quá lớn, và ích kỷ đến mức, những tháng ngày về sau, chị quên đi tình yêu của người chồng, và bỏ mặc hai đứa con của chị.

                        Cho đến khi dần nguôi ngoai, chị mới thảng thốt nhận ra, trong chín năm, gia đình của chị đã hoàn toàn đổ vỡ, người chồng chị luôn thờ ơ nay xa cách chị. Đứa con trai đầu vì thiếu vắng tình thương phải vào tù vì tội đánh nhau. Chị chẳng thiết tha làm việc. Tất cả… Chị phải chấp nhận sự thật rằng chị đã không còn đứa con trai đó nữa, và phải bắt đầu một cuộc sống mới. Gia đình họ, một lần nữa, chuyển đến ở Chicago. Một ngày, đứa con trai của chị bỗng lành lặn trở về…

                        Nhưng sự trở về đó dường như không được sự mong đợi của các thành viên trong gia đình. Người bố bối rối khi không dám tin đó là sự thật, người anh trai mỗi khi nhìn em trai mình lại cảm thấy tội lỗi vì lúc xưa đã làm lạc mất cậu, đứa con trai mất tích lại chẳng nhớ gì về mẹ mình, ngoại trừ những hình ảnh về anh trai lúc xưa.

                        Cơn ác mộng, một lần nữa, lại bắt đầu…

                        Tại vì sao? Khi mà phép màu đã xuất hiện biến giấc mơ mòn mỏi của Benth thành sự thật? Điều đó không khó để giải thích. Benth yêu con mình, nhưng tình yêu ma mị và ích ký đã dẫn đến sự đổ vỡ của quá nhiều mối quan hệ khác. Vicent, đứa con cả, yêu mẹ mình nhiều đến nỗi hận sự mất tích của đứa em trai đã làm bà ra nông nỗi đó, và chọn cách nổi loạn để che giấu tâm trạng mình. Pat, người chồng nhu nhược quá yêu thương vợ mình, và chẳng đủ dũng cảm lôi chị ra cuộc sống thật, để chị sống trong quá khứ bất tận. Những mâu thuẫn, những vòng xoáy về cuộc sống gia đình đan xen nhau không ngừng. Và để lần gỡ những điều đó, chỉ cần một điều duy nhất: Tình Yêu.

                        Chính nhờ tình yêu dành cho các con, Benth cuối cùng đã nhận ra chị không chỉ có một mình Ben, chị còn có Vicent, còn đứa con gái nhỏ. Trong lúc muộn màng đó, ở nhà tù, chị đã khóc, lần đầu tiên chị khóc vì xót xa cho 9 năm quá dài chị quên mất đi chị còn có một đứa con trai đáng thương nữa.

                        Chính nhờ tình yêu, Vicent, người con cả đã dũng cảm đối mặt với quá khứ, giúp cậu em trai mình lần gỡ những kỷ niệm, ở bên cậu, yêu thương cậu, và cuối cùng, là người mong muốn em mình trở về nhà nhất.

                        Cũng vì có tình yêu, Pat mới có thể sống trong câm lặng gần chín năm trời, không ngừng nghỉ chờ đợi cùng vợ mình, không một oán thán. Anh thậm chí đã từng mong mình là người mất tích để đổi lấy hạnh phúc của vợ.

                        Cũng vì có tình yêu, sợi dây mẫu tử thẳm sâu như đại dương đấy, đã giúp cho hai con người cách xa nhau 9 năm nhận ra nhau chỉ trong một tích tắc, bởi bản năng người mẹ là luôn luôn, là đương nhiên. Và bạn chỉ có thể cảm nhận tình yêu thương đó, bằng trái tim và sự chân thành của mình.

                        Đọc cuốn tiểu thuyết này, bạn sẽ nhận ra sự vô tình của nhà văn khi có những đoạn tỉnh táo đến lạnh lùng đúng như bản năng của một nhà báo viết văn, nhưng có đoạn lắng sâu mà vừa đọc, thảng thốt nhận ra rằng nước mắt chảy ra từ khi nào. Những lát cắt về cuộc sống nhiều màu, đầy mâu thuẫn dần dần mở từng nút thắt một, cho đến kết thúc câu chuyện, bạn ngỡ ngàng tự hỏi: "Đã kết thúc rồi à?" Bởi kết thúc câu chuyện, lại mở ra một câu chuyện khác, đó là những ngày tươi đẹp đang chào đón những con người trong ngôi nhà nhỏ đó luôn đầy ắp tình yêu cho nhau…


                        ******

                        Jacquelyn Mitchard, tác giả của cuốn sách này thừa nhận rằng chị đã rất vất vả để hoàn thiện tính cách nhân vật của mình, từ người mẹ yêu con đến vị kỷ, từ đứa con trai cả bất lực trước mẹ mình, cả người bố nhu nhược với con cái, với hạnh phúc của mình. Ngay lần đầu ra mắt, tác phẩm đã bán được hơn 100.000 bản, con số kỷ lục trong thời gian đó.

                        "The Deep End Of The Ocean" hấp dẫn đến nỗi đã được chọn là cuốn sách đầu tiên được phát sóng trong chương trình Oprah Show trên toàn nước Mỹ trong suốt một năm. Tính đến năm 20002, đã có hơn 2,749,677 bản in. Tái bản hơn 8 lần trong suốt mười năm qua, lập kỷ lục bestseller mỗi năm tái bản và được bán bản quyền sang 14 nước. Cuốn sách đầu tiên của Jacquenly Mitchard đã vinh danh bà, từ một nhà báo, trở thành tiểu thuyết gia hàng đầu thế giới.

                        Điều gì đã làm một cuốn tiểu thuyết chỉ đơn thuần về đề tài gia đình này trở thành một bestseller như vậy? Oprah Show, nữ hoàng truyền thông Mỹ đã thốt lên rằng: "Một nội dung cũ, một mô típ cũ, nhưng sao vẫn lay động tâm can người đọc, có lẽ… hơn hết là tình cảm bạn dành cho gia đình đã được khơi gợi tận cùng khi đọc tiểu thuyết này".

                        Thậm chí, bộ phim dựng từ tiểu thuyết này ra mắt năm 1999, thành công đến nỗi đoạt được cùng lúc 2 giải thưởng và một đề cử tại liên hoan phim liên bang Mỹ.

                        Hãy thử đọc một lần, bạn sẽ cảm nhận sự sâu lắng và cảm xúc bất tận về tình yêu, về gia đình…

                        Minh Khương





                        .
                        Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 09-11-2010, 12:17 AM.
                        Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                        Comment

                        • #57

                          Sachhay.com

                          Người giới thiệu: Phương Khanh



                          • Tựa sách:
                            Ngàn cánh hạc
                          • Tác giả:
                            Kawabata Yasunari
                          • Dịch giả:
                          • Trùng Dương
                          Trong tác phẩm Trà sư (Le Maître de thé) của Inoué, lịch sử trà đạo ở Nhật từ thế kỷ 16 tới ngày nay, mở đầu với vị trà sư Rikyũ chủ môn trường phái nghệ thuật uống trà thanh đạm, được viết thành một tác phẩm văn học giá trị, phơi bày mặt trái của lễ nghi: trà đạo hơn bốn thế kỷ, bị thế quyền phong kiến sử dụng như một mụ mối trong chợ chính trị. Những buổi thiết trà thường là mặt tiền che đậy những cuộc thương lượng bên trong, và những vị trà sư khả kính chỉ là những quân cờ dưới trướng các lãnh chúa. Những cái chết bí mật của các thủ lãnh trường phái trà đạo, trong suốt bốn thế kỷ, nằm trong những bí mật của nghệ thuật trà trị, và họ chết đi, mang cả bí mật của trà trị sang thế giới bên kia.

                          Ngàn cánh hạc không viết về trà đạo, không viết về trà trị, mà dựng trên bình phong đạo trà để viết về tình yêu, và tình yêu trong tác phẩm của Kawabata luôn luôn là tình yêu tuyệt đối.

