• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Bút Ký Thủy Lan Vy

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Bút Ký Thủy Lan Vy

    VU VƠ NIỀM NHỚ
    *




    Buổi chiều, ngồi bên bàn cơm, quán nhà ông thượng sĩ, căn bìa, dãy đầu của khu trại gia binh trường bộ binh Thủ Đức,thằng Mạnh ( Nguyễn Huy Mạnh ( Quân báo), Hồ Huy Hải ( Trung Tâm Huấn Luyện Trường Sơn) Và tôi ( Chiến Tranh Chính Tri) bộ tam sên thuộc đại đội 21, trung đội 211, thường xuyên cơm nước ở đây vào những ngày học phòng, và buổi chiều học bải về sớm, từ ngày gắn alfa, bộ ba từ giã nhà bàn, từ giã …” Bốn người một mâm ‘
    Có những chiều trời mưa, tan lớp sớm, chưa tới 5 giờ chiều, ba đứa đã quay quần bên mâm cơm, ba thằng hai chai bia trâu, căn trại gia binh một căn, lấy phòng khách làm phòng ăn, kê được 3 bàn, không khí ấm cúng giống như cảnh cơm nước trong gia đình.Bà thượng sĩ chủ quán trông khoảng ngoài bốn mươi, với 2 cô con gái chạy bàn, cô lớn, bé Yến học đệ nhị, cô em, Trần thị Thu Giang học đệ tam, hai cô bé khá xinh, ba thằng tụi nầy, mặt mày trông cũng sạch sẽ, ăn nói hiền lành, nên cũng được cảm tình của chủ quán, nhìn qua cách chăm sóc bữa ăn, cho thêm trái ớt, thêm nước mắm … khỏi cần phải kêu phải gọi, bởi đã có những đôi mắt dõi theo bàn ăn nầy, mỗi tuần, tụi nầy trả tiền một lần…
    Trời mưa, cơm nóng..ly bia sủi bọt… nhìn qua khung cửa sổ, từng đại đội học bải lần lượt về nhập trại, poncho trùm đầu, súng garant cầm tay, lần lượt bước lên đồi, nhập vào cổng số 9, hình ảnh người lính với súng cầm tay đi dưới mưa, đã khắc đậm trong lòng tôi, buổi chiều quân trường, buổi chiều trời mưa dai dẳng, đố ai không khỏi nhớ Sài Gòn, giờ nầy, giờ tan trường, con đường Lê văn Duyệt xuống dốc Cầu Bông, con đường trong giờ tan trường, đậm màu áo trắng, những chiếc xe đạp mi ni, theo từng cơn gió tung bay tà lụa, quai nón nhung tơ, vành nón nghiêng che… hay là ngồi trong quán cà phê Hân, trên đường Đinh Tiên Hoàng, xéo bên kia đường, cạnh rạp Casino, là thạch chè Hiển Khánh. Ngồi ở hai quán nầy nhìn trời mưa, nhìn từng giọt cà phê chầm chậm nhỏ xuống, thình thoảng có những chiếc áo dài ướt mưa, một chút da thịt mập mờ, làm cho con đường đang trong cơn mưa, đang ảm đạm, chợt như bừng lên sức sống, rồi cũng không khỏi suy nghĩ vu vơ, cuộc chiến tranh nầy rồi sẽ đi về đâu, tuổi của chúng tôi, lứa tuổi tràn đầy sức sống, phải xếp bút nghiên, ra đi theo tiếng gọi của sơn hà, rồi cũng có chút phân bì nhỏ nhen, giờ nầy mình đang ở quân trường, thì ở Sài Gòn, có nhiều thanh niên cũng trạc tuổi mình, vững vàng bước trên đường phố, tay cầm chặc lấy tờ giấy hoãn dịch… mà chữ ký được đổi bằng tiền, bằng thân thế...
    Những người trai đang đôi mưa trở lại quân trường, rồi mai đây trên khắp chiến trường,sẽ phải đối diện với trò chơi sinh tử,,, tôi nhớ tới trang tư của các báo Sài Gòn, thường xuyên đăng những tìn buồn dễ gây xúc động cho người đọc…” Cố Thiếu úy Ngô Hồng Ch..… Anh dũng hy sinh vì tồ quốc tại chiến trường tam biên.Được truy tặng Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hưởng dương 19 tuổi… mỗi khi hồi ức là hình ảnh nầy hiện rõ trong trí tôi… Ba đứa vẫn ăn cơm từ ngày gắn Alfa cho tới ngày mãn khóa, tuyệt nhiên không có một lời ướm hơi hay chọc ghẹo, dù hai cô bé rất thùy mỵ dễ thương… Thường như biết tính tụi nầy, cô bé thường cho nghe dĩa nhạc có bản “ Tôi đưa em sang sông” với giọng ca liêu trai Thanh Thúy, bản nhạc mà ba đứa tôi đều rất thích, dù chưa có đứa nào gặp nghịch cảnh phải đưa em sang sông…bởi người yêu còn chưa có, thì làm gì có dịp đưa em…. Nhớ bữa cơm cuối cùng, từ giã ra trường, tôi thấy trong quán có nhiều đôi mắt như xa xôi như sầu lắng…
    Một lần có dịp ghé qua trường công tác, sẵn dịp ghé khối quân huấn lãnh bằng tốt nghiệp, tôi có trở lại ghé thăm quán, uống cà phê… bà chủ quán và bé Thu Giang đều mừng rỡ, biết tôi về một đơn vị tại Sài Gòn…ai cũng chúc mừng…
    Vậy mà đã bốn mươi năm trôi qua, Thằng Hải, lúc tôi đổi ra Pleiku, cuối năm 74, có gặp nó, Hải phục vụ tại Trung Tâm Huấn Luyện Trường Sơn, mấy tháng sau, trên đường di tản trên tỉnh lộ 7B, tôi có ý tìm nó mà không gặp, Thằng Mạnh về quân báo, sau xin qua làm trưởng cuộc Cảnh Sát ở Long Khánh, tôi cũng mất tăm nó từ ngày rời trường mẹ… Điều tôi nhớ về nó là số bảng xe honda ss của nó: PN 8796F và số xe Honda dame của tôi là GD 8796F… Mạnh số quân 68/144443, Hải 68/144445, số quân tôi ở giữa hai số quân nầy, hai đứa tụi mày bây giờ ở đâu, đọc được những dòng chữ nầy nhớ tìm đến tao., Trung Úy Trần Ngọc Trác, đại đội phó đại đội 21 của mình giờ chót mang cấp đại úy, hiện ở Ca Li tao có liên lạc thăm ông mấy lần.... và mới năm rồi.. Ông qua đời trong sự thương tiếc của gia đình và bằng hữu, Mạnh ơi! mày còn nhớ tụi trong đai đội gọi tao là Sơn Cò, tao đứng chuẩn đại đội 21 và khi tập họp tiểu đoàn tao cũng ở vị thế chuẩn của tiểu đoàn 2, đứng ở vị thế nầy rất dễ bị phạt, mỗi lần nghe tiếng còi tập họp( dế kêu) tao phải chạy ra trước, mày đứng sau lưng tao, những ngày đi học bải, thường tao vác cây trung liên, mày phụ xạ thủ vác theo thùng đạn, thực tập hành quân tao vác cây đại liên, mày cũng phụ xa thủ, ban ngày có nặng nề hơn anh em khác, nhưng bù lại tao gác ca đầu mầy ca nhì, nên xong ca gác, làm vài chai, cũng đủ ấm lòng chiến sĩ, với giấc ngủ thật ngon và tương tương đối đầy đủ giấc.
    Khóa mình là khóa học cuối cùng với cây Garant M1( ôm mà mệt), cũng là khóa đầu tiên học máy ngắm hồng ngọai tuyến XM16 ban đêm, và thực tập hành quân 3 tuần lễ cuối khóa, ôn tập lại các bài học chiến thuật đã học, tụi mình dựng lều chung, ba thằng ngủ một lều, thứ hai đi, chiều thứ tư về trại, và thứ năm đi, chiều thứ sáu về, khung cảnh phía sau đồi 4100, có đủ địa hình, địa vật như chiến trường thật, mầy nhớ có một trái 80 ly, rớt gần lều bộ chỉ huy tiểu đoàn, mà may mắn nó không nổ… thời gian ở quân trường có vất vả nhưng mà vui,với những kỷ niệm đầu đời quân ngũ …6 tháng học tại Thủ Đức cộng với 3 tháng ở Quang Trung, thêm một tuần nghỉ tết tại trại, vị chi là chín tháng quân trường… thời gian tuy ngắn ngủi nhưng rất nhiều kỷ niệm khó quên...
    Ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, bao giờ ta mới có dịp trở lại thăm trường xưa…? Khi mà cờ đỏ vẫn còn bay trên khắp nẻo đường đất nước…
    Những tháng ngày ra đơn vị, phục vụ tại tiểu đoàn tổng trừ bị cho các binh chủng trừ bị, cho quân khu, cho sư đoàn bộ binh, cho tiểu khu…Tôi luôn rày đây mai đó trên khắp bốn vùng chiến thuật, làm công tác dân sự vụ, công tác tâm lý chiến…và nhiều công tác linh tinh khác
    Nhớ lần tới Huế, bốn thầy trò tăng phái cho bộ chỉ huy chiến tranh chính trị tiền phương, đóng tại trại Nguyễn Tri Phương, dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phan Phiên, tôi nhận lệnh trực tiếp từ thiếu tá Bá ( Thủ khoa khóa 13 Võ Bị) tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 10 CTCT, tôi còn nhớ chiếc C130 vừa đáp xuống phi trường Phú Bài, thì Cộng quân đã chào mừng, bằng mấy trái đạn pháo, trước mặt tôi là hàng hàng lớp lớp quan tài, chất trên những tấm pallet, phủ quốc kỳ, tôi nhẩm đếm phải trên trăm quan tài, mùi hôi nồng nặc, sân trải một lớp vôi bột dày, đã thấm nước từ quan tài rỉ ra, trở màu vàng sền sệt, tôi trút chai dầu gió Kim vào khăn tay, cho lên mũi, vẫn không át được mùi hôi, lần đầu tiên tới Huế, đế kinh không còn thơ mộng, mà là một đế kinh tiêu điều, mang nhiều vết loang lở của chiến tranh, tháng 8 năm 72, lúc mà Dù và Thủy Quân Lục Chiến, đều tạm dừng chân tại Huế, chưa chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị, trại Nguyễn Tri Phương, nằm phía bên nầy phi trường Tây Lộc, đi qua hồ Tỉnh Tâm sẽ tới đồn Mang Cá, bộ tư lệnh tiền phương Sư Đoàn 1, đang đóng tại đó với vị tướng tư lệnh lừng danh Ngô Quang Trưởng., sau một ngày tạm nghỉ ngơi. Tôi nhận lảnh một chiếc xe Dodge, bắt đầu công tác dân sự vụ, lần lượt tại nhiều trại tiếp cư đồng bào, chạy giặc Cộng Sản từ Quảng Trị, các trại tiếp cư nằm rải rác tại các quận Hương Sơn, Hương Thủy, Hương Trà… mượn tạm các cơ sở của trường học, đình chùa... Những cụ già gầy yếu, phải gạt nước mắt rời bỏ quê hương, vì người dân ở đây đã quá biết về sự dã man và tán ác của Cộng Sản, dù chung dòng máu Lạc Long, nhưng Bắc Cộng đã mất hết tính người. Toán chúng tôi tạm thời lập danh sách phát thức ăn, tặng phẩm cũng như một vài loại thuốc thông thường… Lúc bấy giờ Huế quá tiêu điều, nhịp cầu Trường Tiền sập còn nguyên đó, rải rác bên vệ đường vẫn còn những ngôi mộ chôn vội, kỳ tích dã man của lũ người sinh Bắc tử Nam, có tận mắt nhìn thấy cảnh người dân từ Quảng Trị, di tản vào Huế, mới thấy lòng người dân, sợ giặc Cộng còn hơn sợ dã thú, ác quỷ. Toán chúng tôi luôn cố găng làm tròn phận sự được giao phó. Chút quà tặng, những lời ân cần thăm hỏi, tình nghĩa quân dân được thể hiện là lúc nầy đây
    “…..
    “ Trời tháng tám Huế mưa buồn nhão đất
    “Ướt lòng tôi và lạnh cả tình quê
    “Cùng máu Việt mà lương tâm anh mất
    “Giết dân lành, gây tang tóc thảm thê

    “ Một tháng dừng quân đóng trong Thành Nội
    “Nhìn Phú Bài nhuộm trắng áo khăn tang
    “Hàng trăm quan tài phủ cờ thẳng lối
    “Tử sĩ oan ương, người sống kinh hoàng

    “Rồi ta cũng sẽ rời xa đất Huế
    “Cảnh lạ trời xa ta có thể quên
    “ Nhưng dân Huế không bao giờ quên dễ
    “Tủi nhục điêu tàn giặc đã gây nên
    ( Trích trong bài “ Một Lần Tới Huế” thơ của TLThảo)
    Ngày di tản từ Quân đoàn 2, về theo lộ 7B, tôi dẫn toán Dân Sự Vụ đi một lèo từ Kon Tum ( Toán tôi đang tăng phái cho Biệt Động Quân đóng tại B15) về Pleiku, tạm dừng quân mấy ngày tại hậu cứ trong Quân Đoàn, lại xuôi đường hướng Hàm Rồng, chạy len trong dòng xe rồng rắn, đi mà không biết rõ sẽ về đâu ! Hơn nửa tháng trời, băng rừng vượt suối, rồi tôi cũng bình an về tới Tuy Hòa, ngang qua Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy. Từ Bình Tuy đón tàu về Long Hải, Rồi trình diện tại cục Tâm Lý Chiến, rồi tái phối trí tại trại Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi lại tiếp tục công tác dân sự vụ. Lần nầy công tác tại trại gia binh sư đoàn 22, đang tạm đóng tại trại Lam Sơn thuộc tỉnh Phước Tuy, mới tới có mấy ngày lại cuốn gói chạy ra Vũng Tàu… Thành phố Vũng Tàu lúc bấy giờ ( 27-4-75) rất đông đảo, không những dân lính mà còn có nhiều xe cộ, đa số là xe du lịch từ Sài Gòn ra… Vũng Tàu lúc bầy giờ, người Sài Gòn gọi khu nầy là hành lang nhân đạo… Có tin đồn, khi Sài Gòn thất thủ, Mỹ sẽ rước người di tản ở đây… Tin đồn vẫn là tin đồn, những người Sài Gòn có tiền của, đã sẵn sàng ở đây, nhiều gia đình có sẵn cả tàu. Chiếc xe dodge mới lảnh, loai tân trang, có cửa khóa phía sau, loại xe cứu thương dã chiến. Tôi cho tất cả quân trang vũ khí vào, khóa lại, đậu một nơi nào đó, rồi dẫn toán xuống Bến Đình, đón tàu hàng về Gò Công, về Gò Công dù sao đó cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, với lại, tư lệnh vùng bốn lúc bấy giờ, là Tướng Nguyễn Khoa Nam. Một tướng lảnh trẻ, liêm khiết, tài ba, đời nào ông lại chịu đầu hàng Cộng Sản,về Gò Công trước là để thăm nhà, sau đó sẽ trình diện …. Tôi vẫn luôn nghĩ, vùng bốn vẫn vững vàng với ba sư đoàn thiện chiến…, vựa gạo miền Tây, thì lương thực không sợ thiếu. Mỗi người sinh ra trên cõi đời nầy, hình như đều có một mạng số riêng… Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao ( Kiều)… Có ai ngờ, miền Nam phải chịu cảnh đầu hàng một cách nhục nhã như vậy… Bây giờ nhớ lại con tàu từ bến Đình về Vàm Láng, tôi còn kinh sợ, bởi tàu hàng chở quá tải, ngoài một số ít dân buôn, còn lại là quân nhân, mà đa số là khóa sinh truyền tin, đang học tại Vũng Tàu, ra giữa biển, lại gặp gió lớn, tàu mấy lần tưởng chìm…may mắn, dù không có cá Ông bảo hộ, như tàu của Nguyễn Phúc Ánh lúc băng qua biển nầy, tàu vẫn vào được Vàm Láng bình yên…
    Trong tâm trạng của phía thua cuộc, tôi khó biết được, đời tôi rồi sẽ phải ra sao? Với một niềm hy vọng mong manh, dù sao phía thắng trận cũng là người Việt, hòa bình rồi không lẽ máu lại đổ nữa hay sao???
    Ngày trại tù Hà Tây dẹp tiệm, tất cả tù nhân được chuyển về trại Nam Hà. Lần đầu tiên trong lịch sử chuyển tù của Cộng Sản, tù nhân không bị còng tay, được chỡ bằng xe khách ( chữ của VC, xe đò). Đoàn xe qua khỏi Ba Sao, xe bắt đầu đi vào vùng núi, xe bò từ từ lên dốc, chạy theo con đường ngoằn nghèo lên núi. Trại nằm lưng chừng núi, nhìn qua địa thế, tù nhìn thấy khó chấp cánh thoát khỏi trận thiên la địa võng nầy….
    Nằm trong dự án chuyển tù về Nam, các trại tù miền Bắc lần lượt đóng cửa, như Trại Vĩnh Phú, Trại Tân Kỳ, Trại Thanh Phong, Trại Hà Tây…, tất cả chuyển về Nam Hà, coi như trại chuyển tiếp, trại Nam Hà A, lúc bầy giờ đông vô cùng có lẽ phải trên hai ngàn tù.. tại đây anh em gặp lại nhau, sau những năm dài xa cách, vì mỗi người đểu đã đủ 8 tuổi tù… Cũng vui, Quang Minh Đỉnh là đây….Vì mới tới chưa có biên chế ,còn trong tình trang tạm thời, khỏi phải đi lao động, những ngày cuối tuần thật vui… Từng nhóm anh em xúm xít nhau, trà lá chuyện trò…Trại Hà Tây đến đây được mấy ngày, thì gặp trại Tân Kỳ cũng chuyển đến, tôi gặp lại La văn Ngàn, bạn đồng hương, trưởng ban 2 quận Hòa Đồng và Trung Tá Nguyễn Hùng Điện, nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 30 CTCT trong toán Tân Kỳ nầy. Mấy lần tôi vô khu F gặp tướng Văn Thành Cao. Những vị tướng lảnh khác biết cấp bậc tôi, mà giờ nầy còn ở đây đã ngao ngán thở dài..
    -Thằng em nầy trung úy, mà giờ nầy còn ở đây….Tôi nhìn thấy có một vài vị tướng lắc đầu, gặp lại các cấp chỉ huy cũ trong hoàn cảnh tù đày, điều làm tôi hãnh diện là các cấp trưởng của tôi vẫn giữ được khí tiết của một sĩ quan Cộng Hòa, dù là trong cảnh cá nằm trên thớt, như Đại tá Phan Trong Thiện, Đại tá Nguyễn Kim Bào,Trung Tá Thượng Tọa Thích Thanh Long, Trung tá Nguyễn Hùng Điện…Trong lao tù CS, những người trở mặt, từ đi hai chân xuống bốn chân, không nhất thiết là cấp bậc cao thấp, ngành nghề,học vấn, tuổi tác... Bản chất hèn là của riêng từng cá nhân, một nhạc sĩ, một văn sĩ, một cấp tá cho tới binh nhì... Chừng trở mặt là cứ trở mặt, một nhạc sĩ, từng có bằng cử nhân luật, một đại tá, binh chủng đồ bông, từng lảnh nhiều huy chương về bắn súng, một trưởng F một tỉnh vùng 2, một Quốc Gia Hành Chánh, phó một quận ở Hà Tiên... và còn nhiều nhiều nữa...đã trở mặt hãm hại bạn đồng cảnh... Có người bào với tôi, người ta đã biết hối lỗi, đã bỏ đồ đao, thậm chí còn thành Tiên nữa, thì còn nhắc chuyện cũ mà làm gì?. Phải nhắc chớ, làm sao bỏ qua được, có sống trong lao tù, mới thấy ghét cay ghét đắng mấy tay chỉ điểm, phài nhắc để làm gương cho thế hệ sau.. Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống muôn đời vẫn nhắc.. Nhắc để mọi người biết đó là việc làm xấu mà tránh … " Con đường các anh đi đó...đúng hay sai anh...Mưa Hoa Kỳ...có làm anh nhớ, có làm anh xót những ngày trong tù hại nhau..." Sửa chút lời một bản nhạc.. ray rứt làm sao!! Có ở trong cảnh cùn khổ, mới thấy được bộ mặt thật của con người, ở cấp bậc nào, ở trình độ nào cũng có người khum lưng quỳ lụy..trước kẻ thù.!
    Toán được thả trên 80 người, từ trại Nam Hà A, xe chở đến ga Hàng Cỏ trước 9 giờ sáng, lòng tôi vẫn không quên, những đôi mắt của anh em thân thiết khi bắt tay từ giã, bởi chính tôi, qua hơn 8 năm lao tù, từ Nam ra Bắc, đã chứng kiến biết bao lần chia tay, lòng người ở lại, chỉ có người đã ở tù Cộng Sản mới hiểu rõ, nếu như người tù có bản án, thì chuyện sắp xếp tình cảm bước về cũng dễ dàng thôi, đàng này, cho tới ngày kêu tên, mới biết mình được thả. Xuống ga Hàng Cỏ, anh em được phép đi chơi tự do cho tới 11 giờ đêm, Gò Công có Anh Ba Cẩn ( Nguyên là cán bộ trung tâm Cải Huấn Gò Công) tình nguyện ngồi giữ đồ đạt cho anh em…cùng vài người khác nữa mà tôi không nhớ tên. Tôi cùng với Anh Nguyễn Hùng Điện, sóng bước đi khắp các đường phố … Anh em tôi rất thất vọng trước Hà Nội… Đất ngàn năm văn vật, mà tôi biết được, qua bài học trên ghế học đường, biết qua các tác phẩm trong Tự Lực Văn Đoàn, qua tiểu thuyết của các tác giả gốc người miền Bắc….là đây sao? Nó cũ kỷ, nó xô bồ, nó nghèo nàn, tìm được tiếng nói dạ vâng, khó hơn tìm người bị bệnh tiểu đường trong trại tù Cộng Sản…
    Cảnh bát nháo trên các toa tàu, khó có bút mực nào tả rõ, anh em thả về ngối chung 1 toa, có lẽ mỗi toa chở 100 người, riêng toa nầy rất thoáng vì không có nhiều hành lý và chỉ có hơn mười người không phải là tù, còn các toa khác, hành lý chất bít kín các lối đi… Chốc chốc nghe tiếng kêu cướp, cướp, bắt lấy nó…
    Đúng 12 giờ đêm tàu sẽ lăn bánh, 11 giờ 45, cán bộ trại lên toa, sau cái bắt tay chúc thượng lộ bình an, mỗi người tù được trao cho một tờ giấy ra trại, qua ánh đèn mờ mờ của toa xe, tờ giấy màu trắng ngà, loại giấy thô, còn vết của rơm rạ, lớn bằng nửa tờ giấy học trò trong Nam, cũng ghi tên tuồi, ngày bị bắt, ngày được tha. trong mục can tội, tôi thấy chữ viết tay, can tội Trung Úy, riêng trong mục mức độ cải tạo mọi người đều được ghi tốt, chỉ có tôi là chữ Trung Bình…Công việc hành chánh của trại tù còn luộm thuộm lắm,việc trật chính tả, trật ngày thả, ngày bị bắt… đều dễ dàng xãy ra… nhưng khiếu nại với ai và khiếu nại để làm gì…?! Chả lẽ bỏ chuyến tàu, trở về trại xin điều chỉnh…thì thôi cứ về… Chính điều sai trật nầy, khi diện H.O ra đời, nhiều anh em cựu tù nộp hồ sơ xuất cảnh, phải gặp nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh giấy tờ, may là trại tù Nam Hà còn tới bây giờ, trường họp những trại tù khác đã xóa tên, thì thật là vất vả và tốn kém cho những ai có giấy ra trại bị viết sai.
    Khi tàu hú còi rời bến, anh em trong toa hầu như yên lặng, nhiều cảm giác tung rối trong đầu… may mà lúc đó tôi còn độc thân, tôi chỉ nhớ tới bạn bè thân thiết còn lại, đến mẹ, đến anh chị tôi, đến cô bồ tình nghĩa Văn Khoa…
    Tôi căng mắt nhìn suốt cảnh vật bên đường, cho tới khi tàu qua cầu Hiền Lương, hình như mọi người đều cảm thấy thoải mái và không khí hầu như mát diệu hơn trên đoạn đường bên kia vĩ tuyến...
    Bây giờ dù đã trên 15 năm sống đất tạm dung, có rất nhiều đêm mất ngủ, hay chợt thức giấc nửa đêm… tôi nhớ thật rõ cuộc sống của tôi, những ngày trong lao tù Cộng Sản…Ngày nào trí óc tôi còn minh mẩn… ngày đó tôi còn nhớ… Có người bảo, nhớ để làm gì… hãy quên hẵn đi, coi như đó là một vết nhơ đã được tẩy sạch rồi…
    “ Nhiều lúc muốn quên sống yên đời xa xứ
    “ Nhưng tâm tình đâu dễ xóa như mây…
    ( Thơ T.L. Thảo)



    Thủylanvy
    Viết tại kỳ Đà Động… July 4




    Con đi dưới lá cờ sao máu
    Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
  • #2

    HOÀNG PHƯƠNG, một nhạc sĩ lớn lên từ biển...



    *-(viết cho Hoàng Phương, nhạc sĩ nằm xuống tại Gò Công )


    Năm 1983, đầu tháng 7, tôi về tới Gò Công sau hơn 8 năm trong lao tù Cộng Sản, nhìn lại quê nhà sau cảnh thương hải biến vi tang điền, lòng tôi không thể không chua xót, một số người quen cũ gặp lại không dám nhìn; một số bạn bè không biết nghĩ sao đã nói thẳng với tôi " Ai biểu hồi đó ham làm quan ..." Chỉ có mẹ và chị luôn nhìn tôi bằng cặp mắt trìu mến thương yêu, còn Ba tôi thì luôn nhìn tôi với đôi mắt thật xa xôi, từ di ảnh quyện đầy nhang khói ....
    Tôi lủi thủi ở nhà phụ bếp núc, chăm sóc lại miếng đất quanh nhà, rảnh rổi tôi đọc lại những quyển sách năm xưa mà chị tôi còn lén giữ lại được, hoặc bùi ngùi nghe Mẹ, nghe Chị kể chuyện đổi đời từ khi giặc miền Bắc vào chiếm miền Nam ... Bạn bè năm cũ cũng có đứa từ Sài Gòn xuống tận nhà thăm tôi, với chút ít quà cáp tặng tôi, vợ một anh tài xế cũ của tôi đã dúi ít tiền vô túi cho tôi...Thật là cảm động với những ân tình đã làm cho tôi trằn trọc nhiều đêm .Trằn trọc vì thấy con đường đi đầy chông gai, cát bụi thỉnh thoảng vẫn nở được một vài nụ hồng xinh tươi. Trong xã hội Cộng Sản mỗi lần mở radio chỉ nghe toàn những lời tuyên truyền chói tai; nhạc thì âm thanh chát đắng, phảng phất mùi Trung Quốc Liên Sô, như dao, như kéo chọc vô màn nhỉ người nghe.
    Bè bạn thỉnh thoảng rũ rê đi uống cà phê ở quán Sóc Dừa, nằm trong dãy phố 12 căn, cạnh hồ nước tỉnh, chúng tôi thường hay lựa bàn khuất lấp mà ngồi, bên ly cà phê đen,với vài điếu thuốc lá lẻ để lắng nghe âm thanh nhẹ nhàng từ 2 chiếc loa, tuy cũ kỹ mà sao nghe êm dịu quá ..." Ðêm qua ngửi mùi hươ.ng. Mùi hoa sứ nhà nàng.Hương nồng hoa tình ái. Ðậm đà đây đó gọi tên ..., để rồi lại ngạc nhiên " Dưới nắng hồng tôi đi giữa Gò Công. Ðất như cao trời như thấp lại trong khoảng không, trên sóng biển chập chùng, chỉ còn lại bóng mẹ hiền Gò Công - Mẹ là tình Mẹ biển đông - yêu nước dòng sông Cửu Long - Trong gian nan giông bão bao ngày - thời gian im sương trắng mái đầu- Trùng khơi cơn sóng thì thầm - Từng đêm như lời mẹ ru - Tình yêu quê hương thiết tha ....”
    Không dằn được tính tò mò, tôi hỏi bạn bè : "Tại sao quán nầy dám xài nhạc ...nhẹ?"Bạn bè cho biết, tác giả là Hoàng Phương, ca sĩ đang hát là Bảo Yến và Nhã Phương, đây là loại nhạc quê hương nhà nước cho hát ...
    Gò Công tỉnh nhỏ nên người Gò Công cố cựu nói tên ra ai cũng biết. Bạn bè còn giải thích thêm với tôi rằng:"Hoàng Phương là Hoàng sửa đồng hồ, ở tiệm vàng Kim Thành đó. Dòng nhạc của Hoàng Phương, với điệu Boléro chuyên chỡ những lời nhạc mang nhiều địa danh Gò Công, rất dễ thu hút người nghe gốc Gò Công như tôi .
    Giữa năm 1985 tôi được "xã chế " ( chữ của cộng sản ) nghĩa là được phục hồi quyền công dân ( có ai thích làm công dân Cộng Sản ?!)khỏi phải đi trình diện công an hàng tuần. Tôi trở lên Sài Gòn, Dù sao đất Sài Gòn cũng dễ sống và dễ tránh được tai mắt công an hơn là ở tỉnh nhỏ, nơi mà nhất cử nhất động đều lọt vào mắt cú vọ Công An ...
    Ðiều tôi rất ngạc nhiên là, hầu hết các quán càphê ở Sài Gòn đều phát ra dòng nhạc của Hoàng Phương, với 2 giọng ca Nhã Phương và Bảo Yến. Phải chăng lời nhạc của Hoàng Phương đã chinh phục hầu khắp mọi người ở thời điểm nầy? Tôi cảm thấy lòng vui rộn rã vì dân Gò Công, ngoài Lê Dinh, bây giờ lai có thêm Hoàng Phương nữa, mà đặc biệt Hoàng Phương đã ghi đậm nhiều địa danh vào lòng thính giả như Phú Thạnh Ðông, cầu Cá Thu, Biển Tân Thành, Gò Công …
    "Ði qua cầu Cá Thu -Nhìn giòng sông bối rối -Rung rinh chùm hoa sứ - Bóng nhỏ em cuối trời....
    "Xanh xanh bên đồng lát -Vàng lúa đồng hương bay- Ðiện sáng soi đêm dài -Ðường Phú Ðông tương lai ...
    Trở lại Sài Gòn sau những ngày lao tù Cộng Sản, với một chuổi thời gian cầm bút rồi cầm súng. Tuy ít bệnh bậy nhưng sức lực lại dưới trung bình nên lao vào một xã hội không cần chữ nghĩa và đạo lý tôi tự cảm thấy thật lạc lõng ... Tìm được đồng tiền để đổi lấy chén cơm là cả một sự cố gắng mà bây giờ nghĩ và nhớ lại tôi còn thấy kinh hoàng, cho nên, dù có cảm xúc trước dòng nhạc của Hoàng Phương tôi cũng không chú tâm lắm, có dịp thì nghe, không có dịp thì thôi, Không phải một nhu cầu của tôi trong thời buổi gạo châu củi quế nầy.
    Năm 1992, gia đình tôi chuẩn bị ra đi theo diện H. O, nên tôi cố ý đi tìm mua các băng nhạc Gò Công của Hoàng Phương nhưng, thời của Hoàng Phương đã qua, những băng nhạc đó không thể nào tìm ra được( vì lúc đó Hoàng Phương chưa ra CD ) Tôi muốn mang theo hành trang một ít hình ảnh Gò Công, bởi tôi tự biết với lòng, ra đi lần nầy sẽ khó có dịp trở về lại vì tôi nguyện, chỉ trở về lại khi nào cờ đỏ được thay bằng lá cờ vàng, lá cờ mà tôi đã từng chào kính suốt gần ba mươi năm dài, dù tôi biết Mẹ tôi rồi đây sẽ mỏi mòn trông đợi đứa con trai út, theo từng ngày, từng tháng cô đơn, trong tuổi già xế bóng ...
    Thỉnh thoảng bên đất trời xa lạ nầy tôi có nghe lại nhiều lần nhạc của Hoàng Phương, bản Hoa Sứ Nhà Nàng , Chuyện tình rau muống biển , Nhớ Biển Gò Công...Cuối năm 1989, Hội Ái Hữu Gò Công ở Cali có trích gửi 200 Mỹ Kim, đưa anh Nguyễn Văn Nhựt mang về Xóm Cầu Muống ( xã Tân Thành ) trao tận tay Hoàng Phương, đang sống rất nghèo trong một chòi lá dựng tạm trước nhà người cha ruột ... Anh Nhựt và Hoàng Phương có chụp ảnh đăng trên đặc san Gò Công phát hành tại Cali...
    Một người Anh, cũng là một người thầy ( nguyên hiệu trưởng trường trung học đệ nhị cấp, trước 75 ) từng có những năm đầu đời trong nghề dạy học tại nhiệm sở là trường tiểu học Tân Thành và từng là thầy dạy học của "con nhạn trắng Gò Công "Phương Dung và Hoàng Phương đã điện thư báo tin cho tôi hay ... Hoàng Phương đã vĩnh viễn từ bỏ cõi đời trong cảnh nghèo túng vào tháng 10 năm 2002 .
    Người báo tin Hoàng Phương mất, đã rất hãnh diện có được 2 người học trò, dù không thành đạt trên đường học vấn nhưng bằng một khả năng riêng tư, đã đưa tên tuổi Gò Công đến với mọi người .Tôi đã hứa với Anh, tôi sẽ viết một bài về Hoàng Phương nhưng mà nợ áo cơm đã choán mất hết thời gian trong ngày, hy vọng với chút rảnh rang cuối tuần tôi sẽ cố gắng giữ lời hứa với anh ...
    Hoàng Phương tên thật là Hoàng, sinh năm 1943, trong một gia đình khá giả tại xóm Cầu Muống, xã Tân Thành, cách tỉnh Gò Công khoảng 17 km, Xóm Cầu Muống nằm cách bãi tắm biển Tân Thành khoảng 2 Km rưởi, theo con lộ đá quẹo tay mặt về hướng Ðèn Ðỏ. Ðây là một xóm với nhà dân cư rải rác cất dọc theo hai bên trục lộ. Xóm nầy hiện nay đang trên đà phát triển.Thuở nhỏ Hoàng học trường tiểu học sơ cấp Tân Thành rồi Trường Nam Tiểu Học tỉnh Gò Công, thi rớt vào đệ thất trường công lập, Hoàng học đệ thất trường Bán Công Gò Công, niên khóa 1961 - 1962 Hoàng học xong lớp đệ tứ, buồn đời, bỏ học ( Hoàng không phải đi lính vì có đôi chân không đều ) đi học nghề sửa đồng hồ và học nghề thợ bạc .... Hoàng đã nghĩ và thấy rằng..". Sách vở ích gì cho buổi ấy..." nên quyết tâm học làm thợ và Hoàng đã thành công. Năm 1970 ở tỉnh Gò Công Hoàng có tiệm sửa và bán đồng hồ, có tiệm vàng, có 3 căn phố, có xế hộp, có chiếc Lam láng cóon... chiều chiều chạy diễu trên phố, làm cho đám sĩ quan trẻ ao ước nhìn theo, vì với đồng lương lính thì chỉ ... đi bộ muôn đời .
    Trường Nam Tiểu Học Gò Công lúc bấy giờ có một thầy dạy nhạc, Thầy tốt nghiệp trường Vô Tuyến Ðiện nhưng thích dạy nhạc, Lúc đó thầy chưa nổi tiếng lắm, chỉ mới có vài bản nhạc đầu tay như bản " Làng anh làng em ." đó là nhạc sĩ Lê Dinh .... Thời đó mỗi khi có chương trình văn nghệ là đôi uyên ương Lê Dinh và Kim Quyên ( giáo viên thể dục trường nữ ) thường song ca, đem lại nhiều ngưỡng mộ cho dân Gò Công, trong số người ngưỡng mộ có Hoàng ... Thầy Lê Dinh rời Gò Công năm 1959, lên làm việc tại đài phát thanh Sài Gòn, bắt đầu sáng tác đều tay và nỗi tiếng luôn từ đó .. .
    Hoàng Phương, cho đến gần sập tiệm mới ra mắt bản nhạc đầu tay " Hoa Sứ Nhà Nàng ".. lúc đó Hoàng Phương có nhiều tiền nên tự in lấy. Trước 75 tên tuổi Hoàng Phương hầu như chỉ có người Gò Công thích nhạc mới biết ...
    Giặc từ Bắc vô Nam ...tạo cho miền Nam đão lộn đẫm ướt nước mắt ...Vợ xa chồng, con mất cha, gia đình ly tán, đạo đức suy đồi ... Có rất nhiều người mẹ chiều chiều ra trước hiên mà đôi mắt buồn vời vợi trông ngóng đứa con trai bị tù đày không biết ở phương trời nào ...! Hoàng Phương cũng không chạy thoát cảnh đổi đời, tiền của làm ra bằng công sức, phút chốc bị bọn cướp ngày thu sạch, người dân miền Nam thật thà quá , dễ tin quá, nên đã... mất tất cả ...Có người thấy Hoàng chọn tên Hoàng Phương đã kết luận là Hoàng chịu ảnh hưởng của dòng nhạc Boléro của nhạc sĩ Trúc Phương nên đã chọn chữ Phương làm bút hiệu cho mình để tỏ lòng ngưỡng mộ nhạc sĩ Trúc Phương ...
    Hoàng Phương giao du rộng, chơi với bạn bè chí tình cũng là một tay nhậu có hạng; số lại đào hoa, mặc dù chân đi khập khểnh nhưng có lẽ lời nhạc đã thu hút được nhiều thiếu nữ đang xuân, ( xóm đạo phía bên kia cầu Long Chiến, Tỉnh Gò Công có một kiều nữ đã tự vận chết vì Hoàng Phương .)
    Sau năm 1975 Hoàng Phương dám bán vàng, mua cây Organ để tiếp tục sáng tác nhạc. Ðầu năm 1985, Cộng quyền Gò Công có nhờ Hoàng Phương viết một bản nhạc ca ngợi truyền thống " kách mệnh "của giặc Cộng Gò Công , Hoàng Phương viết bản " Gò Công Hồng Trang sử " viết theo điệu Boléro đại ý ca tụng truyền thống kháng chiến của anh hùng Trương Công Ðịnh và căn cứ kháng chiến chống Pháp của ngài ở Ðám Lá Tối Trời trong làng Gia Thuận ...Lời ca tụng Hoàng Phương đã tránh né chỉ nhắc đến chiến công của người anh hùng dân tộc ...Một điểm son của Hoàng Phương ( Ở điểm nầy tôi cũng xin được nhắc đến người soạn giả tài ba trong địa hạt cải lương, đó là soạn giả Yên Ba, Anh nguyên phục vụ trong Trung Ðội Văn Nghệ Hoa Tình Thương thuộc Tiểu Ðòan 50 CTCT, KBC 3858, sau ngày sập tiệm anh về sống tại Hoà Ðồng, Gò Công, Cộng quyền có nhờ anh viết cho một kịch bản để trình diễn, cá nằm trên thớt không thể không tuân lời, nhưng vì liêm sĩ anh đã không thể nào bẻ cong được ngòi viết, nên đã viết phất phơ cho có lệ, Cộng quyền chê dỡ và thôi không để ý tới anh nữa.Thật là đáng khen phong cách của người cầm bút Yên Ba )Lời nhạc Phương viết không " rực đỏ "theo yêu cầu của người nhờ viết. Hoàng Phương nhìn trang sử hồng vào khoảng thời gian 1860 ...Phương được tiền bản quyền, Phương lên Sài Gòn nhờ Quốc Dũng soạn hòa âm và nhờ Bảo Yến ca ( lúc đó Nhã Phương đã nỗi tiếng còn Bảo Yến chưa ai biết đến )Phương đã tốn tiền gấp 5 gấp 7 lần tiền lãnh được từ bản quyền để thực hiện băng nhạc và cũng từ đó tên tuổi Bảo Yến được nhiều người biết tới bên cạnh Nhã Phương .
    Sau nầy Hoàng Phương tung ra một loạt bài viết về Gò Công và ca sĩ Bảo Yến hát trọn album và lần lượt số nhạc tung ra thị trường lên tới 3 hay 4 albums... suốt từ Nam ra Bắc, các quán càphê, nhà nhà, đâu đâu cũng nghe nhạc Hoàng Phương. Bài " Hoa Sứ Nhà "nàng cũng được tái hòa âm và phối khí lại thêm đậm đà hương sắc và được phổ biến rộng rãi hơn với nhiều ca sĩ nỗi danh .
    Trước khi Hoàng Phương chết một vài hôm ...ở Long An, có một buổi ca nhạc được trực tiếp truyền hình, ca sĩ Giao Linh từ Mỹ về hát bài "Ðôi Mắt Quê Hương" của Hoàng Phương ( Trong một CD, bài nầy được hát bởi ca sĩ Phương Hồng Quế ).
    Báo Ấp Bắc của tỉnh Tiền Giang có loan tin Hoàng Phương qua đời và gọi Phương là nhạc sĩ lãng mạn ... Thực ra Hoàng Phương có cách ăn chơi rất hào sảng, thật lòng với bạn bè, cách chơi có tính cách công tử ( Kiểu công tử Bạc Liêu )... Sản nghiệp tạo dựng trước năm 75 ngoài một số bị Cộng quyền tịch thu, số còn lại Phương đổ vào việc ra băng nhạc và ăn nhậu ... tiêu tan hết cả sự nghiệp ... Qua 4 đời vợ chính thức với 4 dòng con, những năm đói rách sau cùng Phương sống với người vợ hết mực yêu thương chồng, gốc người Tăng Hòa có với Phương 2 con trai dưới 10 tuổi; người đàn bà nầy mưu sinh bằng nghề chạy honda ôm, lấy tiền nuôi người chồng ...lãng tử. Một tấm lòng thật hiếm có khi Hoàng Phương không còn gì cả từ tiền bạc cho tới sức khỏe...Tấm lòng của người vợ nầy thật cao cả và đáng quý...!
    Lần nhận được số tiền gửi tặng của hội Gò công, ở Cali, coi như là tiền tác quyền của CD " Gò Công Quê Hương Thương Nhớ "trong đó có 5 bản nhạc của Phương, Phương ra chợ Gò Công, quy tụ bạn bè nhậu một trận say bí tỉ ... Những ngày cuối đời Phương bị sơ gan, tóc rụng gần hết, răng cỏ lưa thưa ... Một người bạn vào thăm, Phương thều thào bảo thèm ăn miếng bánh ngọt... Thương cho Phương, đang nghèo khổ lại ốm đau! Mấy ngày sau Phương chết ... Ðám tang được tổ chức tại xóm Cầu Muống ... người cha đứng ra lo chôn cất ... nước mắt lúc nào cũng chảy xuống ...
    Sinh ra từ một xóm nằm trên bờ biển ... Tai của Phương đã từng nghe tiếng sóng biển rì rào từ thuở sơ sanh ...biển gắn bó với Phương , Biển thật gần gủi và thật quen thuộc với Phương ...
    Trong bài Biển Tím Phương đã viết ..."Mỗi chiều chiều biển tím mênh mông- Cả tình yêu thăm thẳm đợi chờ - ....
    Thuyền rời bến, bến buồn tim tím- Tiễn thuyền đi bến ngẩn ngơ chiều - hàng phi lao bên bờ nhân chứng - bàn tay che dõi mắt thuyền về
    Với bài Chuyện Tình Rau Muống Biển .. Ai có tới biển Tân Thành mới thấy sắc hoa trắng có nhụy màu tim tím của loài rau muống biển, hoa to hơn hoa của rau muống thường, cánh mỏng manh lả mình theo gió và Phương đã thi vị hóa chuyện tình “-Có chàng trai tên Biển cùng yêu thương cô Muống chân tình - Biển mãi mê đi tìm nguồn cá - Con nước vô tình cuốn Biển đi xa - Muống âu sầu rồi chết bên bờ ...”
    Có nhiều đêm không tiền mua dầu đốt đèn. Phương trải chiếu ra sân, ngồi ôm đàn, dưới ánh trăng mờ ảo, mắt của Phương thật xa xôi, hình như tai Phương đang nghe tiếng sóng gọi, tiếng sóng như thì thầm, như thôi thúc người nhạc sĩ hãy mang lời ca của mình ra đi với sóng; tiếng sóng rì rào như hứa hẹn thật nhiều với một người đang sống thiếu thốn đủ mọi thứ; nhưng Phương ở gần biển chứ Phương... không đi với biển, Chấp nhận một cuộc sống nghèo để thử nhìn xem cuộc đời rồi sẽ đi về đâu ...!!
    Con người tài hoa lại có số tử vi mang cung mệnh đào hoa nên ngoài 4 người vợ chính thức có con ( Một người vợ tên Nguyễn Thị Tám có với Phương 8 đứa con ), Phương còn nhiều mối tình nhỏ khác ...Phương có người yêu dạy học ở Cầu Cá Thu, Phương viết bản "Thương một người ở xa "...-Về nông trường Phú Ðông - Rừng tổ quốc mênh mông - Sóng rì rào ca hát -Tình yêu em rất cao “
    Trải qua một cuộc chiến quá dài, thử hỏi, có người con Việt Nam nào không mơ đến chuyện thanh bình thật sự trên quê hương ..Xóm Cầu Muống thời chiến tranh cũng rất hoang sơ tiêu điều vì lửa đạn.( khoảng đầu thập niên 60, Ðại Ðội Biệt Ðộng Quân biệt lập của Ðại Úy Sơn Thương(Trung Tá, Dân Biểu Quốc Hội, chết trong lao tù Cộng Sản) từng đóng tại đây để truy lùng giặc Cộng ). Sau ngày tang thương tháng tư ... Phương về lại quê xưa dù không bằng lòng với hòa bình trong vòng tay Cộng Sản ... Phương cũng đã viết, có thể Phương đã viết cho thuận hoàn cảnh sống, viết không thực với lòng mình lắm “...-Từng đêm như lời Mẹ ru - Tình yêu quê hương thiết tha - tình yêu non sông gấm hoa- Ðất nước ơi ngày vui thái bình -Nay con về nghe biển lại hò reo ...”
    Bàng bạc trong lời ca của Phương ta luôn nghe thấy tiếng sóng biển rì rào, tiếng sóng như lời ru của Mẹ mà Phương đã được nghe từ thuở còn nằm nôi, đã được đùa với sóng từ tuổi thiếu niên, được nhìn thấy sóng đầy uy lực mạnh bạo từ ngoài khơi tiến vào bờ theo mỗi đợt thủy triều ...
    ...
    Thế là hết một đời nhạc sĩ. Lời ca còn đây mà người viết đã vĩnh viễn ra đi. Những ca sĩ, những Ông Bà bầu ca nhạc...có được đồng tiền thu từ nhạc của Hoàng Phương, chắc hẳn là không cần biết đến cái chết âm thầm trong nghèo khổ của Phương ...Họ lại càng không cần biết đến vợ con Phương đang sống bần hàn tại xóm Cầu Muống, thuộc xã Tân Thành, Huyện Gò Công Ðông
    ...
    Chiều nay, nhớ tới Hoàng Phương, tôi mở CD " Gò Công Thương Nhớ "của hội Ái Hữu Gò Công tại Cali phát hành, tôi nghe lại mấy bản của Hoàng Phương ... Chuyện tình rau muống biển , Chung một giòng sông , Nhớ biển Gò Công , Chiều trên biển Gò Công và Mẹ Gò Công ...có 3 bản do " Con nhạn trắng Gò Công" hát ...Một CD nhạc gồm những sáng tác viết về Gò Công của 3 nhạc sĩ gốc người Gò Công : Lê Dinh( Canada), Hoàng Phương ( Gò Công)và Nguyễn Hữu Tân( Sacramento).
    Ngoài những bản nhạc trên, ca sĩ Bảo Yến còn ca những bản : Ði trên bải biển Gò Công , Biển Thức , Em Gái ngủ trưa , Ðôi mắt quê hương .. Rất tiếc tôi không thuộc nhiều đề tựa các tác phẩm của Hoàng Phương nên không thể kể hết được ra đây ...
    Lời nhạc của Hoàng Phương rất chân tình bình dị, dễ thấm vào lòng người nghe, nhất là những người từng sống và từng đến thăm Gò Công.
    Những ngày bắt đầu vào đông trên đất người xa xứ ... Lòng người ly hương cảm thấy như se lại khi nhìn lịch thấy năm tàn tết đến, trong nỗi buồn thương nhớ quê hương tôi viết cho Phương với tất cả lòng biết ơn của một người sinh quán tại Gò Công, Cám ơn Phương đã đưa tên Gò Công thân thương đến với mọi người, trên khắp nẻo đường đất nước ...cũng như trên đất lạ, quê người ..
    Nếu cõi Vĩnh Hằng là có thật, cầu mong, Phương được thanh thản ...