                          Ngàn cánh hạc có hình thức gần như cổ điển với những tình tiết éo le. Nhưng tác giả đã xóa chất éo le bằng cấu trúc đứt đoạn, bằng giọng văn ơ thờ, mỉa mai, lãnh cảm; tạo nghịch cảnh bằng cách đổi ngôi nhận vật, không cho họ đứng đúng chỗ ước đoán của người đọc: tất cả những nhân vật chính như bà Ôta, Kikuji và Kikako... đều không đóng những vai mà độc giả chờ đợi.

                          Như những tiểu thuyết khác của Kawabata, Ngàn cánh hạc cũng chỉ dày khoảng 200 trang, đã được đăng trên báo từ năm 1949, viết từng mảng, mỗi mảng là một truyện, cả thảy có năm truyện. Tác phẩm hoàn tất trở thành một cấu trúc tiểu thuyết chặt chẽ, ra đời năm 1952, trong bối cảnh nước Nhật đang mất dần những truyền thống cũ mà trà đạo là một.

                          Tác phẩm dựa trên một nền trà mà gốc rễ đã lung lay. Trà thất của những gia đình truyền thống ẩm mốc cửa đóng then gài. Những vật dụng cũ như bình, chén, bị bỏ bê lăn lóc, lọt vào tay một thế hệ trẻ không biết phân biệt thế nào là chén tống, chén quân. Trà sư Kikako, một mụ mối, lai nhiều "phong cách": mang dấu ấn Mylady với "cái bớt tím đen, to bằng bàn tay xòe, có lông cứng như lông nhím, trên vú trái", lại có cái tọc mạch lỗ mãng của một bà Phó Đoan, và có nét "nhờn nhợt màu da" của một mụ Tú Bà. Giao phó một nghệ thuật có "truyền thống lâu đời" như trà đạo vào một "tay chơi" như vậy, Kawabata không còn ảo ảnh nào nữa về sự đào thải, mai một, của trà kinh, trà quyền.

                          Cậu Kikuji - nhân vật chính - thuở bé tình cờ nhìn thấy dấu ấn "Mylady" trên ngực Kikako, người nhân tình của cha. Ám ảnh ấy không ngừng theo đuổi Kikuji. Dấu ấn mạnh đầu tiên, mà Kawabata đưa ra là cái bớt, phóng ảnh gớm ghiếc về sự thoái hoá một truyền thống lâu đời

                          Phóng ảnh thứ nhì chiếu vào bức tranh ngàn cánh hạc in trên tấm khăn lụa hồng, đậy bộ đồ trà trên tay Yukiko, một trà sinh đang đi vào trà thất.

                          Ngàn cánh hạc trên tay người đẹp đã gây ấn tượng mạnh trong lòng Kikuji. Sau này, khi hình ảnh yêu kiều của Yukiko đã biến mất trong trí chàng thì bức tranh ngàn cành hạc vẫn còn đọng lại rõ nét. Ngàn cánh hạc phải chăng là hương trà đã vật chất hóa thành cánh hạc bay đi, để lại cho nhân thế những bụi bặm, cặn bã của cuộc đời mà họ "xứng đáng" được hưởng. Hay chính hương trà ngây ngất ấy cũng chỉ là những cánh hạc phù du, như cái đẹp, như hạnh phúc, như nghệ thuật, như tình yêu, sớm muộn rồi cũng cất cánh bay? Không sao biết được. Nghệ thuật của Kawabata luôn luôn kéo ta đến chỗ không biết được ấy, dìm chúng ta trong cõi chưa biết ấy.

                          Yukiko, người con gái đẹp mang ngàn cánh hạc trở thành đối tượng kiếm chồng. Yukiko là nạn nhân của "thời cuộc", thời mà người ta dùng các trà thất làm chỗ mối lái kiếm chồng. Trà mối thời nay, khác với trà trị thời trước, bởi chính trị và tình duyên không giống nhau, nhưng cùng dẫn đến một hậu quả: phong tỏa hương trà, làm ô uế trà đường, khiến cho hương trà phải bay theo cánh hạc.

                          Kawabata vẫn vận dụng triệt để con mắt, nhưng ở đây ông không dùng mắt để nhìn, mà ông còn dùng con mắt như một điểm nội tâm, một điểm của não thùy, ghi nhận những hình ảnh thật đắt giá, ném chúng vào sâu trong tiềm thức, cất giấu trong vô thức, để lúc nào cần, cũng có thể phóng ra được. Cái bớt trên ngực mụ Kikako và ngàn cánh hạc trên tay Kikako, cho thấy cách nhà văn tạo ấn tượng mạnh: Hai hình ảnh, một cực kỳ xấu xa ghê tởm và một cực kỳ thơ mộng, đã không ngừng chi phối tâm hồn Kikuji, nhưng rồi cái bớt đã xua đuổi cánh hạc: đạo trà rơi vào trà sư vô đạo.

                          Hình ảnh thứ ba là chiếc bình sứ shino của bà Ôta, người tình cuối cùng của ônh thân sinh ra Kikuji. Khi ông còn sống, bà Ôta đã dùng chiếc bình này để pha trà đối ẩm với ông. Sau khi ông mất và cũng theo đà mai một của trà đạo, bà Ôta dùng làm bình cắm hoa. Chiếc bình sứ shino chứng kiến những tang biến của đời bà nhưng nó cũng mang số phận truân chuyên của đời trà đến hồi mai một.

                          Hình ảnh thứ tư là cái chén shino của bà Ôta, vết môi người thiếu phụ đã ngấm vào miệng chén thành vệt son không bao giờ phai lạt.

                          Hai hình ảnh sau cùng này vẽ nên bức phác người thiếu phụ: bà Ôta, linh hồn của tiểu thuyết, là hình ảnh của tình yêu tuyệt đối: tình Trương Chi.

                          Trong một buổi họp mặt ở trà đường của Kikako, Bà Ôta chỉ muốn gặp Kikuji, con trai của người tình cũ nay đã trưởng thành, để ngỏ lời xin lỗi, nhưng "tiếng sét" giáng xuống tâm hồn, bà thấy lại người xưa và đã để mặc cho ngọn lửa đam mê sống lại. Ôta xuất hiện như một thoáng chiêm bao nhưng hương thơm và sự dịu dàng của bà chính là hiện thân của tình yêu tuyệt đối, xuyên thế hệ, xuyên kiếp người. Bà như hồn Trương Chi trong chén ngọc: mất đi để hiện về trong vết son trên miệng chén:

                          "Nhìn kỹ mới thấy một ánh đỏ hiện lên trên nền sứ trắng ngà, đúng như Fumiko đã nói với chàng trong điện thoại sáng nay. Càng ngắm, càng thấy như ánh đỏ trong suốt lộ dần lên trên nền trắng. Vành chén màu hồng ngả sang hoàng thổ, có một chỗ hồng đậm hơn một chút.

                          Có phải chỗ đó nàng thường chạm môi?

                          Trà cũng có thể để lại dấu thấp thoáng này, mà cũng có thể đó là dấu ấn của làn son môi không biết bao lần đã nhấp lên đó.

                          Nhìn kỹ hơn, ta có thể thấy cả ánh đỏ trong lòng thổ hoàng. Chẳng lẽ lại đúng như Fumiko đã đinh ninh rằng môi son của mẹ nàng, ngày qua ngày, đã thấm dần vào hạt sứ ư?

                          Nếu thật chú ý, ta sẽ thấy sự hoà hợp vừa thấp thoáng vừa tế vi giữa sắc nâu và sắc đỏ, thấm cả lên những vết rạn chăng mạng trên mặt trà.

                          Một cảm giác lạ thường xáo động tim chàng, Kikuji nhủ thầm "Màu son tàn, như cánh hồng úa, tím lịm như sắc máu khô". Đột nhiên một thoáng ghê sợ, gần như lợm giọng dâng lên làm chàng hơi buồn nôn, đồng thời một sức cám dỗ mời gọi không thể cưỡng lại được đục khoét trong đầu chàng đến ù tai hoa mắt

                          Mặt ngoài chén, vài nét thuần khiết vẽ một chiếc ống gầy trổ ra một cành mộc thảo, với những cánh lá rộng bản, màu lam lục, sẫm gần như đen, tưởng như có những chấm hoen rỉ, lỗ chỗ trên kẽ lá.

                          Những nét đơn sơ tịnh mặc của bức họa đầy phách lực, chìm sâu trong đáy mắt Kikuji, kéo chàng ra khỏi cơn chóng mặt bệnh hoạn của nhục cảm."

                          (trích dịch theo bản tiếng Pháp Nuée d'oiseaux blancs do Bunkichi dịch, trong tuyển tập Kawabata, Albin Michel 2002, trang 779).

                          Ngàn cánh hạc là một truyện tình giấu nhiều truyện tình xuyên thế kỷ. Bà Ôta tìm lại ngưòi tình đã mất qua hình dáng phong độ của người con trai, kém nàng 25 tuổi. Như thể đạo trà đến giờ lâm chung muốn được hồi sinh trở lại trong hơi thở thanh niên. Rồi đến lượt Kikuji, lại theo vết cũ, tìm nàng trong Fumiko, con gái của nàng.

                          Ôta mang tất cả dịu dàng âu yếm của một người mẹ, nhưng lại có những nét ngây thơ mê đắm của một Juliette đang độ thanh xuân, có những đớn đau từng trải của một Anna Karénine bất hạnh, và ở nàng, còn một hồn Đạm Tiên linh ứng, hiển hiện. Ôta chỉ sống có vài ngày trong đời Kikuji, yêu chàng trong vài khắc nhưng vết môi nàng đã tạc trong da thịt chén, đã thành gợn chén, nằm trong vật chất, đã trở thành một hữu thể. Đời Ôta là đời trà trong buổi hoàng hôn, nàng như tia sáng cuối lóe lên trước khi tắt, nhưng hồn trà không đi được, cứ về trong chén. Trà và chén, như vết môi và con người, chẳng khác gì tác phẩm nghệ thuật. Người ta có thể bỏ bê trà, chén trong bóng tối, trong ẩm ướt của một trà thất không người; cũng như người ta có thể để sách ẩm mốc trong thư viện tối tăm mối mọt. Nhưng mỗi lần có một tâm hồn tri kỷ nâng chén, là vết son lại hiện lên cùng với hương trà, hồn trà, cũng như mỗi lần có người dở sách ra đọc, những con chữ trong tác phẩm sẽ lại động đậy, thì thầm nói chuyện.

                          Ôta cũng như Eva, sau khi phạm cấm, tất phải đọa đầy: hối hận, mặc cảm, tội lỗi, đẩy nàng vào cái chết. Tất cả được xây dựng như một bi kịch cổ điển Shakespeare, nhưng vô cùng thanh thoát như vòng luân hồi bể khổ, bến mê của nhà Phật.

                          "Nàng đã đi tìm cái chết vì mặc cảm tội lỗi, vì không có lối thoát ? hay nàng chết dưới mãnh lực của tình yêu mà nàng không thể dập tắt được.

                          Vì tội lỗi hay vì tình yêu? Câu hỏi ấy ngày đêm không ngớt dày vò Kikuji, từ một tuần nay, không lời giải đáp.

                          Giờ đây chàng nhắm mắt quỳ trước bàn thờ người đã khuất, chàng thấy mùi hương nồng ầm tuyệt vời của nàng vẫn bao bọc mình như trước, thanh tịnh không gợi chút nhục thể nào. Chàng đón nhận một cách tự nhiên sự hiện diện này, hiện diện hữu tình nhưng vô thể, vọng âm hơn vọng hình, đúng với bản tính sâu sắc của nàng.

                          Từ khi biết tin nàng mất, Kikuji hầu như không ngủ được dù đã uống cả rượu trộn thuốc ngủ. Trong những giấc chập chờn ngắn ngủi, chàng luôn luôn giật mình tỉnh dậy, nhưng những thoáng chợp mắt ấy lại không có ác mộng mà đầy mộng mơ: những giấc mơ tràn đầy nhục cảm bào mòn thật lâu sau khi tỉnh giấc. Chàng lấy làm lạ tự hỏi, tại sao một người đã chết mà hương thơm ngây ngất của vòng tay cứ còn tồn tại mãi trong ta?" (trang 750).

                          Ôta đi, nhưng hương nàng còn lại. Kikuji ngậm ngùi day dứt với một mùi hương, mùi hương mà chỉ có những ngòi bút tuyệt vời mới tìm thấy chữ: "hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình". Ôta như Giáng Kiều muốn bám chặt vào cuộc đời mà bỏ lửng cuộc sống trong tranh. Nhưng nếu Giáng Kiều chỉ thuần là những đường nét thì Ôta là xương thịt, nàng thật như thân xác, nàng thật như hương trà, nàng thật như đắm say, nàng thật như tình yêu xuyên cõi chết. Kikuji tiếp tục sống những giây phút thần tiên của nhục cảm với hương nàng, cho đến ngày chàng nhận thấy mùi hương ấy không chỉ là mộng ảo, mà còn hiện hữu trên tấm thân người con gái của nàng: Fumiko. Và đúng như ước muốn của Ôta, Kikuji theo con đường cũ nàng đã đi: chàng yêu người con gái qua hình ảnh người mẹ. Nhưng Kikuji sẽ chỉ sống như một người trần, chàng không bao giờ đạt được đỉnh cao của Ôta, bởi chàng chưa đi đến thử nghiệm cuối cùng: cái chết.

                          Cái chết của Ôta liên quan đến cái chết của Kawabata: "Chết là vĩnh viễn từ chối mọi lý giải của người khác. Không ai biết lý do hành động tự hủy của một người, cũng không ai có quyền phán đoán người đi tìm cái chết" (trang 756).

                          Nhưng chết chưa hẳn là hết, mà nhiều khi chỉ là khởi hành. Kawabata rõ hơn ai hết về cái chết của nhà văn sau mỗi tác phẩm: Ôta đã hoàn tất "tác phẩm", đã đi trọn cuộc tình xuyên thế hệ: nàng đã tìm đến tình yêu bên kia cõi sống, và kinh nghiệm có một không hai này của nàng để lại cho trần thế một ý nghĩa mới về đam mê, về nhục dục.

                          P.K
                          Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 23-07-2009, 02:29 AM.
                          Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                          Comment

                          • #58

                            Sachhay.com

                            Người giới thiệu: Phương Khanh


                            • Tựa sách:
                              Xứ Tuyết
                            • Tác giả:
                              Kawabata Yasunari
                            • Dịch giả:
                            • Ngô Văn Phú - Vũ Đình Bình

                            Có lẽ những ai yêu mến văn học Nhật bản đều biết đến cuốn tiểu thuyết Xứ Tuyết, hay Vùng Băng Tuyết, của văn hào Kawabata Yasunari. Xứ Tuyết được viết trong khoảng thời gian từ năm 1935 tớinăm 1947. Trước khi được xuất bản dưới dạng ấn phẩm hoàn chỉnh, tác phẩm này đã được đăng nhiều kỳ trên báo. Xứ Tuyết ngay khi ra đời đã được đánh giá là một kiệt tác, đưa Kawabata trở thành một trong các nhà văn hàng đầu của Nhật bản thời bấy giờ và sau này, cùng với các tác phẩm khác đã đưa ông đến với giải Nobel văn học năm 1968. Trong diễn văn tại lễ trao giải, đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển đã ca ngợi: "Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người".



                            *
                            * *


                            Xứ tuyết mang âm hưởng truyền thống lữ hành của các thi nhân văn sĩ Nhật Bản từ xa xưa. Câu chuyện theo bước chân của chàng trai trẻ Shimamura du hành ngoạn cảnh và tắm suối nước nóng. Shimamura, sinh ra và lớn lên ở một khu phố thương mại của Tokyo, đã lập gia đình, nhưng lại say mê với cái đẹp như bị một huyền lực điều khiển, vì vậy chàng đam mê theo học nghệ thuật vũ đạo Tây phương và hoạt kịch. Là một chàng trai tài tử nhàn rỗi thiếu thành khẩn với chính mình, lại có đôi lúc khát vọng tự tìm hiểu bản thân thôi thúc, nên chàng thích lên miền núi một mình và đã ba lần lên xuống xứ tuyết phía Bắc Nhật Bản trong ba mùa khác nhau Xuân - Thu - Đông.