    Viết tại Kỳ Đà Động,Houston Mạnh Ðông

    Thủy Lan Vy
    Con đi dưới lá cờ sao máu
    Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

    Comment

    • #3

      CÁ KÈO
      -*-




      Thập niên 50 quê tôi thật sự sống trong cảnh thanh bình, gạo trắng nước trong, mức chênh lệnh giữa giàu nghèo của người dân không đáng kể, Gò Công họp chợ trong không khí an lành, chuyện móc túi, dựt dọc hình như không có. Đàn bà con gái trong tỉnh đi chợ đều mặc áo dài truyền thống tốt đẹp nầy bị phá bỏ khi Cộng sản may mắn chiếm được miền Nam.
      Thuở tôi vừa mới vào trường tiểu học, xóm cầu Huyện, nơi tôi sống và lớn lên thật hiền lành,với khoảng gần 10 ngôi nhà trải dài cặp lộ bên kia là con kênh, mỗi nhà có rào rấp rạch ròi…Chiều chiều thường có những chiếc xe ngựa có trống có phèn la hai bên hong xe treo bảng quảng cáo tuồng hát rong ruổi chậm chậm khắp các nẻo đường để phát chương trình quảng cáo tuồng hát trong đêm…Rạp Bình An Gò Công luôn luôn có gánh hát từ Sài Gòn xuống trình diễn… Cứ mỗi lần nghe tiếng trống xe rao hát là tôi được phép chạy ra ngõ chờ xe tới xin cho được tấm chương trình… Chị tôi cùng với mấy người bạn chung xóm chuyền nhau xem tờ chương trình, dĩ nhiên không quên bàn tán về các cô đào cậu kép trong gánh… Để rồi cười với nhau vui vẽ…Nhiều lần tôi nhận được tấm chương trình bằng chữ tàu, các chị tôi cười chộ tôi
      -Tại em giống chệt đó…
      -Tối nay mình mua vé hạng cá kèo đi coi hát …
      Trong trí tôi nhận biết hạng cá kèo là thứ hạng từ bằng tới thấp hơn hạng chót
      Ba tôi trong một bửa ăn có nói về chuyện nầy
      -Tháng lúa gần chín miệt làng Tăng Hòa cá kèo đặc ruộng, đứng trên bờ nhìn xuống mặt nước thấy chi chit đầu cá kèo, hạng cá kèo là vậy đó…người xem không có ghế ngồi đứng sau hàng ghế hạng chót cũng đơm đặc đầu người…
      Gia đình tôi thuộc hạng giữa của trung lưu và nghèo, cho nên việc chi tiêu tiền bạc phải hết sức dè sẻn, bửa cơm thường có hai món, món canh và món mặn, cũng có khi thay canh bằng món xào, Con cá kèo rất thường được mẹ hay chị tôi làm món ăn trong ngày.
      Cứ mỗi lần ngồi vào mâm cơm, ba tôi nhìn thấy dỉa cá kèo, người thường nói
      -Cá kèo nầy là do đất sanh., Mùa khô ruộng đất nẻ đồng, vậy mà mưa xuống vài đám, ruộng nổi nước là có cá kèo.
      Nghe ba nói, tôi ghi nhớ mà không thắc mắc…Cho tới khi tôi xin được vào trường đại học khổ sai của Cộng sản tôi mới thấy điều nầy là sai
      Trại tù Hà Tây, thường vào cuối thu, các ruộng rau muống bắt đầu cổi,Không phải tát nước vào ruộng mà chờ ruộng khô đào hốc( lổ khoảng 5 tấc khối vuông) để trồng su hào, hay bắp cải…Tôi thuộc đội rau nên thường năm vẫn làm việc nầy, hốc đào sâu xuống khoảng 5 tấc, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy lớp đất khô có thấm nước, nước chỉ hơi ươn ướt, và sau lớp đất mỏng ướt nầy thế nào cũng có một con cá chạch, nó nằm yên trong đất chờ mưa, nước tới là lội đi. Tôi nhìn con cá chạch rồi nhớ tới lời ba tôi nhận xét về con cá kèo. Tôi thầm nghĩ chắc là cá kèo cũng ”tỵ thổ’ giống như cá chạch.
      Mười lăm năm lưu lạc đất người, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến những món ăn làm từ cá kèo , với bàn tay khéo léo của mẹ tôi, nhớ lại tôi còn thấy thèm… nhiều lần tôi mua cá kèo đông lạnh trong vài chợ Việt nam… Nhưng dù tôi cũng kho nấu chiên xào giống hệt mẹ tôi nhưng, thịt cá cứng ngắc, ăn chẳng ngọt ngào…Những thức ăn làm từ cá kèo của mẹ bây giờ tôi chỉ còn được ăn trong mơ… để rồi tỉnh giấc…lau vội giòng nước mắt lén chảy ướt má.
      Trời Gò Công tháng gió chướng, ngọn gió độc xứ Gò( Gió nào độc bằng gió Gò Công), gà vịt cũng thường bị toi vào tháng nầy… Có gió chướng là có hoa so đũa, có trái đậu rồng, hai loại nầy chỉ xuất hiện vào những ngày tháng cuối thu và bắt đầu trổ hoa ra trái khi gió chướng về…
      Tan buổi học về, trời hanh nắng, chén cơm rang buổi sáng lót lòng đã đi chơi đâu mất, bụng đói cồn cào… bước vô nhà, bỗng khịt mũi, mùi canh chua từ nhà bếp phưởng phất đâu đây…Nhìn mâm cơm mẹ dọn sẵn, tôi đã thấy cồn cào
      Tô canh chua bông so đũa, lẫn với đậu rồng xắt liễn, nấu với cá kèo, nêm rau tần dày lá với ớt sừng trâu chín đỏ cắt khoanh mỏng xéo, dĩa nước mắm trong dầm ớt chim ỉa, chén cơm bốc khói, mâm cơm chỉ một món nhưng ăn hoài, ăn no cành hông mà vẫn còn muốn ăn nữa…
      Tôi ăn luôn 5 chén cơm loại chén có hình rồng, mẹ nêm đường, muối, mẹ dầm me, mùi chua cay, ngọt , mặn thật hòa họp, cá kèo mập tròn, bụng cá béo ngậy với vị đăng đắng của mật cá, ngon khó tả, cho tới bây giờ xứ người nhớ lại, tôi nuốt miệng không mà cũng thấy ngon…Xong bữa cơm bụng căng tròn lưng đẫm mồ hôi, quá đã….
      Thuở còn nhỏ, tôi là con út nên thường quẩn quanh bên mẹ, mỗi lần mẹ đi chợ về có mua cá kèo là tôi có phận sự canh mấy con gà cho mẹ làm cá, sơ ý một chút là gà cắp cá chạy te te, rượt theo bắt lại đủ mệt. Cá kèo mẹ để trong rồ, lựa thế đất bằng ngoài sân mẹ ướp cá với tro bếp rồi cầm từng con chà trên mặt đất cho sạch vảy và nhớt cá, sau đó mới để cá vào rổ, nhận rổ vào chậu nước chà cá nhiều lần…cá kèo đen đúa bây giờ trở nên trắng trẻo,Mẹ dùng dao nhỏ, sau khi liếc sơ vào một cái khu tộ, mẹ bắt đầu cắt bỏ đầu cá, bầy gà sau khi cá làm xong thì bầu diều cũng căng cứng vì đầu cá, lọai cá kèo nầy sống khá lâu trên cạn. Cũng có người gọi là cá bóng kèo
      Cũng cá kèo mẹ dùng gấp tre cặp gấp nướng, cá gặp lửa than hồng liu riu chín tới từ từ, cho tới khi da nứt vàng nghín mẹ để cá vào dĩa, nước mắm chanh đường tỏi ớt, củ cải trắng mẹ xắt lát mỏng rồi xắt lại thành sợi, ngâm cải vào tô giấm có pha chút đường muối và chút nước lã, rau quế mẹ xắt nhuyển, cá kèo nướng được mẹ đặt nằm khít trên dĩa, mẹ chan ngập nước mắm ớt, trải trên mặt một lớp củ cải ngâm dấm, trên lớp củ cải là lớp rau quế, bên xứ lạ nầy có tiền biết đi đâu để mua dĩa cá nướng nầy đây?.thêm một món bông bí xào với thịt ba chỉ. Cơm ăn với cá kèo nướng,bông bí xào thêm xị rượu đế Bình Ân, khà một tiếng…quên hết chuyện đời.
      Chị Hai tôi thường kho mắm với cá kèo. Mắm cá sặt chị mua của bà thầy Thanh, kho rục lọc bỏ xương, cá kèo, chị để nguyên con, nêm đường cho mắm dịu, canh sôi hớt bọt, cá vừa chín tới, trái đâu bắp chị cắt mỗi trái làm 3 khúc, cà dái dê chị cắt miếng bằng ngón tay cái…thả hết vào nồi mắm, chờ lửa sôi lại chị nêm thêm hành, ớt…Nhà bếp trống vách vậy mà mùi mắm vẫn bốc thơm lừng, gây cồn cào bao tử… cho những ai có tật háo đói
      Buổi chiều trời mưa rả rít, cảnh trời mưa mùa lúa chín, mưa không lớn, nhưng dai dẳng dễ làm lòng người se lại, dễ gợi nhớ những kỷ niệm êm đềm đã trôi qua…, những cô gái mới về nhà chồng dễ nhớ tới người tình cũ …gian nhà bếp trống vách, bộ ván cũ nhỏ, vừa dùng để nồi cơm trả cá, đi chợ về bày biện trên ván,vừa dùng làm bàn ăn, ba, anh, và tôi ngồi ghế đầu quanh góc ván, mẹ chị ngồi trên ván, mâm nhôm, với một tô nước mắm kho, một dĩa bàn đựng cá kèo, một dĩa dưa leo, khế chua, chuối chát, một tô tai bèo đựng rau thơm, gồm tía tô, rau quế, vấp cá, húng cây, một dĩa đậu bắp hấp cơm …mấy trái ớt chỉ thiên vừa hườm chín…trời nhá nhem tối, ngọn đèn dầu khêu ngọn cao, cơm gạo Sóc Nâu nóng bốc khói…Anh kể chuyện trường, chị kể chuyện lớp, mẹ kể chuyện ngoài chợ…. Mâm cơm gia đình ấm cúng bên ngọn đèn dầu với đầy đủ thành viên trong nhà… hòa lẫn với tiếng ểnh ương, cóc nhái chèn hen ngoài sân vườn… cảnh nầy,hy vọng kiếp sau tôi mới tìm thấy lại được… ngoài trời mưa vẫn còn rả rít, nồi cờm cạn dần, mẹ lại tủ thức ăn mang ra một dĩa vú sữa mẹ đã cắt sẵn ăn tráng miệng..mẹ ơi! bàn tay của mẹ, bàn tay mềm dịu chăm sóc đàn con bây giờ con biết tìm đâu??
      Có nhiều hôm cá kèo mẹ không nướng mà chiên tươi, mẹ dầm nước mắm me đường tỏi ớt thật cay, cá kèo chiên tươi ăn kèm với đậu rồng xắt xéo xào với tôm bạc lột vỏ ( dân Gò Công phân biệt tôm càng, tôm trứng, tôm đất, tôm bạc, tôm chấu, tôm tích…rồi tới tép rong, tép mòng …sau cùng là con ruốt, ruốt là loại tép ở biển, nhiều nơi tôi nghe người dân gọi con tôm đất tôm bạc…là con tép đất, tép bạc, vậy chớ khi con tép đất nầy phơi khô sao không gọi bằng con tép khôJ.)
      Gò công thuở tôi còn nhỏ, cá kèo rất rẻ, tôi nhớ có năm, bà con ( gia đình chị Phụng, gia đình chị hai E) từ Bến Chùa mang cho nhà tôi mỗi lần hàng mấy trăm con cá kèo, thuở đó cá kèo được tính bằng đôi( mỗi đôi 2 con)
      Từ khi giặc cờ đỏ cưỡng chiếm miền Nam… cá kèo trở nên khan hiếm, có lẽ cá kèo cũng khiếp sợ lá cờ sao mà kéo nhau bỏ xứ ra đi tìm miền đất bình an để sống
      Ngày còn khoát áo nhà binh, mỗi lần về phép, sau khi ghé thăm nhà, tôi thường xuống Cầu Bến Lội. Trong đồn lính gác bên cầu tôi có 2 người bạn thân đi lính nghĩa quân ở đây, về đây mới thấy cảnh thanh bình dù giặc giả tứ phương nhưng Gò Công vẫn không còn một bóng giặc thù, đó là điểm son của tỉnh quê nhà tôi.Tôi mặc đồ trận dù cho đi sáng đêm từ xã nầy qua xã khác, tôi cũng không bao giờ phải sợ Việt Cộng.
      Về đây nhậu tôi nhớ hoài món khô cá kèo nướng dầm nước mắm me. Cá kèo làm khô, nướng lên thịt ngọt lại thơm, nước mắm me dầm ớt, mùi chua ngọt của nước mắm, hòa với vị ngọt thơm của khô cá…thì cạn ly đầy ta lại rót đầy ly cạn..Lúc đương thời, đi công tác dưới Sóc Trăng, tôi thường mua khô cá kèo đem về đơn vị nhâu… Khô cá kèo có khuyết điểm là không để lâu được vì thịt khô trở nên gắt dầu, bởi bụng cá có nhiều mỡ. Lúc trong tù Cộng Sản, nhận quà gia đình, có một gói nhỏ mấy con khô cá kèo, tôi tự dưng ứa nước mắt, hình ảnh mẹ tôi, bạn bè tôi… cảnh cũ quê nhà như hiện rõ trước mắt tôi.Những con khô cá kèo nầy, trước khi cho vào bọc,chắc là mẹ tôi trải khô trên mặt hồ nước bên hông nhà phơi nắng, hình ảnh mẹ già đang trăn trở con khô như hiện ra trước mắt tôi…
      Những ngày đi huấn luyện trong chiến dịch Kiện toàn an ninh lãnh thổ quân đoàn 4 vào giữa năm 74, công tác tại Sóc Trăng tôi có dịp ăn món bún nước lèo nấu bằng cá kèo, món nầy quê Gò Công tôi không có… lạ miệng ăn thấy ngon
      Con cá kèo kho nêm hẹ rắc tiêu là món thường ăn của dân miền lục tỉnh,cá kèo kho khô, cá cong mình lại quyện hẹ tiêu, kèm chút rau thơm khế chua dưa leo…mới nghe nói đã bắt thèm, nhưng cá kèo kho chỉ, dân Việt lưu vong khó biết làm.Thời Gò Công thanh bình, thời tôi còn thơ trẻ, chạy chơi quanh nhà, khi bắn kè, lúc đá cầu, nồi cơm chiều gần cạn mẹ luôn luôn chắt cho tôi một chén nước cơm. Gạo thời đó cho nước cơm thật béo, chén nước cơm để nguội trên mặt đóng một lớp ván.. chạy chơi nhớ tới cử, tôi vô bếp bưng chén nước cơm uống ngon lành.
      Con cá kèo kho như bình thường, khi thấy nước rút gần cạn, cho vào nửa chén nước cơm chắt, chờ sôi lại vài dạo cho nước hơi kẹo, nêm hẹ( cá kèo kho chỉ nêm hẹ mà không nêm hành), dùng đủa dẽ cá, cá gắp khỏi dĩa sẽ có một sợi chỉ nước cá vương theo, nên gọi là cá kèo kho…chỉ.
      Thịt cá kèo ăn bị phong, tuy nhiên “Ông Trời” sinh ra thứ độc, ông cũng sinh ra thứ để trừ, mật con cá kèo là thứ giải phong.
      Thời cá kèo đơm đầu đặc ruộng, có dịp về Tăng Hòa, hay Bình Luông Đông, bạn bè gặp nhau chén chú chén anh, với mấy món nhậu miền quê, Gà giò xào lá ớt, lòng gà chưn hột vịt… tiệc gần tàn, vợ bạn mình múc đầy một tô lớn…cháo cá kèo.Thường món cháo là phải dùng gạo, riêng cháo cá kèo chỉ có nước và thịt cá kèo nhưng vẫn gọi là cháo. Có ăn qua chén cháo cá kèo mới thấy thấm” món ngon vật lạ miền Nam”, cá kèo còn nhày soi sói, nồi nước đang sôi thả nguyên rổ cá sống vào, khơi già lửa, cho tới khi nào cá rục, dùng đũa bếp( đũa cái) quậy vài lấn cho cá rã thịt, dùng rổ thưa lọc bỏ xương, chụm lửa riu riu, canh hớt sạch bọt, nêm nước mắm, hành xắt nhuyển, tiêu đâm vừa bể… Uống rượu đế, mình mầy nóng hổi, húp một muổng cháo cá kèo vị ngọt lâng lâng từ miệng trôi xuống tận bao tử.. tỉnh rượu ngay… vị cay của tiêu, thơm mùi hành, nêm nếm vừa ăn… ngon ngọt làm sao tả hết được, không lẽ ngối đó múc cháo ăn hoài… đâu phải người miền Nam nào cũng được ăn món nầy ( Món nầy cũng nấu giống như món cháo cá Khoai ờ biền Vàm Láng)
      Cờ đỏ còn bay tôi còn xa xứ, nghe cô em đồng hương về Việt Nam kể lại , thực đơn bây giờ có món lẩu cá kèo, và món nầy được dân Hà Nội rất ưa chuộng, chưa được thưởng thức nên không viết rõ được, đất Bắc, trong sách vở gọi là xứ “ Ngàn Năm Văn Vật”nhưng hơn 6 năm sống tại xứ nầy tôi tôi chẳng thấy Văn vật ra làm sao mà chỉ thấy khổ ơi là khổ, không chỉ tù khổ mà dân cũng khổ như tù, cá kèo làm gì có để ăn, dù ở miền Nam cá kèo là cá của dân nghèo, theo đoàn quân chiến thắng vào Nam, miền Nam đầy món ngon vật lạ giặc Bắc đói khát lâu ngày ăn gì mà chẳng thấy ngon, chứ đâu phải riêng cá kèo
      Có những cái rất tầm thường nhưng khi không tìm thấy mình mới thấy tiếc, thấy nhớ… Khoảng thập niên 50, 60 cá kèo là loại cá dành cho dân dã miệt ruộng vườn, nhưng với bàn tay khéo léo của người nội trợ, cá kèo được chế biến thành nhiều món ăn rất ngon miệng lại rẻ tiền…làm món nhậu cũng rất bắt mồi.
      Đất người khác phong thổ quê mình, có nhiều con cá, cọng rau, tìm đỏ con mắt không thấy, tiệc tùng sang trọng ai đi đãi khách món cá kèo kho chỉ, món canh chua… chỉ có trong mâm cơm gia đình, dọn trên bộ ván sơ sài bên ngọn đèn dầu lữa mới thấy hết cảnh ấm cúng của mâm cơm chiều cả gia đình xum họp chuyện trò vui vẻ..với đầy đủ hương vị ngon ngọt của cọng rau con cá quê nhà.
      Chiều ở đây, đi làm về thui thủi một mình, vợ làm khác ca, con im ỉm trong phòng, cá thịt đông lạnh nhạt phèo, cố ăn mà sống, tôi vẫn thường nấu canh rau…. Ăn cho trơn cổ dễ nuốt chén cơm xứ người, có thèm canh chua cá kèo cũng chỉ để nuốt nước miếng, chứ biết làm sao hơn
      Cũng tại bàn tay của mẹ chăm sóc miếng ăn thức uống cho con từ ngày còn thơ trẻ, những món ăn nhà nghèo nhưng đầy đủ chất ngọt ngào của con cá cọng rau vùng quê, hương tay của mẹ ủ ấm đời con…cho nên bây giờ sống đời xa xứ con mới thấy thèm hương vị quê nhà. Đời sống vật chất ở đây đủ đầy… nhưng mẹ ơi!, buổi chiều nào trời mưa, đi làm về, con đứng tựa cửa kiếng nhìn ra sân… mắt của con mờ dần… con nhìn thấy ngoài sân hàng cây so đủa, trổ trắng bông đang nghiêng mình theo gió trong cơn mưa chiều… Cá kèo ơi ta nhớ…nhớ canh chua cá kèo!

      Thủy Lan Vy
      Viết tại Kỳ Đà Động, cuối hè 07
      Con đi dưới lá cờ sao máu
      Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

      Comment

      • #4

        một lần đi
        *

        - Gửi các bạn trình diện nhập ngũ ngày 17/12/1968 tại QVTT- Sài Gòn


        Tôi soát lại vật dụng một lần cuối dù chỉ có vài món, quần cụt, áo thun, kem đánh răng, bàn chải, tập giấy trắng, cây bút bi .... đựng trong một túi bồng bột nhỏ, tôi mặc chiếc quần jean đen cũ, áo chemise tay dài sọc xanh nhạt, chân mang đôi dép ... Tôi ngước mắt nhìn lại gian nhà của chị tôi ... nhìn lên đồng hồ đã 1 giờ trưa, giờ nầy chị tôi và các cháu còn đang ngủ trưa .....Tôi mở cửa bước vội ra rồi cẩn thận khép lại đi ra cổng, Tôi đã báo cho nhà biết giờ tôi ra đi và tôi không muốn ai đưa tiễn, tôi vẫn thường rất sợ cảnh tiễn đưa dù là đưa tiễn một người nào khác, không phải thân thích ruột rà, con hẻm nhỏ dẫn ra ngả tư Bình Hòa, con hẻm rất quen thuộc, với một vài bụi tre, vài căn nhà mới xây, và một gờ xi măn trải dài, dấu vết của đường rầy xe lửa năm xưa, tôi băng qua đường Lê Quang Định, trước tiệm hớt tóc Công Đặng đứng trên lề chờ xe, một chiếc taxi chạy trờ tới tôi vẫy tay, chiếc xe ngừng lại bên lề đường, tôi mở cửa xe băng sau lách mình chui vào ngồi và nói với Bác tài xế chỡ tôi đến Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, người tài xế nhìn tôi có lẽ người đoán biết là tôi đến đó để làm gì, Trong một đất nước đang thời chiến tranh, lứa tuổi 20 của chúng tôi làm sao ngồi yên trên giảng đường được, và nhất là sau tết Mậu Thân, một sự bội ước trắng trợn của Cộng quân đã tạo nên một không khí tang thương cho suốt các tỉnh miền Nam, và đây cũng là dịp chứng tỏ cho mọi người biết sự chiến đấu can trường của quân đội Việt Nam Cộng Hòa; đang trong thế bị động mà vẫn đẩy lui được dã tâm xâm lấn miền Nam của quân Cộng Sản Bắc Việt .
        Xe từ từ lăn bánh, theo đường Nguyễn Văn Học tiến về trường vẽ, quẹo trái qua Chi Lăng rồi quẹo mặt ngang qua Lăng Ông Bà Chiểu theo đường Lê văn Duyệt. Xe chạy vừa qua khỏi trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, tôi bảo bác tài ngừng xe lại trước một nhà thuốc tây để tôi vào mua một vài thứ thuốc cần thiết ...Tôi bước vào tiệm hỏi mua một họp thuốc Saridon;một vĩ cétamic ... Có lẽ nhìn thấy gương mặt thư sinh của tôi trong bộ đồ bụi đời, với một vài cử chỉ không bình thường lắm, chị bán thuốc có lẽ là dược sĩ hỏi tôi :
        - Cậu đi đâu mà có vẻ vội vàng quá vậy ?
        Tôi đáp giọng nhỏ vừa đủ nghe :
        -Dạ, em đi trình diện nhập ngũ, tôi nhận tiền thối và không quên cám ơn chị dược sĩ trước khi bước ra cửa, qua Cầu Bông theo đường Đinh Tiên Hoàng, ngang rạp Casino rẽ phải vào đường Hiền Vương ....Tôi nhìn lại Sài gòn, buổi trưa vắng vẻ, con đường Hiền Vương với hàng cây cao su che bóng mát bên đường vẫn rất quen thuộc với tôi, lòng tôi rất sợ phải mất đi những gì quen thuộc, giờ nầy Mẹ tôi ở Gò Công có lẽ cũng biết tôi trên đường đi trình diện vì tôi có nói lịch trình cho nhà biết khi tôi từ giã Gò Công, Tôi không thấy có gì vui mà tự nhiên thấy buồn buồn, hình như tôi cảm nhận được sự tự do của tôi chỉ còn rất ngắn ngủi, Tôi vẫn thường tự an ủi ai sao mình vậy, nhưng vẫn cảm thấy buồn buồn, lớn lên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh. Tôi không được trang bị một kiến thức gì về cuộc chiến tranh Nam Bắc, không được chỉ dẫn cho thấy sự dã man tàn ác của chế độ Cộng Sản, Tôi chỉ hơi ghê sợ Cộng Sản qua hình ảnh khủng bố giết chóc những viên chức xã ấp trong thời đệ nhất Cộng Hòa tại quê Gò Công tôi, những vụ pháo kích bừa bãi vào đô thành Sài Gòn và nhiều tỉnh lỵ đông dân cư đã gây thảm tử cho không biết là bao nhiêu thường dân vô tội, những hình ảnh đau thương do Cộng Sản gây nên trong tết Mậu Thân; tôi không có ý định tình nguyện và cũng không có ý định trốn tránh đi lính. Trước tết Mậu Thân, thanh niên có bằng tú tài phần I đến 22 tuổi mới phải động viên mà tôi bắt đầu vào niên học đệ nhất mới có 17 tuổi nên tôi không bao giờ nghĩ tới việc phải đi lính ...Trong lớp tôi một vài thằng bạn ngay sau khi đậu tú tài I đã tình nguyện đi Thủ đức ( khóa 21 ) như thằng Phò, cũng năm đó mà đậu kỳ nhì, vào niên học đệ nhất được vài tuần lại bỏ lớp tình nguyện nhập ngũ khóa 22 như thằng Nô thằng Cọp... , qua kỳ thi tú tài hai một số thi vào Võ Bị như thằng Ba trụi, Trần Công Thu, Phạm văn Tý, Điêu văn Danh... ( khóa 23 ).... Tôi vẫn tà tà đi học, ở Sài Gòn thỉnh thoảng bạn bè về phép dẫn đi ăn nhậu kể cho nghe chuyên chiến trường ...Thường để tránh lính thầy chú thường nộp đơn thi vào Sư Phạm, trong nghề gõ đầu trẻ nầy nầy khi ra trường đi dạy tại những quận lỵ hẻo lánh dễ được hoản dịch và nếu có đi lính thì chỉ một thời gian thụ huấn tại quân trường là sẽ được biệt phái, khỏi phải ra chiến trường, tôi cũng có nộp đơn thi sư phạm, nhưng chỉ mới vào phòng thi, ngồi chưa nóng đít, tự tôi cảm thấy mắc cở khi nghĩ đến có ngày sẽ đứng trên bục giảng vì ngày còn học đệ nhị cấp trường Trung Học Gò Công tôi cũng thuộc loại học sinh cá biệt, phá có hạng trong lớp, nên trước đôi mắt ngạc nhiên của thầy giám thị tôi khẻ cuối đầu chào bước vội ra cửa ... ngày18 tháng 12 năm 1968 ngày hết hạn trình diên lứa tuổi của tôi vào lúc 12 giờ trưa, thì hôm nay tôi rời nhà lúc 1 giờ ngày 17 tháng 12 ...
        Xe đã tới ngả sáu, quẹo trái rẽ qua đường Lê văn Duyệt, xe ngừng bên lề đường đối diện với cổng Quân Vụ Thị Trấn, tôi trả tiền xe và nói lời cám ơn Bác tài .Trời tháng mười hai, nắng trưa chói chang, tay xách túi bồng bột mắt ngó qua cổng quân vụ thị trấn ... Người lính gác cổng vẫn ơ hờ ôm súng mắt nhìn ông đi qua bà đi lại, bên trong rào kẽm, tôi chưa rõ cái gì bên trong, tôi bước tới bà bán thuốc lá ngồi cạnh bên cột đèn mua 5 gói Bastos xanh và một họp diêm ...Bà bán thuốc như quen thấy cảnh nầy
        - Cậu đi trình diện nhập ngũ ?
        Tôi dạ nhỏ một tiếng, tay vụng về xé gói thuốc, gắn một điếu thuốc lên môi, tôi che tay quẹt diêm mồi lửa, mắt nhìn chừng xe, tay xách bồng bột bước vội qua đường. Sau khi trả lời người lính gác cổng tôi được chỉ dẫn vào ngồi trên một dãy băng trong phòng chờ đợi.Tôi rất ngạc nhiên khi nghe giọng ca thánh thót của Hoàng Oanh trong nhạc phẩm Một Người Đi của Trang Châu( ? ) phát ra từ trên cặp loa gắn trên tường ... “Tôi tiễn anh lên đường, trời hôm nay mưa nhiều lắm, mưa thấm ướt vai gầy mưa giá buốt con tim ..., thì ra đây là chương trình phụ diễn tân nhạc trong chương trình xổ số kiến thiết quốc gia hàng tuần, tôi nhớ ra hôm nay ngày thứ ba , 17 tháng 12 , lòng hơi ngạc nhiên sao mà lại có sự trùng hợp kỳ lạ giữa lời bản nhạc và sự ra đi của tôi ? Thôi thì mình đi không ai tiễn đưa, Hoàng Oanh hát đưa tiễn mình còn muốn gì hơn nữa .. !!... Tôi còn nhớ vé số trúng 500 đồng hôm đó mang số 032 ..
        Tôi được một người lính mời vào bàn để khai lý lịch, tôi viết nhanh gọn trên một xấp giấy lý lịch in sẵn và chuyển tới bàn lăn tay ..Nhân viên phụ trách là Hạ sĩ Mứt, Trần Văn Mứt, thằng nầy nhà ở Gò Tre, học chung lớp ba với tôi ở trường Nhà Đèn Gò Công , ....Thấy mặt tôi nó nhớ ra liền dù lâu lắm rồi tôi nó mới gặp lại nhau. .. Nó cười vui vẻ :
        - Mặt mầy sao buồn hiu vậy Bảy, đi lính cho biết với người ta, trai thời lọan mà.. nó vừa nói chuyện vừa gọn gàng cầm mấy ngón tay của tôi lăn trên họp mực và ấn chỉ vào trong khung in sẵn, thao tác quen thuộc tôi nghĩ cái thằng nầy chắc là đã lăn tay tất cả những người trình diện tại quân trấn Sài Gòn . Hồi nhỏ đi học nó vẫn đi ngang nhà tôi để đến trường, nó đi chiếc xe đạp màu đen sườn 700, cặp đệm để vắt ngang” cây đòn gánh xe ...” tên của nó nghe rất ngọt ngào nên tôi không thể nào quên nó được. Chừng tôi lên trung học không còn gặp lại nó cho tới bây giờ gặp lại thấy trên vai nó mang cấp hạ sĩ vậy là nó đi lính cũng đã trên 3 năm ( Sau nầy vào lính tôi có đôi lần nhậu với nó, nhà nó trong hẻm gần Cống Bà Xếp chung đường với QVTT, ngồi nhậu cạnh nó tôi thường phàn nàn ...Uống rượu mà ngồi gần mày, nghe cái mùi ...Mứt nó ngọt mau say lắm ) Xong thủ tục tôi ra băng ngồi hút thuốc chờ đợi xe chuyển lên trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ... Đang ngồi buồn tôi thấy một tốp thanh niên trạc tuổi tôi kéo vào miệng phì phà thuốc lá mặt vui vẻ ... tất cả nói giọng Bắc ...Có lẽ họ lăn tay xong rồi rủ nhau ra quán ngồi uống cà phê,bọn họ nhìn tôi ... một người lên tiếng :
        - Sao ngối buồn vậy bạn, đi lính phải vui vẻ lên chứ .
        Tôi chỉ cười mà không trả lời ( đám nầy sau chung đại đội với tôi từ Quang Trung qua Thủ Đức với số quân 68/ 1444... là học sinh trường Nguyễn Trãi cùng rủ nhau trình diện chung cho vui )
        Đã gần 4 giờ chiều chung quanh tôi có khoảng gần 50 người ... Chúng tôi được lệnh chuẩn bị lên xe, Tôi nghe thấy mấy người bạn Nguyễn Trãi bảo nhau lượm đá, tất cả đám nầy lượm đá vội vàng bỏ vào túi quần ... Tôi thắc mắc không biết mấy tay nầy lượm đá để làm gì ... nhưng cũng không buồn hỏi . Khi xe bắt dầu lăn bánh tôi mới biết mục đích lượm đá của mấy tay nầy, cứ đến ngả tư là dùng đá ném vào đầu các anh cảnh sát đứng gác đường ( phá hết biết ) .( mấy tên nầy sau khi ra trường là Vũ Ngọc Doanh lực lượng đặc biệt, Kiều Kim Huy quân báo, Ngô văn Diệm, quân nhu, Lộc Hô thiết giáp, Kháng quân Cụ, Ngọc Địa phương quân, Hồ huy Hải Quân huấn, Nguyễn huy Mạnh quân báo, Nguyễn văn Liên CTCT... ) .
        Buổi chiều thứ ba đường Lê văn Duyệt đông nghẹt xe, hai chiếc GMC từ từ lăn bánh tiến dần về hướng Tân Sơn Nhứt, đây cũng là lần đầu tiên tôi được đi xe quân đội , gần hai chục mạng ngồi đứng trên xe, Tôi ngồi sát góc trên băng mắt nhìn hai bên đường phố ... Trên đường người ta vẫn ngược xuôi qua lại, chẳng ai buồn để ý đến 2 chiếc xe GMC chỡ đầy thanh niên ở lứa tuổi 20, Những người bạn mới Nguyễn Trãi vẫn đùa cười ầm vang mỗi khi chọi đá trúng mục tiêu, nắng buổi chiều, quyện mờ trong khói xe ... làm cho mắt tôi cay cay ? !
        Sau khi rời trường Gò Công ( 1966 ) Tôi lên Sài Gòn ở nhà người Cô thứ Tư nằm cạnh nhà thờ họ Bình Hòa, phía sau nhà cô là nhà của người chị thứ tư, chung nhà còn có người chị thứ sáu ...nên dù xa cha mẹ cũng không thấy nhớ nhà lắm, bởi là con trai út vẫn quen ở bên cạnh Mẹ, bây giờ lần đầu tiên xa nhà bước chân vào một môi trường mới, thì làm sao lòng tôi không bỡ ngỡ, đời lính nghe nói nhiều gian truân vất vả lắm liệu tôi có đủ sức chịu đựng hay không ... khi mà ở nhà một cái áo lót dơ tôi chưa hề biết giắt. Tôi thấy nuối tiếc thời gian đã qua, thời tự do bay nhảy, rồi hình ảnh những người bạn học cũ đi lính về phép ghé thăm tôi, trông tụi nó oai hùng quá ngoài dáng dấp mạnh dạn còn nhuốm chút phong sương, tôi lại tự an ủi ...Tụi nó đi lính được thì mình cũng chịu được ... người ta sao mình vậy hơi đâu mà lo, bỗng nhớ tới lời Thầy Huỳnh văn Thạnh dạy triết năm học đệ nhất ...”Đất nước mình chinh chiến liên miên, nghiệp văn không thành thì chuyển qua nghiệp võ, con đường nào cũng là con đường tiến thân …
        Xe đổi hướng chạy về Quang Trung, khúc đường nầy bớt xe, hai bên đường cảnh trí cũng khác, nhà cửa cách khoảng có cây trái xung quanh ....Những chiếc xe đò Sài Gòn Tây Ninh hối hả vụt chạy ngang qua ... Trời bắt đầu dịu nắng dần, những người bạn Nguyễn Trãi cũng bớt cười giỡn ...Một chút gượng gạo sau nụ cười, tôi biết thằng nào trong bụng cũng lo lắng mà ngoài mặt cố tạo cho mình một vẻ thản nhiên .
        Xe từ từ quẹo vào cổng Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập ngũ ...Tự dưng tôi cảm thấy hình như không khí trở nên khác lạ, như có một cái gì thay đổi giữa bên ngoài rào kẽm và nơi xe chúng tôi đang đậu ... Mặt đứa nào trên xe cũng trở nên nghiêm trọng, mắt dáo dát nhìn quanh ... Tự cảm thấy từ giờ phút nầy mình đã trở thành con người khác, mà sự khác biệt đó tự mình không cảm nhận được .
        Chúng tôi được một anh Trung Sĩ hướng dẫn xếp thành hàng tư, cao trước thấp sau và dẫn đi về hướng doanh trại .
        Đi được vài bước tôi ngoái cổ nhìn lại hướng cổng .... Con đường thật vắng, không một người thân, không một bóng hồng đưa tiễn. văng vẳng bên tai giọng ca ngọt ngào của Hoàng Oanh…Tôi tiễn anh lên đường… Sài Gòn ơi ! Gò Công ơi! Ta tạm biệt

        THỦY LAN VY
        ( Viết tại Kỳ Đà Động – Houston Hè 02 )
        Con đi dưới lá cờ sao máu
        Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

        Comment

        • #5

          ĐÊM TRONG TÙ
          *




          Thượng sỹ Từ, cán bộ trực trại, dùng thanh sắt dài cài qua khoen cửa, bóp ổ khóa đánh cắt, quay bước đi vội ra sân, tay cầm xâu chìa khóa có lẽ cũng nặng gần cả kí lô, bước đi hướng về buồng bên cạnh để điểm danh tiếp, công việc mà bọn Công An trực trại vẫn thường làm hàng sáng hàng chiều, người trưởng buồng cũng vẫn thường báo cáo một câu rất quen thuộc :
          -Báo cáo cán bộ, buồng 3 tổng số 86, tại hàng 80, 5 bệnh nằm tại chỗ, 1 nằm bệnh xá....
          Tên cán bộ rão bước nhanh, đếm nhanh, rồi rẽ vào buồng đếm số người bệnh...
          Đó là sinh hoạt bình thường, trừ những khi có chỉ thị gì đặc biệt thì hắn đứng lại nói vài lời, thường thì cũng không ngoài những lời nhắc nhở thường xuyên, về nội quy kỷ luật của trại, như cấm nấu nướng trong buồng, giữ trật tự yên lặng, cấm ca hát nhạc vàng ....
          Sau một ngày lao động mệt mỏi, anh em chung buồng mới được tự do sinh hoạt với nhau, cũng sòng xì phé ( đã có máu cờ bạc thì ở đâu cũng đánh bài được ) vài bàn cờ tướng, tụ năm tụ ba nghe kể chuyện bên lon gô trà nóng, một vài rạp chiếu phim, người kể chuyện được gọi là máy chiếu, người kể hay thì được gọi là máy của bộ (Bộ Nội Vụ, thỉnh thoảng trong trại có những buổi chiếu phim cho tù xem, đoàn chiếu phim đến từ bộ nội vụ, từ tỉnh, có khi từ huyện ) tùy khả năng kể mà xuống thấp dần đến cấp miền, tỉnh, xã ... Trong buồng 3, kể chuyện cở như Phạm Thái, Võ văn Ca, Nguyễn Phát Lộc ...là thuộc về máy bộ, vì tình tiết được người kể nhớ rất chi li, người nghe thường ủng hộ cho bàn trà người kể từ bánh kẹo, đường tán đến thuốc lào ...

          Trời tháng mười, Hà Tây đã bắt đầu vào thu, tuy trời vẫn còn nắng gay gắt, nhưng bầu trời thì thấp hơn, có nhiều đám mây luân chuyển trên bầu trời hơn, không khí cũng bớt oi nồng hơn những tháng hè gay gắt của trời tháng sáu tháng bảy.
          Trại tù Hà Tây có ba đội rau xanh, cung cấp rau màu cho bửa ăn của tù, kể cả trên khung ( cơ quan ). Một đội rau trẻ, nằm dãy bên phải sân, do Lê Phú Cường( khoá 1 Thẩm sát viên) làm đội trưởng, cấp bậc trung bình của anh em trong đội từ trung úy đến đại úy, hiện trường canh tác ở ngoài cổng trại, đây là đội rau chánh của trại, tù viên phải lao động vất vả hơn các đội rau khác. Đội rau sồn sồn do anh Hải ( Trưởng E vùng 2 ) làm đội trưởng, cấp bậc tù viên hổn tạp, đa số là nhân viên phủ đặc ủy trung ương tình báo, và một số sĩ quan cao cấp của ngành Cảnh Sát, như các trưởng D , E , F, một số sĩ quan cấp tá, và một vài sĩ quan cấp úy trẻ, mới bổ sung từ đội chăn nuôi vừa giải thể. Một đội rau...già của Phạm Thái ( Quốc vụ Khanh) làm đội trưởng, tù viên đa phần là đảng phái quốc gia, trưởng ty hành chánh lẫn với một vài sỹ quan cấp tá và úy. Đội rau sồn và đội rau già ở chung buồng bên dãy trái sân trại, tương đối sống hàng ngày có nề nếp hơn các đội tù trẻ...
          Cứ mỗi năm vào những ngày cuối thu, trời bắt đầu có nhiều áng mây thấp, thỉnh thoảng có những cơn gió mát người là các đội rau của trại bắt đầu chuẩn bị vỡ đất, trồng rau màu mùa đông như su hào, cải bắp, tần ô, riêng đội ba còn có thêm mục dọn ao trồng rau cần nước ...
          Rau ăn chính của trại, bao giờ cũng là rau muống, cứ vào thu là rau muống bắt đầu cỗi, đất phải cuốc trở lên để trồng cho kịp vụ, nên việc tìm rau ăn độn của tù, trở nên khó khăn, chỉ còn một vài loại rau hoang như dền, diệu, chóc ...tay nào lanh, dạn thì lén bứt rau muống giống, tuy cọng nhỏ mà ăn rất ngọt .Công việc trở đất trồng su hào, không phải là chuyện đơn giản, mà phải tốn rất nhiều công sức và mồ hôi, ngoài hiện trường, mỗi tù viên là chủ một lô đất, phải chịu trách nhiệm về cỏ rả, tưới tắm, phân bón..., thành phần già yếu thì làm những việc linh tinh khác, như tăng phái cho chủ vườn khi có nhu cầu, phụ nhổ cỏ tát nước, xới đất .... Đất mùa nắng, cứng như đá, được cuốc lên từng tảng to, lật ngược mặt, dùng vồ đập nhuyển ra trang bằng mặt, dùng cuốc chim hay dầm xới đào hốc có thể tích do cán bộ quản giáo ấn định, khoảng cách phải đều nhau, phần sau cùng, là gánh phân từ các ụ ủ phân xanh, gồm cỏ lá hoà trộn với phân người, kít người được các anh tù tự giác bên hình sự, gánh ra từ các buồng xí tù, đổ vào ao nhỏ giữa hiện trường, lúc mới ra đội rau, chưa quen mùi, tôi phải khạc nhổ đến khô cổ, rồi sau đó, đâu cũng vào đấy, ngày nào không được ngửi kít là ngày đó không ăn được ( vì bệnh mới được ở nhà, sau khi được tù y tế trại xác nhận )
          Bởi công việc nhiêu khê, tôi thì ốm tong, lại cao như cây tre miểu, lưng lại dài quá tầm cở; nên rất ngán ngẩm trong việc lao động hàng ngày... lúc mới chuyển đến trại Hà Tây, tôi được biên chế vào đội gạch, quản giáo là Thượng Úy Đào Thường, vốn gốc người Bình Định, dù sao cũng gốc người miền Nam, nên ông cũng có vẻ cởi mở chút đỉnh, tôi ngồi xếp gạch vô lò, ông thường vuốt lưng nói giỡn với tôi :
          - Lưng anh Mỏng dài hết biết, lười lắm đấy !
          Mà quả thật
          vậy, ông bà mình vẫn thường nói : Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, thì tôi chỉ thể hiện đúng lời cổ nhân thôi, chứ nào có lười gì đâu...( biết vậy nhưng mà trong lòng tôi vẫn nhớ đến 2 câu ...Dài lưng đã có võng đào- Tốn vải đã có cẩm bào vua ban ...)
          Vốn tật lười, với lại sức yếu, nên khi vào phòng xong là tôi nằm dài ra, khoẻ thì nói chuyện rỉ rả với hai anh nằm bên cạnh, một anh khoá 10 võ bị, làm trưởng một phòng ở toà tổng trấn Sài Gòn, một anh khoá 16 Thủ Đức, nhân viên phủ đặc ủy trung ương tình báo, thuộc tình báo quốc ngoại, đang công tác tại Pháp, được chiếu chỉ triệu về ....để đi tù . Không nói chuyện thì tôi đọc sách, sách của thư viện trại cho mượn, nhiều anh chê sách CS không thèm đọc, riêng tôi thì quyển nào tôi cũng đọc, vừa giết thời giờ vừa để tìm hiểu CS, phải đọc sách CS viết thì mới biết CS nghĩ gì, và xem họ nói dóc tới cở nào ...
          Đêm nay cuối tuần, trong phòng ồn ào hẳn lên, vì ngày chủ nhật được nghỉ phè cánh nhạn, tôi nằm yên một mình nhìn đỉnh mùng giăng sẳn vén lên; năm nầy đã là năm thứ sáu rồi, tôi mơ màng thả hồn về Gò Công, nơi mẹ và anh chị tôi đang sinh sống, tôi lơ mơ hình dung ra cảnh sống của gia đình tôi, Mẹ tôi thì lớn tuổi, chị thứ hai tôi lại yếu đuối, chỉ có một người chị kế tôi là còn đang dạy học, có nghĩa còn làm ra tiền .Ba tôi, tạng người mạnh khỏe, nhưng chỉ một cơn bệnh tầm thường mà vì không có thuốc men, nên phải ra đi từ năm 79. Gia đình tôi ở Gò Công, sẽ phải sống ra sao bằng đồng lương khiêm nhượng của một người đi dạy học, trong chế độ bao cấp của Cộng Sản, lại phải gửi quà thăm nuôi tôi nữa, tôi bí rị không hiểu nhà tôi sống ra sao trong mấy năm nay, nhín nhút nghèo khó tới cỡ nào...
          Ngày xe lăn bánh từ giã Gò Công, tôi vẫn còn nhớ rất rõ, như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua, trước cổng trường trung học Bán Công Gò Công, năm chiếc xe đò liên tỉnh đậu xếp hàng dọc, trời Gò Công sáng ngày 26-6 có hơi lành lạnh, do ảnh hưởng trận mưa gần như suốt đêm hôm trước....Toàn thể cấp Trung Úy của Tỉnh Gò Công, chia nhau từng phòng học để nghỉ qua đêm, kể cả 3 nữ Trung Úy .
          Chúng tôi được lệnh mang hành trang cá nhân lên xe, tôi lên chiếc xe thứ nhì, ngồi băng nhì sát bìa cửa trái, xe đậu cạnh nhà Thiếu Tá Ngọc, tôi còn nhớ, cảm giác của tôi lúc đó thật mơ hồ, người anh thứ ba, cấp Đại Úy đã lên đường ngày hôm trước, gia đình tôi rồi đây sẽ ra sao khi hai người con trai đều phải rời khỏi nhà, để bị đưa đến một nơi nào đó ...thật mịt mờ. Bạn bè trong xe chắc đều có những mối lo riêng; tôi chợt thấy mẹ tôi hớt hãi từ hướng cầu Tây Ban Nha đi vội vàng hướng tới đoàn xe, tay người xách một giỏ khá nặng, tôi vẫy tay ra hiệu khi mẹ đến gần, trông mẹ tội lắm, mẹ nói với tôi bằng một giọng thất thần :
          - Xe chỡ đi đâu vậy con ?
          Làm sao tôi biết được tôi sẽ đi về đâu, để trả lời cho mẹ tôi,bây giờ là xe chuyển tù, chứ đâu phải xe chỡ đi hành quân của ngày xưa, tôi an ủi gì được cho mẹ tôi trong cảnh nầy đây ...!
          - Không biết nữa mẹ à, người ta sao mình vậy, mẹ đừng quá lo lắng, con sẽ cố gắng liên lạc cho mẹ biết tin con.
          Mẹ vội vã trao cho tôi giỏ xách, trong lúc xe cũng từ từ chuyển bánh, đôi mắt của mẹ tôi ửng đỏ, hình ảnh đôi mắt nầy, đã ám ảnh tôi trong suốt những năm dài trong lao tù CS, tôi hiểu Mẹ tôi đau lòng lắm, đứa con trai út mà mẹ thương mẹ quý,nay bị bắt đưa đi trước mặt mẹ, con mẹ rồi đây sẽ bị đưa đi đâu, rồi sẽ phải ra sao, tại sao làm Mẹ, mà Mẹ lại không có quyền gì với con của mình vậy, đứa con mà Mẹ đã đẻ ra và nuôi nấng nên người, bây giờ bị người ta bắt chỡ đi, đoạn lìa tình mẫu tử ...
          Xe chạy chầm chậm, tôi không dám ngoái nhìn lại Mẹ tôi ...xe ngang qua giáo đường, qua trường Trung Học Gò Công, qua dinh Tỉnh Trưởng, quẹo trái ngang Ty ANQĐ, Quân Cảnh Tư Pháp, quẹo phải ngang qua trường Kỷ Thuật, qua Ty Thông Tin, ngang qua mặt chợ, các cửa hàng rất quen thuộc từ ngày tôi còn tấm bé, đây là Cẩm Nguyên, Vưu Sưu Ký, Kim Lang, Vạn Lai An, Vạn Sanh, nhà thuốc tây Trương Thị Thỉ, Công Thành, Hiệp Lợi...bên hông cửa bên phải xe, có nhiều ổ bánh mì được những người bán thảy vào, món quà đơn sơ mà đầy thâm tình của người Gò Công, dành cho những người không bảo vệ được Gò Công ...
          Thế rồi ngoài dự trù của tất cả mọi người, xe rẽ vào quận Hoà Đồng, dừng lại trước trại gia binh bên nầy cầu sắt, trước cổng trại có thượng bảng " Trại cải tạo sĩ quan nguỵ quân và nguỵ quyền tỉnh Gò Công "
          Cái mừng tiên khởi là dù sao, trại cũng gần nhà, còn nằm trong phạm vi tỉnh ...Xuống xe xếp hàng đôi bước vào cổng trại, tôi thấy các đàn anh đứng đầy trong sân, đang chỉ chỏ chúng tôi cười nói, thì ra đó là các sĩ quan cấp Tá, cấp Đại Úy, đã trình diện trước tôi mấy ngày, dĩ nhiên cũng có mặt người anh thứ ba của tôi .
          Khoảng 20 ngưòi chia nhau một căn trại gia binh cũ, mỗi người cũng được hơn 5 tấc ngang, sau khi trải chiều trên nền đất, tạm ổn định chỗ nằm, tôi xem qua giỏ xách của mẹ, một chai đựng đầy nước uống bằng nhựa, một ly nhựa màu xanh, ba nắm cơm vắt, mấy gói muối đậu, cá khô ...
          Tôi thần người ra, sao lại là 3 vắt cơm, từ bé tôi chưa thấy nhà tôi nắm cơm bao giờ, tôi chỉ thường thấy 3 vắt cơm để trước quan tài người quá cố, thêm mấy quả trứng và tôm cua luộc ( tam sên ).Tôi bẻ cơm ăn thử, cơm tán nhuyển quyện dính nhau, mỗi trái cơm bằng quả cam to, cũng phải gần nửa kí lô, lạ miệng ăn thấy ngon lắm ...
          -Ê, Mỏng, dậy lên uống trà nói dóc nghe chơi mậy.
          Đang trong giòng hồi ức, tôi bị thằng Giai kéo giò dựng dậy .
          -Mầy nằm hoài rũ người chết, lên uống trà nói dóc cho vui, nằm đó mà nhớ ghệ hoài ...
          Thằng Giai, Thiếu Úy ANQĐ, học sau tôi mấy lớp, cùng với tôi từ đội chăn nuôi, bổ sung về đội rau mấy tháng nay, nó nằm từng trên ngay chỗ tôi nằm. Tôi uể oải ngồi dậy trèo lên thang gác, thì thấy có mặt của Bích Lâu ( ANQĐ, Hoà Tân) Cò Củ ( Ty CS Mỹ Tho )Thành Đỏ ( ANQĐ Long An )Kiệt Cá Ngáo ( Chuẩn úy tù binh Phước Long )...
          Tất cả quây quần trên hai chiếu của Giai và Lâu, một bếp dầu 8 tiêm đang đun một lon gô nước, mấy lon nhôm thịt họp, dùng làm ly uống nước, có thuốc lào hiệu ba số 8, Tiên Lãng, có kẹo đậu phọng, đường tán ...
          Lâu và Giai cùng quê và cùng trường Gò Công với tôi, tôi học khoá 5, Lâu khoá 6, Giai khoá 8, Cò Củ là trưởng cuộc quê ở Long An, Thành Đỏ cũng là tù trước 75 bị bắt ở Cai Lậy ...tất cả cùng sinh hoạt chung từ đội chăn nuôi( trong tù thường chia ra từng nhóm ăn cơm chung với nhau, dĩ nhiên vẫn có người ăn cá thể )
          - Ê Mỏng, hôm nay mầy kể chuyện Sơn Vương nghe chơi Mỏng...
          Thằng Lâu vừa kéo xong điếu thuốc lào vừa lên tiếng
          -Kể thì kể, mầy dân Giồng Nâu ( Hoà Nghị, An Hoà) mà biểu tao kể chuyện Sơn Vương, mầy ở Hòa Nghị, quê hương của Sơn Vương, mầy phải rành hơn tao chứ .
          Tôi vừa cầm lon nước trà, xin thêm chút nước trắng, vì trà đậm quá, vừa trả lời Bích Lâu .
          Thằng Mỏng nó ở ngành CTCT, nó nói dóc có tiếng, thằng Giai vừa nhai kẹo vừa cười nói...
          -Thằng Giai mầy phá máy hoài, để nó nói dóc nghe chơi ...
          Tiếng thằng Lâu góp ý, tôi biết thằng Lâu nó rất nhớ nhà, nó là con một, được cưng chiều từ nhỏ, với lại thêm một vợ mấy con ...ghệ,bởi vậy nó rất sợ nằm một mình, nên nó thích uống trà, nghe nói dóc để giết thì giờ .
          Tôi thư thả đốp một miếng kẹo, nhai nghe dòn khứu, chiêu một ngụm trà, thong thả cầm " ba dô ca ", ngắt một bi thuốc lào Tiên Lãng, đóm cật tre bắt lửa sáng rực, tôi kéo một hơi thuốc dài, ém khói, chiêu một ngụm nước trà ...
          Ngày còn bé, tôi vẫn thường nghe Ba tôi kể chuyện về Sơn Vương, tôi cũng có dịp đọc truyện" Côn Sơn khói lửa " lúc còn học tiểu học, đến trại Hà Tây được hơn 5 năm thì chú Chín Khương, nguyên phó đảo Côn Sơn, từ Hỏa Lò chuyển về Hà Tây, Chú nằm cách tôi một chiếu, nên tôi có dịp hỏi nhiều chuyện về Côn Sơn, Chú Chín là thư ký tại đảo Côn Sơn từ thời Tây, Ông đã từng chứng kiến cảnh xử bắn Võ Thị Sáu ...Từng đêm từng đêm, tôi khai thác dần cái vốn sống Côn Đảo nằm cạnh bên , từ chuyện tù của nhóm chính trị Ca - ra - ven, đến những tay một thời lừng lẫy của đệ nhất Cộng Hòa như Anh Tư Dư, trưởng ty CS Huế, Thiếu Tá Đặng Sĩ,, Thái Đen ...cho đến Sơn Vương, Điền Khắc Kim ...., chuyện kho tàng Nguyễn Ánh, chuyện thú lạ tựa như khỉ, thường ăn ếch nhái, chuyện nhân sâm ...một trong những loài sâm quý nhất thế giới có mặt ở Côn Sơn ...
          Trong buồng có mấy anh thấy tôi rù rì với Chú Chín, cũng thường dừng lại góp ý
          -Thằng Mỏng nó nói dóc lắm, nó hỏi chú Chín để ghi nhận làm vốn đi nói dóc đó, đừng kể cho nó nghe .
          Trong buồng tôi, đa số đều là những người lớn tuổi, đều là những người từng giữ những chức vụ quan trong của chế độ Cộng Hòa, nên đối với cấp úy trẻ như tụi tôi, cũng được các chú bác dành cho một cảm tình đặc biệt, các chú các bác đã nhìn chúng tôi như những kẻ thiệt thòi của chế độ .
          - Ê , nhớ tới đâu kể tới đó nghe, kể nghe cho đã rồi lại bảo tao nói dóc ...
          Sơn Vương tên thật là Trương văn Thoại, sinh quán tại làng Hòa Nghị, tỉnh Gò Công, Chúa Nguyễn thua liên tục quân Tây Sơn, phải trôi dạt ẩn náo tại Côn Sơn, quân Nguyễn Lữ vẫn không tha, bao vây truy kích rất gắt, biết không thể nào chống lại quân Tây Sơn, nên Nguyễn Vương quyết định chôn dấu kho tàng tại núi Ma Thiên Lãnh, đang đêm lén dùng thuyền nhỏ, nhân trời đang mưa bão cùng vài bộ hạ thân tính ra khơi tìm đất sống .
          Người chỉ huy của quân Tây Sơn có lẽ là tướng Phạm Bá Điềm, trong một đêm mưa giông tối trời đã để hở vòng vây nên Nguyễn Vương vượt thoát, thuyền ra khơi nhắm hướng đất liền tiến thẳng, khi không còn thấy dấu vết quân Tây Sơn rượt đuổi, Nguyễn Vương chưa kịp mừng, thì một cơn lốc ập tới, thuyền bè tan tác, Nguyễn Vương tưởng phen nầy bị chết vì nước ...biển, thời may có hai con cá Ông cặp hai bên ghe đưa riết vào bờ ...
          Điểm lại tùy tùng còn lại, đếm chưa giáp mấy đầu ngón tay, Nguyễn Vương được dân địa phương cho biết, đây là Vàm Láng, thuộc Huyện Tân Hòa. Lần vào đất liền, Nguyễn Vương liên lạc được với Võ Tánh, lúc bấy giờ đang trú đóng tại Hòa Nghị .
          Trong đám thân tính của Nguyễn Vương có Ông tổ của Sơn Vương, Ông nầy giữ được một phụ bản của kho tàng được chôn dấu tại Côn Sơn.
          Khi Nguyễn Lữ kéo quân vào Gò Công truy kích, Nguyễn Vương phải chạy lên Mỹ Tho, Võ Tánh ở lại Hòa Nghị tiếp tục mộ lính đánh Tây Sơn, Ông tổ của Sơn Vương cũng ở lại với một mục đích riêng. Bản đồ nầy truyền qua tay Ông Nội tới cha của Sơn Vương, nhưng không có ai lên đường tìm kho báu .
          Thời thuộc Pháp khoảng cuối thập niên 20, người anh ruột của Sơn Vương lên đường tìm kho tàng, cầm theo bức hoạ đồ, nhưng rồi người đi như sương như gió, ngày ra đi thì thấy mà tin tức về thì không .
          Trương văn Thoại là một thanh niên có nhiều tham vọng, lại nhiều bản lãnh, học võ chân truyền từ ông nội và cha, học gồng từ các sư chống Pháp ở Bà Rịa, Vũng Tàu, lại biết thuật thôi miên, tính điềm đạm, cương nghị, có theo học chương trình trung học Pháp, nhưng không rõ ông đổ đạc bằng cấp gì, Ông có khiếu viết truyện, làm thơ ...
          Với khả năng đó, ông quyết định nối gót người anh, dù không còn bản họa đồ, nhưng trong ký ức ông vẫn còn nhớ, vì ông có dịp xem qua nhiều lần .
          Lên Sài Gòn, Ông sống bằng nghề viết sách và bán sách, thật ra đây là nghề tay trái, nghề chánh là ...cướp. Chuyên cướp nhà giàu, trọc phú ...
          - Mầy kể chi tiết một vụ cướp nghe chơi, chứ mầy nói khơi khơi hoài vậy Mỏng ...Lại tiếng của thằng Giai ...
          - Dễ thôi, tụi mầy có nghe tên Nguyễn Bình của Việt Minh không?, để tao kể vụ cướp điển hình của Sơn Vương cho nghe.
          Nguyễn Phương Thảo ( sau nầy là Tướng Nguyễn Bình ) từ Bắc vào Nam có kết bạn với Sơn Vương, cả hai tính tình cùng tầng số, nên rất hạp nhau, thuê một căn gác trên tiệm may Nam Chấn Hưng làm nơi tá túc, ở đường lòi phèo ( Lefebre) cạnh ngả tư Chaigneau. Một buổi sáng, Sơn Vương mời Phương Thảo đi xem anh đánh cướp ...
          Sơn Vương với tính hào phóng, thu nạp được nhiều em út thuộc đủ mọi giới, xuất quân lần nầy, Sơn Vương được Năm Đường là tài xế của một Ông chủ hảng xuất nhập cảng, thừa lúc chủ về Pháp thăm nhà, Năm Đường lấy xe chủ chỡ Sơn Vương đi, chiếc xe hiệu Clément Bayard bóng loáng đời mới .
          Từ Bắc vào Nam, lần đầu tiên, Phương Thảo được ngồi trong một xe hơi sang trọng bóng loáng, có tài xế riêng cẩn thận, vốn là người có tâm hồn của bốn phương, nên Thảo chỉ nhìn mà không hỏi chi cả.
          Sơn Vương mời cả ba đi ăn sáng tại một tửu lầu sang trọng, của người Tàu làm chủ, trên đại lộ De la Somme.Tại đây Phương Thảo được Sơn Vương mời ăn hủ tiếu đặc biệt, xiếu mại gan heo, há cẩu Sóc Trăng ...uống cà phê sữa đá, hút thuốc con mèo đen họp thiếc tròn, ăn hút no đủ rồi, cả ba lên xe nhắm hướng Tân Sơn Nhất trực chỉ .
          - Anh Năm có nhớ thay bảng số xe chưa vậy anh?
          Sơn Vương vừa phả khói thuốc vừa hỏi anh Năm Đường tài xế .
          - Khỏi lo mà Anh Hai .
          Tới một cầu sắt nhỏ, bề ngang chỉ vừa hai xe tránh nhau, Năm Đường đậu xe giữa đường, xuống xe, mở nắp thùng xe ra làm như xe đang hỏng máy, Sơn Vương cũng xuống xe, xem đồng hồ
          - Còn 15 phút nửa, đủ thì giờ hút một điếu thuốc .
          Nguyễn Phương Thảo rất ngạc nhiên và nôn nóng, Anh muốn chứng kiến một pha cướp do một tướng cướp khét tiếng Sài Gòn dàn dựng, Thảo hỏi:
          -Vụ nầy chắc ăn không Anh Hai, trông anh bình tỉnh quá vậy, sao không thấy anh mang súng mang dao theo ?
          Sơn Vương nghe hỏi liền cười ha hả, tay móc cây súng giả lận trong người ra đưa cho Thảo xem :
          -Súng đây nè, súng giả mà đánh súng thiệt mới đã chứ !
          Thực ra Sơn Vương đã điều nghiên rất kỷ, những sáng ngồi bán sách trên lề đường Sài Gòn Ông đã theo dõi rất kỷ các con mồi của Ông,Ông biết tên giám đốc đồn điền cao su Minot, sáng thứ bảy nào cũng tới nhà băng rút tiền để đem lên sở phát lương cho công nhân, ông biết hắn đi xe gì , theo lộ trình nào ...
          Sơn Vương hút tàn điếu thuốc thì từ xa một chiếc xe PEUGOET đang chạy tớ,i tung bụi đỏ mịt mờ phía sau . Thấy đường bị nghẻn ở đầu cầu, thằng Tây rà thắng quát to : Nép vô lề cho người ta qua cầu !
          Năm Đường vờ lăng xăng sửa xe còn Sơn Vương thì thong thả trả lời thằng Tây :
          -Xe pane, chúng tôi đang sửa, nếu ông muốn qua cầu thì xuống xe phụ đẩy với chúng tôi .
          Thằng Tây sừng sộ :
          - Tao mà đi đẩy xe cho tụi bây à?! Hắn nóng nảy mở cửa xe bước xuống, vẻ mắt hằm hằm đầy bực tức
          Sơn Vương lanh bước chận ngay trước mặt thằng Tây :
          - Mầy là thằng nào mà phách lối quá vậy mậy.Thằng Tây đang bất ngờ trước thái độ ngang tàng của Sơn Vương , thì Sơn Vương đã sử dụng bộ pháp " lăng ba vi bộ " tiến sát người thằng Tây, tay rút súng giả chỉa vào ngực hét to : -Dơ tay lên !!
          Rất bất ngờ và theo phản ứng tự nhiên, thằng Tây dơ hai tay lên trời, một lần nữa, Sơn Vương sử dụng " Cầm nả thủ " chụp cây súng sáu của thằng Tây bỏ trong túi quần, đồng thời sử dụng " di ảnh kỳ hình " phóng lại cửa xe chụp luôn va li bạc thảy cho Thảo giữ .
          Năm Đường chỉ chờ cho Sơn Vương và Phương Thảo lọt vào trong xe là nhấn ga ...vọt.
          Sơn Vương ném khẩu súng giả qua cửa sổ xe và nói lớn :
          - Cho mượn đở tháng lương nghe Ông Gaillard, giữ cây súng cây làm kỷ niệm .
          Sau gần cả phút mới tỉnh hồn, Thằng Tây lên xe đuổi theo nhưng phía trước chỉ là một đám bụi mờ ...
          - Thằng Mỏng chắc lúc đó đứng đâu đó nên thấy được mấy thế võ của Sơn Vương, mà sao mấy thế võ nầy tao nghe tên sao giống thế võ trong truyện của Kim Dung và Lệnh Xé Xác của Lã Phi Khanh quá vậy .
          Thằng Giai vừa nhấp trà vừa cười vừa nói
          - Kệ nó mà, sao mầy cứ phá máy hoài vậy Giai ...Thằng Lâu lầu bầu ...
          - Rồi sao nữa Mỏng, vụ nầy trót lọt không mậy ?
          -Ờ, xe chỡ Sơn Vương chạy theo hướng Bà Quẹo, tới chợ thì Sơn Vương và Phương Thảo xuống xe, bao một cổ xe thổ mộ về Sài Gòn, Năm Đường lái xe về nhà chủ, thay lại bảng số, chùi rửa xe cẩn thận. Sơn Vương trích một số tiền lớn cho Phương Thảo, mở một tiệm giặt ủi ở Da kao làm phương tiện sinh sống ...
          Tụi mầy phải biết, thời đó xe hơi ở Sài Gòn quá ít, sở mật thám cho điều tra từng chiếc xe một, hiệu nầy chưa tới 10 chiếc ở Viêt Nam, Năm Đường thấy khó thoát, nên tự ra đầu thú, một tháng sau, Sơn Vương bị còng giải về sở mật thám.
          Bắt được Sơn Vương, cò Ba Zin điện cho tên Gaillard đến bót Ca ti na ngay :
          - Ông treo giải thưởng 5000 đồng cho ai bắt được tên cướp, bây giờ tôi giao tên cướp cho Ông, muốn đánh đập làm gì thì làm cho đã nư đi, nói xong Ba Zin bỏ ra ngoài để Gaillard ở lại toàn quyền với kẻ cướp . Thằng Tây chụp cây roi kẹt bò, trừng mắt nghiến răng nhìn Sơn Vương
          - Mầy cướp của tao 50.000 đồng, tao tính rẻ, 50 roi thôi, mầy sẳn sàng chưa .
          Sơn Vương bình thản: - Xin mời Ông !
          Ngọn roi kẹt bò chạm vào người Sơn Vương nghe đánh trót, chiếc áo sơ mi bằng lụa rách ngọt một đường, năm ngọn roi liên tiếp ghi năm vết đỏ thẫm nổi vòng trên lưng Sơn Vương. Sơn Vương vẫn đứng vững vàng, mặt không đổi sắc. Thằng Tây thở hổn hển, vừa tức vừa sợ, trên đời có lẽ nó mới gặp một người như Sơn Vương. Hắn quăng roi:
          -Tao cho mầy thiếu số còn lại .
          Sơn Vương cười nói :
          -Tôi quen sòng phẳng, ông cứ đánh tiếp.
          Thằng Tây khoát tay :
          - Mầy ngon hơn bọn tao rồi, tao bỏ số còn lại không đánh mầy nữa đâu .
          Càng lạ hơn, Gaillard bỏ ra ngoài tìm Bazin nói :
          -Xong rồi tôi đề nghị Ông thả tên ăn cướp đó đi ,
          Bazin rất đổi ngạc nhiên :
          -Sao lạ vậy ? thả à ?!
          Thằng Tây rút thuốc ra châm lửa ;
          - Dân đảo Corse chúng tôi có câu : Anh hùng phải phục anh hùng, Ông muốn xử nó ra sao thì xử, còn tôi coi như huề, tôi cám ơn Ông .
          Sau buổi đầu quá đổi ngạc nhiên, Bazin cho sưu tra lại lý lịch của Gaillard thì được biết, Gaillard cùng với một người em là hai tên cướp khét tiếng, có nhiều tiền án, đã từng nhiều lần vượt ngục khỏi nhà tù khét tiếng của Pháp ở Nam Mỹ : La Cayenne, vụ cướp gần nhất là đánh cướp một xe chỡ tiền của nhà băng Mỹ, vượt thoát với số tiền nầy, René Gaillard mua cổ phần của hảng Terres Rouges và trở thành giám đốc đồn điền cao su Minot.
          Ra toà, Sơn Vương lảnh án 15 năm, lưu đày Côn Đảo .
          - Xin quý vị giữ im lặng, chương trình văn nghệ cuối tuần của đội rau già sẽ bắt đầu ...Và để mở đầu chương trình, chúng tôi xin giới thiệu một giọng ca chưa lên mà sắp xuống, đó là anh Khưu Vĩnh Biệt, ủa ủa xin lỗi, Khưu Vĩnh Thám ( Đại đội trưởng biệt lập Sóc Trăng), sẽ mở đầu chương trình bằng ca khúc " Tình Thư của Lính ", và cũng xin giới thiệu ban nhạc đêm nay ; Phong cầm, anh Vũ Thành An , Guitar , Anh Khiêm, Violon Anh Định, muỗng Anh Niệm...Xin quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn...
          Giọng của Bình thầy chùa, MC đêm nay, đang giới thiệu chương trình văn nghệ cuối tuần .
          Tôi kéo một bi thuốc lào ..
          - Thôi tuần sau kể tiếp, xuống nằm nghe nhạc mấy cha, kể cho nghe mà thằng Giai cứ chọc quê tao hoài
          Thằng Giai cười hề hề :
          - Thằng Mỏng nầy câu giờ hết biết, nó tính uống vài chục bình trà móc câu mới kể hết chuyện Sơn Vương .
          Đêm cuối tuần trong tù vẫn thường xuyên lặp lại, cũng trà lá, kể chuyện, nhạc sống ...chỉ trừ những đêm cuối tuần, sau khi có đợt thả, đêm thường rất dài, hầu như mọi người đều vô mùng sớm; trong buồng thỉnh thoảng còn nghe âm thanh tiếng hút thuốc lào, bên cạnh tiếng hút thuốc lào, nếu tai ai còn tỏ sẽ nghe rất rõ nhiều tiếng thở dài ...não nuột.Tháng ngày của một người tù không bản án, là những tháng ngày bi đát nhất trong cuộc sống trần gian...!

          THỦY LAN VY
          ( Viết Tại KỳĐàĐộng - july1999)
          Con đi dưới lá cờ sao máu
          Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

          Comment

          • #6

            ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi thylanthao View Post
            một lần đi
            *

            - Gửi các bạn trình diện nhập ngũ ngày 17/12/1968 tại QVTT- Sài Gòn




            THỦY LAN VY
            ( Viết tại Kỳ Đà Động – Houston Hè 02 )
            Cám ơn anh thylanthao về những dấu hiệu trên , có dấu hiệu nhìn mình đoán ra nhưng có nhiều dấu hiệu nhìn không biết , giờ thì biết hết rồi , thanks.
            Đã chỉnh sửa bởi monalisa; 30-11-2014, 09:30 PM.