                            Trong lần thứ nhất vào thời điểm mở cửa mùa leo núi, mùa xuân bắt đầu với chồi non xanh thẳm và hương thơm ngát, chàng gặp nàng ca kỹ (geisha) Komako. Komako là một cô gái đại diện cho vẻ đẹp tràn trề nữ tính, mạnh mẽ, tương phản giữa thánh thiện và trần tục, giữa tỉnh táo và đam mê, giữa vẻ đẹp sáng ngời nét thơ ngây bên ngoài và sức trầm lắng của nội cảm. Cảm giác mà nàng đem lại cho Shimamura là sự tươi mát và thanh sạch tuyệt vời. Trong những đêm khi mà nàng giúp vui tiệc tùng bằng cách đánh đàn samisen cho những khách du hành, uống rượu say và mệt lả, nàng về bên Shimamura với sự nồng nhiệt khiến chàng rung động đến tận tơ lòng.

                            Con tàu đưa Shimamura vượt qua đường hầm đến xứ tuyết lần thứ hai để gặp lại Komako vào mùa đông, vài tuần trước khi mở mùa trượt tuyết. Trong ánh sáng mờ ảo, Shimamura mê mẩn ngắm khuôn mặt người thiếu nữ ngồi đối diện với chàng ngời lên trên tấm kính cửa sổ toa tàu, với vẻ đẹp vừa huyền ảo vừa siêu phàm, với sự duyên dáng kỳ lạ của khuôn mặt trôi qua phong cảnh ban đêm. Cô gái đó, chàng còn gặp lại ở vùng băng tuyết, chính là Yoko. Một ca kỹ với vẻ đẹp trong trắng và xa vời, mong manh và mờ ảo, tin cậy và thơ ngây ngay cả trong cách nàng thể hiện tình cảm với Shimamura, với giọng nói “truyền cảm, trong thanh và đẹp đến não lòng”, khiến chàng mỗi lần tiếp xúc là mỗi lần khám phá thêm một nét quyến rũ nơi nàng.

                            Rồi những ngày đầu mùa thu với lá phong đỏ thắm, Shimamura lại rời Tokyo để đi nghỉ ở xứ tuyết. Ở đó, giữa hai người con gái xứ tuyết, trong khung cảnh của một vương quốc mà cảnh sắc, con người, phong tục, lối sống đều hồn hậu, chất phác và dịu dàng, chàng mẫn cảm sâu sắc trước cái đẹp nhưng lại đắn đo lưỡng lự giữa hai mối tình, một nặng về thể xác, một nặng về tâm hồn. Say đắm Komako nhưng trong Shimamura luôn hiện diện ánh sáng kỳ ảo lóe lên từ Yoko. Xúc cảm tình yêu của chàng dành cho Yoko ngày càng lớn dần khi chàng cảm nhận được cái mờ ảo và mong manh của vẻ đẹp khó diễn tả ấy, một vẻ đẹp chàng khao khát theo đuổi và nắm bắt cả đời. Trong khi Komako càng đến bên chàng thân thiết, gần gũi, mãnh liệt và hy sinh bao nhiêu, thì cứ mỗi lần rời xa xứ tuyết chàng lại thấy nàng biến mất không còn lưu lại chút dư tình trong tâm trí. Tình yêu của Shimamura với Komako bắt đầu chớm những giận hờn đầu tiên. Komako hoang mang không biết Shimamura còn yêu mình thật hay không, còn chàng cũng không sao hiểu nổi sự lạnh lùng của lòng mình, tại sao mình không thể sống được mãnh liệt, trọn vẹn và hy sinh trong dâng hiến không đòi hỏi chút gì trả lại như nàng.

                            Đúng vào lúc Shimamura quyết định rời xa trạm nước nóng ở xứ tuyết để tránh cơn bão lòng và cắt đứt duyên nợ một cách lặng lẽ thì mọi sự đã kết thúc trong bi thảm. Trong một buổi chiếu bóng tại một nhà kho gần nơi chàng ở, một đám cháy dữ dội đã xảy ra. Mặt đất rừng rực trong tia lửa và tàn tro bốc cao lên tận bầu trời đêm, một bầu trời với dải Ngân Hà lóng lánh trong ánh sáng đẹp một cách ma quái. Yoko, người yêu thuần khiết và mối tình lý tưởng của chàng đã chết trong đám cháy đó. Khi chàng chạy tới thì thấy thân hình bất động của Yoko với gương mặt thanh tú và thánh thiện trên đôi tay Komado, còn Komako thì lời nói như mê sảng và vẻ mặt như sắp hóa điên. Chàng lảo đảo ngẩng mặt lên trời và có cảm giác dải Ngân Hà trôi tuột vào trong người chàng với tiếng gầm thét dữ dội… Wapedia





                            Những nội dung khác


                            Xứ Tuyết, cái tên nghe thật xa xăm và xưa cũ là sức hút chính, khiến chúng tôi tìm đến vùng đất này vào một ngày cuối đông, đầu xuân.

                            Ngồi trên tàu Shinkansen vun vút lao lên hướng bắc, tôi giở cuốn truyện đã ố vàng theo thời gian, lần đọc từng trang và lập tức bị hút vào câu chuyện tình bi thương đã làm say đắm biết bao độc giả trên toàn thế giới.

                            “Con tàu đi ra khỏi đường hầm sâu hun hút, và đây đã là vùng băng tuyết. Mặt đất trải dài trắng bạc dưới màn đêm”.

                            Có lẽ vị khách nào tìm đến Yuzawa với mục đích như tôi cũng đều chăm chú ngó qua cửa sổ khi tàu vào đến đoạn đường hầm cuối cùng. Đường hầm sâu hun hút, hai bên cửa sổ chỉ một màu tối đen. Và cảm giác hứng khởi một cách tò mò ập đến cùng với những tia sáng đầu tiên ló ra sau đường hầm.

                            Xứ Tuyết đây rồi. Thị trấn nằm giữa thung lũng bốn bề là núi. Những ngọn núi phủ tuyết trắng bạc, dù dưới trời mưa vẫn ngời lên thật dịu dàng. Và dưới tuyết, thị trấn như thu mình lại, như che giấu một thế giới khác, 1 thế giới huyền ảo của cái đẹp, đã được Kawabata vẽ nên trong Xứ Tuyết.

                            Tuy Yuzawa bây giờ đã khác xưa nhiều lắm rồi, nhiều khách sạn cao tầng mọc lên thay thế cho những lữ quán kiểu Nhật, nhưng ở đây vẫn lưu giữ tất cả những gì còn liên quan tới câu chuyện tình giữa chàng trai Tokyo và hai người phụ nữ trẻ, và đặc biệt là tác giả của cuốn sách, nhà văn Kawabata.

                            Trước hết là ga tàu, nơi Shimamura, chàng tài tử Tokyo gặp gỡ người con gái thứ hai đã chiếm trọn trái tim chàng ngay từ lần gặp đầu tiên. Đó là ga Echigo Yuzawa, bến đỗ của rất nhiều khu trượt tuyết ở Niigata. Trong phòng chờ của nhà ga có treo những bức ảnh chụp nhà ga từ những ngày mới mở. Những người thợ phải dùng tay đào hầm xuyên lòng núi. Những cây cột đỡ hầm đầu tiên được dựng lên. Trong lòng núi tối đen, bắt đầu hình thành một đường hầm lớn. Những đường ray xuất hiện. Chuyến tàu đầu tiên là một dãy xe goòng, hành khách chen nhau đứng trên các toa, dáng vẻ đầy nghiêm trang hướng về phía thợ chụp ảnh. Vẻ mặt họ có phần căng thẳng, không biết đoàn xe sắt này sẽ đưa họ chui qua đường hầm sang phía bên kia dãy núi như thế nào. Giờ thì những đoàn tàu Shinkansen chạy suốt ngày, vài phút lại có 1 chuyến từ Tokyo chạy đến. Vào mùa trượt tuyết, khách đông như trảy hội. Nhà ga lúc nào cũng tấp nập người vào ra, người kéo vali, người vác những chiếc túi đựng ván trượt tuyết dài hơn cả người.