            Comment

            • #7

              CHO GỬI CÁI ĐẦU
              *
              - Thân gửi các quan hai thất trận trình diện đi tù tại Gò Công






              Tôi học việt văn năm đệ lục với Thầy Nguyễn văn Ba, cũng là người anh thứ ba của tôi, vào đầu niên học trong môn kim văn, anh thường trích giảng hai bài văn viết về ngày khai trường, một bài dịch từ bản nguyên tác chữ Pháp của nhà văn Anatole France và một bài của nhà văn Thanh Tịnh, học sinh tụi nầy phải học thuộc lòng hai bài văn nầy, cũng nhờ học thuộc lòng nên trong trí vẫn còn ghi nhớ, cũng nhờ vậy mà mỗi khi trời trở sang thu, trên trời có những đám mây bàng bạc, là lòng tôi lại nhớ tới buổi khai trường ...
              ..."Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường...
              ...Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi đi trên con đường làng dài và hẹp.Con đường nầy tôi đã quen đi lại lắm lần.Nhưng lần nầy tự nhiên tôi thấy lạ.Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi vì chính lòng tôi đang có sự đổi thay lớn: Hôm nay tôi đi học..."
              Tôi lại liên tưởng đến cậu học trò nhỏ của Anatole France trên đường đi đến trường, đi ngang qua vườn Lục Xâm Bảo...có những chiếc lá vàng rơi trên những pho tượng màu trắng...
              Có sống ở Gò Công vào những năm thập niên 50 - 60 mới thấy sự quan trọng của ngày khai trường đối với dân cư ngụ trong tỉnh lỵ, những khuôn mặt của phụ huynh đăm chiêu nhưng đầy tin tưởng vào triển vọng của con em mình trong ngày đầu niên học, những chiếc áo quần còn thơm mùi vải mới, Những chiếc cặp da mới tinh khôi thắm đậm ân tình của phụ huynh chăm sóc con cái...
              Tôi đã từng trải qua trên 15 lần tham dự ngày khai trường từ những năm đầu đời học sinh, ba tôi chỡ tôi trên chiếc xe đạp sườn ngang đến trường Bà Phước ( thời tôi đi học chưa có trường mẫu giáo, học sinh chưa tới tuổi đến trường công thường đều đóng tiền học trường Bà Phước )...và sau nầy thường đi đến trường với chị ở bậc tiểu học..rồi một mình ở bậc trung học, bước chân đến trường mà trong lòng có biết bao niềm mơ ước cho niên học mới...Cho đến năm 28 tuổi, tôi lại có dịp được chị tôi dẫn đến trường .
              Theo lệnh của Ủy ban quân quản tỉnh Gò Công, tất cả quân nhân cấp Trung Úy phải trình diện đi học tập cải tạo từ 7 giờ sáng ngày 25 tháng 6 năm 1975 tại trường Trung Học Công Lập Gò Công
              Trước ngày tôi đi trình diện, ngày 24 tháng 6, người anh thứ ba của tôi, Đại Úy biệt phái giáo chức( Khóa 16 Thủ Đức) đi trình diện “ học tập cải tạo”, Anh có qua nhà chào từ biệt cha mẹ và có bắt tay tôi từ giã trước khi đi, không khí trong nhà thật yên lặng vắng vẻ sau khi anh tôi rời khỏi nhà với hành trang là một túi bồng bột đựng dụng cụ cá nhân, ba tôi vốn ít nói, mắt người chỉ thoáng buồn, mẹ tôi thì nét u sầu thấy rõ hơn, riêng tôi, trong lòng đang có nhiều cảm giác lẫn lộn, nhiều nỗi lo lắng bồn chồn...
              Buổi sáng thức dậy sớm, lòng tôi càng thấy bồn chồn lo lắng, sau khi điểm tâm xong, tôi soát lại lần cuối mớ vật dụng mang theo, mấy vĩ thuốc cảm, sốt rét, kem và bàn chải đánh răng, khăn mặt, hai bộ quần áo, thuốc hút, diêm quẹt, giấy bút...Tôi đến thắp nhang bàn thờ ông bà, từ giã ba mẹ, người chị thứ sáu, chị kế tôi, dẫn tôi đến trường...Trong đầu tôi hiện rõ cảnh khai trường trong bài văn của Thanh Tịnh, cũng con đường quen thuộc, tôi nhớ từng lá cây ngọn cỏ, từng ổ gà, từng cây dại mọc trên bờ đê...quen thuộc đến cả những màu sơn cửa của từng ngôi nhà, hôm nay, theo từng bước đi của tôi, cảnh vật quen thuộc bên đường như lạnh lùng như xa vắng, trời cuối mùa hạ mà sao trông có vẻ âm u, trời lất phất mưa, những hạt mưa rơi nhẹ như sương, những cánh cửa sổ bên đường vẫn mở mà sao lòng tôi cảm thấy như uất nghẹn im lời, nó không còn vẻ sinh động như những lần tôi từ Sài Gòn, từ Sóc Trăng, từ Huế, từ Pleiku...về phép, ngọn gió lúc tôi về phép như mơn man, đùa reo mát mẻ quá, cũng những cánh cửa mở khép hờ mà sao tôi thấy đầy nét vồn vã ân cần ...khác hẳn như buổi sáng hôm nay.Tay tôi xách túi bồng bột, chị tôi đi bên cạnh dẫn bộ theo chiếc xe đạp mi ni màu đỏ, hai chị em bước đi từng bước chậm, không một lời trao đổi; tôi vẫn biết, dù chậm bước cở nào, khi chân còn bước thì đích phải tới, rẽ sang cầu Tây Ban Nha, quán cà phê Xuân nằm bên đầu cầu, tôi thấy trong quán lưa thưa một vài người khách, một vài khuôn mặt quen thuộc, thầy Phan Thanh Sắc nguyên là Trung úy, huấn luyện viên vũ khí trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp, đương nhiệm hiệu trưởng trường Trung Học Đệ Nhị cấp quận Hòa Tân, đang ngồi quấy đều ly cà phê đen, thấy chị em tôi thầy tươi cười vui vẻ:
              -Ê ! Vô làm ly cà phê rồi đi, còn sớm mà tụi, tính đi sớm về sớm hả???
              Đoạn đường chưa tới 100 thước từ nhà tới trường, chị em tôi còn gặp một vài người quen khác, khẻ cuối đầu chào nhau mà trong ánh mắt hầu như trao nhau hàng ngàn câu thăm hỏi.
              Rồi cũng tới trường, cổng trường đối diện với cổng vào nhà xe của dinh tỉnh trưởng, hai hàng cây dái ngựa trước trường lá vẫn xanh, hạt mưa nhẹ buổi sáng làm màu xanh của lá có tươi hơn nhưng lá ướt nước ủ rủ trông buồn quá, rải rác bên đường, từng nhóm năm ba người tụm nhau nói chuyện, cũng vẫn những khuôn mặt quen thuộc của cựu học sinh trường Gò Công, mà sao tiếng cười đùa vui vẻ của những lần gặp nhau trong những ngày họp mặt, tất niên của hội cựu học sinh trường đã không còn tìm thấy sự nhộn nhịp, vui vẻ như ngày xưa nữa, trong nhiều ánh mắt thấy rõ nét e dè, nghi ngại, như sợ sệt, như lo lắng...hầu hết những người hiện diện hôm nay đều là bạn chung trường, chung xóm, chung đơn vị ngày xưa.Tôi dừng lại trước cổng trường, có chú bộ đội con ( có lẽ cách mạng 30) mặc thường phục tay cầm súng AK đứng gác, trước khi chia tay, chị tôi bùi ngùi khuyên tôi nên giữ gìn sức khỏe sớm trở về với gia đình, tôi chào chị rồi lầm lũi bước qua cổng trường...( Phải hơn 8 năm sau tôi mới thấy lại cổng trường nầy )
              Một thời kỷ niệm cũ chợt sống dậy trong tôi, cũng tại ngôi trường nầy, tôi đã có 7 năm miệt mài đèn sách, cũng tại cổng trường nầy, mỗi khi bước vào, học trò chúng tôi, áo quần phải tươm tất, đủ đầy phù hiệu, hình ảnh những thầy cô giám thị như hiện ra trước mắt tôi, thầy Võ văn Đài, thầy Châu văn Giao, Cô Sáu Hồ...với quyển sổ con và cây bút trong tay, nghiêm khắc đứng rải rác từ cổng vào trường để ghi tên những học sinh lè phè vô kỷ luật...thiếu phù hiệu, áo quần xốc xếch, và không ...hạ mã khi qua cổng .
              Hôm nay, tôi cũng bước ngang qua cổng nầy, nhưng không còn nhìn thấy những khuôn mặt khả kính của những vị thầy cô năm xưa, mà thay vào đó, một khuôn mặt non chọet, có lẽ phải vài năm nữa mới tròn tuổi hai mươi, áo quần luộm thuộm, tay cầm khẩu AK,cơn gió buổi sáng, hay hạt mưa trái mùa làm tôi thấy lạnh, có lẽ hai lý do trên đều đúng, cái lạnh thấm mau vào người tôi có lẽ là do màu đen của sắt thép tỏa hơi tử khí từ khẩu AK rất vô tình; trong suốt mấy năm chinh chiến, cây AK là hình ảnh đối kháng với khẩu M16 xinh xắn của quân đội Cộng Hòa...
              Cũng màu tường vôi vàng, cửa sổ màu xanh, phòng giám thị, giám học, hiệu trưởng, hai dãy phòng nằm cạnh cổng, dãy lớp học im lìm năm xưa còn đó, những cây lim lúc tôi mới vào trường chỉ cao hơn thước, những cây lim nầy cũng là nguyên do để bọn học sinh chúng tôi bị thầy giám thị rầy la vì chạy giỡn tiện tay bẻ đọt ngắt lá, nay thân cây lim một người ôm không giáp, ngọn cao khỏi nóc lầu trường, tàn phủ che mát cả sân...
              Tôi thấy trong sân trường đã khá đông người,dưới gốc cây lim sát phòng giám thị, một nhóm giáo sư của trường đang chuyện gẩu, tôi thấy thầy Huỳnh Thạch Sơn là giáo sư văn chương và là đương nhiệm hiệu trưởng trường, vẻ mặt trầm ngâm đang lắng nghe chuyện, khoảng 8 giờ sáng, một tên cán bộ Cộng Sản ra lệnh tập họp các quan hai lại ,tất cả anh em xếp thành hàng tư trên sân xi măn trước dãy trường lầu hướng tây trường, tôi nhẩm đếm khoảng trên 200 Trung úy,trong đó có 3 nữ sĩ quan là Nguyễn thị Hương Hoa ( Phòng điện cơ kế toán bộ Tổng Tham Mưu, cũng là cựu học sinh trường) Nguyễn Thị Anh ( Phòng xã Hội Tiểu Khu Gò Công) Nê A Sang ( Không rõ đơn vị )...Tôi còn nhớ chị Võ Thị Cảnh là giáo sư Trung Học Gò Công với gương mặt đầy lo lắng bước vội vô cổng trường, chị trình diện thế cho người em trai là Hải Quân Trung Úy Võ Văn Tý, Tý đi Mỹ Tho thăm ghệ trên đường đi bị bắt ở Chợ Gạo.Thế mới biết, chính sách hà khắc dân chúng sợ hơn hùm beo rắn độc, mọi lệnh giặc cờ đỏ ban ra đều được tuân hành răm rắp, bởi trong thời điểm giao mùa, ai ai cũng sợ bản án tử hình làm gương ...!
              Tôi nhìn tổng quát thành phần sĩ quan tại hàng hôm nay, đa số là cựu học sinh trung học Gò Công đã phục vụ quân đội trên 4 vùng chiến thuật, một số sĩ quan thuộc các tỉnh khác phục vụ tại tiểu khu Gò Công.Có anh ăn mặc như đi dự tiệc, áo quần thẳng nếp, dày da đánh bóng, xe honda dựng bên lề; tôi thầm nghĩ, các anh nầy tưởng dễ ăn với Việt Cộng, trình diện rồi được cấp giấy ra về như chính sách ...khoan dùi nhân đạo mà chúng thường rêu rao khi mới cưỡng chiếm miền Nam.
              Sau khi được nghe "giảng" về chính sách khoan dùi của đảng đối với sĩ quan ngụy quân và ngụy quyền; tất cả tan hàng tự do đi lại trong vòng rào trường dưới sự canh gác của vệ binh võ trang ở bốn góc trường.
              Tuy bầu không khí có vẻ nằng nặng, sự im lặng rồi cũng bị phá tan bởi tiếng chào mừng của bè bạn lâu ngày mới gặp lại, những nụ cười gượng gạo cố vui trong chốc lát, vui làm sao được khi trong lòng ngập đầy lo lắng, số phận của mình rồi sẽ ra sao, bao nỗi nhớ thương, tình chiến hữu năm nào nay tản lạc muôn phương, rồi cha mẹ, rồi vợ con ...!!
              Khuôn viên trường khá rộng rãi mà gần 10 năm tôi mới có dịp gần gủi lâu dài, tôi lặng lẽ đi chầm chậm tìm những phòng học cũ, trường chỉ còn lại hai dãy ngang từng trệt là dấu vết của thời tôi đi học, ba dãy lầu nới cất sau khoảng thời gian tôi rời trường, tôi lặng lẽ đi vào từng phòng học, cố tìm lại chút vết tích của thời còn mài đủng quần trên ghế...Với một thời gian tương đối khá dài, mười năm rồi còn gì ...Cũng vẫn những nét vẽ nguệch ngoạc, những dòng chữ li ti, những hình vẽ, nhưng không phải của thời tôi đi học mà là của các lớp đàn em sau nầy...Mắt tôi như mờ lại, hình ảnh thầy cô cũ hiện ra sao rõ nét quá, Cô Giang Thị Hạnh, cô Trần Thành Mỹ,Cô Lê Kim Xuyến, thầy Đoàn Huy Oánh, Thầy Ngô Đình Thu,Thầy Nguyễn Tiến Đức, thầy Đinh Đức Vượng …, rồi những tà áo dài trắng tha thướt của các bạn đồng song ...Hứa thị Vĩnh Thu, Nguyễn Thị Kim Kiều, Phan thị Lệ Sương, Lê Kim Hoa, Đồng Thị Ái, Nguyễn thị Bạch Mai...lòng tôi như se thắt lại...!
              Tôi thử điểm danh một số anh em cựu học sinh, khóa 1 có Tô Vĩnh Thái( Giáo chức biệt phái= GCBP), Anh Tôn( Pháo Binh Dù GCBP) Anh Chánh ( GCBP)…Khóa 2 Có Lê Văn Bình (CTCT tiểu khu GC, GCBP), Hồ Văn Sơn ( Khóa 3/69 Quân Nhu) Anh Ánh ( Biệt Phái Tòa hành Chánh)…, Khóa 3 có Nguyễn Văn Xã( Cựu khóa sinh Rừng Núi Sình Lầy Mã Lai, GCBP), Võ Huỳnh Long( GCBP), Lê Ngọc Phước(GCBP),AnhTrang(GCBP),AnhChấn(GCBP)…, Khóa 4 có Phạm Bá Niên ( Phân chi khu trưởng)…, Khóa 5 có Đặng văn Vui( Trưởng G Vũng Tàu), Lê Văn Nay( Đại Đội Trưởng ĐPQ), Trần Công Thu( Công Binh)…, Khóa 6 có Lê Bích Lâu( An Ninh Quân Đội), Nguyễn Ngọc Bá( Trưởng ban 1 TĐ Pháo Binh )Nguyễn Thành Nghiêm ( Trưởng ban Chính Huấn SĐ 18), Trần Ngọc Sáng( Phòng 2 Quân Đoàn 4 )…Khóa 7 có Lê văn Liệt ( Trưởng cuộc Cảnh Sát Long An) Nguyễn văn Tỷ ( Thiết Giáp )…, Khóa 8 có Phạm Đăng Trắc ( Pháo Binh Quân đoàn 2) ….Và còn mấy khóa tiếp nữa, tôi không nhớ hết…
              Tôi bước lên dãy lầu ngang, nhìn thẳng ra cột cờ, trên hành lang, tôi đi lần đến cuối dãy, nhìn qua khoảng trống giữa hai hàng rào kẽm gai, bên kia rào là khám đường Gò Công, ôi định mệnh sao cai nghiệt quá, trường học nằm cạnh kề khám đường, thì học sinh xong học đường lại chui vào khám. Trước mắt tôi, một khoảng trống nhỏ đủ nhìn thấy người, tôi thấy một vài khuôn mặt quen thuộc từ bên khám đường tò mò nhìn sang trường, kìa là thằng Nguyễn Kim Giai, thiếu úy An Ninh Quân Đội, tôi vẫy tay chào nó, nó dùng tay chụm miệng hỏi lớn:
              -Thằng Chí đâu rồi?( Đại úy Nguyễn Duy Chí Đại Đội Trưởng trinh sát trung đoàn 11, bạn chung lớp, cùng khóa 8 với Giai).Tôi vội đáp lại trong sự vui mừng gặp lại bạn cũ, dù trong hoàn cảnh có hơi quá khắc nghiệt:- Nó chuyển đi hôm qua rồi, không biết đi đâu..tôi chụm tay làm loa trả lời Giai.
              Bên cạnh Giai là anh Năm Địa, hạ sĩ quan cảnh sát đặc biệt, Cò Hên, tiểu đội trưởng quân cảnh tư pháp và nhiều người khác tôi không nhớ hết tên, tất cả đều vẫy tay chào tôi.
              Tôi đi ngược trở lại hành lang thì gặp một nhóm khá đông đang vây quanh một bàn cờ tướng, hai đấu thủ là anh Trung Úy Sinh Đại đội trưởng ĐPQ và anh Võ Huỳnh Long, trung úy biệt phái giáo chức, cả hai đều là cựu học sinh khóa 3 trung học Gò Công, tôi khen thầm, Anh Sinh nầy mang theo bàn cờ quá hay, vừa tạm giết thời giờ vừa quên đi sự thế; khuôn viên trường khá rộng, có nhiều nhóm nhỏ tụ năm, tụ ba, dù không đến gần nhưng tôi cũng hiểu rõ phần nào nội dung câu chuyện...đại khái là những lời than thân trách phận, những lời ưu tư lo lắng cho tương lai...bởi vì ngày mai chỉ là một dấu hỏi lớn...trong đầu mọi người!
              Tôi và một vài bạn thân thời trung học cũng tụm lại với nhau, kể cho nhau nghe về những ngày sau cùng của cuộc chiến, những oan khuất nhục nhằn phải chịu đựng trong buổi tàn cờ, Thằng Quang Đèo( Phân chi khu trưởng xã Vĩnh Bình)Thằng Ba Lém ( Trung Đội Trưởng Pháo Binh) hai thằng bạn mà khá lâu không gặp mặt...mặt thằng nào thằng nấy trông buồn so, nhất là thằng đèo vợ vừa mới sinh đứa con đầu lòng...
              Không cơm, không nước, đứng tán gẩu, hút thuốc đắng cả miệng, cũng có người không trò chuyện với ai mà đứng tựa bao lơn, mắt buồn xa xôi ...nhìn trời hiu quạnh...đã gần 12 giờ mà mặt trời vẫn chưa xuất hiện, trên trời có nhiều đám mây đen vần vũ, thỉnh thoảng một vài cơn gió nhẹ thổi qua tạo nên cảm giác lành lạnh...cảnh trời âm u như báo hiệu sẽ có một cơn mưa lớn...
              Tôi thử quan sát toàn thể các anh chị hiện diện hôm nay tại trường, Đa số là cựu học sinh trường Trung Học Công Lập Gò Công, từ khóa 1 đến khóa 10, các vị sĩ quan biệt phái giáo chức có phần tươi tỉnh hơn, có lẽ họ tự nghĩ nghề giáo thời nào cũng là nghề cao quý, không có tội với nhân dân, một số sĩ quan biệt phái về hành chánh, một số sĩ quan người tỉnh khác làm việc tại tiểu khu.... đặc biệt có Anh Huỳnh Văn Hoa, cựu học sinh khóa 3 Trường Gò Công, cựu sinh viên sĩ quan khóa 23 Đà Lạt., lúc nào tay cũng cầm 1 cái radio nhỏ kề bên tai nghe,con đường trước trường hôm nay vắng lặng một cách lạ, thỉnh thoảng mới thấy có chiếc xe đạp chạy nhanh qua, người đi bộ cúi đầu rảo bước, lén gửi một cái liếc vội vàng vào sân trường...
              Trước khung cảnh âm u của trời đất, trước những khuôn mặt thất thần lơ láo, tôi thấy trong tôi có một nỗi buồn khó tả, tôi linh cảm có một điều gì không ổn cho cuốc sống của tôi ngày mai...Ở trong hoàn cảnh mà tự mình không chủ động được, tôi thầm lẩm nhẩm 2 câu kiều
              "Cũng liều nhắm mắt đưa chân
              Thử xem con tạo xoay vần tới đâu ....."
              Tới hơn 2 giờ trưa, có hai ba tên VC, mặc thường phục, vai mang xắc cốt đến trường ra lệnh tập họp anh em lại, một khối tù hàng binh đứng xếp hàng ngay ngắn, một tên cán bộ ra lệnh:
              -Các anh chị chuẩn bị di chuyển sang trường trung học bán công.
              Không khí trở lại ồn ào sau lệnh của tên cán bộ, những lời bàn tán, những ánh mắt nhìn nhau ... chẳng có một đáp số nào chính xác cả, tay tôi vẫn xách cái túi bồng bột, gia tài hiện hữu, lẫn trong đám đông, ai sao mình vậy, mặc cho dòng đời đưa đẩy, theo sự chỉ dẫn của tên cán bộ, anh em chúng tôi lần lượt bước ra khỏi cổng trường, cũng có bộ đội cầm súng AK dẫn đường và mấy tên đoạn hậu, thì ra xuống ngựa rồi mà ra đường vẫn còn có lính cầm súng theo bảo vệ ?!Trường công lập cách trường bán công khoảng non 100 mét, ngang qua cổng sân vận động tỉnh, tôi nhớ tới hai xe nước đá của Anh Chơi và Anh Nhạn, hai anh vẫn thường xuyên đậu xe trước cổng sân vận động nầy suốt thời gian tôi còn học, từ đệ thất tới đệ nhất, tôi nhớ tới thầy năm Răng( thầy đã qua đời tại Bình Ân, Gò Công), giáo sư thể dục, tôi học thể dục với thầy từ khi tôi còn học lớp nhì A với thầy Nguyễn Văn Huệ( Thầy Huệ đã qua đời tại Pháp)thầy Răng cũng là thầy dạy thể dục tôi năm đệ nhất,thầy hơi thấp người( so với tôi) nhưng dáng người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thường tới giờ thầy dạy, thầy hướng dẫn lớp ra sân vận động, thầy đi đầu, tay cặp trái banh, Con trai của thầy, Trò Ngọc Quang vào học đệ tam chung với tôi ...Qua sân vận động, chúng tôi đi ngang qua tòa án, hình ảnh người đẹp năm xưa chợt hiện đến với tôi, chị Phan thị Lệ Sương là con gái Ông Thẩm Phán,chị học cùng đợt với tôi( tam B2 rồi nhị B2),năm thi tú tài phần hai, tôi ngồi chung phòng với chị,Lệ Sương có nét đẹp ngoan hiền, thoáng nhìn rất dễ có cảm tình, khi rời trường lên học trên Sài Gòn,thỉnh thoảng vào thương xá Crystal Palace, tôi có nhìn thấy chị, chị đứng bán mỹ phẩm trong một cửa hàng đối diện với tiệm bán băng nhạc Tú Quỳnh; đồng dãy với tòa án là khuôn viên giáo đường tỉnh, đối diện với tòa án là mặt sau khám đường Gò Công, một bên khám là một con đường trải đá tiếp giáp với trường trung học, một bên là một con hẻm nhỏ nối liền ra bờ sông, có khoảng 10 nóc gia ngụ trên con hẻm nầy,tôi nhớ tới bầu Thọai ( Nguyễn bá Thoại),bạn học từ trung học, đá banh rất hay, đứng vị trí trung ứng, là cầu thủ xuất sắc của hội tuyển trường, sau nầy là hội tuyển tỉnh, trong quân đội, Thoại là trung ứng của đội tuyển quân đoàn 4, sực nhớ tới Thoại, tôi đảo mắt tìm Thoại,nó đồng cấp với mình mà sao không thấy trong đoàn tù nầy( Thọai nhập ngũ trể , khóa 5/69 Thủ Đức)( Một năm sau,Ở trại tù Mỹ Phước Tây, tôi đang trên đường ra hiện trường đào kinh, đang di chuyển trên tỉnh lộ thì thấy Thoại trong nhóm tù thuộc trại Vườn Đào, hai cái len đào đất trên tay hai đứa đồng loạt dơ cao lên, một lối chào cho dễ nhận, thoáng vui trên nét mặt khi bất ngờ gặp lại bạn học cũ, dù trong hoàn cảnh có phần khắc nghiệt ...!
              Đầu con hẻm nầy là nhà của thiếu tá Nguyễn duy Sự( khóa 16 ĐL, quận trưởng Hòa Tân)anh của Tuyết Nga bạn học cùng lớp với tôi, mẹ Anh Sự có nghề làm bánh vá nổi tiếng chợ Gò Công, cũng là truyền nhân của bánh giá Vĩnh Lợi,cạnh bên, nhà ông Đốc học Võ Văn Giáp, một vị hiệu trưởng rất có uy tín ở tỉnh nhà, Thằng Tý, con trai út của Ông bị bắt ở Chợ Gạo nên không có trong đoàn quân chiến bại nầy, kế bên là nhà Thầy Giáo Trần Văn Hai, Thầy dạy ở trường làng Tân Niên Trung, sau đổi về dạy tại tỉnh, rảnh rỗi thầy dạy thêm Pháp văn, lớp tại gia của thầy học sinh khá đông, chị Trần thị Gương, con gái của Thầy cũng là bạn chung lớp với tôi, tôi đi lần lần qua nhà Thầy Trung, cựu học sinh khóa 1, là giám thị trường, anh của Thằng Đạt vẫn ngồi cạnh tôi năm đệ tam, Đạt Trung úy không quân( khóa 2/69TĐ), nhà chú hai Vũ Đình Lân, quân nhân giải ngũ, chú xin vào trường làm lao công, sau nhiều năm lên làm giám thị trường, có thằng con trưởng nam là Vũ Đình Chương cũng là bạn chung lớp( dãy nhà nầy là phố mới cất trên cuộc đất của thầy giáo Lý)...Tất cả những nhà quen, cửa đều mở nhưng không thấy bóng dáng người nào cả,có lẽ những đôi mắt thương cảm của người trong nhà vẫn đang nhìn ra đường trong một vị thế kín đáo...
              Tới lô cốt nằm bên trái ngã tư, đối diện với nhà Thầy Giáo Lý, đoàn tàn binh quẹo trái hướng về phía giáo đường, đối diện nhà thờ là một xóm nhà .... xóm nhà nầy với tôi có rất nhiều kỷ niệm, ngay đầu góc đường là nhà của trò Ngô Hoàn Toàn, trò nầy vừa là bạn học vừa là họ hàng chung Ông Cố với tôi, Toàn( khóa 4/68 Đồng Đế) tử trận năm 1970 tại vùng 4 trong màu áo Địa Phương Quân, ngôi nhà ngói cổ xưa, nhà của trò Đặng văn Đỉnh và em gái là Đặng Kim Định, đều là bạn học cùng cấp với tôi, Đỉnh tử trận năm 71, Cạnh nhà Đỉnh là nhà của chú mười Trọng, có lúc người con rể chú Mười là anh Quý râu mở quán nhậu tại đây rất đông khách, con chú Mười có Châu, cô bé nữ sinh duyên dáng của khóa 7 Trường Gò Công và Chị Liễu, vợ anh Quý, cũng là bạn học với tôi, thời tôi vào lính mỗi lần về phép tôi thường cùng với Nguyễn văn Nha, Anh Ba Thương , Anh Tư Ảnh là cán bộ Xây dựng nông thôn, Dương Quốc Bình ( Khóa 26 TĐ giải ngũ)… nhậu suốt ngày, nhiều hôm tới hơn nửa khuya tại quán nầy; hai tiệm billard, một của Yến, Linh, một của Thiếu Tá Ngọc, tôi đã cùng bạn bè cầm cơ chắc cũng phải non ngàn giờ ở đây...một thời tuổi trẻ, một thời chiến chinh, một thời sống vội vàng ăn chơi bạt mạng...từng kỷ niệm hiện đến, chân tôi bước ngang qua xóm nhà nầy mà lòng tôi không khỏi không ngậm ngùi...,trong đầu tôi hiện ra một câu hát, trong lúc lòng buồn se lại, tôi cảm khái hát nho nhỏ..."Giữa hàng tù binh, có anh đi hàng đầu..."
              Tốp đi đầu đã bắt đầu rẽ vào trường trung học bán công, ngôi trường nầy dù rất quen thuộc, nhưng tôi chỉ vào trường chỉ duy nhất một lần, năm tôi làm báo cho trường Gò Công, Thầy Lê Quang Hậu hướng dẫn nhóm báo chí đến trường bán Công bán báo, tờ Định Hướng vào mùa xuân năm 1966.Khi người cuối cùng bước qua cổng trường ...thì chú bộ đội võ trang AK cũng vừa khép cổng, anh em được lệnh tự do đi lại trong vòng rào trường và ngủ qua đêm tại đây.
              Trường Bán Công, khuôn viên nhỏ hẹp, chỉ có 2 dãy lớp khoảng 10 phòng, trường xây trên một miếng ruộng, nền trường thấp so với mặt đường, để xây trường phải đào một cái ao khá rộng để lấy đất đấp nền trường, tôi cùng Quang đèo và Ba lém chọn phòng học đầu tiên làm nơi tạm ngụ
              -Ở phòng đầu có gì chạy cho dễ, tầm quan sát rộng hơn;tôi khẻ nói với thằng Đèo, trong phòng học bàn ghế còn nguyên, cần phải xê dịch bàn ghế mới đủ chỗ trải tấm nylon nằm ngủ. Tôi nhìn hai thằng Quang và Ba , hành trang cả hai chỉ là cái...đít không
              -Ê, bộ tụi bây được mời đi du ngọan, có chủ lo cơm nước, chỗ ngủ nên xách đít không đi ???Tôi mỉa hai thằng.
              Chưa kịp yên vị thì trời đã đổ cơn mưa lớn, mưa như trút nước, cơn mưa kéo dài cả giờ, ao nước tràn bờ, sân trường ngập nước lênh láng, tất cả anh em đều ở trong phòng tránh mưa, dọn dẹp tìm chỗ để tối nằm, tôi nhìn qua dãy ngang hình như chỉ có 3 phòng sát rào sân vận động, tôi nhìn thấy 3 chiến hữu nữ chọn phòng cuối cùng của dãy nầy, mưa bắt đầu nhẹ dần, rồi tạnh hẳn, bây giờ cũng khoảng hơn 5 giờ chiều...tôi nhìn ra cổng trường thấy có nhiều thân nhân xách giỏ xin bộ đội gác cổng nhờ gửi giỏ thức ăn cho thân nhân.
              Sau khi chánh thức có lệnh cho tiếp tế, thân nhân lần lượt đến khá đông, dĩ nhiên trong số đông nầy phải có mẹ của tôi, người mẹ đã gắn bó suốt cả cuộc đời tôi, suốt thời gian đi học, tôi sống cạnh mẹ, tôi vào Thủ Đức, mẹ thăm đủ 12 tuần huấn nhục, những lần tôi về phép, chưa kịp thay quần áo tắm rửa là mâm cơm mẹ đã dọn sẵn, tôi ngồi ăn thì mẹ ngồi kề bên, chén cơm vừa hết là mẹ dành lấy xúc đầy, mẹ muốn nhìn thấy tôi ăn thật nhiều, mẹ muốn tôi cạnh kề bên mẹ như ngày xưa còn bé, nhưng mẹ không giữ tôi ở nhà được lâu, mẹ tôi biết vậy nên thường ép tôi ăn, và mẹ tôi vẫn biết trước sau gì bạn tôi cũng đến nhà rủ tôi đi nhậu.
              Vừa nhìn thấy dáng mẹ từ hướng cầu Tây Ban Nha đi tới, tôi đi vội ra cổng đứng chờ bên hàng rào kẽm gai... Mẹ tôi trong dáng đi vội vã, người khẻ cười khi nhìn thấy tôi, lần đầu tiên trong đời tôi gặp mẹ trong hoàn cảnh khắc nghiệt nầy, ngăn cách giữa hai mẹ con là hàng rèo kẽm gai...!, tôi thấy lòng tôi nghèn nghẹn xa xót, mắt mẹ buồn rười rượi nhìn tôi hỏi đủ điều dù tôi chỉ mới rời nhà từ sáng hôm nay, giọng nói của mẹ nhỏ lại vừa đủ cho tôi nghe, giọng nói vẫn ấp ủ đầy tính săn sóc thân thương ...Mẹ vừa trao giỏ cho tôi vừa nói:
              -Mẹ không dám mang thức ăn nhiều cho con, mẹ sợ người ta "dòm ngó"mẹ đem cho con nửa con cá chẻm chiên tươi, có hủ chao đựng nước mắm tỏi ớt, có trái xoài sống con bầm ra ăn kèm với cá, có chai và ly uống nước, nước mẹ nấu chín rồi, uống nước xong nhớ cất ly vào bao ny lon cho sạch sẽ...
              Tôi nghĩ thầm ... Mẹ ơi!Con của mẹ đã ăn cơm lính 7 năm trời, đã từng vào sinh ra tử, hăm mươi lăm tuổi bước chân thằng út của mẹ đã đi qua khắp 4 vùng chiến thuật, Tăng phái cho nhiều sư đoàn, nhiều tiểu khu, từng có mặt ở Huế trong mùa hè đỏ lửa, từng trở về từ Kon tum trên con lộ máu 7B, những ngày cuối cuộc chiến, con của mẹ tăng phái cho sư đoàn 22, hậu cứ đang đóng tại trại Lam Sơn Phước Tuy, con băng biển Vũng Tàu về với mẹ ngày 28 tháng tư, thay vì những người lính khác đi thẳng ra tàu Mỹ, Con về với mẹ, con về với vùng 4 chiến thuật, con về với tướng Nguyễn Khoa Nam, con tin tưởng rằng dù trong bất cứ tình huống xấu nào vị tướng tài ba nầy cũng sẽ không bao giờ đầu hàng Cộng Sản, Nhưng con của mẹ không nghĩ đến việc Tướng chết theo thành..., con vẫn còn ra biển kịp thời nhưng mẹ ơi khi đã về tới nhà, có ba, có mẹ có anh chị.. lòng con mềm lại ... bước nào con nỡ ra đi...
              Trước mặt mẹ, tôi chỉ là thằng con trai út, vẫn còn được hưởng những sự săn sóc trìu mến ân cần của mẹ, mẹ cũng nhắc có mua cho tôi một gói thuốc hút, rồi cũng không quên dặn dò đừng hút nhiều mà có hại cho sức khỏe. Tôi rất dễ xúc động nên chỉ nói với mẹ bằng những lời ngắn gọn
              -Mẹ yên tâm, con lớn rồi mà mẹ
              Bầu trời, mây đen vần vũ, mưa rắc hột nhẹ, mẹ tôi trìu mến vịn lấy tay tôi, người từ giã ra về, tôi nhìn theo bước chân mẹ, tôi thấy bước đi của mẹ nặng và chậm trên đường...
              Tôi ngồi trên bàn học mang cơm ra ăn, dù từ sáng tới giờ không có ăn trưa mà tôi vẫn không thấy đói lắm, cá chiên tươi, nước mắm ớt ăn với xoài
              sống là món ruột của tôi, vậy mà buổi cơm hôm nay tôi nuốt sao trậm trầy...Trời vẫn tiếp tục mưa, tôi đứng trên thềm hứng nước rửa chén đủa, lòng buồn rười rượi, cho vô bao tất cả vật dụng ,tôi ngồi trên một bàn học hút thuốc nhìn trời mưa, con đường nhựa trước trường đã vắng người qua lại; hơn 8 giờ tối mưa mới bắt đầu ngớt hột, tôi dọn bải để chuẩn bị ngủ, tôi trải tấm nylon trước hành lang phòng học đầu, tôi căng chiếc mùng nhà binh lên, thằng Đèo xin ngủ chung vì nó không có mang theo dụng cụ cá nhân, thằng ba Lém nằm cạnh sát mùng.Tuy gió đêm lồng lộng mà muổi vẫn bay như trấu, vo ve từng bầy, ... Không khí trong các phòng đã bắt đầu yên ắng, tôi nằm bên thằng Đèo mà tâm trí trôi về Sài Gòn, nơi cầu chữ Y, gần lò heo Chánh Hưng, có con bé mắt màu nâu, gốc người Tiều Sóc Trăng, bạn học chung lớp suốt 3 năm liền ở Văn Khoa, cũng là bạn hồng nhan tri kỷ mà cả đôi bên gia đình đều rõ biết..., Tôi nhớ tới cảnh hãi hùng trên gần hai mươi ngày băng rừng về Nam theo tỉnh lộ 7B từ KonTum, tôi nhớ tới chiếc tàu khách tôi quá giang từ Bến Đình Vũng Tàu về Vàm Láng,tàu chỡ quá tải lại gặp sóng lớn súyt chìm mấy lần...
              -Ê, cho tao gửi cái đầu vô mùng.Muổi cắn quá...!
              Tiếng thằng ba Lém, nó cũng không chờ tôi trả lời mà tự động vạch mùng đút đầu vô, thôi thì huynh đệ chi binh, chia ngọt xẽ bùi là lúc nầy đây.
              Tôi đâu có ngờ đêm đầu trong tù tôi đã ngủ chung với con rắn độc, thằng Quang đèo là bạn chung lớp khóa 5 trường Gò Công lại là thằng bạn thân từ nhỏ, thời đệ nhất cấp nó trọ học nhà ông Huyện Đạt, cách nhà ông Thân Bính là tới nhà tôi,nó cùng ngồi chung bàn nhất với tôi, thằng Chung, Thằng Ẩn, Thằng Xuân, thời đệ nhị cấp tôi với nó làm thơ chung nhóm thơ 20 Gò Công ...Thời đi lính, tôi và nó học chung khóa 13 Đại Đội phó, tại trường Cán Bộ Chiến Tranh Chính Trị... vào đây gặp lại nó tôi rất mừng, nhưng mà trong cảnh khó mới thấy rõ lòng người, khi chuyển lên trại tù Huyện Tây, Quang đèo làm toán trưởng coi 3 tổ, cùng với Đại úy Hỉ , cũng toán trưởng, phản lại chiến hữu năm xưa, hợp tác với cán bộ trại hạch tội, phê bình báo cáo ngầm anh em trong trai, Quang và Hỉ là cặp Hắc Phong Song Sát Của Trại tù ' Trại cải tạo Sĩ Quan Ngụy Quân và Ngụy Quyền Gò Công "Chiến hữu từng ở trại nầy chắc có lẽ không bao giờ quên hai tên nầy.
              Tiếng ngái to dần của thằng Lém làm tôi khó chịu, mùng nhà binh ngủ hai thằng đã chật chội, nếu là người khác phái tuy có chật mà dễ chịu lắm, nằm gần thằng đực rựa khó chịu vô cùng, bây giờ thêm một cái đầu, lại cái đầu biết ngái mới chết., nằm đã không xoay trở được, nó lại ngái như Trương Phi, giọng ngái lại không được đều đặn, thường xài tông cao, ai có mất ngủ bên người ngủ ngái mới hiểu tình cảnh của tôi. Tôi rủa thầm:
              -Đụng nhằm máy cưa thứ tốt rồi, thằng chủ trại cưa mua trúng cây ở Bình Giã, Bình Long, Đắc Tô...Thân cây đầy đạn, lưởi cưa chạm phải tạo âm thanh khó chịu quá, tôi không chịu thấu, thỉnh thoảng lay thằng Lém, nó hử hả vài tiếng rồi lại tiếp tục cưa…
              Mắt tôi ráo quảnh, Thằng Đèo nhỏ con, ngủ nằm khoanh như con mèo,không ảnh hưởng lắm, chỉ có cái đầu, cái đầu thằng pháo binh nầy được gắn pin tốt quá, âm thanh rờn rợn, ken két như cưa chạm sắt, một vài anh em thức giấc đi tiểu đêm, ngang qua mùng tôi trầm trồ:
              -Cha nào ngủ ngáy quá đã
              Quả đúng vậy, thằng ngáy dữ thiệt, đôi mắt màu nâu của những ngày Sài Gòn tha thiết, những buổi nhậu quên đời tại câu lạc bộ Gió Ngàn Khơi bên dòng sông Thị Nghè trong doanh trại Nguyễn Bỉnh Khiêm, hình ảnh những xác chết đầy bi thãm, của người chiến sĩ Cộng Hòa trên con lộ máu 7B, hình ảnh thân thương của mẹ mới chiều nay....tất cả đều tan loãng trước tiếng ngáy quá dữ của thằng Lém...Tôi lay nó dậy khoảng 5 lần trong đêm thì trời cũng bắt đầu rựng sáng...
              Thức trắng một đêm, tai bị tra tấn trước âm thanh khuyếch đại của máy cưa thằng Ba Lém, tôi uể oải ngồi dậy tốc mùng, tay rút điếu thuốc châm lửa hút một hơi dài....
              Trời còn mờ tối, buổi sáng hơi lành lạnh, sau một cơn mưa lớn, mặt nước ao cao tận bờ phẳng lặng, con lộ trước trường còn vắng hoe, chú bộ đội ngồi co ro ôm súng AK trước cổng trường.Sau cơn mưa, trời lại sáng, còn tôi và các chiến hữu không biết ngày mai sẽ ra sao ...!

              THỦY LAN VY
              Viết tại Kỳ Đà Động 1994)
              Con đi dưới lá cờ sao máu
              Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

              Comment

              • #8

                CHÚT BUỒN RƠI RỚT
                *




                Trời tháng 3 trưa nắng chói chang, từ ngả tư Bình Hòa tôi đạp xe lên Hốc Môn…đi từ tang tảng sáng, lộ trình rất quen thuộc với tôi vào thời khoảng năm 70, thời tôi làm trưởng toán dân sự vụ biệt phái công tác cho chi khu Hốc Môn, thời thiếu tá Hòa làm quận trưởng, thời Trung úy Minh rồi đại úy Cưng làm trưởng ban 5…với 12 xã trong quận đều có in bước chân của tôi, mỗi xã mỗi kỷ niệm mà những năm tháng trong lao tù tôi hồi ức lại để tìm chút vui an ủi trong cuộc sống…địa ngục trần gian.
                Cảnh vật bây giờ có nhiều thay đổi, với 8 năm tù, với 2 năm quản chế ở Gò Công …thời gian trên mười năm rồi còn gì nữa…
                Ngày đó…Tôi làm trưởng toán Dân Sự Vụ, Trung Sĩ nhất Minh Đường gốc người Hốc Môn làm toán phó, điều tiện lợi là nhà Minh Đường tại Hốc Môn, bà con chòm xóm anh đều quen biết, nên những lúc cần công tác ban đêm tôi có nhà trú qua đêm, thường có nhiều xị rượu để anh em khề khà thức đêm chờ sáng. Xéo nhà Minh Đường bên kia con lộ là lò bún của Bác Năm, là bác vợ của Minh Đường. bác Năm lại thích anh em trong toán, thường trong tuần bác đều có tổ chức ăn nhậu tại nhà bác, lúc bấy giờ Hương con gái thứ của Bác đang học đệ tam trường Trung Học Lý Thường Kiệt Hốc Môn, toán tôi ghé nhà tuần nầy tháng nọ nên lần lần trở nên thân thuộc như người thân trong gia đình.Hương xem tôi như người anh, trong nhiều lần ghé nhà Bác nghỉ trưa, tôi thường chỉ cho Hương thêm về môn việt văn, món sở trường của tôi, năm Hương lên đệ nhị tôi ghé nhà thường hơn, giảng cho Hương thật kỷ về Kiều, trong kỳ thi tôi khuyên Hương nên chọn đề văn chương, nếu học kỷ, đề văn chương dễ làm và không sợ lạc đề.Tình anh em có thân mật hơn lúc đầu, tôi luôn giữ kỷ biên giới, nhiều khi nhìn qua ánh mắt tôi hiểu Hương cũng dành cho tôi nhiều cảm tình.Đời lính như ngành nghề của tôi rày đây mai đó, tuy không trực tiếp trước trận tiền nhưng bất trắc của cuộc đời làm sao lường trước được, với lại đồng lương lính chỉ đủ cho tôi ăn sáng thì làm sao dám nghĩ tới chuyện lập gia đình…Đôi khi tôi muốn có tấm ảnh của Hương nhưng vẫn ngại ngùng không dám mở miệng, tôi chỉ ngại cho Hương, tuổi đời còn trong trắng quá,,, Trang giấy trắng vẫn đẹp hơn trang giấy có vết hoen mờ…
                Rời Hốc Môn sau gần 2 năm công tác, thời Đại úy Danh làm chi khu phó, tôi về hậu cứ một thời gian rồi lên đường tăng phái cho Sư Đoàn 18 đang đóng tại Nhơn Trạch, dưới quyền sử dụng của Thiếu Tá Điềm ( Khóa 18 VB) tiểu đoàn trưởng, cứ sau một thời gian công tác, toán về hậu cứ, về rồi lại đi, tôi tăng phái cho Bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 1 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phan Phiên, tăng phái công tác tại các trại tiếp cư đồng bào Quảng Trị tại Huế vào mùa hè đỏ lửa, những ngày sau cùng ở miền Nam tôi công tác trong toán huấn luyện quốc gia gồm có 12 trung úy dưới quyền của Trung Tá Nam, trực chỉ vùng 4 tham gia chiến dịch Kiện Toàn An Ninh lảnh thổ, để rồi mùa thu năm 74 tôi cầm quân lệnh trình diện quân đoàn 2… Tôi chỉ ở xứ phố núi cao phố núi đầy sương có mấy tháng. Tôi lại cuốn gói lên đường xuôi Nam theo tỉnh lộ 7B, con đường đầy máu và nước mắt, cả tháng trời từ KonTum mới về tới được Bình Tuy., thăm nhà nhìn trời Sài Gòn đôi bữa lại xách ba lô dẫn toán công tác tăng phái cho hậu cứ sư đoàn 22 đang đóng tại trại Lam Sơn Phước Tuy… Chưa tới tuần lễ đã phải lên tàu băng biển từ Bến Đình về Vàm Láng Gò Công.
                Bấy giờ là ngày 27 tháng 4, lại mang ba lô trở lên Sài Gòn nhưng không vào được đành trở về Gò Công lại…Để rồi gọn nhẹ hành trang vào tù…Hơn tám năm lưu đày biệt xứ trong lao tù nghiệt ngã, thả về bị quản chế 2 năm tại Gò Công…. Một khoảng thời gian khá dài tôi mới trở lại Hốc Môn, cảnh đời biển hóa nương dâu, nhà cửa bây giờ lạ hết, tôi đạp xe ngang qua lò bún mấy lần, ngôi nhà chữ đinh năm xưa bây giờ thay thế bằng một biệt thự trông sang trọng, có mấy con chó cao lêu nghêu đi lại trong sân, sau cổng ra vào,cánh cửa bằng sắt cột đúc.Tôi tần ngần mấy lần rồi lại bỏ đi, ngôi nhà của Minh Đường mà mười mấy năm trước đây tôi vẫn thường ăn nhờ ở đậu mà nay cũng thay bằng ngôi nhà mới, người trong nhà lạ hoắc với tôi.. cả ngôi nhà làm gạch bông kế bên cũng không còn…
                Tôi thơ thẩn đạp xe từ từ về hướng chợ, định bụng tìm một quán cốc nào vào uống ly nước rồi tà tà đạp về.Một xe sinh tố cạnh bên là nơi sửa xe đạp, tôi dừng xe, vào kéo ghế ngồi, cô chủ xe sinh tố tuổi còn khá trẻ, có lẽ phụ mẹ hay chị sau giờ học …tôi kêu 1 ly nước đá chanh, móc gói thuốc rê thẩn thờ vấn một điếu, mắt lơ đảng nhìn ra đường xem ông đi qua bà đi lại, trong lòng thấy bứt rứt không vui .
                -Ông thầy, đi lạc đâu đây.?
                Tôi giật mình nhìn lại thì ra anh sửa xe bên cạnh mà tôi vô tình không để ý, nhìn kỷ thấy có vẻ quen quen, mà không nhớ rõ được. Như hiểu ý tôi, anh tía lia giới thiệu :
                -Từ Què nè, hồi trước mình nhậu chung hoài ở nhà Bác Năm chủ lò bún đó, ông thầy không nhớ tui sao? Tôi cũng vừa kịp nhận ra anh
                - Thôi mà, thầy bà gì hổng biết, anh Tư vẫn khỏe chứ, trời ơi dễ có gần 15 năm mới gặp lại anh, lúc mới nhìn khó nhận ra ngay. Anh Tư nguyên là cán bộ Xây Dựng Nông Thôn thuộc xã đoàn Đông Thạnh trong lần đi công tác Anh bị du kích liệng lựu đạn, một mảnh cấm sâu vào xương bàn chân nên anh được giải ngũ vào cuối năm 1973.
                Tư Què tíu tít nhắc cho tôi nghe một vài người quen thường nhậu chung lúc tôi còn dẫn toán công tác tại đây..
                -Ông uống nước xong tôi dọn đồ nghề, chẳng mấy khi gặp nhau, Ông về nhà tôi làm vài ly…Tôi biết rất khó mà từ chối trước lòng nhiệt thành của Anh Tư, nên đồng ý ngồi chờ.
                Chiếc xe đạp tróc hết sơn, bọt ba ga hàn thêm vĩ sắt to bè chở thùng đồ nghề to đùng, Tư đạp xe song hàng với tôi về hướng xã Đông Thạnh, xã cách chợ cũng trên khoảng 3 Km, nắng buổi trưa tuy có gay gắt, nhưng qua tấm lòng của Anh Tư, với nhiều câu chuyện nhắc nhớ trên đường đã làm tôi thấy vui, thấy nhớ…thấy bớt mệt.
                Ngôi nhà một căn nằm cạnh lộ trên đường xuống ấp Lân Tây, có sân trước sân sau thoáng khoáng, có gà mẹ dẫn gà con trong sân, có vịt lội trong ao bèo, bên hông nhà đám chuối xanh tươi, có quài chuối gần chín…
                Vừa dựng xe bước vào nhà, anh Tư đã vồn vã giới thiệu tôi với vợ anh, cũng không quên sai thằng con xách chai mua rượu, lại hối vợ dọn cơm trưa. Tôi ngồi ghế giữa, bên tách trà, nhìn quanh, cảnh nhà với vật dụng đơn sơ, nhưng sạch sẽ ngăn nắp, nhìn đồ vật biết có bàn tay chăm sóc hàng ngày
                -Anh Thủy ngồi chơi, tôi phụ vợ làm cơm, vừa nói anh Tư vừa bê rổ rau muống đã lặt trụi lá, anh quen thuộc dùng dao bào bào rau thả ngâm vào thau nước, bước ra sau hè anh cắt mấy đọt lá quê trồng trong chậu…Chẳng mấy chốc, mâm cơm được dọn ra nghi ngút khói, một chiếc mâm nhôm, với dĩa cá bạc má chiên dòn dầm nước mắm ớt, một tô rau muống bào trộn đường giấm có lẫn hành phi vàng, một thố cơm đang bốc khói… một nhạo rượu và 2 ly nhỏ.
                -Tôi không ngờ có ngày gặp lại Anh Thủy, sau ngày tháng tư, tôi biết sĩ quan như anh khó tránh khỏi cảnh tội tù, nhìn anh còn lành lặn nguyên vẹn là tôi mừng rồi. Dzô 1 ly mừng ngày hội ngộ đi anh.Anh Tư thân mật rót đầy 2 ly rượu mời tôi.
                Anh Thủy dùng cơm tự nhiên như ngày xưa mình từng nhiều lần nhậu chung ở nhà Bác Năm, rồi từ từ tôi sẽ kể cho anh nghe nhiều chuyện trong những ngày…vật đổi sao dời.Chắc là Anh nóng lòng muốn biết tin cô Hương ?
                Tôi chớp mắt cảm động nhìn anh Tư, cuộc đời sau tháng tư có nhiều thay đổi nhưng một vài tấm lòng vẫn còn như ngày xưa không muốn nói là có thể đậm đà hơn.Ngoài mặt tôi làm như bình tỉnh, nhưng trong lòng thì nóng như hơ… Hương ngày xưa Hương một thời thơ trẻ bây giờ ra sao.?
                Đang đói bụng gặp cơm nóng, cá bạc má chiên dầm nước mắm chanh ớt. rau muốn bào sợi … tôi thấy ngon miệng vô cùng, thịt cá tươi ngọt, rau non chua ngọt thật vừa miệng…
                -Từ ngày giải ngũ tôi vẫn sống bằng nghề sửa xe đạp, sau tháng tư tôi được học tập tại phường khóm mấy ngày để rồi sau đó gia đình tôi bị đuổi đi vùng kinh tế mới tại Quận Cai Lậy, khoảng đất hoang thuộc Đồng Tháp Mười khoảng giữa xã Mỹ Phước Tây với ranh giáp hạt Tĩnh Kiến Tường. Như Anh Thủy biết, khu đất nầy thuộc về vùng đất mỏ… mỏ đậy là mỏ phèn, mùa mưa tới nước chua như nước chanh, mùa nắng nước vàng ươm…cây nào trồng cũng chết, chuối là lọai dễ trồng nhất mà trồng cây nào quéo đọt cây nấy, rau hoang thì có rau diệu, hẹ nước, rau đắng đất, hái riết rồi cũng hết, tiền bạc thì không có, nhà cửa thì như…cái chòi vịt. vách trống trước trống sau, hai đứa con tôi lúc đó mới có mấy tuổi, chiều xuống muỗi bay như trấu, dầu lửa cũng không có để đốt đèn, mà có cũng không đủ tiền mua…Tôi ráng cầm cự được 6 tháng, nhắm chịu không kham, tôi dẫn vợ con bỏ về quê cũ, …Lúc đầu cũng bị làm khó dễ, tôi lỳ riết cũng qua truông.Vợ tôi buôn chui bán nhủi, tôi sửa xe đạp, ky cỏm dành dụm mới có được cái nhà như ngày nay.
                Tôi cũng kể sơ qua về cuộc đời tù tội của tôi, qua hai trại tù trong Nam chuyển lần ra Bắc. Tàu Sông Hương cặp bến cảng Hải Phòng, xe đò đưa về trại tù Hà Tây thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, rồi chuyển qua trại Tù Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh, tổng cộng hơn 8 năm khổ sai biệt xứ…Tôi về Sài Gòn chúng không cho bắt về Gò Công ở với mẹ, về đó bị quản chế 2 năm, thời gian quản chế chỉ khá hơn cảnh tù chút ít, vẫn phải đi lao động hàng tuần, chiều 6 giờ không được ra khỏi nhà, những ngày lễ lớn bị tập trung lại. Tôi còn nhớ tên Công An khu vực nói với anh em quản chế chúng tôi :
                -Ngày mai là ngày bầu cử, chỗ nào treo cờ, rải truyền đơn hay lựu đạn nổ là các anh chịu trách nhiệm…Thôi về đi chuẫn bị 6 giờ chiều đến ngủ tại Lăng Võ Tánh.
                - Ờ thì ở đâu cũng vậy nhưng có lẽ tỉnh Gò Công là tỉnh an ninh nhất nước trước 75 nên chúng trở về mang nhiều thù oán. Anh Tư góp ý với tôi. Ở Hốc Môn cũng không khá gì,các anh cải tạo bị nhốt ở thành Ông Năm,dân ở đây mỗi tuần đều nhìn thấy thân nhân đi thăm nuôi, Có chung hoàn cảnh mới thấy thương xót, thấy đau lòng…
                Gia đình của bác Năm tuy không giàu nhưng cũng thuộc hàng khá giả, Cô Hương sau khi học xong trung học lên Sài Gòn tiếp tục học ở Đại Học Văn Khoa, cô cũng ghi danh học những chứng chỉ mà anh đã học, cô đậu xong dự bị ban Việt, tháng tư năm 75 cô nộp đơn thi cuối khóa hai chứng chỉ Ngữ Học Việt Nam và Văn Chương Quốc Âm, còn mấy tuần nữa tới ngày thi thì sập tiệm. Lúc đó anh đã vào tù, ở ngoài nầy tôi chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đời thay đổi . sinh viên không còn áo quần thời trang mà mặc lại những bộ đồ dân dã ngày xưa.. tất cả sinh viên còn muốn học nữa chúng cho chuyển qua Sư Phạm, cá mè một lứa, năm thứ nhất cũng như năm cuối cùng học chính trị một năm rồi phân chia đến các trường trung học dạy đệ nhị cấp … tùy khả năng mà tự ý chọn môn dạy.
                Tội nghiệp Cô Hương xin đổi về dạy tại trường Trung Học Gò Công, ý cô muốn về với quê của Anh.
                -Xúc cơm thêm ăn đi Anh Thủy, gặp lại anh thiệt tình tôi vui hết sức, uống thêm với tôi một ly nữa rồi tôi kể tiếp cho anh nghe.
                Anh Tư uống xong ly rượu buông đủa lấy thuốc rê ra vấn, mắt mơ màng le lưỡi liếm thuốc, hình như anh đang cố nhớ lại vì câu chuyện đã trải qua một thời gian tương đối khá dài…
                Tôi biết anh không có nói chuyện Cô Hương cho gia đình anh biết, nhưng ở gia đình bác Năm mọi người trong nhà đều biết Cô Hương thương anh, xuống Gò Công, cô Hương gặp chị ruột của anh đang dạy Việt văn tại trường, Hương cố tình làm quen và tỏ ra rất thân thiện với chị của anh, Hương thường xuống nhà thăm chị của anh, đồng thời tìm cơ hội nói chuyện với Mẹ anh, an ủi khuyên lơn người mẹ già đang nhớ con trong lao tù xa xôi ngoài Bắc, mỗi lần nghỉ lễ về Hốc Môn trở lại Gò Công Hương đều có mang quà cáp cho gia đình anh, sau nầy gia đình bác Năm không còn làm bún, sống nhờ mấy công đất trồng rau, cũng tạm đắp đổi qua ngày, kế thằng Năm tới tuổi nghĩa vụ , vì thuộc thành phần tiểu tư sản nên thằng Năm phải lên đường, Anh biết, mình là người Việt Nam nên phải bảo vệ…Cam Bu Chia! Thật là mỉa mai, thằng Năm tử trận gần biên giới Thái Lan, nó cũng có ý từ Miên sẽ tìm cách vượt biên sang Thái nhưng …tất cả đểu do số mạng cả.
                Từ ngày thằng Năm chết, bác Năm sức khỏe yếu dần, với tuổi ngoài bảy mươi, lại phải lao tâm lao lực, buồn đời bác lại thường ngày uống rượu… Bác nằm liệt phải chỡ xuống bệnh viện Tiều Châu, cô Hương phải nghỉ dạy về chăm sóc cha già, Cũng may có Bác Sĩ Ngọc là bạn cùng quê Gò Công với Anh tận tình chăm sóc, nhưng cây đèn khi đã cạn dầu rồi …biết phải làm sao hơn…
                Sau ngày bác trai mất, tôi thấy cô Hương thường về thăm nhà hơn, bởi bác gái sức khỏe cũng giãm súc nhiều, nét buồn lúc nào cũng vương đọng trên mặt cô,tôi biết cô có ý định ra biển, cuộc sống hiện tại bấp bênh quá, lương tiền không đủ nuôi thân, chế độ luôn nghi ngờ, tương lai chẳng thấy chút nào sáng sủa, anh thì trời xa biền biệt, với lại lòng cô thì như thế còn anh thì biết ra sao?.
                - -Anh Tư À sao mà Anh rành chuyện Cô Hương quá vậy Anh Tư. Tôi ngắt lời Anh Tư
                - - Trời, sao tui không rành được, lần nào về Hốc Môn cô Hương không ra chuyện vãn với tui, ở nhà cô không tâm sự được với ai nên có tui cô có chỗ trút bầu tâm sự

                Cô Hương âm thầm tính chuyện ra đi, cô chẳng một lần bàn qua với mẹ và chị… thế rồi tin cô bị bắt tại Gò Công, nhà chưa kịp xuống thăm nuôi thì có tin cô chết …Tội nghiệp bác gái sảng hoàng, tôi cùng với người chị hai tức tốc bao xe về Gò Công chở xác cô về lo chôn cất. Thật là đau lòng, cô Hương chết mà mắt còn mở , như nuối tiếc như chưa thỏa mãn, như muốn chờ gặp ai … Anh biết tại sao cô chết tức tửi như vậy không?
                Hương xuống Gò Công vì còn độc thân nên ở chung với nhiều cô giáo khác trong khu nhà tập thể gần Cống Bà Chài, hàng ngày đến trường bằng chiếc xe đạp mini, với ý định vươt biên nên cô Hương thường nghe ngóng tin tức , biết thầy giáo Kính dạy bên trường cấp hai đang tổ chức một chuyến đi, những người có tên trong chuyến đi nầy đa phần là giáo chức, tiền sẽ trả sau khi qua tới miền đất hứa…
                Đời luôn có nhiều sự bất ngờ, trong lúc Cô Hương là chủ nhiệm một lớp 12, trong lớp có thằng học trò thường xuyên quậy phá,thằng Tiến lé, học thì kém mà trốn học đi chơi thì nhiều, cô Hương sau nhiều lần khuyến răn không được nên phải dùng biện pháp mạnh, đề nghị ban giám hiệu đuổi học một tuần, Anh biết thằng nầy cũng xuất thân trong gia đình mô phạm, ba nó là Thầy giáo Cơ, vì có chân trong đảng Cấp Tiến nên phải bị lưu đày ra đất Bắc, thầy bị nhốt ở trại Vĩnh Phú, nỗi tiếng là người tù kiên cường chống Cộng, Thằng Tiến lé là con thầy, ở nhà không cha tự tung tự tác.bị đuổi học nó đâm ra oán hận cô Hương, tình cờ nó nghe chuyện vượt biên, một dịp trả thù cô giáo. Nó báo Công An. Cả chục mạng bị tó, trong đó có cô Hương.
                Anh Thủy biết không, lúc về Gò Công lấy xác, tôi có gặp một vài người bạn cũ của Anh cho tôi biết, tên trưởng Công An thị xã là Trung Úy Lê Đình Vãng, từ ngoài Bắc vào, cùng với tên Công An khu vực tên Lâm đen, ban đêm bày rượu nhậu tại phòng Công An, rượu vào ngà ngà, dẫn cô Hương ra hỏi cung, chúng sàm sở sao đó với Cô Hương lúc đó tay bị còng, cô quá phẩn uất đã cắn lưỡi quyên sinh, bọn chúng dã man chạy tôi bằng cách đem cô về phòng giam tạm thời rồi sau đó báo cáo cô tự vận trong phòng giam…
                Tôi xuống kịp lúc xác còn trong nhà xác bệnh viện, thương quá anh Thủy ơi, nhìn gương mặt cô vẫn bình thương , mắt thì mở…
                Tôi cầm ly rượu trên tay mà lòng nghe tê tái, chuyện kề của anh Tư xoáy đau như ai xé ruột xé gan, buổi sáng đạp xe lên đây tôi vẫn hy vọng dù mỏng manh là được gặp lại gia đình Bác Năm… Lúc được thả về nhà, mẹ và chị có kể lai chuyện Cô Hương, nhưng tôi không ngờ cô giáo xấu số đó là Hương, là cô bé Hốc Môn, cô bé có nhân dáng đã in đậm trong lòng tôi.
                -Anh Thủy là, tôi nhắc lại đề anh nhớ, tên Công An tạo ra cái chết của Cô Hương là Trung Úy Lê Đình Vãng và tên Công An khu vực tên Lâm mà dân quen gọi là Lâm đen, uống với tôi một ly nữa đi anh Thủy.
                Ba xị rượi đế Hốc Môn, hai anh em cưa đứt vậy mà nghe xong câu chuyện Anh Tư kể tôi thấy như chưa hề uống ly rượu nào, tôi thấy tôi hoàn toàn bất lực, cái chết oan khiên của Hương làm sao tôi giải oan cho Hương đây…
                Chiều dần xuống…. Hình ảnh những bửa nhậu ở nhà Bác Năm khi tôi còn đi công tác tự nhiện như hiện rõ trước mắt, hình ảnh của Hương trong bếp lo làm mồi nhậu, má ửng hồng vì lửa nóng, mắt thật buồn với hàng mi cong vút..Hơn tám năm trong lao tù Cộng Sản, tôi vẫn thường mơ ước ngày về gặp lại Hương…trộn lại tô gỏi trứng sam mà ngày nào hai đức cùng làm trong nhà bếp…
                Bây giờ nhà cũ của bác Năm cũng đã sang tay, chị hai của Hương cũng đã vượt biên không tin tức, tôi còn sống sau cảnh tù đày ải đã là điều may mắn, Anh Tư dặn tôi mấy lần phải nhớ kỷ tên của hai tên Công An gây ra cảnh thảm tử cho Hương…
                Tôi như cua rụng hết càng ngoe, tôi làm được gì khi cờ đỏ còn bay như thách thức trên quê hương…!

                Viết Tại Kỳ Đà Động. Ngày đầu năm DL 2007

                THỦY LAN VY
                Con đi dưới lá cờ sao máu
                Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

                Comment

                • #9

                  CÂY ME
                  *




                  Tuổi đời chồng chất theo thời gian với bước chân in dấu khắp cùng đây đó,tuổi đời càng đè nặng tôi càng cảm thấy thấm thía về một bài viết trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư, quyển sách mà ngày còn thơ bé tôi vẫn rất thường đọc dù không phải là sách giáo khoa đang học tại trường, bài “ Không Đâu Đẹp Bằng Quê Hương, …một người đi xa trở về…dù cho người đã chu du khắp đông tây nam bắc, dù cho mắt đã nhìn thấy bao cảnh đẹp mà bước chân từng đi qua thế mà… vẫn không có nơi đâu đẹp bằng quê hương…
                  Ngày đầu tiên rời khỏi đất nước trên chuyến bay Việt Nam cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất đến phi trường Thái Lan, trong chuyến ra đi trong chương trình tỵ nan H.O, trong lúc ngồi chờ chuyến bay chuyển tiếp trên 30 người Việt thuộc gia đình quân công của chế độ Cộng Hòa ngồi trong nhà chờ đợi, một ngôi nhà tiền chế trống vách, chung quanh là đất trống cỏ dại mọc um tùm, rải rác có một vài cây trứng cá…gợi cho.tôi nhớ tới thời tôi còn học trung học, khoảng thời gian đầu thập niên 60, ở Gò Công nhà nào có sân đất thì hầu như đều có trồng cây trứng cá. Trời chiều dần, những tia nắng yếu ớt buổi hoàng hôn, tạo thành một màu sắc riêng biệt của buổi cuối ngày, muổi đen khá nhiều cắn chích lung tung, tôi ngồi bên cạnh vợ con mà lòng vẩn vơ trăm chuyện, cảnh hoàng hôn ở đây sao nó giống ở quê mình quá, kỳ hôn, cùng ở vùng Đông Nam Á thì chắc là địa dư và thổ nhưởng, khí hậu… đều có phần giống nhau…thì hoàng hôn ở Miên hay ở Việt Nam cũng đều giống nhau thôi.
                  Khi đến thành phố Houston thuộc bang Texas, lạ người, lạ cảnh, dù khi tôi vào đời với 7 năm lính, tôi ở đơn vị CTCT, lực lượng tổng trừ bị, phải rày đây mai đó, luôn xa gia đình, rồi ngày trời sập, phải vào tù gở hơn 8 cuốn lịch, vậy mà sang tới đây, lạ người lạ cảnh tôi thấy lòng tôi ray rứt nhớ nhung, hình ảnh mẹ, chị anh, rồi bằng hữu, con đường, ngôi trường, ngôi chợ…những hình ảnh thân thương đầy kỷ niệm đó luôn lởn vởn trong trí tôi…tôi nhớ tới cây me, loại cây mà ở đây tôi tìm hoài không thấy…Với tôi cây me rất gần gủi, thận thích, cây me với tôi có nhiều gắn bó trong đời sống thường ngày, nhất là thuở tuổi tôi còn thơ bé…
                  Ở Gò Công, khu nhà tôi ở thuộc xóm Cầu Huyện, đường xuống Cầu Huyện cặp theo bờ kinh, tới ngả tư cầu Tây Ban Nha, quẹo phải ra Ao Trường Đua là Xóm Me, thời còn Tây, tỉnh Gò Công trong buổi bình minh còn hoang dã, có cả cọp trên khô và sấu dưới nước…Tây cho đào Ao Trường Đua ( Khoảng năm ký hòa ước Giáp Thân 1884 . Lúc tôi được thả về thì khoảng năm 1984, Gò Công có nhận được giấy báo của hảng thầu Effel bên Pháp, cho biết là dinh tỉnh trưởng và một vài công thự khác đã xây dựng cho đến nay đúng 100 năm. Hảng sẽ không còn chịu trách nhiệm gì về các công trình nầy nữa, mà Ao Trường Đua được đào để lấy đất đấp nền các công thự nầy)., trước lấy nước cho dân dùng, sau lấy đất đấp nền xây dinh tỉnh trưởng và nhiều công thự khác, trước tiên sở Trường Tiền( sau nầy là Ty Công Chánh) cho đấp một con lộ thẳng góc với ao hướng ra nhà thờ để làm con lộ vận chuyển đất, hai bên lề đường trồng me… Có lộ thì có nhà… mới đầu cư dân thưa thớt, một bên là ruộng, một bên le hoe mấy nhà gần ngả ba Ao Trường Đua, và xóm nầy được gọi tên là Xóm Me.Khi tôi có chút hiểu biết thì con đường Xóm Me( Đường Phan Châu Trinh) chỉ còn sót lại 1 vài cây, đặc biệt ngay ngả ba( sau nầy là ngả tư) trong khuôn viên nhà ông Hương Thân Bính có một gốc me mà thân me hai người lớn ôm không giáp, Với tôi cây me lúc nào cũng có một dáng dấp bình thản mà vững vàng, tàn lá rậm ri, cây cho bóng mát ngã bên lề đường… Dân buôn bán, học trò đi học thường tụ dưới bóng mát cây me nầy để chơi đánh đáo hay bắn kè, người buôn gánh bán bưng thì nghỉ chân chốc lát,chú lục lộ chăm sóc đường cũng thường núp nắng nơi đây để hút thuốc. Nhà tôi cạnh bên nên cũng thường ra đây nhìn lứa tuổi trang bạn đánh đáo, bắn bi, ba mẹ tôi thường ngăn cấm không cho ra đường, nhất là dưới những tàn cây cao bóng mát vào buổi trưa… “ Sẽ dễ bị ông bà “quở” mà sinh bệnh. Cây me nầy cũng mang nhiều huyền thoại về ma cỏ, Thuở thập niên 50 trên dọc hai bờ kinh, có cất mấy cầu tiêu sông,một cái trước nhà Ông Huyện Đờn, một cái bên kia sông, bên hông nhà ông Đốc Phủ Tường, người đi cầu ban đêm thường thấy có hai bóng trắng leo lên leo xuống cây me… Thời đệ nhất Cộng Hòa, Gò Công thật sự thanh bình, trước phòng thông tin, tuần nào cũng có cất rạp trình diễn văn nghệ do ban nhạc thuộc tiểu đoàn 518 đãm trách… Khuya tan hát dân Cầu Huyện rũ nhau đi về từng tốp, ít dám đi lẻ tẻ vì sợ ma cây me… Rất thường khi nằm ngủ trong nhà, tôi nghe rất rõ tiếng ù té chạy của những người sợ ma…
                  Ngoài Xóm Me, con đường liên tỉnh Gò Công Mỹ Tho còn có một địa danh, mà vào đầu thập niên 60, người dân trên những chuyến xe đò liên tỉnh nghe nhắc tới không khỏi phập phồng, lo sợ đó là Cây Me Treo Cổ thuộc xã An Thạnh Thủy, Quận Chợ Gạo. Lúc đó” Cách Mạng “ chưa về nên bọn Việt Cộng lộng hành, thường xuyên rình rập chận xe đò, bắt quân nhân công chức dẫn đi, có người được thả có người mất tích luôn nên dân chúng rất e ngại khi xe di chuyển ngang qua đây, vào tang tảng sáng hay lúc hoàng hôn… cho tới Đệ nhị Công Hòa, Sư Đoàn 7 mới bình định được khu vực nầy.
                  Tôi nhắc sơ về một vài địa danh có cây me nơi quê tôi, Ngày lên Sài Gòn tiếp tục đi học tôi rất thích một vài con đường có bóng mát cây me, con đường Đồn Đất, gần trung tâm Văn Hóa Pháp, vào những ngày đầu mùa mưa, Sài Gòn thường có những cơn giông bất chợt, me lả ngọn rơi rụng lá vàng, những chiếc lá nhỏ xíu bay bay trên áo, trên vành nón nghiêng che của các nữ sinh duyên dáng, tan trường từ Trung tâm Văn Hóa Pháp, trên con đường Gia Long, với bóng mát hàng me thật dễ thương, Cũng thời “ Cách Mạng” chưa về, Việt Cộng, cái quân khủng bố chuyên nghiệp, thường bắn hỏa tiển 122 ly bừa bãi vào thành phố, gây biết bao thảm cảnh cho dân lành, buổi sáng tôi thường đạp xe đi xem , tôi còn nhớ, một cây me trên đường Gia Long bị bứng luôn gốc ngã nằm dài trên đường..
                  Cây me rất hữu ích cho đời sống con người, từ thân me, lá me trái me đều có công dụng riêng… Người Gò Công thường thích ăn món canh chua, để nấu được nồi canh chua dĩ nhiên phải có trái me hoặc lá me, chất liệu làm ra vị chua, canh chua là món ăn của người dân dã, ăn cơm cũng dễ nuốt mà nhậu cũng rất bắt mồi, buổi chiều trời bảng lảng hoàng hôn, trải đệm dưới gốc me, bốn đệ tử Lưu linh vốn là con của Ngọc Hoàng, ngồi trên đệm quây quần bên chiếc mâm nhôm, một chai ba xị đựng đầy rượu đế, một tô canh chua lá me nấu với cá chốt, một cái nhạo với một cái ly nhỏ, loại mười một ly đong đầy một xị rượu, một dỉa nước mắm trong dầm ớt hiễm, vậy mà khề khà chuyện nọ chuyện kia, trăng lên gần đỉnh đầu mà tiệc rượu cũng chưa chịu tan…
                  Thân cây me xẽ ra làm thớt, thớt me dùng rất tốt, dao chặt xuống ít lên dăm… lắm người được đi xuất cảnh chánh thức, trong hành trang không quên mang theo tấm thớt me, Tôi vẫn nghe truyền miệng, làm thịt rắn hổ không được dùng thớt me vì khi ăn xong dễ bị ngộ độc.
                  Thân cây me tôi chỉ thấy công dụng làm thớt, ngoài ra chỉ làm củi chụm, không thấy thợ mộc dùng cây me xẽ gổ cất nhà hay đóng bàn ghế, dân gian thường nói” bần dòn, ổi dẽo, me dai” trèo lên cây me mới thấy câu nói nầy rút tỉa từ kinh nghiệm sống của dân gian, mình có thể đứng trên những cành me chông chênh, cành me qưằn xuống chứ không gãy.
                  Dưới gốc cây me, thường là sân đất, không có cây gì mọc được, ngay cả cỏ là loại dễ mọc, vì rễ me ăn lang theo mặt đất, làm cho đất chua, các loài thảo mộc khác không phát triển được.
                  Cạnh nhà tôi là nhà ông Thôn Trưởng, một ngôi nhà cao cẳng bằng gổ ,nhà to lớn, nằm giữa một sân vườn thật rộng, trong vườn trồng đủ loại cây ăn trái như sơ ry, mãn cầu, xoài… dĩ nhiên là có cây me, cây me trồng sát rào, bên nhà Ông Thôn có đám cháu nội trang lứa với tôi, nên những ngày nghỉ học, tôi thường qua đây chơi, mùa me có trái, tụi tôi trèo lên cây như bầy khỉ, thằng Phú thằng Quý, cả con Huỳnh Mai là gái cũng trèo luôn, bởi thường trèo lên trèo xuống hằng ngày, nên thân me vỏ không còn xù xì mà trơn láng
                  Tôi có khiếu bắn kè từ thuở nhỏ, trưa chúa nhựt của những ngày còn học tiểu học, tôi thường lén nhà ra gốc me gần ngả ba, tụ nhau với lũ bạn trang lứa, từ xóm nhà máy nước đá lên chơi, sau vài giờ là tôi có được cả bụm kè thắng trận
                  Ở Gò Công gần ngả ba Yên Luông Đông có nhà ông Chín Kỷ, trước nhà có hai cây me ngọt, hình như nguồn gốc hai cây me nầy là do hột giống của bà Nguyễn Thị Hai, trong hội Thông Thiên Học, mang về từ Ấn Độ, tôi là con cháu trong nhà nên mỗi năm vào dịp tảo mộ ông bà đều được ăn me ngọt, ở Gò Công lúc đó me ngọt quý vô cùng, qua xứ Mỹ nầy trong chợ Việt Nam, me ngọt Thái Lan bày bán ê hề; Nhưng cũng hột của cây me ngọt đó gieo trồng , khi cho trái, cây bị lai giống vẫn chua, dù vị chua có nhẹ nhàng hơn mà trái nhỏ hơn, đó là giống me đậu phộng.
                  Trái me và lá me, người miền Nam không ai là không biết công dụng của nó, tùy theo loại cá tôm, gà, ếch nhái, chuột, rắn… mà người nấu dùng me sống, me chín hay là lá me…Với loại nào, nồi canh chua nêm nếm đúng mức đều rất ngon miệng, miền Nam khí hậu tương đối nóng, buổi cơm sau giờ làm việc, có tô canh chua rất dễ bén cơm…
                  Ngoài canh chua ra trái me còn ba cách ăn khác, me chín ngào đường, mứt me và me thấu.
                  Ngày tôi còn học tiểu học, những gánh hàng rong bán xế cổng trường thường có món me ngào đường, tôi còn nhớ, một mâm nhôm trên đó để me ngào đường, món nầy rất dễ làm, me chín bỏ vỏ, bắt chảo ngào với đường tán, nếm thấy dễ ăn, nghĩa là không chua quá mà cũng không ngọt quá, trang đều lên mâm, trên rắt tí mè rang vàng,hay đậu phộng rang vàng đâm nát, thế là quý vị con nít đi ngang nhìn, đố đứa nào không chảy nước miếng, thế là có năm cắc mua năm cắc, có một đồng mua một đồng, người bán hàng dùng miếng lá chuối, rồi dùng muổng múc một hoặc hai muổng gì đó, cho thêm 1 cây tăm, thế là chú em tay cập cặp sách sát nách, tay nâng tấm lá lên miệng, liếm tới liếm lui ngon lành,nhiều khi mê ăn không thấy đường, đụng vào gốc cây dội ngược, mâm me bày bán cạnh lộ, xe cộ qua lại tung bụi đầy trời, vậy mà đám học trò nhỏ vẫn ăn và vẫn mạnh cùi cụi… Thời đó, khoảng cuối thập niên 50, Gò Công có ban quân nhạc, thường xuyên núp dưới bóng mát mấy cây dương gần hồ tắm để dượt kèn trống, mấy anh bán đá nhận đậu đỏ, bánh lọt thường xúi đám tiểu yêu tay cầm chùm me tay cầm gói muối ớt đứng nhìn các anh lính kèn tập,chốc chốc đưa trái me lên miệng chắp chắp rồi hít hà, chỉ độ vài phút là mấy chú lính kèn thổi xì xịt vì miệng chảy đầy nước miếng, nhớ lại thời đó, thời Ngô Tổng Thống mới về nước, Gò Công thực sự sống trong cảnh thanh bình,những trò chọc phá đó bây giờ nhớ lại tôi còn thấy khoái…
                  Dĩ nhiên, những gánh hàng rong nầy cũng không thiếu món me ngâm thấu, món mầy học trò nhỏ, gái trai gì cũng ưa cả, ngay người lớn ăn còn quên thôi, ăn xong uống nước lạnh… để rồi bị Tào Tháo rượt, xong rồi, khỏe lại, gặp lại cũng ăn nữa…
                  Lựa loại me già, bỏ vào nồi nước luộc sơ, trong nước có bỏ chút phèn the, vớt me ra ngâm vào thau nước lạnh một đêm, có pha chút phèn chua,lột vỏ, nấu nồi nước đường dằn muối, để nguội, bò cam thảo vào ngâm cho ra màu vàng, thế là ta có món me thấu, trái me trắng ửng vàng, nhai dòn dòn, chua chua, mằn mặn ngòn ngọt, ăn quên thôi, trong mấy chợ Việt Nam ở Houston tôi thấy thỉnh thoảng có bán món nầy…
                  Món cao cấp của trái me là mứt me, làm món nầy mấy người tánh nóng khó thành công vì chụm lửa hỏa hào me sẽ đen thui… Với 1 kí lô me sống, lựa trái nở nang đều đặn, ướp muối hột độ 4 giờ cho dễ lột vỏ, lột vỏ xong ướp muối bọt khoảng một giờ, dùng dao bén xẽ lấy hột, dùng bàn xâm, xâm đều trái me, ướp me đã xâm với muối bọt giống như muối cá… sau 1 giờ đem ra xã lại nước lạnh. Nấu nồi nước sôi cho vào chút phèn chua, trụn sơ me khoảng 5 phút, vớt ra xả nước lạnh cho sạch. Cho đường và me vào thau, ướp một đêm cho me thấm đường, vớt me ra, đường còn lại, bắc lên bếp chụm lửa than liu riu, dùng vỉ sắt gác lên chảo đường, sắp me lên vỉ sắt, dùng muổng múc nước đường đang sôi rưới lên me cho đến khi nào me thấm đường là được, để me lên dĩa bàn, phơi nắng cho ráo đường, dùng giấy kiếng màu, cắt khéo tay thành sợi, gói từng trái có cả cuống và xơ me… Lọai mứt nầy ăn rất ngon miệng, giá bán cũng không rẻ…bởi làm rất công phu.
                  Thời còn học tiểu học, những ngày cận tết, tôi thường được giao cho việc chụm lửa mấy chảo mứt…Tuy chuyện “ Xông pha khói lửa” có nóng một chút nhưng bù lại khi mứt tới là tôi có quyền nếm trước…
                  Đất người, tết nhứt, bánh mứt bày bán đầy chợ… nhưng mứt me cũng khó tìm thấy, với lại tại mình sống lâu chứ không phải già, nên muối đường đều phải bớt ăn, nên ba thứ bánh mứt chỉ ngó qua cho biết, chả bù lại, những năm tháng trong lao tù Cộng Sản, muối cũng như đường, lúc nào trong người cũng thấy thiếu, những ngày tết đến, những ngày mưa gió được nghỉ lao động, chuyện bánh trái, mứt trà luôn được anh em nhắc tới đầy vẻ thèm thuồng….đây cũng là một cách thưởng thức hàm thụ trong những tháng năm đói rét trong lao tù Cộng sản...
                  Những tháng ngày sống trong trại tù Hà Tây, tôi thuộc đội nuôi cá nên có dịp kéo xe đi nhiều xả gần trại, mùa đông nhiều khi ra tới Thường Tìn để tìm rong, cỏ, các làng Rùa, làng Phượng tôi thường xuyên tới… Nhiều cây trái giống miền Nam nhưng tuyệt nhiên, cây me tôi chưa bao giờ được nhìn thấy tại tỉnh Hà Sơn Bình.
                  Tháng 7 năm 1983, tôi được giặc thả về, trước năm 1975 tôi vẫn có tên trong tờ khai gia đình nhà chị tôi, cũng như nhà ngọai tôi tại Sài Gòn, nhưng vì còn độc thân chúng đuổi tôi về Gò Công ở với mẹ, thời gian mới về bị quản chế 2 năm, cũng bị nhiều ràng buộc như trong tù chỉ khá hơn là gần gửi với người thân, khỏi phải đi lao động khổ sai, tuy thỉnh thoảng vẫn phải công tác đào kênh, đấp đập, gọi là lao động xã hội chủ nghĩa...,trong ngày sau 6 giờ chiều là không được ra khỏi nhà…Tháng tám, trời mưa to, cây me cạnh nhà trốc gốc, ngã vắt ngang trước nhà, cây me khoảng gần vòng tay, may mắn nếu nó ngã xéo một chút là đè lên mái nhà… Thế là tôi có chuyện làm, với cây búa cùn, tôi nhẩn nha đẻo từng khúc, vừa làm vừa chỉ cho con cháu học mấy chữ Hán, con cháu học sư phạm ban Việt, Buổi trưa tôi đang ngồi chặt chặt đẻo đẻo, thì tôi nghe có tiếng của chị tôi
                  -Bảy, có thằng Quang đèo đến kìa
                  Thằng Quang bạn học với tôi thời trung học, nó từ Hòa Đồng xuống tỉnh trọ học gần nhà tôi, trong lớp cùng ngồi bàn nhứt kế tôi, Những năm cuối trung học, cùng làm thơ trong Nhóm thơ 20 Gò Công, đi lính cùng khóa 13 đại đội phó CTCT tại Trường Nguyễn Trãi( Biệt Khu Thủ Đô) Ngày sập tiệm chung trại tù Huyện Tây Gò Công, từ ngày nhập trại nó lần lần biến đổi tánh tình, trở thành tay sai chỉ điểm cho cán bộ trại, nó là tên trưởng nhóm ác độc thứ hai của trại Hòa Đồng, chỉ sau Đại úy Hỉ ( BĐQ), Chính Quang rủ tôi cùng tham gia công tác chỉ điểm với nó. Trong tình bạn cũ tôi có khuyên nó hãy nhìn lại, anh em trong trại là những chiến hữu cũ, lại là đàn anh, đàn em chung trường trung học, có nhiều vị thầy dạy cũ…
                  Tôi còn nhớ câu tôi kết luận
                  - Tao nói lỡ lời có gì mầy bỏ qua cho
                  Sống trong tay Cộng Sản, như cá nằm trên thớt, ai mà không sợ. Lỡ nói rồi tôi đâm ra ngán nó báo cáo...
                  Tôi tuyệt giao với Quang từ đó, anh em từng ở trại Huyện Tây, ai mà không hận thằng Quang. Nó báo cáo hãm hại biết bao nhiêu người. Nó nhỏ con nên có tên là Quang đèo, chức vu sau cùng của nó là Phân chi khu trưởng xã Vĩnh Bình, tốt nghiệp khóa 4/68 trường bộ binh Thủ Đức
                  Quang và người bạn chỡ nó, họ Tô Vĩnh tên gì tôi quên, một giòng họ giàu có ở Hòa Đồng, vô nhà được chị tôi mời ngồi ghế giữa. mẹ tôi từ nhà sau cũng lên ngồi bên bộ ván, vì cả nhà biết tôi rất hận thằng nầy, nên sợ có điều gì bất trắc xảy ra, chị ra gọi tôi vào, vẫn quần tà lỏn, ở trần, tôi không cần mặc áo, ngồi vào ghế vấn thuốc rê hút… Tôi hiểu tấm lòng của mẹ và chị dành cho tôi, tôi im lặng, Quang hỏi câu gì tôi trả lời câu đó và trả lời rất đâm họng nên láp dáp mấy câu nó kiếu ra về
                  Tôi còn nhớ
                  - Nghe nói tù ngoài Bắc đói khổ lắm phải không?
                  - Mầy đừng có bôi bác chế độ, mầy không nghe nhiều lần quản giáo và đài phát thanh ra rã… Nước ta tiền rừng biển bạc, Trưởng trại Chín Nhựt của trại Huyện Tây từng nói
                  - Cửa sông Cửu Long toàn là kim cương và đá quý trầm tích ở đầy, rồi đây nhà nước sẽ khai thác … giàu có mấy hồi
                  Tụi tù ngoài Bắc tụi tao được ăn ngày 3 bữa, có bàn billard, bàn ping pong, có thư viện, có sân bóng chuyền… nhiều thứ giải trí khác, tù chỉ ăn rồi…chơi.
                  -Về mấy tháng nay mầy làm gì
                  -tao làm báo
                  -mầy viết cho báo nào vậy?
                  - báo của tao là báo mẹ báo chị, báo đời…chớ báo nào
                  Thằng Quang ra về… tôi thấy trong lòng ray rứt, tìm được một thằng bạn đã khó mà cắt đứt tình bạn lại càng khó hơn, may mắn trong đời, tôi chỉ cắt tình bạn có 2 lần, cũng sau ngày trời sập.
                  Ngồi bên thân cây me đang chặt dở dang, tôi hút một hơi thuốc dài, tự dưng cảm khái, ngâm nho nhỏ bốn câu thơ của Nguyễn Bính, dán trước cửa nhà lúc về sống ở miền Tây Nam Bộ
                  ‘Từ dạo về đây sống rất nghèo
                  “ Bạn bè chỉ có gió trăng theo
                  “Những thằng bất nghĩa đừng lui tới
                  “ Hãy để thềm ta xanh sắc rêu…
                  Mười mấy năm lưu lạc xứ người, mỗi lần ra đường, nhìn thấy những cây có tàng lá giống cây me là lòng tôi như chùng xuống, kỷ niệm thời thơ ấu như hiện rõ trong tôi, những thức ăn chế biến từ lá, trái me… Tôi nhớ mẹ tôi, tôi nhớ anh chị tôi…Tôi nhớ Gò Công, quê hương của tôi mà giờ đây cờ sao bay bay như thách thức… Làm sao tôi về lại, ngày mẹ tôi còn sống, tôi đã nhiều lần gửi bài thơ trong đó có 2 câu
                  “Con đi dưới lá cờ sao máu
                  “Rờn rợn lòng con, nhục mẹ ơi! *