                            Bước ra khỏi cửa ga phía tây, rẽ theo con đường bên phải chừng vài trăm mét là tới Bảo tàng Lịch sử thị trấn Yuzawa, trong tiếng Nhật là Yukiguni-kan. Bảo tàng là một ngôi nhà 3 tầng, bề ngoài trông có vẻ cũ kỹ và lạnh lẽo. Tuy nhiên, bước chân vào trong sẽ bắt gặp ngay một không gian ấm cúng, trưng bày rất nhiều hiện vật nói về cuộc sống của người dân địa phương ở nơi xứ Tuyết này, đặc biệt là dưới thời Showa, là thời gian diễn ra câu chuyện trong cuốn sách. Những bức ảnh tư liệu cho thấy, vào tháng Chạp, tuyết rơi dày đến 3 thước, những con đường bị tuyết vùi kín, người dân phải cào những lối nhỏ giữa đường, tuyết cào sang hai bên cao quá đầu người, trông như những đường hào. Nghe nói các thôn trong làng phải phân công nhau đào tuyết dọn đường đi. Thỉnh thoảng tuyết rơi dày ngập đến tận mái nhà, lại phải dùng xẻng đào tuyết để mở lối ra. Ở những lữ quán có suối nước nóng, họ đào các con mương quanh nhà và tháo nước tắm nóng vào chống tuyết đọng. Nhà kiểu truyền thống ở Nhật làm bằng gỗ nên mùa đông rất lạnh, vì vậy giữa nhà thường có một bếp lửa. Các hoạt động chính của gia đình diễn ra quanh bếp lửa này.

                            Giày dép đi mùa đông thời bấy giờ là những đôi ủng rơm dày, hoặc những đôi guốc gỗ cao xỏ ngón, có phần che kín ngón trùm ra bên ngoài quai. Đặc biệt, có thể bước đi trên tuyết, người ta bện những vòng tròn to hơn cỡ chân, và đan những sợi dây qua giữa vòng tròn và buộc xuống dưới đế ủng. Đế đi tuyết như thế sẽ tản trọng lượng cơ thể dồn xuống bàn chân, làm cho chân không bị lún sâu xuống tuyết.

                            Bảo tàng dành riêng 1 tầng để trưng bày các vật dụng nhà văn Kawabata đã từng dùng khi ở Yuzawa, như chiếc kimono và áo haori khoác ngoài, chiếc đồng hồ quả quýt đắt tiền hiệu Tiffani, bộ tách uống sake mà nhà văn thích dùng để uống trà, và chiếc tách ông dành riêng để mời khách... Cũng tại đây, người ta đã dựng lại một căn phòng nhỏ, căn phòng của 1 geisha có thật tên là Matsuei, nguyên mẫu của nhân vật Komako. Trong bộ kimono ba màu giản dị, tóc vấn cao, cổ áo sau trễ nải để hở chiếc gáy trắng ngần, Matsuei ngồi bên bàn uống trà ngóng ra phía rặng tuyết tùng sẫm đen dưới thung lũng tuyết phủ, và xa xa là những đỉnh núi cũng phủ tuyết ngời lên dịu dàng trong ánh sáng. Có lẽ cô đang nghĩ về Kawabata.

                            Một bộ sưu tập tranh khổ lớn lấy cảm hứng từ câu chuyện cũng được treo trang trọng quanh phòng trưng bày, kết thúc bằng bức tranh rực lửa, khi mà Shimamura đứng như mộng mị chứng kiến cái chết của người chàng yêu, và trong giây lát, “cả dải Ngân hà như chảy tuột vào người chàng trong một tiếng gầm thét dữ dội”.

                            Hôm chúng tôi tới thăm bảo tàng, trời đổ mưa. Nước chảy thành suối hai bên vệ đường, nhưng đó không chỉ là nước mưa, mà là nước tuyết trên các sườn đồi đang tan chảy và cả nước tưới chống đọng tuyết trên đường. Tuy vậy, tôi vẫn quyết định đi bộ đến lữ quán Takahan, là nơi nhà văn đã ở và viết cuốn truyện này, thử đi trên con đường mà nàng Komako đã thuyết phục chàng Shimamura cùng vượt qua trong 1 đêm tuyết lạnh. Chặng đường dài gần 2 cây số, vắng vẻ, dốc dần lên lưng chừng đồi. Và đây rồi, lữ quán 800 năm tuổi sừng sững hiện ra trong màn mưa. Tuy đã sang xuân và mưa có làm tuyết tan, nhưng lữ quán vẫn bật ống tưới nước, chắc để cho tuyết rơi ban đêm không đọng dưới bậc thềm. Và chắc đây là nước suối khoáng dẫn ra từ phòng tắm suối nước nóng, giống như con mương đào cạnh chân tường nhà mà chủ ngôi lữ quán trong cuốn truyện đã cho đào để ngăn tuyết đóng bên nhà.

                            Lữ quán 800 tuổi này đã được xây dựng lại vào năm 1989, ngày nay là một tòa khách sạn kiểu Nhật bề thế. Trong sảnh rộng có cả thang cuốn dài và cao, đưa khách lên tầng. Bà chủ lữ quán dẫn tôi đi xem căn phòng, sau khi xây dựng lại, vẫn được giữ nguyên với các vật dụng và đồ gỗ từ thời Showa. Căn phòng nhìn xuống thung lũng trải dài tới những rặng núi xa.

                            Bà chủ lữ quán năm nay đã ngoại 70, vẻ mặt tươi sáng và đôn hậu, tự hào kể: ”Takahan là khách sạn có lịch sử lâu đời nhất ở Yuzawa. Chúng tôi là đời thứ 36. Tổ tiên của chúng tôi đã phát hiện ra nước suối nóng ở đây, và đã đến đây sinh cơ lập nghiệp.”

                            Các bức ảnh trưng bày trong lữ quán cho thấy, lữ quán đã thay đổi rất nhiều. Vào năm Meiji 38, tức năm 1905, lữ quán khi đó tuy đã nhà ngang dãy dọc, nhưng mới có hai tầng. Tới năm 1935, trong làng đã có rất nhiều lữ quán khác, tất cả đều thấp tầng, nằm nép mình bên sườn núi. Takahan khi đó đã được dựng lại thành 3 tầng. Đây chính là thời điểm mà Kawabata đang đi về giữa Tokyo và Yuzawa. Bà chủ quán cho biết: ”Lần đầu tiên ông tới đây là vào năm 1934, và trong vòng 3 năm sau đó, ông đi lại nhiều lần, để viết tác phẩm Yukiguni. Phòng ông ở vào thời đó là phòng tốt nhất của lữ quán. Ba bề là cửa sổ nên có tầm nhìn rất tốt, ông ấy rất thích. Ngày xưa, đến các lữ quán Nhật bản, buổi tối người ta thường mời geissha đến phòng chơi, từ đó Kawabata đã nảy ra cảm hứng để viết tác phẩm. Viết xong từng đoạn, ông lại gửi đến báo qua đường bưu điện. Nhiều người nổi tiếng đã đến đây và để lại lưu bút, trong đó có đạo diễn Toyota Shiro và các diễn viên Kishikeko, Yachigusa Kaoru cùng đoàn làm phim đến để quay phim Yukiguni, dựa trên tác phẩm của ông. Nhiều nhà thơ nổi tiếng, như Kitahara Hakushu hay các nhân vật nổi tiếng khác như thủ tướng Tanaka Kakuei cũng đã từng đến đây.