                  THỦY LAN VY
                  Viết tại Kỳ Đà Động, Lập Xuân 2008
                  * Thơ T. L. Thảo
                  Con đi dưới lá cờ sao máu
                  Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

                  Comment

                  • #10

                    ĐU ĐỦ
                    *



                    Buổi chiều thứ tư của tuần lễ cuối tháng, Thầy Trung thường mời một vị học giả tới thuyết trình cho đám đệ tử năm dự bị, những đề tài thuyết trình đều có liên quan đến văn học nghệ thuật.
                    Giờ vô lớp chiều nay, sinh viên đông thấy rõ, giảng đường 2 là giảng đường lớn nhất của trường, đúng 2 giờ trưa đã đơm đặc đầu sinh viên, vẫn có một số thiếu chỗ ngồi, tụ tập quanh cửa sổ, cửa ra vào…Tiếng chuyện trò, bàn tán ồn ào như buổi nhóm chợ...
                    Lớp đột nhiên yên lặng, sinh viên đồng lọat đứng lên chào thầy.Thầy Trung vẫn áo sơ mi trắng tay ngắn, cà vạt, tay xách cặp, bước lẹ vào lớp, theo sau thầy là một vị khách tuổi quá năm mươi, mặc bộ đồ trắng, đầu đội nón cối trắng, Áo của vị khách dài gần tới gối, tôi không biết gọi là áo gì, vì áo dài đàn ông thì không phải, mà áo ba ba cũng không…. Thầy Trung chào sinh viên xong, thầy bắt đầu giới thiệu vị khách… Đám sinh viên vỗ tay vang giảng đường khi biết vị khách là học giả Hồ Hữu Tường.
                    Tôi vô cùng thích thú. Tên Hồ Hữu Tường, tôi rất quen thuộc, từ ngày tôi còn học tiểu học, bởi trong tủ sách nhà tôi, không thiếu tác phẩm của Ông, tôi đã từng đọc say mê từ thời còn bé, nào là Thu Hương, Chị Tập, Phi lạc sang Tàu…Hôm nay được thấy người bằng xương bằng thịt thì còn gì vui thích cho bằng…
                    Ông Hồ Hữu Tường đã lấy được cảm tình, ngay từ những phút đầu của câu chuyện. Hôm nay Ông nói về chuyện vua Khải Định vào Sài Gòn. Vua Khải Định là một vì vua ăn chơi, thích ăn mặc kiểu cọ, rườm rà,thích mang đồ trang sức, lại nhu nhược theo Tây, chỉ biết hưởng thụ, mặc cho dân tình sống trong vòng lệ thuộc.Cũng chính vì vậy, sĩ phu Nam Kỳ, mới bàn thảo về chương trình đón tiếp vị vua ăn chơi nầy. Để tránh tay mắt của mật thám Pháp, sĩ phu Nam Kỳ đề cử bà Sương Nguyệt Anh làm trưởng ban tổ chức, Bà tên thật là Nguyễn Thị Khuê, ái nữ của Ông Đồ Chiểu, chữ Khuê tên của bà là tên của một loài ngọc,chữ thuộc bộ Ngọc, chữ ngọc ghép với chữ Khuê thành ra tên một loài ngọc, cho nên có nhiều người lầm đọc tên bà là Nguyễn Thị Ngọc Khuê, cũng như bút hiệu của bà, có rất nhiều người lầm, đọc là Sương Nguyệt Ánh.... Chương trình tiếp rước vua, được soạn thảo công phu, từ việc chọn tuồng hát phải như thế nào, để cảnh tỉnh nhà vua, làm sao cho nhà vua nhìn thấy được, thực cảnh của đất nước, để lo cho dân, mưu cầu tự do, độc lập cho đất nước…Ông Hồ Hữu tường với giọng nói miền Nam, âm thanh lớn mà ấm, ông nói đều đều suốt hai tiếng đồng hồ, giảng đường yên phăng phắc, nhiều sinh viên quên cả khép miệng, ngồi há mỏ say sưa nghe… Ông rời bụt giảng giữa tiếng vỗ tay vang dộ,i trong niềm luyến tiếc của sinh viên, đám trẻ hình như nghe chưa đã, còn muốn nghe ông nói nữa, vì đề tài ông thuyết giảng, là đề tài có thực, phản ánh một phần nào hoàn cảnh lịch sử của đất nước, trong thời Pháp thuộc.
                    Mắt nâu ngồi lên yên sau xe tôi mà còn vỗ lưng tôi
                    -Ông thầy nói hay quá, em nghe mê luôn, ờ mình kiếm cái gì ăn đi anh, rồi hãy về nhà, còn sớm mà…
                    Cái gì chứ ăn là tôi đồng ý ngay, giờ tan trường, đường Cường Để đặc cứng xe, ngoài văn Khoa, còn Võ Trường Toản, Dược, Kiến Trúc, Trưng vương…Tôi luồn lách cho xe rẻ qua Thống Nhất, bọc vòng Vương Cung Thánh Đường, qua Tự Do, rẻ vào Lê Lợi.
                    -Ăn bò bía hở anh, mắt nâu miệng hỏi tay vuốt lưng tôi
                    -Ờ, ăn gỏi đu đủ, rồi uống nước mía Viễn Đông.
                    Đối diện với xe nước mía và rau má, bên nầy đường, có nhiều xe đậu sát tường, đa số chủ là các chú Tiều.Tôi và mắt nâu sề vào xe gỏi đu đủ. Chú Tiều vui vẻ chào thầy cô, tay không quên cầm chiếc khăn lông lau sơ mặt bàn thiếc,tôi nghe nhiều người nói, chiếc khăn lông nầy nhúng vào thùng nước lèo, sẽ tăng thêm vị ngọt…?!
                    Trong khi chờ đợi hai dĩa gỏi, tôi xoay người sang xe bên cạnh gọi thêm một dĩa bò bía… Rảnh rỗi ngồi nhìn thao tác của chú Tiều, tay chú cử động thật nhậm lẹ, chú dùng kẹp nhôm gấp đu đủ ra dĩa, bốc miếng gan cháy, chú dùng kéo cắt ra từng miếng nhỏ, mỗi lần cắt chú không quên nhấp kéo, âm thanh nhấp kéo rất quen thuộc với khách ăn vĩa hè… Nghe âm thanh không cũng bắt ứa nước miếng,chú mặc áo thung, quần Tiều dài quá gối, chú phải may quần dài quá gối có lẽ chú sợ cái không cần ló mà nó ló ra.! Nên mặc quần cụt mà dài quá gối..Nhìn tay chú, cầm chai nước tương, pha dấm đường ớt, chú xịt vào dĩa trông thật điệu nghệ.Tôi cầm ống đũa rút ra hai đôi, đôi đũa nầy không biết chạm môi bao nhiêu người, với một sô nước nhỏ chú rửa dĩa, đũa cả ngày không hết nước.Hai dĩa gỏi được mang ra trông rất bắt mắt, thứ đu đủ mỏ vịt bào nhỏ sợi, sắc xanh ửng vàng, gan cháy, khô bò đen đen nâu nâu, lá quế xắt nhỏ xanh mơn…, dùng đũa trộn qua một lượt, gắp đũa nhè nhẹ,đũa gỏi vô miệng với đầy đủ hương vị, chua của giấm, bùi của gan cháy, cay của ớt, mặn ngọt béo bùi, cay đủ cả, nhai trúng miếng gan…vị bùi béo ngon vô cùng, gắp đúng ba đũa là hết dĩa gỏi, vậy là phải thiếm sực.
                    Bây giờ trên đất người xa lạ, vào chợ Việt Nam, chợ Mễ vẫn thấy bày bán đu đủ xanh, có chợ bán đu đủ bào sẵn, khô bò đủ loại, mua về pha chế chút đỉnh là có gỏi ăn ngay… Mỗi lần nhìn thấy hàng đu đủ, là tôi nhớ tới Mẹ tôi, nhớ tới mắt nâu, cô bạn Văn Khoa, cạnh kề suốt ba năm dài, nếu gió mưa đừng bất chợ,t thì mắt nâu sẽ là hồng nhan tri kỷ của tôi…
                    Dĩa gỏi đu đủ ở Pasteur, chỉ là hương hoa, gỏi đu đủ mẹ tôi trộn ăn mới là biết đã...
                    Trời Gò Công, tháng 7 tháng 8, thường có những cơn mưa giông bất thường. những cây có rễ ăn bàng, thường bị trốc gốc. Hầu như nhà nào có đất là có trồng đu đủ, nhiều khi không phải trồng từ cây con, mà do ăn trái, vung vãi hột, chúng tự mọc lên, nhằm chỗ thuận tiện, người nhà để luôn cho tới lớn.
                    Sở dĩ cây đu đủ dễ bị trốc gốc là vì khi cây bắt đầu tăng trưởng, nếu cưng nó mà đấp gốc cao lên nó sẽ chết, cho nên cây đu đủ nào gốc cũng lồi ra trên mặt đất, mà rể lại không ăn sâu, nên gặp mưa giông rất dễ trốc gốc, Ba tôi thường dùng chuối cây ăn buồng, chặt ra từng khúc, chất dưới gốc cho mát cây.Nếu gieo hột trồng rất khó phân biệt hột nào lên cây đực, hột nào lên cây cái… Công tình trồng cho tới ra hoa, lại là cây đực, thì thật là phí công.Bởi hoa đu đủ thuộc lọai lưỡng tính, hoa đực và cái cùng một cây. Khi cây đu đủ bị giông trốc gốc, ba tôi chẻ thân cây ra làm hai, lựa thế đất xốp úp mặt chẻ xuống, mưa vài đám, chỗ các mắt trên thân bắt đầu đâm tược, tược lên chừng 2 gang tay ba tôi chặt ra từng khúc, đào lổ đặt xuống, chắc ăn là cây đu đủ cái
                    Cây đu đủ cao đến 10 mét,mang một bó lá ở ngọn,lá mọc so le,có cuống dài,mỗi phiến lá chia ra làm 8,9 thùy sâu, mỗi thùy lại bị khía thêm nữa như bị xé rách, cây đu đủ cái, có hoa màu vàng nhạt, mọc thành chùm ở nách những lá già, trái kết bám sát thân, còn cây đu đủ đực, ra hoa bằng những nhánh mọc dài ra, hoa suốt trên nhánh. Chót nhánh thường là một trái,trái nhỏ thôi và cũng lâu chín hơn trái đu đủ thường, bông đu đủ đực chưng với đường phèn, bởi trái tim có 4 ngăn, có người mỗi ngăn chứa một người, chưa kể trên đỉnh trái tim còn một người đứng, cho nên những người có trái tim chứa nhiều người quá, nên dễ sanh ra hồi họp, uống thứ nầy rất công hiệu. Người bị mộng, di, huợt tinh, dùng quả đu đủ bằng cở bắp tay, khoét cuống cho hai cục đường phèn vào, dùng lửa than nướng chín, để nguội, ăn thịt bên trong, ăn luôn cả hột, ăn hai ba trái là thấy kết quả tốt ngay.
                    Cây đu đủ có thân cao trung bình 2, 3 thước, thân cây có nhiều sẹo vì lá rụng đi để lại, cây đu đủ thích họp ở miền nhiệt đới. Thuở còn bé, thình thoảng lượm được một tàn lá đu đủ rụng, tôi thường cầm lên, che như che dù, nhiều cây đu đủ lên cao quá, dễ bị trốc gốc nên người nhà đốn ngang, chổ đốn cao khỏi mặt đất khoảng thước tây, trên vết đốn lựa một gáo dừa khô lớn úp lên trên che mưa, cho thân cây khỏi thúi, khoảng vài tuần, thân cây tức, nhảy nhánh át, có khi lên bốn nhánh, cả bốn nhánh đều cho ra trái .
                    Đu đủ mỏ vịt, mẹ gọt vỏ rửa sơ cho sạch mủ, dùng bàn bào, bào ra thành sợi nhỏ, số lượng đu đủ bào mẹ nhắm đủ cho cả nhà ăn.Mẹ dùng tay vắt cho đu đủ bào ráo nước, để tất cả vào trong tượng tai bèo.
                    Lá quế, mẹ rửa sach, cắt nhuyển, ớt chín đỏ, mẹ bổ dọc, bỏ hột, xắt thành sợi chỉ ngâm dấm.Tôm đất, mẹ luộc vừa chín tới, lột bỏ vỏ,chừa gạch, trang mỏng tôm luộc ra trên dĩa bàn, đem dĩa để trên hồ nước phơi nắng, độ chừng 2 tiếng đồng hồ, cho thịt tôm săn dẽo lại. Thịt ba chỉ, mẹ cắt khổ hình chữ nhật vừa gắp, dùng dây lạt quấn chặc xung quanh khổ thịt, thả vào nồi nước có pha chút muối, khi nước sôi, hạ lửa liu riu chờ khi thịt vừa chín tới, mẹ vớt thịt ra xã nước lạnh, tháo bỏ dây lạc, dùng dao bàn, mẹ lật khu tô liếc sơ vài cái, mẹ cắt mỏng khổ thịt ba chỉ ra thành từng miếng mỏng đều nhau….Tôm thịt mẹ cho vào tuợng đu đủ, chút giấm, chút đường, chút nước mắm… mẹ nêm, mẹ nếm, mẹ trộn đều, khi nếm thấy vừa ăn, mẹ múc ra từng dĩa bàn trắng, xong mẹ rắc lá quế lên trên mặt, không quên điểm thêm mấy sợi ớt cong queo, màu đu đủ mỏ vịt hơi vàng, màu xanh của lá quế, màu đỏ của ớt, màu trắng trong của thịt mở, chỉ nhìn dĩa gỏi, mà nước miếng đã muốn đầy họng.Mẹ cũng không quên đâm cối nước mắm ớt chanh đường, bên cạnh dĩa gỏi là dĩa bún tươi..gắp đũa bún cho vào chén, thêm đũa gỏi, chan tí nước mắm ớt, răng bén thời tuổi trẻ, nhai gỏi thấy dòn, trúng con tôm thấy dẽo, trúng miếng thịt thấy ngòn ngọt, rồi cay chua, thơm quế, bún trơn cổ…nuốt như cò! Đó là thời còn nhỏ, sau nầy đi lính, về phép, mẹ trộn gỏi đu đủ cho ăn, tôi thấy mẹ dọn ra mâm là vội phóng ra xe, chạy đi hú thêm vài thằng bạn, chứ dĩa gỏi ngon lành như vậy mà ăn không có rượu…đau bụng chết!
                    Một cây đu đủ thường có ít nhất cũng trên 10 trái, thấp nhất là trái lớn, rồi nhỏ lần lên,cho nên trồng đu đủ có trái ăn quanh năm.Khi cây đu đủ tróc góc, mấy trái hườm chín mẹ rửa để lên dĩa, đặt trên bàn thờ cúng, đu đủ mỏ vịt dùng trộn gỏi, còn đu đủ xanh mẹ gọt vỏ, cắt hai bỏ hột, cắt lại làm tư, làm tám, tùy trái lớn nhỏ, rồi cắt miếng cở 3 ngón tay, mẹ hầm với giò heo, món nầy ăn cơm cũng dễ nuốt lắm, trái nhỏ mẹ thái nhỏ ngâm chua . Ôi bàn tay của mẹ, bàn tay dịu hiền, bàn tay nầy, bây giờ con chỉ còn tìm thấy trong mơ…
                    Không phải trái đu đủ nào cũng có hột, hột trái đu đủ nằm bám theo thành ruột, có nhiều trái không hột, khúc gần trên cuống đùn lại thành nhiều hình thù trông ngộ nghĩnh.Hột đu đủ nhìn thấy mộng nước đen nháy.
                    Rời Gò Công tôi lên Sài Gòn đi học, rồi đi lính. Tôi ở nhà cô thứ tư, nhà cạnh nhà thờ Họ Bình Hòa..Ở khu ngã tư Bình Hòa nầy có nhiều quán ăn rất nổi tiếng, như cơm tấm bà Sáu, lúc đầu thời tôi còn học tiểu học, chỉ là một gánh cơm để sát hè một tiệm nước của chú Chệt Mập, sau bà cất nhà lầu, và cất đối diện bên kia đường Nguyễn Văn Học, một căn phố lầu chuyên bán cơm tấm, ngày đương thờ của nền đệ nhất Cộng Hoà, bà Nhu vẫn thường sai người ra đây mua cơm tấm, ngoài cơm tấm còn có tiệm mì Minh Sanh cũng rất đông khách, quán nhậu Lâm Viên gần rạp Đại Đồng, có rất nhiều em tiếp viên trẻ đẹp, gần nghĩa địa, trong hẽm bên kia chợ, hướng bên đường Lê Quang Định, sau bên hông tiệm phở đi vô, một hiệu mì nổi tiếng Sài Gòn, đó là mì Cây Dừa, tiệm nằm trên một khu đất rộng rải, chỉ có nóc lợp bằng tole, không có vách che,phía sau là nhà ở của chủ tiệm, con hẽm khá lớn, xe taxi chạy lọt, hẽm nối đường Lê Quang Đinh với đường Phan văn Trị, quán trông rất bình dân nhưng ngon bá chấy, buổi tối trời mưa, buồn trời buồn đất, rũ thêm vài thằng bạn, ra làm tô mì, uống chai 33, tô mì bưng ra, bốc khói ngạc ngào, miếng đùi vịt tiềm vàng ươm bong da, sợi mì vàng, hành xanh, nước lèo sóng sánh, thêm một dĩa khăn lông nóng, một dĩa đồ chua, đặc biệt, món chua nầy làm bằng đu đủ xanh, tỉa hình con sam, khổ cở bốn ngón tay…gắp cho vào tô vài miếng ớt ngâm dấm, xịt chút hột bông cải, chút dấm tiều, nước tương, dùng đũa trộn nhẹ tô mì, cắn đùi vịt thơm béo làm sao. Xong gắp con sam chua, cắn một miếng, nó dòn, nó chua ngòn ngọt, hạ cái béo thịt vịt xuống ngay, chiêu một ngụm 33…ngoài đường có tu hít thổi báo giới nghiêm bất thường cũng thây kệ, nuốt cho hết tô mì, sau đó thì tính sau…!
                    Hột trái đu đủ dùng để trị gai cột sống, lấy hột đu đủ vừa chín tới, chà cho bong hết lớp màng nhầy, đâm nát,bọc vào miếng vải, đấp vào chỗ xương có gai nửa giờ, rồi dùng một trái banh lông nhỏ đứng áp vào tường, để trái banh lăn qua lăn lại nơi chỗ bị gai, từ 20 đến 30 lần, mỗi ngày một hai lần, làm như vậy đều trong một tháng, sẽ có kết quả tốt.Mấy lúc gần đây người ta còn dùng lá đu đủ, sao sắc uống để trị ung thư, thực ra khi bác sĩ đã bó tay( thầy chạy) thì người bệnh mang tâm trạng cầu may ( vái tứ phương), ai chỉ đâu làm đó, phước chủ may thầy, công hiệu như thế nào cũng chưa được rõ.
                    Trong trái đu đủ còn có chất acid malit men, chất nầy có tác dụng làm mềm thịt, nên thợ nấu ăn thường bỏ vào nồi thịt dai một miếng đu đủ xanh…cho thịt mau mềm.
                    Trong dân gian có một câu đố về cây đu đủ” Mình thì mình cau-lá thì lá thầu dầu- Hoa là hoa thiên lý.”
                    Sống ở Houston, muốn ăn đu đủ chín lúc nào cũng có, chợ Mỹ, chợ Việt bày bán ê hề, nhà Việt Nam, có sân đất là có trồng đu đủ, trái đu đủ còn xanh bày bán thiếu gì, nhưng nợ áo cơm, thời gian sít sao quá, rảnh đâu mà mua về bào làm gỏi? chứ nhiều khi thoáng nhớ tới nước mía Viễn Đông, không khỏi nhớ tới dĩa gỏi đu đủ bào…của một thời đi học, của một thời đi lính…cũng như rất khó quên mối tình sinh viên thuở nào...
                    Sài Gòn tháng ba, tháng tư, trời trưa gay gắt nắng, nóng như lửa từ trên trời phả vào mặt, rề Honda, tấp vô lề bên một xe sinh tố nào đó. Trong lồng kiếng, đu đủ chín được cắt thành miếng vuông vuông cở 3 ngón tay, cô chủ quán cười duyên, đưa cái răng lòi xĩ dễ thương làm sao, bàn tay trắng nuốt, mấy ngón thon búp măng, dùng gắp gắp từng miếng đu đủ, cho vào dĩa, không quên xúc một vá đá bào để lên mặt, ngồi trên yên Honda, chờ cô em mang dĩa trao tận tay, con nhỏ buôn bán, chạm mặt cùng nắng gió, mà sao da mặt mịn màng quá, đôi chân mày nhỏ rứt.. Trời đang gay gắt nắng, tay cầm nỉa, cho đu đủ vào miệng, nuốt đu đủ, nuốt luôn nụ cười của cô bé, nó mát cổ, mát bụng làm sao….Không ăn đu đủ miếng thì uống đu đủ xay, miệng ngậm ống hút, mắt mơ màng nhìn ông đi qua bà đi lại, nhưng bà thì mắt nhìn kỷ hơn nhìn ông…
                    Cây trúc, cây dừa, dễ đi vào thơ ca hơn cây đu đủ, thường ít thấy bài thơ, bài văn nào, được viết lên bằng sự rung động từ cây đu đủ..Trong mâm trái cây chưng vào dịp tết, người dân miền Nam không quên trái đu đủ, vì dân gian, với tâm hồn bình dị của người miền Nam chơn chất, một mơ ước thật bình thường, ao ước chỉ Cầu, Đủ Xoài, giọng miền Nam, xoài hay xài cũng đọc giống như nhau…
                    Thời còn đi học, thầy dạy vẽ thường ra đề tài vẽ trái đu đủ…Thời tôi học tiểu học, thầy giáo Giáo dạy môn vẽ, cũng có ra đề nầy, năm tôi học lớp nhì.tôi vẽ dở, nhưng đề tài nầy, tôi kiếm 6,7 điểm dễ dàng. Lên trung học, thầy Giàu cũng có ra đề nầy, vẽ bằng bút chì và sơn màu nước.Năm lớp nhứt, giờ thủ công, mấy bạn ở quê khéo tay nặn trái đu đủ bằng đất sét, khi thành hình dùng nắp bút bi, ghè lại bóng loáng trông thật giống, thầy lấy chưng trong tủ thủ công của lớp..
                    Một món ngon của miền Nam, nói tới đu đủ mà quên nói tới món mắm trộn là điều thiếu sót. Người miền Nam vốn thích mắm, người miền Nam, nhà nào hầu như cũng đều biết làm mắm tôm, còn gọi là mắm nhúc, con tôm đất( phải là tôm ruộng) thời mà Gò Công trồng lúa một vụ, ruộng được bón phân chuồng, thời chưa xài phân hóa học, cũng như các thứ thuốc diệt sâu rầy, khi lúa trổ đồng đồng, trong ruộng nước cao chừng vài tấc, nhưng không thiếu cá tôm, người dân nghèo quanh năm sống bên ruộng, bắt cá tôm nầy ăn, dư dả làm mắm. Con tôm đất cắt đầu bỏ phần cứt, chừa gạch lại, cắt chưn cũng được mà để chưn cũng chả sao, con tôm được rửa sach, để ráo nước, ướp chút rượu, nước mắm pha nước lả, nấu với đường, để nguội, con tôm xếp khéo vào keo, lẫn với tỏi và ớt trái, xếp xong dùng tay ém cho chặc chịa, trên mặt xếp một lớp lá chùm ruột, rồi dùng 2 que tre gài lại cho chặc, đổ hỗn họp nước mắm nấu vào ngập mặt tôm, đậy nắp cẩn thận, để chai keo vào chỗ thoáng, không cần phơi nắng, con tôm trở màu đỏ là đúng sách vở.Con mắm ngon là con tôm phải còn nguyên dáng, thịt tôm đầy trong võ tôm, con tôm bị đổ đầu và thịt tôm bủng là trật sách vở.Trước khi ăn, đu đủ mỏ vịt bào sợi, đem phơi nắng cho heo héo, keo tôm được đổ ra tượng tai bèo, tỏi đâm nhuyển với ớt, rồi tỏi xắt mỏng với ớt chín đỏ, loại ớt nhỏ trái( ớt chỉ thiên) trộn chung với đu đủ với mắm, cho trở vào keo, ngày sau đu đủ thắm mắm, thịt ba chỉ luộc nước sôi lửa liu riu, xắt từng miêng vừa ăn, bún, rau thơm phải có tía tô, húng quế, húng cây, ..khế chua, chuối chát xắt mỏng, bún trắng tươi đựng trong dỉa bàn lớn.. món nầy, mấy chú đực dùng, mà không có thêm xị rượu là thiếu sót vô cùng, và rất dễ bị đau bụng…
                    Những ngày còn trong lính, tháng bảy tháng tám về phép, buổi chiều trời thường hay mưa, có đám tạnh sớm, tới giờ cơm, ngoài sân ểnh ương kêu quềnh oang hòa với chèn hen, vạt sành…thành khúc bi ai nghe buồn não nuột, mẹ dọn cơm trên bộ ván trong nhà bếp, cha mẹ, anh chị quay quần bên mâm cơm chiều, thức ăn là những thứ đặc sản quê nhà, dĩa ếch xào đọt chùm ruột, tô canh bù ngót nấu tôm bạc, một dĩa rau thơm, khế chuối chát sắp bên vành dĩa, một dĩa mắm tôm chua trộn đu đủ, sau cơn mưa trời rất mát, cơm gạo Sóc Nâu nóng bốc khói, , rau sống khế chuối chát, gắp cho vào chén, gắp một đủa mắm, và vô miệng, ôi! Thơm rau chua khế, cay ớt.. đu đủ bào thắm mắm, thịt con tôm dai dai mằn mặn… cơm xúc liền tay…
                    Đu đủ bào ngoài trộn mắm tôm chua còn được dùng để trộn mắm thái ( người Nam sao lại dùng chữ thái) mắm thái là mắm cá lóc Châu Đốc, lóc bỏ xương da, thái ra thành từng sợi mắm, thứ mắm trộn nầy cũng ăn với rau, bún giống như mắm tôm chua, mắm thái tại Houston, trong chợ Hồng Kong, lúc nào cũng có sẵn một chậu lớn, bên cạnh nhiều chậu mắm khác như mắm cá linh, mắm cá sặc, ba khía, dưa mắm… trông qua chẳng khác nào hàng mắm ở chợ Bà Chiểu bên Gia Định; ngoài ra, còn có mắm thái vô chai, mà chợ Việt Nam nào cũng có bán, ngoài cũng dán nhản của bà giáo nầy bà giáo nọ… ngoài ra người ta còn dùng đu đủ sống làm dưa mắm, đu đủ gọt vỏ, cắt ra thành tám hay sáu tùy trái lớn nhỏ, rửa sạch mủ, ngâm với nước muối, vớt ra thau khô ráo, dùng nước mắm cốt( con cá ướp muối làm mắm, đến khi thịt con cá chín thành mắm, người ta dùng đường thốt nốt thắng chảy ra với nước lả, để nguội, đổ vào khạp mắm, tiếng trong nghề gọi là chao mắm.Lúc đầu chưa chao đường, còn rặc muối rất mặn, khi được chao đường, nước mắm sẽ dịu đi Nước nầy múc ra rưới ngập lên thau đu đủ, để vài tuần cho mắm thắm là ăn được, dùng dao bén, cắt mỏng miếng dưa mắm, xong dùng tay vắt cho ráo nước mắm, thịt ba chỉ ram vàng, dùng dao bén cắt mỏng.. Thịt và đu đủ mắm trộn đều với tỏi ớt đâm nhuyển, cho thêm chút đường…nặn chanh vào, nêm nếm vừa ăn, món nầy ăn cũng bắt cơm lắm.. Người nghèo đâu có làm vẽ duyên như vậy. Nhiều khi mua dưa mắm về để nguyên như vậy, mặn lè, gắp cho vô chén, cắn dòn khắm khíu, ăn với cơm, lao động chân tay cực khổ, tuổi sức còn trai tráng, ăn cũng năm sáu chén cơm đầy! cho nên cũng cùng một tên gọi, mà dĩa dưa mắm nhà nghèo, khác xa dĩa dưa mắm nhà trung lưu.
                    Ngày miền Nam hoàn toàn phỏng dế…Giặc Bắc vào cai trị dân Nam, tôi phục vụ trong đơn vị, bị chúng ghép vào thành phần ác ôn, dù chưa từng chạm súng với chúng lần nào.. ngành Chiến Tranh Chính Trị mà chúng gọi là bọn Tâm Lý Chiến… Trong những lần lên lớp, chúng thường nhắc tới bức tranh của một họa sĩ, tôi không nhớ rõ lắm hình như là của họa sĩ TạTỵ, một sĩ quan cấp tá, có nhiều tài trong việc cầm bút, phục vụ ở Cục Tâm Lý Chiến, vẽ hình năm bảy tên Việt cộng ốm nhom, đang đeo cọng lá cây đu đủ… Bức tranh nầy có lẽ gợi ý từ những tên VC, bị bắt được trong hầm trong hốc, tên nào tên nấy ốm trơ xương.Chúng rất ghét bức tranh nầy, nên tác giả, hình như cũng trần thân với những tên cai tù khắc nghiệt nầy
                    Tôi may mắn, là được tái định cư tại một quốc gia văn minh và hùng mạnh nhất thế giới, sống trong một thành phố lớn thứ tư của Hoa kỳ, thành phố có số dân Việt lưu vong đông đứng thứ nhì trên thế giới, nên tại đây có rất nhiều chợ Việt Nam. Điển hình món mắm thái trộn đu đủ, muốn ăn cứ vào chợ Hồng Kông, mắm được chứa trong những ảng lớn, có kẹp gắp, có hủ nylon để sẵn bên, muốn mua bao nhiêu thì gắp bấy nhiêu, ra cân tính tiền dễ dàng,cón mắm tôm chua, chợ Việt nào cũng có bán, keo lớn, keo nhỏ, con tôm đỏ au, mua đu đủ bào sẵn về trộn là có ăn liền, còn gỏi đu đủ, rất nhiều nhà hàng VN có bán, trái đu đủ, từ xanh tới chín bày bán ê hề.
                    Tôi nhắc tới trái đu đủ là vì tôi nhớ Gò Công, tôi nhớ tới mẹ tôi, một mái nhà tuy nghèo, mà đầm ấm năm xưa, chẳng may, chinh chiến tràn lan, giặc Bắc phương manh tâm cuỡng chiếm miền Nam, gây cho gia đình ly tán, cờ quỷ còn đỏ trời, tôi không mặt mũi nào quay về lại trên đường xưa lối cũ, khi phải nhục nhã đi dưới lá cờ sao máu.. Nỗi ray rứt nhớ nhà, nhớ quê, nhớ mẹ…đành mượn trái đu đủ nhắc cho đở thèm, đở nhớ… Mẹ ơi nhiều đêm trong giấc ngủ, con mơ thấy mẹ, Mẹ vẫn dịu hiền như ngày nào, sao mẹ đến với con mà mẹ không nói lời nào, sao mẹ không trộn gỏi đu đủ cho con ăn, sao mẹ không hôn con như những ngày con còn thơ ấu…và lần nào cũng vậy, vừa mở miệng gọi mẹ là tỉnh giấc…Tôi lưu lạc đâu đây? Sao quê tôi còn đó mà tôi không về được??

                    thủy lan vy
                    (Viết xong tại kỳ đà động, một ngày đầu tháng 12 có tuyết rơi tại Houston )
                    Con đi dưới lá cờ sao máu
                    Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

                    Comment

                    • #11

                      cám ơn Thuy Lan Vy

                      Tôi cũng quê Gò Công (Câu Nổi). Cám ơn anh có nhưng bai viêt rât hay

                      Comment

                      • #12

                        Mongmothu ở Cầu nổi , có học trường Trung Học Gò Công ? Có biết Anh Trần Nghĩa Đời quê Cầu Nổivà đang là hội trưởng hội Gò Công ở Cali...
                        Liên lạc về thuylanvy@yahoo.com nói chuyện tiện hơn
                        Con đi dưới lá cờ sao máu
                        Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

                        Comment

                        • #13

                          MƯA ĐỒNG THÁP MƯỜI
                          *




                          Mỗi ngày cứ đến 5 giờ sáng là kẻng báo thức đã vang lên. Ngoài sân trời còn tối mịt.Tất cả tù choàng thức dậy sau một giấc ngủ như mê, đầy mệt mỏi,bởi lao động quá nặng nề trong việc cuốc đất đào kinh mà thời gian nghỉ quá ngắn.Có những ngày nắng gay gắt, gặp phải thế đất gò, cứng như sắt, toán đào kinh về tới trại thì trăng đã lên. Nhảy ùm xuống kinh tắm vội vàng, vô tới chỗ nằm là căng mùng ra ngủ,chẳng kịp nói với người nằm cạnh bên một câu nào. Gặp hôm mưa dầm ra lãnh lô đất nước lên tới gối, be bờ tát nước xong có khi gần hết buổi sáng. Làm việc với hết sức con người mà mỗi ngày lãnh 2 ca cơm trắng với 1 phần canh lưng chén (thường là rau ,bí luộc với muối và chút mỡ heo) Ðào kinh 2 thước tới, 2 thước ngang, sâu 1 thước rưởi , đáy 1 thước, triên bờ bảy ba. Hai con kinh song song, phần giữa sẽ đắp thành con lộ, bờ đê hai bên bờ kinh sẽ trồng chuối và trồng khóm .Chương trình còn là xả phèn đất Đồng Tháp bẳng cách đào những con kinh nhỏ xẻ dọc ngang cho nước chảy ra con kinh lớn mà lao động chính là lực lượng tù của trại cải tạo Mỹ Phước Tây. Không biết người ngồi trên đã nghiên cứu kỹ chưa chứ theo cách đào kinh nầy thì sức khoẻ của tù ngày sẽ kiệt dần vì chế độ ăn uống quá kém mà việc làm lại quá nặng nhọc, mà mỏ phèn của Đồng Tháp Mười thì quá lớn ..!Hơn 5 giờ sáng đã xuất trại, lội ruộng băng đồng trung bình mỗi ngày hơn 6 km mới tới nơi . Ði và về đã muốn hết hơi chứ đừng nói chi đến việc đào kinh.Tuần lễ đầu tiên mới chuyển từ trại cải tạo Hoà Đồng lên đây, tôi cảm thấy toàn thể xương trong người như rệu rã, bắp thịt bắp tay mỏi nhức như dần. Không có ngày nào tôi đào xong phần đất, thường đều phải nhờ anh em trong toán phụ tiếp, một điều làm cho tôi hết sức ái ngại,bởi bạn bè đã mệt mỏi sau phần đất của mình nay phải bỏ công đào giúp. Cả toán phải xong ,sau khi tên "chịu trách" kỉểm tra thấy đạt thì toán mới được tập trung chờ điểm danh ra về, nên dù không muốn anh em cũng phải phụ nhau để được về sớm. Nhiều khi vì mệt mỏi quá, không ai phụ ai nên trăng đã lên mà tôi vẫn còn nguyên cả lớp đất cao khoảng hơn 4 tấc. Anh em tù thường gọi đùa là còn đứng trên bục thuyết trình vì mọi người tù xuống đến lớp đất đáy mà mình còn đứng trên cao . Quần xà lỏn, áo rách vá chầm, mặt mày đầy bùn đất, khi nào xong ra vũng khoát nước rửa mặt Rửa xong lên tôi mới thấy nhẹ người, một ngày lao động với tôi mới thực sự là hết.
                          Ngoài cái khổ về lao động vất vả, còn một nỗi khổ khác mà hầu hết đám sĩ quan trẻ tụi tôi phải cắn răng chịu đựng là việc ăn ở chung chạ với đủ thành phần trong xã hội , từ hạ sĩ quan, binh sĩ đến trộm cắp, chiêu hồi. Nằm cạnh người biết điều còn đỡ, rủi ro nằm bên tên lưu manh thì thật là khổ tâm. Vui thì nó cười nói, buồn thì chửi xiên chửi xéo: "Đồ cái thứ quen thói ngồi mát ăn bát vàng, đồ cái thứ chỉ tay năm ngón, bây giờ cho ...chết mẹ tụi bây luôn ". Chưa kể đồ đạc hở ra bị mất cắp, nếu nóng trả lời lại đêm ngủ nó giả đò mê mớ quơ chân đá vô sườn vô lưng. Trại nầy trước khi tụi tôi đến chỉ có vài sĩ quan còn lại đa số là tù hình sự.
                          Trại cải tạo Mỹ PhướcTây nằm trên trục lộ Cai Lậy- Kiến Tường, trước đây là căn cứ pháo binh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Phía sau trại là phố chợ của khu trù mật Mỹ Phước Tây. Trước và bên hông trại là hai dòng kinh Dương văn Dương.
                          Mấy tháng đầu, tôi ở trong nhóm do chú Tư Hiếu làm nhóm trưởng. Chú là người có cấp bậc cao nhất của nhóm nầy, thượng sĩ ,thuộc chi khu Cái Bè, tính đằm thắm rất dễ chịu, hiểu đời. Tụi tôi khoảng 10 ngưởi đều là sĩ quan từ trại cải tạo Hoà Đồng lên nhập vào nhóm nầy. Một gian nhà cột tràm lợp đưng , vách chầm lá, khoảng 50 mét vuông. Ðã có sẵn trên 40 tù với 6 em Phục quốc đang bị còng chân chung một thanh sắt. Phòng quá chật , nền đất. Tôi phải nằm chung mùng với Thiếu úy Tài, trung đội trưởng thám báo tiểu khu Gò Công, cạnh Tư què nhỏ hơn tôi khoảng 5 tuổi can tội trộm .
                          Những buổi lao động về trễ, nhìn thấy ánh trăng lấp ló trên trời tôi mới thấy thấm thía câu "Một nắng hai sương" mà trước đây tôi chỉ hiểu lờ mờ. Bây giờ chạm thực tế mới hiểu rõ: sáng đi sương còn mờ mịt, tối về sương rơi ướt tóc ...Nhóm sĩ quan Gò Công chuyển lên trại nầy khoảng trên một trăm.Cùng chung cảnh khổ nên dễ kết thân với nhau, nhưng hầu hết anh em đều không quen với việc lao động, nên sức khoẻ đều sút kém trông thấy rõ. Trại chia ra làm 3 hệ, mỗi hệ chia thành từng nhóm ở chung nhau, hệ quân đội, hệ cảnh sát và hệ hành chánh. Một dãy ngang, hai dãy dọc, chính giữa là nhà bếp và trại tù nữ. Sát bộ chỉ huy là dãy nhà nhỏ dành cho những người bệnh dễ lây như lao, cùi... Chức sắc trong nhóm có 3 cấp : nhóm trưởng, nhóm phó, thư ký nhóm do anh em bầu lên . Cũng có khi do trại chỉ định ( thực ra do Bảy Quế chỉ định). Khi ra lao động thì do một số quân đội và cán bộ Việt Cộng bị nhốt về các tội tham ô , hủ hóa hay chiêu hồi dẫn đi , có võ trang súng ống đầy đủ đi kèm. Thường là súng trường CKC, thỉnh thoảng mới thấy có súng AK. Những tên tù chức sắc nầy được gọi là chịu trách. Thường những tên chịu trách nấy rất sắt máu và hắc ám hơn cán bộ trại bởi họ muốn lập công chuộc tội để được tha về sớm . Trưởng bên tù Nam là Bảy Quế, một tên Việt Cộng bị ghép tội phản gián. Tên nầy ốm cao, người miền nam, chịu trách điểm danh xuất trại cũng như điểm danh vào buồng buổi tối, có quyền đề nghị biệt giam và cũng thường ngồi chủ trì các buổi họp kiểm điểm ở đội .Bên nữ là Bà Hai Cốt cũng can tội gián điệp ( Sau ngày sập tiệm, báo Sài Gòn ...lóng cóng có đăng một tiểu thuyết gián điệp mà Bảy Quế và bà Hai Cốt là 2 nhân vật chánh.)
                          Tù Việt Cộng ít khi được ở yên. Ở trong nhóm nầy vừa tạm ổn, tương đối vừa mới hiểu rõ tính tình nhau là chuyển đổi qua nhóm khác. Bởi vậy trong tù có câu ..." Thứ nhất tự khai, thứ hai đổi nhóm ...”. Tôi chuyển qua nhóm 20, nhóm trưởng tên Đẹp là trung sĩ cảnh sát , nhóm phó là Khanh thượng sĩ quân cảnh tư pháp . Hai tên nầy sống có vẻ cách biệt với anh em trong đội, thường thích tỏ ra vẻ mình là cấp chỉ huy , và có vẻ không ưa gì đám sĩ quan từ Gò Công lên. Tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi cũng phải cố gắng thích ứng để sống. Trong nhóm nầy cũng có vài sĩ quan Gò Công nhưng chỉ có một người bạn là Võ Văn Trầm, khóa 2 CTCT Đà Lạt, thuộc Sư Đoàn 9 là tương đối thân thiết với tôi. Ra lao động chúng tôi vẫn thường đào đất 2 lô tiếp giáp nhau. Trầm có sức hơn tôi nhưng để hoàn thành phần kinh cũng phải hết sức vất vả .
                          Buổi sáng các đội tập trung ngoài sân trại. Trong lúc chờ đợi điểm danh xuất trại, một số anh em tìm những tảng đá xanh mài lưỡi len cho bén Âm thanh rền vang trong cảnh trời còn tối đen. Bang, Đại úy phân chi khu trưởng xã Long Thuận thường chỉ cảnh mài len cười nói :
                          - Coi kiếm sĩ mài gươm dưới ...mây kìa.
                          Hôm nay đào kinh tận giáp hạt nên Bảy Quế cho xuất trại sớm.Trên 600 tù tay cầm len tay xách bị đựng cơm nước đi thành một dọc dài trên con lộ cặp bờ kinh trên đường liên lộ đến Kiến Tường. Ngang qua trại tù Vườn Đào ( tù nhân trại nầy toàn là sĩ quan, có một nữ sĩ quan là Trung Úy Nguyệt )tôi nhìn thấy anh em trong trại này còn trên sân chưa ra lao động. Gió buổi sáng mang chút sương đêm còn sót lại, cảm giác lành lạnh nhưng rất dễ chịu. Thỉnh thoảng có vài bạn tù băng vội xuống ruộng bên đường hái rau diệu, rau má hoặc rau dền, hay tấp vào quán bên đường mua nải chuối, gói xôi ... Có tốp đi trong im lặng cũng có tốp cười nói râm ran
                          - Ê Mỏng, hôm nay chắc trời sẽ mưa lớn.
                          Thằng Trầm đi bên cạnh nói với tôi
                          -Tao khoái trời mưa, mưa cho thiệt lớn, đỡ phải đào đất. Thật vậy, mưa có lạnh lẽo và ướt át thật nhưng nước ngập tràn thấy đường đâu mà đào với đắp.Tìm bờ đất cao ngồi rút mình dưới cái nón lá mỏng manh trông như một cây núm dại.
                          Thấy bầu trời còn nhiều mây đen, liệu mưa khó dứt hột là Bảy Quế cho thu quân.Phần lớn cho thu quân khi trời mưa là do đám vệ binh sợ tù trốn trại.
                          Trời dần sáng tỏ. Khi tới gần giáp hạt,thỉnh thoảng trên đường liên tỉnh có chuyến xe đò Sài Gòn Kiến Tường chạy ngang qua ...Rất nhiều khi tôi kịp nhìn thấy ánh mắt thật buồn của một cô gái nào đó ngồi bên cửa xe. Tôi nhớ tới những ngày công tác tại quận Phú Lộc, chiều buồn ngồi một mình trong quán bên đường nhìn xe cộ tấp nập qua lại với tốc lực thật vội vã từ Sài Gòn về Bạc Liêu hay Cà Mau,bên chai bia, gói thuốc lá mà nhớ tới Sài Gòn. Nhớ đến con đường Cường Để mỗi khi mùa hè đến, cổng trường rực rỡ xác hồng hoa phượng. Cô bé mắt nâu vén gọn vạt áo dài ngồi gọn vào yên sau chiếc xe Honda dame màu xanh, vòng tay ôm thật sát.Quận Phú Lộc này tôi đến công tác có một tuần lễ, nhưng những người lính và dân ở đây còn để lại trong lòng tôi nhiều cảm tình đẹp. Nhất là Thiếu Tá Phát, vị quận trưiởng đẹp trai,mà tôi cũng vừa hay tin đã tự sát trong ngày tháng tư đen ...Bây giờ nhìn chiếc xe đò chạy ngang ,tôi có một ước muốn thật tầm thường là được ngồi trên chiếc xe đò để về Sài Gòn,một việc còn khó hơn là bắc cầu qua biển nối Gò Công với Vũng Tàu ...Bây giờ trước mặt là một cánh đồng đưng mênh mông cạnh những thửa đất hoang ngập đầy nước và cây điên điển. Trời tháng mười hoa điên điển nở vàng . màu vàng thật đậm... xa trông cũng đẹp mắt lắm.
                          -Ê Trầm, cố gắng đào lẹ, phụ tao hái bông điên điển chiều về nấu canh chua ăn.
                          - Để coi trúng lô đất nào, gặp chỗ nhiều nước quá,tao mầy làm trâu nằm vũng chứ làm sao mà xong sớm được .
                          Thằng Trầm nói xong ngước nhìn trời, nó chỉ đám mây đen đang từ hướng Nam kéo tới .
                          -Tao cá với mầy là hôm nay mưa lớn lắm , lo mà tìm chỗ trú mưa chứ đào đục gì mà đào .
                          Bảy Quế vừa căng dây cậm tiêu chia lô vừa nhìn trời rồi lầm bầm: - Hôm nay chắc trời mưa suốt ngày .
                          Tôi và Trầm đứng nhìn lô đất mới lãnh , nước lên tới đầu gối, đỉa trâu lội lều bều. Trầm ngó mặt lên trời cười ngất :
                          -Hôm nay cúm núm kêu rồi Mỏng ơi !( Cúm núm kêu lúc trời giáp tối ) Hút một điếu thuốc rồi tính sau.
                          Trầm móc bao nylon đựng thuốc rê ra vấn một điếu rồi thảy chuyền cho tôi .
                          -Đắp bờ tát cạn nước cũng trưa trật rồi, chỉ còn mong mưa tới sớm .Lao động là vinh quang mà Mỏng.
                          Tôi nói nhỏ vừa đủ cho Trầm nghe :
                          -Nhưng mà không lao động là ...vinh râu mà Trầm, Kệ, tới đâu tới, hút thuốc uống nước ...rồi ngồi cầu mưa.
                          Tôi trả lời với Trầm mà mắt nhìn quanh, bạn tù mọi người cũng đều lo lắng nhìn lô đất. Có nhiều người cùng nhau hợp tác, bắt đầu be bờ tát nước .
                          Trầm bắt đầu cầm len khui hộc, nó xắn ngầm từng tảng đất thật to. Tôi nhìn cục đất mà thấy ngán ngược. Ðặt len nằm trên bờ, tôi xắn quần, bắt đầu ôm đất đắp bờ. Dù đang lao động nặng nhưng vì buổi sáng hôm nay mây âm u,gió lại lành lạnh,gần nửa thân mình ngâm dưới nước nên tôi cảm thấy trong người ớn lạnh.Cho tới gần 10 giờ thì bờ bao cũng đã đắp xong. Trầm buông len,giơ chân lên khỏi mặt nước, cả chục con đỉa trâu bám đầy ống quyển mập căng đầy máu. Nó kéo từ con ra khỏi da, máu chảy đỏ nước.Trầm nhìn quanh,thấy chẳng có chỗ nào để giết đỉa, đành quăng ra xa mà coi bộ ấm ức lắm. Nó móc túi lấy chút thuốc rê quẹt lên vết đỉa cắn để cầm máu , miệng lầm bầm chửi thề. Tôi cũng chẳng khá hơn gì nó, chốc chốc thò tay xuống nước là kéo ra một chú đỉa... Dưới mắt tôi ở đây đìa đúng là...lềnh như bánh canh. Trầm phụ tôi tát nước và kiểm soát lại các nơi rò rỉ .
                          - Nghỉ chút Mỏng, kiếm cái gì ăn, tao thấy đói rồi .
                          Thằng Trầm khoát nước rửa tay, lên bờ móc thuốc vấn hút và đi lần đến chị gánh hàng. Nó mua 2 gói xôi tìm bờ cao ngồi rồi vẫy tay gọi tôi .
                          Tôi đi lần tới, Trầm vừa ăn vừa phân công :
                          -Tao xắn đất ngầm, mầy dùng thùng đạn tát nước cho nhanh, khi nào cạn nước thì phụ đào với tao.
                          Trong không khí lành lạnh, trên 600 tù trải dài một khoảng tầm xa nhìn mút mắt. Nhiều lô đã tát nước xong, đất được len vụt lên bờ đều đặn, mỗi cục đất với hình dáng và trọng lượng gần giống như nhau,liên tục bay bay lên bờ .
                          Những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rơi .Thằng Trầm cười cười nhìn tôi:
                          - Ê, khoẻ rồi Mỏng à ...Coi trước chỗ nào có lùm cây cao để đụt mưa, tao nhìn đám mây nầy thấy mưa tới chiều chưa dứt. Mầy nhớ bọc thuốc hút lại cho kỹ, lạnh mà không có thuốc hút là buồn lắm đó .
                          Tôi nhìn quanh, cả cánh đồng đưng chẳng có cây nào có tàn cao đủ để núp mưa. Nhìn xa , ngoài đường lộ thỉnh thoảng có xe đò chạy qua, cũng có những bàn tay như vẫy chào. Nhìn lên bầu trời thì mây đen vần vũ, hạt mưa đã bắt đầu nặng hạt. Rất nhiều anh em tù bỏ lô đất lên bờ đứng hút thuốc. Gió bắt đầu thổi mạnh và cơn mưa cũng trút giọt ào ào .
                          Mình mẩy ướt nhem, tôi và Trầm xách bị cơm chạy núp mình vào một đám đưng gần kề che sụp nón lá nép mình tránh mưa. Mưa thật nặng hạt, chốc chốc hai đứa rút chân lên lấy tay gỡ bớt đỉa , đỉa trâu no máu con nào con nấy mập ú .
                          Thằng Trầm càu nhàu :
                          -Lao động là vinh quang, tụi mầy không làm mà cứ theo hút máu tao hoài , chết nè con .
                          Thằng Trầm dùng thân cây đưng lộn ngược con đỉa ra , máu đỏ ướt cả tay nó .
                          Trời đã trưa mà mưa không dứt hột. Bụng đói mà không biết làm sao ăn. Gió lộng tư bề, tôi cảm thấy lạnh, cái lạnh không bình thường như mọi khi gặp trời mưa. Trong người tôi hình như có tới hai luồng lạnh, một từ trong xương lạnh ra, một từ ngoài lạnh vào .
                          -Ê Trầm, hình như tao bị cảm, tao thấy lạnh quá,không làm sao chịu nổi.
                          Tôi vừa răng đánh bù cạp vừa nói với Trầm. Nó nhìn tôi bằng cặp mắt ái ngại :
                          -Giữa đồng không mông quạnh như vậy thì làm sao có chỗ khô ráo mà tránh mưa tránh gió. Mầy thử lựa chỗ nào nước cao ra đó trầm mình xuống nước , ló đầu lên che nón lá kỹ lại coi có đỡ lạnh hơn không. Dân quê mình ra đồng làm ruộng gặp mưa to gió lớn vẫn chống lạnh bằng cách nầy .
                          Tôi đảo mắt nhìn qua một lượt, mấy cây điên điển nở hoa vàng đang lả mình theo từng cơn gió giật. Có nhiều khóm chỉ còn ló thật ngắn chút đọt. Trong lòng thấy ngao ngán ,tôi lách đám đưng lội chậm chậm về hướng bụi điên điển. Tôi từ từ ngồi xuống nước ,chỉ để ló từ cổ trở lên. Quả nhiên thấy ấm hẳn lại. Thằng Trầm nhìn vẻ mặt dễ chịu của tôi ,nó cười lặc khặc:
                          -Ấm chưa Mỏng ?Chừng nào lạnh hết chịu nổi tao cũng xuống với mầy ...
                          Tầm mắt tôi chỉ cách mặt nước khoảng gang tay, hạt mưa xéo mạnh vào mặt nước,rải đều chập chũm. Tiếng mưa rơi, tiếng gió từng cơn, tiếng đưng quằn ngã theo gió vang vang bên tai tôi. Lòng tôi thật buồn, tội cho cái thân tù ... Chốc chốc lại phải lấy tay rà khắp người để kiểm soát đỉa, bởi vẫn thường bị mấy con đỉa lẻn vào ..".bộ chỉ huy" để hút máu .Mấy con đỉa này tù bắt được thường đề quyết là đỉa ...cái
                          Tôi co ro ngồi dưới nước, tuy có ấm hơn ngồi trên bờ nhưng vẫn cảm thấy lạnh lắm. Gió xoáy thổi vào mặt bật tung nón lá ... Mắt tôi mờ lại trước những giọt mưa . Những chùm hoa vàng điên điển, trước tôi còn thấy rõ, dần dần mập mờ nghiêng ngả theo từng cơn sóng nước ...Mẹ của tôi bây giờ đang ăn cơm trưa ? Mâm cơm không biết còn được mấy món hay là chỉ trơ một dĩa rau luộc, không biết có thêm được trứng vịt luộc dầm nước mắm không ? Với đồng lương dạy học của chị, vừa nuôi ba nuôi mẹ lại cưu mang thêm đứa em tội tù ...Mỗi lần gặp Mẹ bên hàng rào kẽm gai , bên bờ ruộng chỗ cho thăm nuôi phía sau trại , lần nào tôi cũng phải hết sức cố gắng cho nước mắt khỏi tuôn trào. Bao lần tôi nói mẹ tìm người gửi chứ đi thăm đường xá xa xôi quá, sức khoẻ Mẹ bị suy giảm làm sao con an tâm sống được...Mẹ ừ mẹ hử. Tay mẹ lần xoa bóp tay con, mẹ vuốt tóc, mắt mẹ đỏ hoe... Rồi vắng một tuần lại cũng thấy mẹ lên thăm ... Mẹ đâu biết rằng khi con từ giã mẹ trở vào nhóm là phải vội vàng lên trình diện ban chịu trách để đi lao động ngay. Ðó là quy luật dành riêng cho người có thăm nuôi trong ngày chúa nhật. Tùy theo mùa nên công việc có khác nhau , khi thì một thúng lúa giống lội trên 6 cây số đường ruộng, khi thì 5 cây chuối cây giống cao khoảng hơn thước . Khi thì một bó đầu khóm giống. Thúng lúa giống một giạ tuy có nặng nề, vậy mà dễ di chuyển vì khi thấy mệt ,tù cứ để xuống nghỉ . Thời gian di chuyển không bắt buộc nhưng tù nào cũng muốn xong về sớm đề sắp xếp đồ thăm nuôi . 5 cây chuối mới là nan giải , thường tù dùng dây kết lại làm bè ,dòng theo bờ kinh mà kéo. Tới khúc lộ ôm từng cây băng qua,ra tới nơi đào lỗ trồng 5 cây xong mới được về. Tên chịu trách còn đến xem từng cây coi có bị bầm dập gì không . Ðầu khóm giống càng khổ hơn , nó không nặng nhưng gai góc , nếu vác vai thì gai đâm cổ .Cách nào thì cũng bị gai quào xước cả người.
                          Mới mười tám tháng xa nhà mà lòng tôi đã thấy nhớ lắm.Lúc ở đơn vị, dù là đơn vị tổng trừ bị luôn phải rày đây mai đó, nhưng mỗi khi thấy nhớ nhà thì dù cho cấm trại 200% đi nữa, tôi muốn về là tôi về . Không có đơn vị trưởng hay quân cảnh nào cản ngăn tôi được ...Bây giờ mẹ tôi ngồi đó, rất muốn ôm hôn mẹ mà không làm sao hôn được ... Nước mất ... là mất tất cả, tôi bây giờ là thằng hàng binh, nhục ơi là nhục, đánh đấm kiểu nào mà phải buông súng đầu hàng ...Không trăm lần không, ngàn lần không, cá nhân tôi không đầu hàng mà tôi ở trong tập thể đầu hàng ...Ngày còn ở trại cải tạo Huyện Tây, mỗi nửa tháng được cho thăm nuôi một lần, tù bên trong nhìn rõ thân nhân từ ngoài đường di chuyển về hướng cổng trại. Ðã có lần máu tôi chợt nóng lên, mắt tôi nhìn như tóe lửa, khi nhìn thấy cảnh mẹ tôi hai tay xách đầy hai giỏ nặng lầm lũi bước vào cổng trại bị một thằng võ trang dùng mũi súng gạt ngang làm mẹ hoảng hốt mất đà suýt té...Hai tay tôi nắm chặt lại... Mẹ ơi, con trai mẹ hèn quá, mẹ ơi hoàn cảnh nào đã biến con trai mẹ thành thằng hèn ...Mẹ ơi ! chắc Mẹ vẫn biết thằng con trai út của mẹ có một trí nhớ rất tốt, cả đờI nó sẽ không bao giờ quên hình ảnh mẹ mình lảo đảo trước sắt thép của kẻ thù ...
                          Mưa vẫn trải đều hột, chưa có dấu hiệu gì sắp ngớt . Bầu trời vẫn một màu đen kịt, thỉnh thoảng chớp nháng sáng trời ... Sấm động gầm gừ rền vang ... Gió vẫn xoáy lốc từng cơn
                          -Mưa quá làm sao hút thuốc Mỏng, mầy đói bụng chưa ?
                          Tôi trở về với thực tại. Trầm đã ngâm mình xuống nước không biết lúc nào và đang ngồi phía sau tôi . Thấy tôi ngoái đầu nhìn lạI, nó nhe răng cười khục khặc, da mặt nó đã tái xanh dù nắng gió đồng Tháp Mười đã biến tù thành ... Ông táo Tàu từ lâu .Người tôi run lên từng đợt,tôi vuốt mặt mấy cái:
                          _ Lạnh quá Trầm ơi, tao chịu hết muốn nổi rồi, chút về mấy cạo gió giùm tao nha Trầm ...Đói bụng quá mà mưa như vầy làm sao mà ăn. Tao cũng thèm thuốc lắm rồi ...Mưa điệu nầy tới chiều chưa dứt ...mà tại sao lần nầy tụi chịu trách cho thu quân trễ quá vậy?
                          Mắt tôi lại thấy nặng, đã lạnh, đói lại còn buồn ngủ nữa ...Tôi bỗng như thấy lại hình ảnh một buổi trưa tại trại Huyện Tây... Buổi sáng mẹ đã vào thăm, buổi chiều tôi yên chí nằm trong phòng, và để rồi rất ngạc nhiên khi được gọi tên ra thăm nuôi ...Tôi mặc vội bộ bà ba đen Xây Dựng Nông Thôn đi vội ra cổng trai ... Mắt tôi mở to đầy ngạc nhiên lẫn thích thú .." Mắt Nâu" ! Trời ơi Mắt Nâu của tôi lặn lội từ sài Gòn xuống thăm tôi.. đi chung với mắt nâu còn có Khưu thị Tuyết Mai cũng bạn chung lớp năm Nhiệm ý ban Việt. ... Theo phản ứng tự nhiên tôi chồm tới định nắm tay ... nhưng tôi kịp "thắng" lại , vì tôi đã tự biết tôi là ai. Tôi đâu còn là sĩ quan ở trại Nguyễn Bỉnh Khiêm gần đài phát thanh Sài Gòn nữa mà mừng mà vui khi thấy Mắt Nâu vào trại thăm tôi, như những ngày còn trong đơn vị ... Mà ở đây là trại cải tạo, một lối nói văn vẻ thay cho trại tù hay khám đường ....
                          -Ê, Bảy Quế đang nói gì với mấy nhóm trưởng kìa Mỏng , không chừng thu quân đó mầy ...
                          Tôi đang mơ màng nhớ lại những hình ảnh đã qua thì giọng thằng Trầm đưa tôi về thực tại ...Hai hàm răng tôi đánh vào nhau nghe cồm cộp, tiếng nói run run đứt khoảng
                          -Về là phải rồi ...mưa như vầy mà còn đào gì nữa.
                          Tôi đứng thẳng người lên, cơn gió xoáy ngang làm tôi lảo đảo suýt té. Ngồi lâu cẳng chân bị tê . Gió mưa đập vào người làm tôi run lên .
                          -Rán đi Mỏng, chắc về thiệt ..Mầy lấy tấm nylon của tao quấn đỡ, về tao cạo gió cho mấy . Thằng Trầm an ủi tôi .
                          Chú Tư Hiếu nhóm trưởng khoát tay ra hiệu tập họp, tôi run rẩy chạy lúp xúp theo Trầm về vị trí xếp hàng...Anh em bạn tù người nào cũng loi ngoi như chuột lột, mặt mày xanh xao, đứng co ro run rẩy. Bảy Quế điển danh xong toán nào là cho toán đó về...Anh em rẽ nước băng đồng ... Mưa vẫn không ngớt hột. Chúng tôi vừa đói vừa lạnh. Nước lên ngang rún , phải lội hơn cây số mới ra tới bờ lộ cái , anh em lúp xúp chạy cho đỡ lạnh
                          -Rán chạy lẹ Mỏng , tới quán mua mấy củ mì ăn đỡ đói với hút điếu thuốc cho ấm lòng ...Thằng Trầm giọng run run nói với tôi .
                          Rồi đám tù cũng về tới trước cổng trại , không có anh em nào xuống kinh tắm như thường lệ mà tự động xếp hàng chờ điểm số để nhập trại. Gió vẫn vụt vù thổi, chớp vẫn nháng sáng trời ... Bây giờ cũng đã hơn 2 giờ trưa ...Tôi thấy trong người khó chịu ... Vào phòng thay áo quần khô xong tôi vạch lưng cho Trầm cạo gió . Nó xin chút dầu lửa và dùng cái muỗng cạo lưng cho tôi ..
                          -Mầy bị trúng gió rồi Mỏng , mới cạo sơ mà đã thấy tím bầm ...
                          Tôi cũng không màng ăn cơm chiều, trùm mền nằm thiếp luôn cho tới kẻng điểm danh tối mới ráng ngồi dậy, thấy nặng đầu và mình mẩy nóng hực. Tôi đứng lên lảo đảo suýt ngã ..
                          - Anh Đẹp báo cáo dùm , tôi nóng quá , chóng mặt không ra điểm số được.Tôi gượng nói với Đẹp trưởng nhóm, xong nằm ngã ra thở dốc...
                          Tôi nằm mê man cả hai ngày, chỉ uống chút nước do người bạn tù nào đó cũng bệnh nghỉ ở nhà như tôi. Mấy viên thuốc ABC tôi mang theo, tôi cố gắng uống mỗi ngày 4 viên.Buổi tan tầm thằng Trầm đi lao động về nấu cho tôi soong cháo, nhưng tôi cũng chỉ ăn được vài muỗng vì miệng mồm đắng nghét . Thằng Trầm an ủi tôi :
                          _ Mầy phải rán uống thuốc và ăn nhiều cháo mới có sức mà hết bệnh được ..
                          Miệng đắng quá, tao thèm uống nước chanh quá Trầm ơi, tay chân tao như rã rời cử động hết muốn nổi...Tôi gượng cười :” Không biết tao qua khỏi con trăng nầy không”.
                          Tôi thiếp đi nhiều hơn tỉnh ...Nhiều đêm thức giấc tôi nhớ mẹ vô cùng. Từ nhỏ sống cạnh kề mẹ, tôi ít khi bệnh.Vào quân trường cũng thế,ai sao tôi vậy. Chín tháng quân trường ,ngay cả trong thời huấn nhục tôi chưa từng bị xỉu. Cũng từng dầm mưa dãi nắng khi ra đơn vị , cũng ngủ bờ ngủ bụi ... . Nhất là trên con đường máu 7B di tản từ Pleiku về đến Bình Tuy, biết bao nhiêu là gian hiểm tôi đều vượt qua được ...Không lẽ trong cảnh tù đày như vầy ... Tôi không dám nghĩ tiếp,nhưng có lẽ vì quá tủi thân, nước mắt tuôn trào ướt cả má ...Nhiều lúc tôi nghĩ quẩn , phải chi mình chết bờ chết bụi trên con lộ 7B cho rồi đở phải cực thân như bây giờ. Rổi tôi cũng lại nghĩ : sông có khúc ,ngườI có lúc,mình phải ráng sống , sống để có ngày nhìn thấy toàn dân đứng lên xé nát lá cờ sao. Tình trạng nầy kéo dài mươi ngày tôi mới dấn tỉnh ... Trầm đi lao động về cùng với thằng Quang phục quốc vẫn nấu và mang đến chỗ nằm cho tôi từng chén cháo.Tôi ăn được nửa chén , rồi một chén ... Những buổi lao động gặp đất mềm tụi nó đào xong sớm, rảnh tay bắt con cá con tôm, ngang đồng nhổ nắm rau đắng đất về nấu cháo cho tôi. Trong hoàn cảnh không có người thân mà được bạn tù chăm sóc, lòng tôi cảm kích lắm.Tôi cũng tự mình cố gắng đi ra đi vào, phơi nắng buổi sáng. Gần một tháng trời mới tương đối bình phục. Thằng Trầm hôm đó về sớm nấu cho tôi một soong nước, ra phía sau pha nước cho tôi tắm. Ðã lâu mới cởi áo quần, tôi thầy người tôi toàn là xương.
                          Tắm mát mẻ, hòm đất đóng lâu ngày phải kỳ cọ thật lâu.Buổi tối thằng Trầm pha gô nước trà có mấy miếng kẹo đậu phọng, mời một số bạn bè trong nhóm đến uống trà mừng tôi hết bệnh ... Tuy trong mình thấy nhẹ nhàng nhưng tôi cảm thấy còn yếu lắm bởi ăn cháo suốt gần cả tháng ...
                          Tôi chuyển qua nhiều trại tù, riêng trại Mỹ Phước Tây tôi ở gần 12 tháng .Một thời gian rất ngắn so với tuổi tù của tôi, nhưng tôi nhớ trại nầy nhiều nhất. Mỹ Phước Tây trong lòng tôi vẫn là ... địa ngục trần gian , bởi chế độ lao động quá nặng nề và cai tù đánh đập tù quá tàn nhẫn ..
                          Anh Thiếu Tá Huề kiệt sức chết ở đây , anh Đại úy Lành ( giáo phái Hoà hảo ) bị tụi cán bộ dàn cảnh bắn chết phía sau trại , anh Trung Sĩ Gương cảnh sát bị võ trang nhắm thử súng bắn chết trong lúc lao động đào kinh.Còn biết bao nhiêu anh em tù bị chết vì mìn bẫy trong lúc cuốc đất trồng hoa màu ... Bao nhiêu anh em vượt trai bị bắt lại bị đánh mềm như bột ,thất khiếu đều ra máu còn bị trói ké bỏ nằm dưới cột cờ , bắt anh em tù đều phải lên coi ...Ba người bạn cùng nhóm : Sàng , Bi và Nguyễn Thanh Quang ( trung úy Không Quân ) và Đại úy Triệu tỉnh đoàn trưởng Tỉnh đoàn xây dựng nông thôn Gò Công vượt thoát được.
                          Bây giờ nơi đất tạm dung, mỗi khi tan ca về gặp phải trời mưa, lòng tôi lại bùi ngùi nhớ tới những cơn mưa Đồng Tháp. Trầm qua Mỹ theo diện HO 15 bây giờ ở đâu, Đại úy Triệu vượt thoát tới bến bờ tự do hình như đã qua đời vì bệnh. Còn Quang, Sàng ,Bi bây giờ các bạn ở đâu ... Trái đất hy vọng vẫn tròn, có như vậy mình mới mong có cơ duyên gặp lại những người bạn đồng cảnh ngộ ngày xưa.
                          Nếu không có ngày tháng Tư đen, tôi sẽ không bao giờ hiểu được sự thâm ác của người Cộng Sản. Một ngày nào đó tôi sẽ về thăm lại quê hương , tôi sẽ tìm thăm lại con lộ 7B mà tôi đã bước chân đi qua. Một đoạn đường đầy máu và nước mắt,, người chết đi cũng chưa hiểu tại sao phải bỏ quân đoàn 2. Xác người chết bị đạn hất tung hai ba lần như trong một bản nhạc của người họ Trịnh đã viết. Tôi sẽ thăm lại Đồng Tháp Mười,thăm những con kênh xẻ ngang dọc như bàn cờ mà ở đó ngày ngày tôi đều bị đĩa hút máu và phải lao động khổ sai, tai phải luôn nghe những lời chửi mắng của bọn chịu trách, cai tù.
                          Tôi có thực hiện được điều mà lòng tôi mong muốn ? Tôi phải tin tưởng cờ vàng rồi sẽ bay trên suốt dải đất quê hương ...vào một ngày không xa lắm

                          Viết tại Kỳ Đà Động, Quí Xuân 2003

                          THỦY LAN VY


                          Con đi dưới lá cờ sao máu
                          Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

                          Comment

                          • #14

                            ĐÊM TRONG TÙ
                            *





                            Thượng sỹ Từ, cán bộ trực trại, dùng thanh sắt dài cài qua khoen cửa, bóp ổ khóa đánh cắt, quay bước đi vội ra sân, tay cầm xâu chìa khóa có lẽ cũng nặng gần cả kí lô, bước đi hướng về buồng bên cạnh để điểm danh tiếp, công việc mà bọn Công An trực trại vẫn thường làm hàng sáng hàng chiều, người trưởng buồng cũng vẫn thường báo cáo một câu rất quen thuộc :
                            -Báo cáo cán bộ, buồng 3 tổng số 86, tại hàng 80, 5 bệnh nằm tại chỗ, 1 nằm bệnh xá....
                            Tên cán bộ rão bước nhanh, đếm nhanh, rồi rẽ vào buồng đếm số người bệnh...
                            Đó là sinh hoạt bình thường, trừ những khi có chỉ thị gì đặc biệt thì hắn đứng lại nói vài lời, thường thì cũng không ngoài những lời nhắc nhở thường xuyên, về nội quy kỷ luật của trại, như cấm nấu nướng trong buồng, giữ trật tự yên lặng, cấm ca hát nhạc vàng ....
                            Sau một ngày lao động mệt mỏi, anh em chung buồng mới được tự do sinh hoạt với nhau, cũng sòng xì phé ( đã có máu cờ bạc thì ở đâu cũng đánh bài được ) vài bàn cờ tướng, tụ năm tụ ba nghe kể chuyện bên lon gô trà nóng, một vài rạp chiếu phim, người kể chuyện được gọi là máy chiếu, người kể hay thì được gọi là máy của bộ (Bộ Nội Vụ, thỉnh thoảng trong trại có những buổi chiếu phim cho tù xem, đoàn chiếu phim đến từ bộ nội vụ, từ tỉnh, có khi từ huyện ) tùy khả năng kể mà xuống thấp dần đến cấp miền, tỉnh, xã ... Trong buồng 3, kể chuyện cở như Phạm Thái, Võ văn Ca, Nguyễn Phát Lộc ...là thuộc về máy bộ, vì tình tiết được người kể nhớ rất chi li, người nghe thường ủng hộ cho bàn trà người kể từ bánh kẹo, đường tán đến thuốc lào ...