                            Không chỉ bảo tàng Yukigunikan và lữ quán Takahan, rất nhiều nơi trong thị trấn Yuzawa vẫn còn lưu dấu câu chuyện tình bi thương trong Xứ Tuyết, như khu rừng tuyết tùng cạnh ngôi đền phía dưới sườn núi, nơi Shimamura lần đầu tiên cảm nhận một cách sâu sắc vẻ đẹp thuần khiết và hơi thở mát rượi của Komako. Thác nước phía xa cho tới nay vẫn không hề thay đổi. Rồi khu trượt tuyết Nunoba lâu đời nhất ở Yuzawa, nằm trên đường từ nhà ga tới khách sạn, nay đã trở thành khu trượt tuyết lớn với nhiều đường trượt. Và còn rất nhiều dấu vết mới, mà sau này các đoàn làm phim dựa theo tác phẩm Xứ Tuyết đến đây đã để lại.

                            Trước đây, Yuzawa vốn nổi tiếng là khu nghỉ suối nước nóng, nhưng với sự phát triển của môn trượt tuyết, giờ đây, thị trấn miền núi này là một trong những khu nghỉ trượt tuyết hấp dẫn nhất Nhật bản. Trong dòng người vẫn đang háo hức đổ về nơi này, không ít người đã dành thời gian tìm lại một thế giới xưa cũ, tưởng chỉ còn trong ký ức, nhưng vẫn song hành với dòng chảy hiện tại của thời gian.

                            Trong chuyến đi lần theo dấu vết của câu chuyện trong Xứ Tuyết, chúng tôi tìm được một bài viết, đăng trên Tuần san Shincho, (Tân Triều) một tạp chí văn nghệ rất nổi tiếng của Nhật, số ra cách đây khoảng 7-8 năm.

                            Chính giữa trang tạp chí là ảnh bán thân thời trẻ của bà Odaka Kiku, nàng Geisha trong đời thực, nguyên mẫu nhân vật Komako trong tác phẩm Xứ Tuyết. Ảnh chụp năm 1935, khi bà tròn 20 tuổi. Cô gái trong ảnh có gương mặt tràn trề sức sống, tươi như 1 đóa hoa buổi sớm, đúng như lời miêu tả Komako của Kawabata, đó là một vẻ đẹp tươi mát tuyệt vời”.

                            Sinh ra trong một gia đình rất nghèo, bà đã đi học làm geisha từ nhỏ. Năm 13 tuổi, bà đến Yuzawa làm geisha kiếm sống, lấy tên là Matsuei. Năm 1934, bà gặp Kawabata. 1937 bà thôi làm geisha, lấy chồng làm nghề thợ may kimono. Bà hầu như không nói gì về mối quan hệ với Kawabata, kể cả khi ông đoạt giải Nobel và khi ông qua đời sau đó. Tuy nhiên, sau khi bà qua đời, chồng bà nói rằng, tuy Yukiguni là tác phẩm văn học nhưng hầu như tất cả đều là chuyện thật.

                            Ông cho biết, thời quen biết Kawabata, Matsuei thường đến với ông Kawabata ở khách sạn. Bà thường đến vào sáng sớm, đi thẳng vào phòng, mang theo nước nóng để chăm sóc cho Kawabata. Thời đó, bà còn rất nghèo. Tuy làm geisha nhưng chỉ có độc một chiếc áo kimono.

                            Trong khi Kawabata viết tác phẩm này, bà không hề hay biết rằng, mình chính là nguyên mẫu của nhân vật chính. Sau khi câu chuyện được đăng trên báo, mọi người đều nói rằng người phụ nữ trong câu chuyện chính là bà. Khi đó, bà cảm thấy rất giận vì Kawabata đã không nói gì cả. Sau này khi đi lấy chồng, bà đã đốt thư xin lỗi, tập bản thảo mà Kawabata gửi tặng, đồng thời đốt luôn cả nhật ký của mình.

                            Vốn là người có tính cách rất mạnh mẽ, quyết đoán, bà quyết rũ bỏ quá khứ để bắt đầu 1 cuộc sống mới tại một nơi khác. Khi Kawabata được giải Nobel, nhiều người đã đến thăm bà, có cả sinh viên đến phỏng vấn để làm luận văn tốt nghiệp. Có một lần, trước khi Kawabata tự tử, bà đã nhận lời tham gia một chương trình có Kawabata tham dự. Đây là lần duy nhất bà nhận lời tham gia một chương trình như vậy. Nhưng đáng tiếc, ông Kawabata đã chết trước khi chương trình kịp diễn ra. Sau khi bà qua đời, chồng bà đã tìm thấy rất nhiều bài viết trên báo liên quan đến Yuzawa được bà cắt ra và giữ kín. Chồng bà cho rằng, bà đã rất nhớ Kawabata, nhưng bà chôn chặt bí mật đó trong lòng để sống hạnh phúc và hòa thuận với chồng cho đến tận cuối đời./.
                            P.K.
                            Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 23-07-2009, 02:20 AM.
                            Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                            Comment

                            • #59

                              Tu bụi - Trần Kiêm Đoàn



                              TU BỤI
                              Truyện dài của

                              Trần Kiêm Đoàn
                              Sách dày 500 trang
                              In đẹp tại Papyrus Inc. , San Jose, U.S.A

                              Titan Corporation xuất bản 2006
                              ***
                              Lời mở: Mahinda Phúc Nguyên
                              Bìa, design: Đặng Lệ Khánh


                              ***

                              Lời mở: Mahinda Phúc Nguyên

                              Bìa, design: Đặng Lệ Khánh


                              Website: Trankiemdoan.net


                              Giới thiệu

                              Bạn cứ giở ra bất cứ một trang nào trong cuốn truyện dài 500 trang này đi, thế nào bạn cũng bắt được một tư tưởng, một ý niệm phật giáo loáng thoáng , lang thang đâu đó , và một cách nhẹ nhàng , khi bạn sang trang, bạn bất ngờ nhận thấy hình như cái ý niệm đó bỗng trở nên có hình dáng, có chiều rộng, có chiều sâu, và thật gần gũi với bạn như thể bạn đã từng nghĩ đến nó tự bao giờ. Tu Bụi đã bằng một cách nào đó đã đem những tư tưởng và lý thuyết nhà Phật đến với bạn một cách êm ái không ngờ.

                              Bạn nhắm mắt mà lật đến một chương nào đó đi, bạn sẽ ngạc nhiên thích thú vì những sinh hoạt chung quanh bạn, nhờ Tu Bụi mà bỗng trở nên giàu có màu sắc , sống động với từng chi tiết cỏn con , ví dụ như một mảnh gấm dệt , một tiếng trống chầu, một quân tốt đỏ, và cả ngay chính tâm tư của bạn nữa.

                              Bạn vô tình chỉ vào một đoạn nào đó của Tu Bụi đi , bạn sẽ thấy , sẽ nếm được nét thi vị của văn chương mượt mà , của tấm lòng nhân hậu, cho dù khi nói đến những mối thù gần như truyền kiếp, hay khi đề cập đến những trăn trở, những đam mê của con người ở chốn đời thường.

                              Bạn không tin ư? Vậy thì mời bạn đọc thôi. Giả thử bạn không đọc từ trang đầu tiên. Giả thử bạn vô tình mở cuốn sách ở trang......Mời bạn đọc thử đi, rồi bạn cho biết bạn có tìm được một câu nào thú vị ở trang đó không nhé.

                              Đúng vậy, thưa bạn. Gần như đoạn nào cũng đầy những ý tưởng thâm trầm lồng giữa những lời văn đẹp đẽ.



                              LỜI MỞ

                              Tu Bụi Là Tu Giữa Bụi Trần

                              Cư trần lạc đạo, sen trong lửa,
                              “TU BỤI” là tu giữa bụi trần.


                              Xin được viết đôi dòng cảm nghĩ của mình về tác phẩm Tu Bụi của tác giả Trần Kiêm Đoàn.

                              Số là rất tình cờ, tôi và anh Đoàn cùng dạy lớp mùa Hè ở trường Lutheran Pacific University tại Olympia, Washington State, tháng 6 năm 2001. Hai chúng tôi được xếp chung hai phòng sát nhau trong cư xá giáo sư trường đại học LPU và cũng là hai người Việt duy nhất ở đây. Anh Đoàn dạy môn Psychotherapy và tôi dạy môn Physiotherapy nên có dịp làm việc chung trong khóa học. Tôi ham thể thao, anh Đoàn ham viết lách, nhưng trời Olympia mưa nhiều hơn nắng, nên tôi thường bị bó chân trong cư xá sau giờ dạy. Ở nhà nhiều, tôi đâm ra tò mò vì thấy ngày nào, đêm nào, ngoài giờ lên lớp, người ở phòng bên cạnh cũng say sưa gõ máy.

                              Hỏi ra, mới biết anh Trần Kiêm Đoàn đang viết một cuốn truyện dài bằng tiếng Việt. Sống xa quê hương từ năm 1965, tiếng Việt đối với tôi là một “linh tự” vì đó là tiếng nói yêu thương của ngày xưa Quê Mẹ. Đến khi đi mòn chân, gần khắp hết các nẽo đường xứ người, tôi mới hiểu và cảm thấy yêu một nhân vật trong sách Giáo Khoa thuở nhỏ tôi học, khi ông ta đi khắp bốn phương và trở lại làng cũ nói rằng: “Không nơi nào đẹp bằng quê hương ta!” Đẹp, vì đó là nơi mẹ tôi đã sinh tôi ra và tập cho tôi tiếng nói đầu đời bằng tiếng ru của Mẹ. Tôi yêu Quê Hương, yêu Mẹ nên yêu Tiếng Nói của Mẹ mình.

                              Học tiếng người, nói tiếng người, viết tiếng người, dạy tiếng người, nên tôi thèm tiếng Mẹ. Tôi đã năn nỉ với anh Đoàn cho tôi đọc những trang tiếng Việt mà anh đang viết. Lúc đó, tuy anh mới viết 3 chương bản thảo trong số vài ba chục chương dự định cho tập sách, nhưng cũng đồng ý cho tôi xem. Tập sách tương lai chưa có tên. Tác giả chỉ cho biết đơn sơ rằng, anh muốn đem tinh thần hóa giải của Phật giáo để giải quyết những vấn đề khúc mắc trong tâm lý nhân vật của cuốn truyện.

                              Khi tôi hỏi về nhan đề cuốn sách, anh Đoàn đưa ra nhiều tên mà anh đang nghĩ đến để hỏi ý tôi. Trong số những tên làm tôi chú ý, có tên “Tu Giữa Bụi Trần”. Tôi liền đề nghị với tác giả rút gọn 4 chữ thành 2 chữ là… Tu Bụi! Vốn là nhà giáo và cựu huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam, anh Đoàn hơi giật mình vì cụm từ “tu bụi” nghe có vẻ “phiêu bạt giang hồ” quá. Nhưng tôi đã cố thuyết phục và đã được tác giả chấp nhận. Tôi đã đưa ra ý kiến rằng: Về nội dung, “Tu Bụi” mang một hình tượng dấn thân của kẻ hành đạo giữa thế giới Ta Bà; về hình thức, “Tu Bụi” có một độ bám đặc biệt, khó chìm trong một thế giới đầy chữ nghĩa và danh từ hoa mỹ. Nó níu được sự tò mò và chú ý của người đọc. Nếu so với những tên khác nghe có vẻ thuần thành, văn vẻ hơn nhưng lại trơn tuột, đọc xong sẽ quên ngay.

                              Thế là khái niệm “tu bụi” ra đời như một cái duyên vừa thuận vừa nghịch. Thuận, vì nói lên được tinh thần nhập thế của sự tu hành; đồng thời, nắm bắt được sự tò mò chú ý và quan tâm của người đọc. Nhưng nghịch, vì hình tượng chữ nghĩa quá mới mẻ và đầy tính phiêu lãng, chưa hề có ai dùng.

                              Chờ mãi cho đến 4 năm sau tôi mới được đọc chương cuối cùng của Tu Bụi.

                              Tôi rời xứ Việt và nhập vào dòng Phật giáo Sri Lanka đã hơn 40 năm nay. Tôi thuộc Đạo Tràng Tân Tích Lan Thiền Tông (New Theravada Sangha of Ceylon). Đây là một đạo tràng chủ trương đổi mới, tu và tìm sự giải thoát ngay giữa cuộc đời nầy.

                              Đọc Tu Bụi của tác giả Trần Kiêm Đoàn, tôi có cảm tưởng như nhìn thấy một mảnh bóng dáng của chính mình qua nhân vật chính là Trí Hải. Đời Trí Hải có nhiều biến cố. Từ vị trí của một vị hoàng thân, được tiên vương tin tưởng, nhưng lại bị tân vương nghi ngờ, nhân vật Trí Hải từ địa vị cao sang, bước vào cuộc đời gió bụi. Ông ta cũng có khi bị trôi nổi, vùi dập trong từng chặng đời khi lên, khi xuống qua hoàn cảnh sống và qua suy tư của riêng ông. Gặp những lúc khó khăn và khúc mắc nhất trong cuộc sống, Trí Hải phải dựa vào tinh thần hóa giải của đạo Phật để tìm ra phương hướng giải quyết. Hóa gỉải theo tinh thần đạo Phật trong Tu Bụi có ba cấp độ: Biết rõ vấn đề là gì; hiểu và có khi sống thật với vấn đề; và sử dụng toàn trí, toàn tâm để chuyển hóa trong tinh thần từ bi và trí tuệ. Đấy là cách giải quyết vấn đề ít thiệt thòi nhất và không gây đau khổ cho mình và cho người bởi vì cốt tủy của sự thay đổi hay “tu” là chuyển hóa thực tế chứ không tiêu diệt vấn nạn bằng danh từ suông hay bằng sự ỷ lại siêu hình, dễ dãi nào cả. Như lối thoát cho một cuộc tình đầy đam mê, thơ mộng nhưng ngang trái giữa Trí Hải và Ba Gấm không phải là một ngõ cụt của tuyệt vọng, hủy hoại mà là một sự chuyển hóa từ dục vọng tầm thường qua lòng thương quý và sự hy sinh cao thượng cho mình và cho người. Từ gốc rể, Trí Hải, nhân vật chính trong truyện, không phải là người theo đạo Phật, nhưng ông đã học và đã thực hành tinh thần đạo Phật qua hai nhân vật tu sĩ là sư Trúc Lâm và thầy Tiều. Tuy phương pháp tu hành khác nhau, thầy Tiều đi vào đời sống xô bồ đời thường và sư Trúc Lâm đi vào đời sống thanh tịnh ẩn dật, nhưng cả hai vị tu sĩ nầy đều thấy rõ được bản chất cá nhân để chọn pháp môn thích hợp cho mình và cho đời. Tôi có cảm tưởng như hai nhà sư xuất hiện giữa đời nầy khác nhau như Sao Hôm, Sao Mai; nhưng từ trong cội nguồn, họ là Sâm Thương, là một, là hai lữ hành cùng bước đi trên một con đường Trí Tuệ dẫn về phương giải thoát.

                              Về hình thức văn chương, Tu Bụi không phải là một tác phẩm tiểu thuyết (fiction) đúng nghĩa; mà cũng chẳng phải là một tác phẩm biên khảo hay lịch sử mang tính phi tiểu thuyết (non-fiction) thực sự. Nhiều đoạn văn đẹp và giàu vần điệu trôi chảy như thơ. Nhiều đoạn văn lý luận mang tính triết học và phân tích tâm lý rất sâu và trừu tượng. Cũng có những đoạn văn trình bầy sự kiện lịch sử, dữ kiện xã hội và khoa học có thật để làm bối cảnh cho dòng tưởng tượng trôi chảy.

                              Theo tôi, đây là một tác phẩm mang đậm nét tinh thần đạo Phật, lý giải được một số tín điều cũng như quan niệm triết học vẫn còn nằm sâu trong góc khuất tư tưởng. Với cảm nhận nghệ thuật riêng, tôi nhận định rằng, Tu Bụi vừa lôi cuốn, vừa khéo, vừa đẹp về cả ba phương diện văn học, triết học và đạo học. Đây là một đạo Phật gần với triết lý sống thật giữa đời hơn là chìm sâu trong thế giới tâm linh thuần tôn giáo.