                            Trời tháng mười, Hà Tây đã bắt đầu vào thu, tuy trời vẫn còn nắng gay gắt, nhưng bầu trời thì thấp hơn, có nhiều đám mây luân chuyển trên bầu trời hơn, không khí cũng bớt oi nồng hơn những tháng hè gay gắt của trời tháng sáu tháng bảy.
                            Trại tù Hà Tây có ba đội rau xanh, cung cấp rau màu cho bửa ăn của tù, kể cả trên khung ( cơ quan ). Một đội rau trẻ, nằm dãy bên phải sân, do Lê Phú Cường( khoá 1 Thẩm sát viên) làm đội trưởng, cấp bậc trung bình của anh em trong đội từ trung úy đến đại úy, hiện trường canh tác ở ngoài cổng trại, đây là đội rau chánh của trại, tù viên phải lao động vất vả hơn các đội rau khác. Đội rau sồn sồn do anh Hải ( Trưởng E vùng 2 ) làm đội trưởng, cấp bậc tù viên hổn tạp, đa số là nhân viên phủ đặc ủy trung ương tình báo, và một số sĩ quan cao cấp của ngành Cảnh Sát, như các trưởng D , E , F, một số sĩ quan cấp tá, và một vài sĩ quan cấp úy trẻ, mới bổ sung từ đội chăn nuôi vừa giải thể. Một đội rau...già của Phạm Thái ( Quốc vụ Khanh) làm đội trưởng, tù viên đa phần là đảng phái quốc gia, trưởng ty hành chánh lẫn với một vài sỹ quan cấp tá và úy. Đội rau sồn và đội rau già ở chung buồng bên dãy trái sân trại, tương đối sống hàng ngày có nề nếp hơn các đội tù trẻ...
                            Cứ mỗi năm vào những ngày cuối thu, trời bắt đầu có nhiều áng mây thấp, thỉnh thoảng có những cơn gió mát người là các đội rau của trại bắt đầu chuẩn bị vỡ đất, trồng rau màu mùa đông như su hào, cải bắp, tần ô, riêng đội ba còn có thêm mục dọn ao trồng rau cần nước ...
                            Rau ăn chính của trại, bao giờ cũng là rau muống, cứ vào thu là rau muống bắt đầu cỗi, đất phải cuốc trở lên để trồng cho kịp vụ, nên việc tìm rau ăn độn của tù, trở nên khó khăn, chỉ còn một vài loại rau hoang như dền, diệu, chóc ...tay nào lanh, dạn thì lén bứt rau muống giống, tuy cọng nhỏ mà ăn rất ngọt .Công việc trở đất trồng su hào, không phải là chuyện đơn giản, mà phải tốn rất nhiều công sức và mồ hôi, ngoài hiện trường, mỗi tù viên là chủ một lô đất, phải chịu trách nhiệm về cỏ rả, tưới tắm, phân bón..., thành phần già yếu thì làm những việc linh tinh khác, như tăng phái cho chủ vườn khi có nhu cầu, phụ nhổ cỏ tát nước, xới đất .... Đất mùa nắng, cứng như đá, được cuốc lên từng tảng to, lật ngược mặt, dùng vồ đập nhuyển ra trang bằng mặt, dùng cuốc chim hay dầm xới đào hốc có thể tích do cán bộ quản giáo ấn định, khoảng cách phải đều nhau, phần sau cùng, là gánh phân từ các ụ ủ phân xanh, gồm cỏ lá hoà trộn với phân người, kít người được các anh tù tự giác bên hình sự, gánh ra từ các buồng xí tù, đổ vào ao nhỏ giữa hiện trường, lúc mới ra đội rau, chưa quen mùi, tôi phải khạc nhổ đến khô cổ, rồi sau đó, đâu cũng vào đấy, ngày nào không được ngửi kít là ngày đó không ăn được ( vì bệnh mới được ở nhà, sau khi được tù y tế trại xác nhận )
                            Bởi công việc nhiêu khê, tôi thì ốm tong, lại cao như cây tre miểu, lưng lại dài quá tầm cở; nên rất ngán ngẩm trong việc lao động hàng ngày... lúc mới chuyển đến trại Hà Tây, tôi được biên chế vào đội gạch, quản giáo là Thượng Úy Đào Thường, vốn gốc người Bình Định, dù sao cũng gốc người miền Nam, nên ông cũng có vẻ cởi mở chút đỉnh, tôi ngồi xếp gạch vô lò, ông thường vuốt lưng nói giỡn với tôi :
                            - Lưng anh Mỏng dài hết biết, lười lắm đấy !
                            Mà quả thật
                            vậy, ông bà mình vẫn thường nói : Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, thì tôi chỉ thể hiện đúng lời cổ nhân thôi, chứ nào có lười gì đâu...( biết vậy nhưng mà trong lòng tôi vẫn nhớ đến 2 câu ...Dài lưng đã có võng đào- Tốn vải đã có cẩm bào vua ban ...)
                            Vốn tật lười, với lại sức yếu, nên khi vào phòng xong là tôi nằm dài ra, khoẻ thì nói chuyện rỉ rả với hai anh nằm bên cạnh, một anh khoá 10 võ bị, làm trưởng một phòng ở toà tổng trấn Sài Gòn, một anh khoá 16 Thủ Đức, nhân viên phủ đặc ủy trung ương tình báo, thuộc tình báo quốc ngoại, đang công tác tại Pháp, được chiếu chỉ triệu về ....để đi tù . Không nói chuyện thì tôi đọc sách, sách của thư viện trại cho mượn, nhiều anh chê sách CS không thèm đọc, riêng tôi thì quyển nào tôi cũng đọc, vừa giết thời giờ vừa để tìm hiểu CS, phải đọc sách CS viết thì mới biết CS nghĩ gì, và xem họ nói dóc tới cở nào ...
                            Đêm nay cuối tuần, trong phòng ồn ào hẳn lên, vì ngày chủ nhật được nghỉ phè cánh nhạn, tôi nằm yên một mình nhìn đỉnh mùng giăng sẳn vén lên; năm nầy đã là năm thứ sáu rồi, tôi mơ màng thả hồn về Gò Công, nơi mẹ và anh chị tôi đang sinh sống, tôi lơ mơ hình dung ra cảnh sống của gia đình tôi, Mẹ tôi thì lớn tuổi, chị thứ hai tôi lại yếu đuối, chỉ có một người chị kế tôi là còn đang dạy học, có nghĩa còn làm ra tiền .Ba tôi, tạng người mạnh khỏe, nhưng chỉ một cơn bệnh tầm thường mà vì không có thuốc men, nên phải ra đi từ năm 79. Gia đình tôi ở Gò Công, sẽ phải sống ra sao bằng đồng lương khiêm nhượng của một người đi dạy học, trong chế độ bao cấp của Cộng Sản, lại phải gửi quà thăm nuôi tôi nữa, tôi bí rị không hiểu nhà tôi sống ra sao trong mấy năm nay, nhín nhút nghèo khó tới cỡ nào...
                            Ngày xe lăn bánh từ giã Gò Công, tôi vẫn còn nhớ rất rõ, như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua, trước cổng trường trung học Bán Công Gò Công, năm chiếc xe đò liên tỉnh đậu xếp hàng dọc, trời Gò Công sáng ngày 26-6 có hơi lành lạnh, do ảnh hưởng trận mưa gần như suốt đêm hôm trước....Toàn thể cấp Trung Úy của Tỉnh Gò Công, chia nhau từng phòng học để nghỉ qua đêm, kể cả 3 nữ Trung Úy .
                            Chúng tôi được lệnh mang hành trang cá nhân lên xe, tôi lên chiếc xe thứ nhì, ngồi băng nhì sát bìa cửa trái, xe đậu cạnh nhà Thiếu Tá Ngọc, tôi còn nhớ, cảm giác của tôi lúc đó thật mơ hồ, người anh thứ ba, cấp Đại Úy đã lên đường ngày hôm trước, gia đình tôi rồi đây sẽ ra sao khi hai người con trai đều phải rời khỏi nhà, để bị đưa đến một nơi nào đó ...thật mịt mờ. Bạn bè trong xe chắc đều có những mối lo riêng; tôi chợt thấy mẹ tôi hớt hãi từ hướng cầu Tây Ban Nha đi vội vàng hướng tới đoàn xe, tay người xách một giỏ khá nặng, tôi vẫy tay ra hiệu khi mẹ đến gần, trông mẹ tội lắm, mẹ nói với tôi bằng một giọng thất thần :
                            - Xe chỡ đi đâu vậy con ?
                            Làm sao tôi biết được tôi sẽ đi về đâu, để trả lời cho mẹ tôi,bây giờ là xe chuyển tù, chứ đâu phải xe chỡ đi hành quân của ngày xưa, tôi an ủi gì được cho mẹ tôi trong cảnh nầy đây ...!
                            - Không biết nữa mẹ à, người ta sao mình vậy, mẹ đừng quá lo lắng, con sẽ cố gắng liên lạc cho mẹ biết tin con.
                            Mẹ vội vã trao cho tôi giỏ xách, trong lúc xe cũng từ từ chuyển bánh, đôi mắt của mẹ tôi ửng đỏ, hình ảnh đôi mắt nầy, đã ám ảnh tôi trong suốt những năm dài trong lao tù CS, tôi hiểu Mẹ tôi đau lòng lắm, đứa con trai út mà mẹ thương mẹ quý,nay bị bắt đưa đi trước mặt mẹ, con mẹ rồi đây sẽ bị đưa đi đâu, rồi sẽ phải ra sao, tại sao làm Mẹ, mà Mẹ lại không có quyền gì với con của mình vậy, đứa con mà Mẹ đã đẻ ra và nuôi nấng nên người, bây giờ bị người ta bắt chỡ đi, đoạn lìa tình mẫu tử ...
                            Xe chạy chầm chậm, tôi không dám ngoái nhìn lại Mẹ tôi ...xe ngang qua giáo đường, qua trường Trung Học Gò Công, qua dinh Tỉnh Trưởng, quẹo trái ngang Ty ANQĐ, Quân Cảnh Tư Pháp, quẹo phải ngang qua trường Kỷ Thuật, qua Ty Thông Tin, ngang qua mặt chợ, các cửa hàng rất quen thuộc từ ngày tôi còn tấm bé, đây là Cẩm Nguyên, Vưu Sưu Ký, Kim Lang, Vạn Lai An, Vạn Sanh, nhà thuốc tây Trương Thị Thỉ, Công Thành, Hiệp Lợi...bên hông cửa bên phải xe, có nhiều ổ bánh mì được những người bán thảy vào, món quà đơn sơ mà đầy thâm tình của người Gò Công, dành cho những người không bảo vệ được Gò Công ...
                            Thế rồi ngoài dự trù của tất cả mọi người, xe rẽ vào quận Hoà Đồng, dừng lại trước trại gia binh bên nầy cầu sắt, trước cổng trại có thượng bảng " Trại cải tạo sĩ quan nguỵ quân và nguỵ quyền tỉnh Gò Công "
                            Cái mừng tiên khởi là dù sao, trại cũng gần nhà, còn nằm trong phạm vi tỉnh ...Xuống xe xếp hàng đôi bước vào cổng trại, tôi thấy các đàn anh đứng đầy trong sân, đang chỉ chỏ chúng tôi cười nói, thì ra đó là các sĩ quan cấp Tá, cấp Đại Úy, đã trình diện trước tôi mấy ngày, dĩ nhiên cũng có mặt người anh thứ ba của tôi .
                            Khoảng 20 ngưòi chia nhau một căn trại gia binh cũ, mỗi người cũng được hơn 5 tấc ngang, sau khi trải chiều trên nền đất, tạm ổn định chỗ nằm, tôi xem qua giỏ xách của mẹ, một chai đựng đầy nước uống bằng nhựa, một ly nhựa màu xanh, ba nắm cơm vắt, mấy gói muối đậu, cá khô ...
                            Tôi thần người ra, sao lại là 3 vắt cơm, từ bé tôi chưa thấy nhà tôi nắm cơm bao giờ, tôi chỉ thường thấy 3 vắt cơm để trước quan tài người quá cố, thêm mấy quả trứng và tôm cua luộc ( tam sên ).Tôi bẻ cơm ăn thử, cơm tán nhuyển quyện dính nhau, mỗi trái cơm bằng quả cam to, cũng phải gần nửa kí lô, lạ miệng ăn thấy ngon lắm ...
                            -Ê, Mỏng, dậy lên uống trà nói dóc nghe chơi mậy.
                            Đang trong giòng hồi ức, tôi bị thằng Giai kéo giò dựng dậy .
                            -Mầy nằm hoài rũ người chết, lên uống trà nói dóc cho vui, nằm đó mà nhớ ghệ hoài ...
                            Thằng Giai, Thiếu Úy ANQĐ, học sau tôi mấy lớp, cùng với tôi từ đội chăn nuôi, bổ sung về đội rau mấy tháng nay, nó nằm từng trên ngay chỗ tôi nằm. Tôi uể oải ngồi dậy trèo lên thang gác, thì thấy có mặt của Bích Lâu ( ANQĐ, Hoà Tân) Cò Củ ( Ty CS Mỹ Tho )Thành Đỏ ( ANQĐ Long An )Kiệt Cá Ngáo ( Chuẩn úy tù binh Phước Long )...
                            Tất cả quây quần trên hai chiếu của Giai và Lâu, một bếp dầu 8 tiêm đang đun một lon gô nước, mấy lon nhôm thịt họp, dùng làm ly uống nước, có thuốc lào hiệu ba số 8, Tiên Lãng, có kẹo đậu phọng, đường tán ...
                            Lâu và Giai cùng quê và cùng trường Gò Công với tôi, tôi học khoá 5, Lâu khoá 6, Giai khoá 8, Cò Củ là trưởng cuộc quê ở Long An, Thành Đỏ cũng là tù trước 75 bị bắt ở Cai Lậy ...tất cả cùng sinh hoạt chung từ đội chăn nuôi( trong tù thường chia ra từng nhóm ăn cơm chung với nhau, dĩ nhiên vẫn có người ăn cá thể )
                            - Ê Mỏng, hôm nay mầy kể chuyện Sơn Vương nghe chơi Mỏng...
                            Thằng Lâu vừa kéo xong điếu thuốc lào vừa lên tiếng
                            -Kể thì kể, mầy dân Giồng Nâu ( Hoà Nghị, An Hoà) mà biểu tao kể chuyện Sơn Vương, mầy ở Hòa Nghị, quê hương của Sơn Vương, mầy phải rành hơn tao chứ .
                            Tôi vừa cầm lon nước trà, xin thêm chút nước trắng, vì trà đậm quá, vừa trả lời Bích Lâu .
                            Thằng Mỏng nó ở ngành CTCT, nó nói dóc có tiếng, thằng Giai vừa nhai kẹo vừa cười nói...
                            -Thằng Giai mầy phá máy hoài, để nó nói dóc nghe chơi ...
                            Tiếng thằng Lâu góp ý, tôi biết thằng Lâu nó rất nhớ nhà, nó là con một, được cưng chiều từ nhỏ, với lại thêm một vợ mấy con ...ghệ,bởi vậy nó rất sợ nằm một mình, nên nó thích uống trà, nghe nói dóc để giết thì giờ .
                            Tôi thư thả đốp một miếng kẹo, nhai nghe dòn khứu, chiêu một ngụm trà, thong thả cầm " ba dô ca ", ngắt một bi thuốc lào Tiên Lãng, đóm cật tre bắt lửa sáng rực, tôi kéo một hơi thuốc dài, ém khói, chiêu một ngụm nước trà ...
                            Ngày còn bé, tôi vẫn thường nghe Ba tôi kể chuyện về Sơn Vương, tôi cũng có dịp đọc truyện" Côn Sơn khói lửa " lúc còn học tiểu học, đến trại Hà Tây được hơn 5 năm thì chú Chín Khương, nguyên phó đảo Côn Sơn, từ Hỏa Lò chuyển về Hà Tây, Chú nằm cách tôi một chiếu, nên tôi có dịp hỏi nhiều chuyện về Côn Sơn, Chú Chín là thư ký tại đảo Côn Sơn từ thời Tây, Ông đã từng chứng kiến cảnh xử bắn Võ Thị Sáu ...Từng đêm từng đêm, tôi khai thác dần cái vốn sống Côn Đảo nằm cạnh bên , từ chuyện tù của nhóm chính trị Ca - ra - ven, đến những tay một thời lừng lẫy của đệ nhất Cộng Hòa như Anh Tư Dư, trưởng ty CS Huế, Thiếu Tá Đặng Sĩ,, Thái Đen ...cho đến Sơn Vương, Điền Khắc Kim ...., chuyện kho tàng Nguyễn Ánh, chuyện thú lạ tựa như khỉ, thường ăn ếch nhái, chuyện nhân sâm ...một trong những loài sâm quý nhất thế giới có mặt ở Côn Sơn ...
                            Trong buồng có mấy anh thấy tôi rù rì với Chú Chín, cũng thường dừng lại góp ý
                            -Thằng Mỏng nó nói dóc lắm, nó hỏi chú Chín để ghi nhận làm vốn đi nói dóc đó, đừng kể cho nó nghe .
                            Trong buồng tôi, đa số đều là những người lớn tuổi, đều là những người từng giữ những chức vụ quan trong của chế độ Cộng Hòa, nên đối với cấp úy trẻ như tụi tôi, cũng được các chú bác dành cho một cảm tình đặc biệt, các chú các bác đã nhìn chúng tôi như những kẻ thiệt thòi của chế độ .
                            - Ê , nhớ tới đâu kể tới đó nghe, kể nghe cho đã rồi lại bảo tao nói dóc ...
                            Sơn Vương tên thật là Trương văn Thoại, sinh quán tại làng Hòa Nghị, tỉnh Gò Công, Chúa Nguyễn thua liên tục quân Tây Sơn, phải trôi dạt ẩn náo tại Côn Sơn, quân Nguyễn Lữ vẫn không tha, bao vây truy kích rất gắt, biết không thể nào chống lại quân Tây Sơn, nên Nguyễn Vương quyết định chôn dấu kho tàng tại núi Ma Thiên Lãnh, đang đêm lén dùng thuyền nhỏ, nhân trời đang mưa bão cùng vài bộ hạ thân tính ra khơi tìm đất sống .
                            Người chỉ huy của quân Tây Sơn có lẽ là tướng Phạm Bá Điềm, trong một đêm mưa giông tối trời đã để hở vòng vây nên Nguyễn Vương vượt thoát, thuyền ra khơi nhắm hướng đất liền tiến thẳng, khi không còn thấy dấu vết quân Tây Sơn rượt đuổi, Nguyễn Vương chưa kịp mừng, thì một cơn lốc ập tới, thuyền bè tan tác, Nguyễn Vương tưởng phen nầy bị chết vì nước ...biển, thời may có hai con cá Ông cặp hai bên ghe đưa riết vào bờ ...
                            Điểm lại tùy tùng còn lại, đếm chưa giáp mấy đầu ngón tay, Nguyễn Vương được dân địa phương cho biết, đây là Vàm Láng, thuộc Huyện Tân Hòa. Lần vào đất liền, Nguyễn Vương liên lạc được với Võ Tánh, lúc bấy giờ đang trú đóng tại Hòa Nghị .
                            Trong đám thân tính của Nguyễn Vương có Ông tổ của Sơn Vương, Ông nầy giữ được một phụ bản của kho tàng được chôn dấu tại Côn Sơn.
                            Khi Nguyễn Lữ kéo quân vào Gò Công truy kích, Nguyễn Vương phải chạy lên Mỹ Tho, Võ Tánh ở lại Hòa Nghị tiếp tục mộ lính đánh Tây Sơn, Ông tổ của Sơn Vương cũng ở lại với một mục đích riêng. Bản đồ nầy truyền qua tay Ông Nội tới cha của Sơn Vương, nhưng không có ai lên đường tìm kho báu .
                            Thời thuộc Pháp khoảng cuối thập niên 20, người anh ruột của Sơn Vương lên đường tìm kho tàng, cầm theo bức hoạ đồ, nhưng rồi người đi như sương như gió, ngày ra đi thì thấy mà tin tức về thì không .
                            Trương văn Thoại là một thanh niên có nhiều tham vọng, lại nhiều bản lãnh, học võ chân truyền từ ông nội và cha, học gồng từ các sư chống Pháp ở Bà Rịa, Vũng Tàu, lại biết thuật thôi miên, tính điềm đạm, cương nghị, có theo học chương trình trung học Pháp, nhưng không rõ ông đổ đạc bằng cấp gì, Ông có khiếu viết truyện, làm thơ ...
                            Với khả năng đó, ông quyết định nối gót người anh, dù không còn bản họa đồ, nhưng trong ký ức ông vẫn còn nhớ, vì ông có dịp xem qua nhiều lần .
                            Lên Sài Gòn, Ông sống bằng nghề viết sách và bán sách, thật ra đây là nghề tay trái, nghề chánh là ...cướp. Chuyên cướp nhà giàu, trọc phú ...
                            - Mầy kể chi tiết một vụ cướp nghe chơi, chứ mầy nói khơi khơi hoài vậy Mỏng ...Lại tiếng của thằng Giai ...
                            - Dễ thôi, tụi mầy có nghe tên Nguyễn Bình của Việt Minh không?, để tao kể vụ cướp điển hình của Sơn Vương cho nghe.
                            Nguyễn Phương Thảo ( sau nầy là Tướng Nguyễn Bình ) từ Bắc vào Nam có kết bạn với Sơn Vương, cả hai tính tình cùng tầng số, nên rất hạp nhau, thuê một căn gác trên tiệm may Nam Chấn Hưng làm nơi tá túc, ở đường lòi phèo ( Lefebre) cạnh ngả tư Chaigneau. Một buổi sáng, Sơn Vương mời Phương Thảo đi xem anh đánh cướp ...
                            Sơn Vương với tính hào phóng, thu nạp được nhiều em út thuộc đủ mọi giới, xuất quân lần nầy, Sơn Vương được Năm Đường là tài xế của một Ông chủ hảng xuất nhập cảng, thừa lúc chủ về Pháp thăm nhà, Năm Đường lấy xe chủ chỡ Sơn Vương đi, chiếc xe hiệu Clément Bayard bóng loáng đời mới .
                            Từ Bắc vào Nam, lần đầu tiên, Phương Thảo được ngồi trong một xe hơi sang trọng bóng loáng, có tài xế riêng cẩn thận, vốn là người có tâm hồn của bốn phương, nên Thảo chỉ nhìn mà không hỏi chi cả.
                            Sơn Vương mời cả ba đi ăn sáng tại một tửu lầu sang trọng, của người Tàu làm chủ, trên đại lộ De la Somme.Tại đây Phương Thảo được Sơn Vương mời ăn hủ tiếu đặc biệt, xiếu mại gan heo, há cẩu Sóc Trăng ...uống cà phê sữa đá, hút thuốc con mèo đen họp thiếc tròn, ăn hút no đủ rồi, cả ba lên xe nhắm hướng Tân Sơn Nhất trực chỉ .
                            - Anh Năm có nhớ thay bảng số xe chưa vậy anh?
                            Sơn Vương vừa phả khói thuốc vừa hỏi anh Năm Đường tài xế .
                            - Khỏi lo mà Anh Hai .
                            Tới một cầu sắt nhỏ, bề ngang chỉ vừa hai xe tránh nhau, Năm Đường đậu xe giữa đường, xuống xe, mở nắp thùng xe ra làm như xe đang hỏng máy, Sơn Vương cũng xuống xe, xem đồng hồ
                            - Còn 15 phút nửa, đủ thì giờ hút một điếu thuốc .
                            Nguyễn Phương Thảo rất ngạc nhiên và nôn nóng, Anh muốn chứng kiến một pha cướp do một tướng cướp khét tiếng Sài Gòn dàn dựng, Thảo hỏi:
                            -Vụ nầy chắc ăn không Anh Hai, trông anh bình tỉnh quá vậy, sao không thấy anh mang súng mang dao theo ?
                            Sơn Vương nghe hỏi liền cười ha hả, tay móc cây súng giả lận trong người ra đưa cho Thảo xem :
                            -Súng đây nè, súng giả mà đánh súng thiệt mới đã chứ !
                            Thực ra Sơn Vương đã điều nghiên rất kỷ, những sáng ngồi bán sách trên lề đường Sài Gòn Ông đã theo dõi rất kỷ các con mồi của Ông,Ông biết tên giám đốc đồn điền cao su Minot, sáng thứ bảy nào cũng tới nhà băng rút tiền để đem lên sở phát lương cho công nhân, ông biết hắn đi xe gì , theo lộ trình nào ...
                            Sơn Vương hút tàn điếu thuốc thì từ xa một chiếc xe PEUGOET đang chạy tớ,i tung bụi đỏ mịt mờ phía sau . Thấy đường bị nghẻn ở đầu cầu, thằng Tây rà thắng quát to : Nép vô lề cho người ta qua cầu !
                            Năm Đường vờ lăng xăng sửa xe còn Sơn Vương thì thong thả trả lời thằng Tây :
                            -Xe pane, chúng tôi đang sửa, nếu ông muốn qua cầu thì xuống xe phụ đẩy với chúng tôi .
                            Thằng Tây sừng sộ :
                            - Tao mà đi đẩy xe cho tụi bây à?! Hắn nóng nảy mở cửa xe bước xuống, vẻ mắt hằm hằm đầy bực tức
                            Sơn Vương lanh bước chận ngay trước mặt thằng Tây :
                            - Mầy là thằng nào mà phách lối quá vậy mậy.Thằng Tây đang bất ngờ trước thái độ ngang tàng của Sơn Vương , thì Sơn Vương đã sử dụng bộ pháp " lăng ba vi bộ " tiến sát người thằng Tây, tay rút súng giả chỉa vào ngực hét to : -Dơ tay lên !!
                            Rất bất ngờ và theo phản ứng tự nhiên, thằng Tây dơ hai tay lên trời, một lần nữa, Sơn Vương sử dụng " Cầm nả thủ " chụp cây súng sáu của thằng Tây bỏ trong túi quần, đồng thời sử dụng " di ảnh kỳ hình " phóng lại cửa xe chụp luôn va li bạc thảy cho Thảo giữ .
                            Năm Đường chỉ chờ cho Sơn Vương và Phương Thảo lọt vào trong xe là nhấn ga ...vọt.
                            Sơn Vương ném khẩu súng giả qua cửa sổ xe và nói lớn :
                            - Cho mượn đở tháng lương nghe Ông Gaillard, giữ cây súng cây làm kỷ niệm .
                            Sau gần cả phút mới tỉnh hồn, Thằng Tây lên xe đuổi theo nhưng phía trước chỉ là một đám bụi mờ ...
                            - Thằng Mỏng chắc lúc đó đứng đâu đó nên thấy được mấy thế võ của Sơn Vương, mà sao mấy thế võ nầy tao nghe tên sao giống thế võ trong truyện của Kim Dung và Lệnh Xé Xác của Lã Phi Khanh quá vậy .
                            Thằng Giai vừa nhấp trà vừa cười vừa nói
                            - Kệ nó mà, sao mầy cứ phá máy hoài vậy Giai ...Thằng Lâu lầu bầu ...
                            - Rồi sao nữa Mỏng, vụ nầy trót lọt không mậy ?
                            -Ờ, xe chỡ Sơn Vương chạy theo hướng Bà Quẹo, tới chợ thì Sơn Vương và Phương Thảo xuống xe, bao một cổ xe thổ mộ về Sài Gòn, Năm Đường lái xe về nhà chủ, thay lại bảng số, chùi rửa xe cẩn thận. Sơn Vương trích một số tiền lớn cho Phương Thảo, mở một tiệm giặt ủi ở Da kao làm phương tiện sinh sống ...
                            Tụi mầy phải biết, thời đó xe hơi ở Sài Gòn quá ít, sở mật thám cho điều tra từng chiếc xe một, hiệu nầy chưa tới 10 chiếc ở Viêt Nam, Năm Đường thấy khó thoát, nên tự ra đầu thú, một tháng sau, Sơn Vương bị còng giải về sở mật thám.
                            Bắt được Sơn Vương, cò Ba Zin điện cho tên Gaillard đến bót Ca ti na ngay :
                            - Ông treo giải thưởng 5000 đồng cho ai bắt được tên cướp, bây giờ tôi giao tên cướp cho Ông, muốn đánh đập làm gì thì làm cho đã nư đi, nói xong Ba Zin bỏ ra ngoài để Gaillard ở lại toàn quyền với kẻ cướp . Thằng Tây chụp cây roi kẹt bò, trừng mắt nghiến răng nhìn Sơn Vương
                            - Mầy cướp của tao 50.000 đồng, tao tính rẻ, 50 roi thôi, mầy sẳn sàng chưa .
                            Sơn Vương bình thản: - Xin mời Ông !
                            Ngọn roi kẹt bò chạm vào người Sơn Vương nghe đánh trót, chiếc áo sơ mi bằng lụa rách ngọt một đường, năm ngọn roi liên tiếp ghi năm vết đỏ thẫm nổi vòng trên lưng Sơn Vương. Sơn Vương vẫn đứng vững vàng, mặt không đổi sắc. Thằng Tây thở hổn hển, vừa tức vừa sợ, trên đời có lẽ nó mới gặp một người như Sơn Vương. Hắn quăng roi:
                            -Tao cho mầy thiếu số còn lại .
                            Sơn Vương cười nói :
                            -Tôi quen sòng phẳng, ông cứ đánh tiếp.
                            Thằng Tây khoát tay :
                            - Mầy ngon hơn bọn tao rồi, tao bỏ số còn lại không đánh mầy nữa đâu .
                            Càng lạ hơn, Gaillard bỏ ra ngoài tìm Bazin nói :
                            -Xong rồi tôi đề nghị Ông thả tên ăn cướp đó đi ,
                            Bazin rất đổi ngạc nhiên :
                            -Sao lạ vậy ? thả à ?!
                            Thằng Tây rút thuốc ra châm lửa ;
                            - Dân đảo Corse chúng tôi có câu : Anh hùng phải phục anh hùng, Ông muốn xử nó ra sao thì xử, còn tôi coi như huề, tôi cám ơn Ông .
                            Sau buổi đầu quá đổi ngạc nhiên, Bazin cho sưu tra lại lý lịch của Gaillard thì được biết, Gaillard cùng với một người em là hai tên cướp khét tiếng, có nhiều tiền án, đã từng nhiều lần vượt ngục khỏi nhà tù khét tiếng của Pháp ở Nam Mỹ : La Cayenne, vụ cướp gần nhất là đánh cướp một xe chỡ tiền của nhà băng Mỹ, vượt thoát với số tiền nầy, René Gaillard mua cổ phần của hảng Terres Rouges và trở thành giám đốc đồn điền cao su Minot.
                            Ra toà, Sơn Vương lảnh án 15 năm, lưu đày Côn Đảo .
                            - Xin quý vị giữ im lặng, chương trình văn nghệ cuối tuần của đội rau già sẽ bắt đầu ...Và để mở đầu chương trình, chúng tôi xin giới thiệu một giọng ca chưa lên mà sắp xuống, đó là anh Khưu Vĩnh Biệt, ủa ủa xin lỗi, Khưu Vĩnh Thám ( Đại đội trưởng biệt lập Sóc Trăng), sẽ mở đầu chương trình bằng ca khúc " Tình Thư của Lính ", và cũng xin giới thiệu ban nhạc đêm nay ; Phong cầm, anh Vũ Thành An , Guitar , Anh Khiêm, Violon Anh Định, muỗng Anh Niệm...Xin quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn...
                            Giọng của Bình thầy chùa, MC đêm nay, đang giới thiệu chương trình văn nghệ cuối tuần .
                            Tôi kéo một bi thuốc lào ..
                            - Thôi tuần sau kể tiếp, xuống nằm nghe nhạc mấy cha, kể cho nghe mà thằng Giai cứ chọc quê tao hoài
                            Thằng Giai cười hề hề :
                            - Thằng Mỏng nầy câu giờ hết biết, nó tính uống vài chục bình trà móc câu mới kể hết chuyện Sơn Vương .
                            Đêm cuối tuần trong tù vẫn thường xuyên lặp lại, cũng trà lá, kể chuyện, nhạc sống ...chỉ trừ những đêm cuối tuần, sau khi có đợt thả, đêm thường rất dài, hầu như mọi người đều vô mùng sớm; trong buồng thỉnh thoảng còn nghe âm thanh tiếng hút thuốc lào, bên cạnh tiếng hút thuốc lào, nếu tai ai còn tỏ sẽ nghe rất nhiều tiếng thở dài ...não nuột.Tháng ngày của một người tù không bản án, là những tháng ngày bi đát nhất trong cuộc sống trần gian...!

                            THỦY LAN VY
                            ( Viết Tại Kỳ Đà Động - july 1999 )
                            Con đi dưới lá cờ sao máu
                            Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

                            Comment

                            • #15

                              Tôi Học Trường Nam Tiểu Học Gò Công
                              *


                              _ Trân Trọng cám ơn quý Thầy Cô Trường Nam tiểu học Gò Công đã tận tụy dạy dỗ tôi suốt thời thơ ấu đã để lại trong tôi biết bao niềm quý trọng nhớ ơn
                              - Trân trọng cám ơn Cha Mẹ đã tạo cho tôi phương tiện đến trường và đã trang bị cho tôi một bộ nhớ khá tốt để giờ đây sau hơn 8 năm trong lao tù Cộng Sản và 9 năm sống trong xả hội Cộng Sản tôi còn nhớ được khá rõ những sự việc thời tiểu học
                              …….


                              Lứa tuổi sinh trong thập niên 40 muốn viết một bài tương đối đầy đủ về Trường Nam Tiểu Học Gò Công là một việc làm thật khó, vì Trường Nam được hình thành tại tỉnh nhà vào một thời gian mà hầu như ít người được rõ biết. Dân cư ngụ tại đây đa phần đều phải qua bậc tiểu học tại trường nầy, nhưng ít ai chịu bỏ thì giờ để tìm hiểu về lịch sử và quá trình hình thành của ngôi trường lâu đời nhất của tỉnh nhà.
                              Tôi sinh vào thời hậu bán thập niên 40, thời mà lịch sử đất nước được ghi nhận là có nhiều biến loạn nhất, từ khoảng 45 đến 50 tuy là một khoảng thời gian ngắn nhưng lại có biết bao cảnh vật đổi sao dời ...Từ một quốc gia thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập đã phải trải qua một cuộc chiến tranh đẫm máu để rồi toàn dân phải ngậm ngùi nhìn dòng sông Bến Hải, một lần nữa nằm chung trang nhục sử với Sông Gianh ...
                              Người Pháp đặt nền đô hộ cả trăm năm, người Nhật lăm le mộng bá chủ Á Châu .... đều cuốn gói ra đi... , người Mỹ đến, tuổi trẻ thời bấy giờ sống trong một xã hội đầy bất trắc, tại thị thành, người dân luôn phải trực diện với nạn bè phái của chính quyền, sự lạm quyền hống hách của mật vụ ,công an chìm, tại thôn quê,nông dân xác xơ trước đám du kích đã tạo uy quyền bằng ...máu, những vụ khủng bố giết người man rợ của bọn tay say tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt đã ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt quần chúng nông thôn ...Người học sinh ở làng quê đã phải đi học trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn, đa số dân chúng sống về nghề nông mà mỗi năm chỉ làm có một vụ lúa, lại phải thuê ruộng của các điền chủ, để rồi cuối vụ thu hoạch lúa đủ ăn trong năm đã là may lắm rồi, thức ăn quanh năm là con tôm, con cá, con ếch, con còng, cây rau cọng cỏ trong vùng, đi học thì phải đi bộ, có tiền chút đỉnh thì được chiếc xe đạp làm chân, đạp vượt qua năm bảy cây số là chuyện thường, đó là chưa kể ảnh hưởng đến thời tiết nắng mưa, lại nạn đào đường đấp lộ của bọn du kích, ban đêm chúng lùa dân ra đấp đường, ban ngày cũng chính những người dân nầy được lính quốc gia trưng dụng đi phá mô, gỡ chướng ngại vật, người dân nằm trong vòng tay của hai chủ nghĩa, chuyện ăn đạn của hai phía là chuyện thường, tỉnh Gò Công nằm ven biển, đất phèn lại nước mặn, ngoài việc ruộng nương, huê lợi về biển chỉ là phần nhỏ cho một đôi làng sống ven biển, nên để vươn lên, người dân ai cũng muốn cho con em theo học dù hoàn cảnh sống thật nghèo, trước kia cho con ra Hà Nội, sau nầy cho con lên Sài Gòn, Mỹ Tho, quyết lấy bằng cấp để thay đổi cuộc đời ... Và đa phần trì chí đều thành công, chỉ nhìn vào kết quả trong các kỳ thi tuyển vào các đại học, tên tuổi những thí sinh sinh quán tại Gò Công lúc nào cũng có tên trên bảng ở thứ hạng cao .
                              Tôi thực sự bước chân vào trường Nam Tiểu Học vào niên khóa 1952 - 1953 sau khi học 2 năm tại trường Bà Phước ( Sau nầy là trường Thánh Theresa ), Ở trường Bà Phước Tôi học với Bà Sơ Xi (Lucie), và chị Báu là người dạy trực tiếp cho tôi đánh vần. Thời đó tại tỉnh nhà chỉ có mấy trường là Trường Bà ( Tư Thục ) Trường Nhà Đèn,trường Nữ tiểu học, Trường Nam Tiểu Học và trường tư thục Khai Trí ( đệ nhất cấp ) sau đó mới có thêm trường tư thục Thăng Long và Trường Huỳnh Phước .... Học sinh học xong cấp tiểu học phải lên Mỹ Tho hoặc SàiGòn học tiếp.Nếu gia đình có đủ phương tiện.
                              Trường Nhà Đèn ( đây là chi nhánh sơ cấp của trường Nam Tiểu Học và trường Nữ tiểu học, dân dã quen gọi là trường Nhà Đèn vì trường nằm gần cơ sở phát điện của tỉnh ) cách trường Nam tiểu học khoảng trên 50 mét, nằm cách một con lộ với trường nữ công, đây là một trường sơ cấp gồm có hai dãy song song, giữa là một sân hình chữ nhật trải xỉ than đá của xe hủ lô thuộc sở trường tiền Gò Công. Sân không có một cây che mát nào, cũng không có cột cờ, mỗi dãy có năm phòng học, phía tây trường là một con đường đất mang tên A .De Rhodes chạy cặp theo bờ kinh, con đường nầy bắt đầu từ đầu sân trường nữ ( ngã tư đường Gia Long & A. De Rhodes)chạy uốn cong theo bờ sông tới ngã ba nhà đèn thì hết, bên kia con kênh là bến xe đò Gò Công và bến ghe tàu, trên con đường nầy thuở đó không có một nhà dân nào cả, chỉ có một nhà căn tin bằng gổ dành cho học sinh trường Nam tiểu Học ăn buổi cơm trưa ( là những học sinh từ xã đến tỉnh học, vì thời đó lớp học ngày 2 buổi ). Mặt bắc trường là một con lộ trải đá xanh nối dài ngang dinh tỉnh trưởng, mà bên kia đường sát bờ sông là nhà máy phát điện,cạnh đường sau dãy phòng học hướng tây có một cây gạo thật to, dưới gốc cây để hơn mười thùng phuy đựng nhựa tráng đường, cũng là điểm trú mát cho học sinh đi học sớm, mặt nam là một con đường trải đá xanh tôi không còn nhớ tên, đường nầy nối liền đường Gia Long với đường A . De Rhodes, đầu ngã ba đường là nhà ở của vị trưởng ty tiểu học ( lấy một căn đầu của trường nữ công và phần lầu của ty tiểu học ) kế là trường Nữ Công và cuối đường là sân bóng rổ của trường nữ tiểu học ( chỉ có một trụ để ném bóng , xem như chỉ có nửa sân ). Mặt đông của trường tiếp giáp một hàng rào là mặt sau của Ty Ngân Khố và cạnh bên hình như là Ty An ninh quân đội .
                              Dãy hướng Đông bắt đầu là lớp chót ( lớp 5 ) của Thầy Ba Nguyễn văn Thắng, phía sau lớp thầy có một cái trống mà thầy cũng là người sử dụng dùi để nhịp trống báo giờ, thầy xem giờ bằng một cái đồng hồ quả quít nhỏ loại bỏ túi, thầy cũng là trưởng giáo của trường nầy; kế lớp thầy Thắng là lớp chót nữ của Cô Tám Sảnh, lớp tư nữ của cô Nguyễn thị Công, lớp tư nữ của Cô Nghiêm, lớp ba nữ của Cô Sáu Trầu ( Cô ăn trầu không biết từ thuở nào nên mới có hỗn danh nầy ). Dãy hướng Tây, bắt đầu là lớp chót của Cô Ba Hiến, Lớp tư A Thầy Trực( Thầy bị tai nạn gãy tay Cô Sơn dạy thế, Cô Sơn dạy học mấy năm lên xe hoa bỏ nghề dạy về trông coi cơ sở sản xuất nước mắm của chồng là con trai của Bà Năm Sún ở Cầu Đúc dưới )Lớp tư B Cô Đỏ, lớp ba B cô Sáu Nghĩa, Lớp ba A cô Bảy. Dãy phía bên Thầy Thắng nền thấp tráng xi măn, dãy bên bờ kinh nền cao cỡ nửa thước lót gạch tàu ...
                              Tôi được vinh dự học lớp chót với Thầy Ba Nguyễn văn Thắng, học trò thầy đa phần đều viết chữ dễ đọc vì thầy luyện tập viết rất kỹ( Có lẽ vì vậy mà bạn học cùng lớp với tôi không có ai làm Bác Sĩ ).Tôi ngồi bàn thứ ba dãy bên trái cạnh bạn Nguyễn văn Nhất ( Tốt nghiệp Sư Phạm 2 năm SG, dạy trung học Tân Tây , sau 75 từng làm hiệu trưởng Trường Trung Học Tân Tây ), ngoài ra trong lớp còn nhiều bạn dễ nhớ như anh em song sinh Võ Hiếu Nhơn và Võ Hiếu Nghĩa ngồi bàn nhất dãy bên phải ( cả hai đều nằm xuống trong cuộc chiến ) Tôi nhớ rõ hai trò nầy vì hai trò ngồi bàn nhất và cứ vào mỗi buổi chiều hai trò cứ tự nhiên cúi đầu trên tập mà ngủ, Thầy Ba thường đến ký đầu hai trò rồi mọp xuống trước bàn, hai trò bị phá giấc tưởng trò nào chọc nên chửi om lên, trưởng lớp là trò Chà . Ở lớp chót nầy tôi cũng có nhiều kỷ niệm ...lúc mới vào học tôi ngồi bàn áp chót, sau lưng tôi là trò Chà, Chà lớn hơn tôi ít nhất cũng phải 5 tuổi ( thời đó học sinh trong lớp tuổi tác rất chênh nhau, trên nguyên tắc căn cứ trên khai sinh thì chênh nhau 4 tuổi nhưng trong khai sinh có nhiều trò khai giảm mất 3 , 4 tuổi. Trò Chà thường hay bắt nạt tôi, khi thì ký đầu, khi thì xin tiền, thường xuyên hăm he tôi, tôi rất sợ mà không dám mách thầy cũng như cho cha mẹ biết, bởi sợ trò Chà nên tôi thường xuyên trốn học, mỗi tuần ít nhất cũng phải trốn học 3 lần, thường vào lớp học xong, thấy trò Chà hoạnh hẹ, tôi thừa lúc thầy sơ ý là ôm tập dông mất, Thầy thường xuyên báo tin cho nhà tôi biết mỗi khi tôi bỏ lớp, gần cuối năm tôi lên bàn 3 ngồi cạnh trò Nhất mới yên; trong lớp có nhiều trò rất được phụ huynh cưng chiều mà tôi còn nhớ là trò Phước nhà ngó mặt ra góc Ao Trường Đua, đi học có ông ngoại đội nón cối trắng mặc bà ba trắng cõng đưa đến lớp ( Trò nầy trước 75 là sĩ quan Hải Quân, khóa 19? ) Có trò Cảnh đi học bằng xe đạp mặc quần tây chân mang san đan, thời đó trăm phần trăm học trò nam mặc tà lỏn đi chân đất, trò Cảnh là cháu ông Chủ Tịnh chủ hảng cà rem Xuân Trường đầu tiên ở Gò Công, trò nầy lớn lên tôi không còn gặp lại.Một trò gốc người Bắc là trò Mông, có lẽ là Simon, đi học chân mang san dan vì ba trò là chủ tiệm giày Tân Tiến, trò nầy cho tới năm đệ nhất vào trường Gò Công học chung với tôi trò đổi lại tên Dư. Ở lớp chót nầy tôi đã học và còn nhớ những gì ? Thầy Ba Thắng dạy hát, thầy vừa hát vừa ra bộ tịch và những bài hát nầy tôi vẫn nhớ và đã dạy lại cho con tôi khi bé vừa biết nói ..."Con nải con nai - nó chạy đường dài - nó kêu cái tét, Thầy vừa hát con nải con nai thì hai bàn tay của thầy đặt vào hai bên tai phe phẩy ...như tai nai, đến chữ cái tét thì hai bàn tay thầy chụm lại để trước miệng ...Rồi thì Con công tố hộ trên rừng - chèo ghe xuống biển ngó chừng con công - con công nó múa làm sao - nó thụt đầu vào - nó xoè cánh ra - nó kêu tố hộ ...Hát tới đâu thầy ra điệu bộ tới đó, khi thì hai tay chèo ghe, xòe cánh ... dĩ nhiên đám cốc tử tụi tôi mê lắm, ngoài ra có một bài thơ mà thầy rất tâm đắc, bắt học thuộc lòng, giờ ra chơi tôi còn nghe thầy bàn thơ với cô Tám Sảnh lớp chót nữ kế bên đó là bài Mắm Cà ..." Ba tôi vốn thích mắm cà - Có cà ăn được luôn ba chén đầy - Biết ba ưa chuộng món nầy - Tôi liền đi kiếm cà cây về trồng - Đêm ngày tôi tưới vun phân - Đẹp thay tim tím cái bông hoa cà - Có trái tôi muối dành ba - Bữa cơm ăn với mắm cà rất ngon ... Vào đầu năm học Tỉnh Biên Hòa bị một cơn lụt dữ dội, toàn quốc phát động chiến dịch cứu trợ ( Năm Thìn ) Tôi còn nhớ có một bài thơ mỗi lớp thầy cô đều dạy cho học sinh học, rất tiếc là tôi không còn nhớ tên tác giả .... Thuở nhỏ tôi đọc đã biết cảm động và cho tới bây giờ đọc lại vẫn còn thấy lời thơ thật tha thiết dễ làm rung động lòng người ..." Biên Hòa nước lụt tả tơi - Nước dâng hơn thước thây trôi quá ngàn - Người sống sót lại càng đau khổ - Biết lấy đâu làm chỗ nghỉ chân - Trẻ con không có áo quần - Vắng cha mất mẹ khóc rân ngoài đường ...
                              Ở năm học lớp chót nầy tôi còn nhớ, trường có tuyển một số giáo viên mới, huấn luyện tại trường và lớp chót của thầy Ba Thắng được đưa lên phòng hội trường của trường Nam ( hai phòng đầu sát cầu tiêu ngăn cách vách giữa bằng những tấm ván rời, vách ngăn lại thành 2 phòng học mở ra thành một hội trường, và trường cũng thường lấy địa điểm nầy làm nơi phát thưởng cuối năm, hay trình diễn văn nghệ )Tôi nhớ lên đây học khoảng nửa tháng, vì lúc đó tôi không biết hết tên thầy cô thực tập nên không ghi lại được, tôi chỉ còn nhớ có một người mà gia đình tôi quen biết đó là Chị Ngô Thị Hai con gái lớn của Ông Chủ Xíu, là vợ của cố Trung Úy Nguyễn bạch Mai, một trong những sĩ quan đầu tiên trong buổi bình minh của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, chị cũng có đứa con trai đầu lòng học chung với tôi năm đó là trò Nguyễn Bạch Quang, trước 75 du học tại Mỹ trong diện quốc gia nghĩa tử về nước với bằng kỷ sư dầu hỏa.Khai trường lên lớp tư, đích thân Thầy Thắng dẫn tôi lên lớp gặp cô Đỏ, tôi còn nhớ lời thầy :
                              -Trò nầy học được lắm chỉ có tật trốn học Cô lưu ý cho. Thầy giáo ngày xưa sao mà tận tụy quá ,... Sau đó mấy năm Thầy Thắng về nghỉ hưu được nhà nước phong chức Huyện .
                              Tôi lên lớp tư B, học với Cô Đỏ, Cô rất hiền, gốc người Yên Luông Đông. Tôi ngồi đầu bàn thứ ba, cạnh trò Hạnh và trò Nguyệt ( đều là dân xóm Cỏ ). Trưởng lớp là trò Sơn Văn Ngọc là con hay cháu của tiệm mì Quảng Tài Ký, một kios ngay mặt tiền đại lộ Phạm Đăng Hưng, đối diện với tiệm nước Quảng Lợi Hòa. Trò Hạnh và trò Nguyệt sau nầy đi lính Sư Đoàn 7, Nguyệt hình như chết trong cuộc chiến, Hạnh tôi có nhiều lần gặp lại sau khi tôi được giặc tha ra khỏi tù về sống lại tại Gò Công, Hạnh kiếm sống bằng chiếc xe 3 bánh; còn Ngọc từ khi rời trường tôi không còn gặp lại, sau nầy qua lời của Ngô văn Phò ( Quân cảnh Tư Pháp Long An), bà con của Ngọc tôi mới biết Ngọc đi tu ở một chùa Miên. Học lớp nầy tôi còn nhớ một bài thơ mà cô cho học thuộc lòng đó là bài "Chùa Làng Tôi "...Ở trong ngọn rạch làng tôi, Có chùa Diệu Đế từ hồi thuở xưa, Sau chùa cam quýt cau dừa, Trước chùa kiểng vật bốn mùa nở hoa, Trong Chùa thờ Phật Thích Ca, Sau lưng đức Phật có bà Quan Âm, Đến ngày mùng một ngày rằm, Các bà tin tưởng đi dâng nhan đèn ...Cũng trong năm học nầy có thầy Lê Dinh đến lớp dạy nhạc, thực ra Thầy chỉ dạy có hai bản theo chỉ thị của cấp trên đưa xuống, đó là bản Suy Tôn Ngô Thủ Tướng, và một bài tôi quên tựa nhưng còn nhớ lời ..." Người về đây khi núi sông đang điêu tàn -Trời Việt Nam rên siết trong muôn lầm than - giữa lúc quân Cộng bạo tàn chia cắt đôi đường hận sầu toàn dân xao xuyến như thuyền không lái ...Người về đây mang ánh vinh quang chan hòa, trời Việt Nam tươi sáng trong muôn ngàn hoa .. Ánh sáng thanh bình rộn ràng soi khắp sơn hà ... Trò Hạnh và trò Nguyệt là hai tay quậy có tầm cỡ, môn chơi nào hai trò cũng đều biết, không rù rì nói chuyện với nhau thì xé tập vở lấy giấy xếp đầu lân, diều, không thì lấy phấn vẽ xuống bàn, hoặc đem hộp dế ra kê lên miệng chắc chắc vài cái. Tôi thấy Thầy Dinh đang chép bài