                              Tuy nhiên, điểm nổi bật hơn cả là cái tâm của người viết. Đấy là tấm lòng hướng đến điều thiện. Tác giả Trần Kiêm Đoàn đã dùng một lối hành văn trôi chảy uyển chuyển, giàu hình tượng và ví von đầy cảm xúc. Ngay cả trong lý luận thì hình ảnh và cảm tính nghệ thuật cũng đã được vận dụng một cách tài hoa. Lắm lúc, sự lãng mạn tràn trề hay phẫn nộ bùng vỡ, nhưng vẫn giữ được vẻ tròn trịa, quý phái và cổ kính trong ý, trong từ và trong điệu văn.

                              Trong một e-mail từ Colombo gửi cho anh Trần Kiêm Đoàn trong ngày Tết năm nay, tôi có đùa rằng: “Nếu khi đọc Tu Bụi xong mà người ta nôn nóng muốn thử ‘tu bụi’ như thế nào và muốn gặp một ‘thiền sư tu bụi’ coi thử ra sao… thì tác phẩm mới được xem là thành công. Và biết đâu rồi sẽ có một dòng… Tu Bụi ra đời về sau nầy.”

                              Có muôn vàn thứ bụi và lớp bụi trong Tu Bụi của tác giả Trần Kiêm Đoàn: Bụi đời, bụi tham, bụi danh, bụi tình, bụi nghĩa… cấu kết thành bụi vong tình. Mỗi thứ bụi đều khoác bằng những lớp áo nhiều vẻ, nhiều mầu đầy cuốn hút.

                              Gần một nghìn năm trước, năm 1096, trong lễ trai tăng của hoàng thái hậu Phù Cảm Linh Nhân ở Giao Châu, thiền sư Trí Không đã nói đến ý nghĩa tu và giác ngộ rằng: "Tất cả mọi sinh linh đều có bản tính giác ngộ, chỉ vì bụi vong tình che lấp, trôi theo nghiệp báo mà lưu lạc mãi trong vòng ngũ thú. Phủi được hàng hàng lớp lớp bụi vong tình ấy thì chân tâm hiển hiện, Phật tính tỏ bày.”

                              Nếu chỉ phủi bụi bằng đôi tay và cây chổi của đời thường thì chỉ làm cho những lớp bụi có cơ dầy thêm. Bụi đời chỉ có thể rửa sạch bằng đôi mắt thương (từ nhãn) và bằng tấm lòng trung chính (chân tâm). Tác phẩm Tu Bụi đã thành công trong việc gợi ý “quét bụi trần gian” qua nghệ thuật kết cấu mang tính biểu tượng (symbolism) và tâm lý nhân vật được xây dựng mang tính cường điệu sáng tạo (creative exaggeration) gây ấn tượng sâu và đậm cho người đọc.

                              Tu bụi để phủi được lớp bụi vong tình.

                              Trong dòng suối cũ tâm linh, có một con nước vừa lên, rất mới.

                              Mahinda Phúc Nguyên(1)
                              Colombo, Tích Lan - mùa Xuân 2006






                              (1) Trong bài tựa bằng tiếng Việt của Bác sĩ Mahinda Phúc Nguyên, có một số lỗi chính tả và ngữ pháp do tác giả đã sống xa quê hương quá lâu, hơn 40 năm, không thường xuyên tiếp cận với ngôn ngữ Việt. Tôi đã xin phép được hiệu đính khi in lại thành “Lời Mở” trong tập sách nầy và cắt bớt những phần có liên quan đến trang web, nhưng không liên quan đến tập sách. Mọi sự hiệu đính và thêm bớt cho thích hợp với một Bài Tựa đều căn cứ theo tinh thấn căn bản của bài viết nguyên văn bằng tiếng Anh nhan đề “DUSTING OFF THE ENEMIES WITHIN” của Mahinda Phuc Nguyen, Ph.D; MD. đăng trên mạng lưới Đạo Tràng Tân Tích Lan (NewCeylonSangha. org. Số January. 2006).
                              Xin cảm ơn và đồng thời xin cáo lỗi với tác giả. TKĐ.
                              Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 09-11-2010, 01:01 AM.
                              Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                              Comment

                              • #60

                                Hoàng Tử Bé



                                TG :
                                Antoine De Saint-Exupéry
                                Đời ta tẻ nhạt. Ta đuổi bắt những con gà mái, loài người đuổi bắt ta. Mọi con gà mái đều giống nhau, và mọi mọi con người đều giống nhau. Vậy nên ta có u sầu chán ngán đôi chút. Nhưng, nếu chú tuần dưỡng ta, cuộc sống của ta sẽ sáng sủa ra, kể như có bóng mặt trời chiếu vào vậy. Ta sẽ biết một tiếng động của một bàn chân bước đi, nghe khác hẳn mọi tiếng chân bước khác. Những bước chân khác khiến ta chui vào hang trong đất. Bước chân của chú lại gọi ta ló đầu ra ngoài hang nghe như âm thanh một giọng nhạc. Và này coi kìa! Chú thấy ở đằng xa kia kìa những cánh đồng lúa mì đó chớ? Ta không ăn bánh mì. Lúa mì đối với ta vô dụng. Những cánh đồng lúa mì chả có nhắc nhở ta cái gì ráo. Và cái điều đó, thật đáng buồn! Nhưng chú có những sợi tóc màu vàng óng. Vậy nên sự vụ sẽ trở thành huyền diệu, một khi chú đã tuần dưỡng ta xong! Lúa mì, màu vàng óng, từ đó về sau sẽ nhắc nhở ta nhớ tới chú. Và từ đó ta sẽ yêu dấu tiếng gió thổi thánh thót trong lúa mì hiu hiu...
                                Nếu chú vui lòng... hãy tuần dưỡng ta đi!
                                ...
                                Và thế đó, hoàng tử bé khởi sự tuần dưỡng con chồn. Và lúc tới giờ sắp từ giã:
                                - A! Con chồn nói... Ta sắp khóc mất rồi...
                                - Đó là lỗi tại chú, ta không có ý đem lại khổ tâm cho chú, nhưng vì chú đã muốn rằng ta tuần dưỡng thiện dụ chú...
                                - Hẳn nhiên
                                - Thế thì chú chả có lợi gì hết trong vụ này!
                                - Trong vụ này được lợi đó, ấy là bởi cái màu lúa mì...


                                Hoàng tử bé là một giấc mơ... Giấc mơ dịu êm quá đỗi về một giếng nước hát ca nơi sa mạc cát vàng, về một đóa hoa duy nhất trong thiên hà vô tận, về một tiếng chuông bạc ngân nga giữa ngàn vạn vì sao. Tôi thích hình ảnh hoàng tử nương theo bầy chim thiên di mà đi, dù nó buồn miên man với đóa hoa mỏng manh bé xíu ở lại một mình với tình yêu chưa được thấu hiểu, tuyệt vọng để không rơi nước mắt. Cả hoàng tử và đóa hoa của chú, ngày ấy, có lẽ đều chẳng hiểu yêu là gì. Tôi cũng thương chú chồn trong sa mạc, giữa những tháng ngày đói ăn và bị thợ săn truy đuổi, điều duy nhất mong cầu là có một người bạn để trong lòng nhớ đến. Có lẽ chú chồn ấy đã thấm thía cái cô đơn vô tận nhất là khi mình không thương nhớ một ai.

                                Có lẽ, mỗi cuộc gặp gỡ và lướt qua nhau trong đời, cũng chỉ cần vậy mà thôi, để có những buổi chiều hoàng hôn lắng nghe tiếng gió thổi thánh thót trong lúa mì hiu hiu, và nỗi tịch mịch bỗng trở thành cõi êm đềm hoài niệm...
                                Đã chỉnh sửa bởi vertumnus; 01-07-2017, 10:24 AM.
                                Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

                                Comment

                                Working...
                                X
                                Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom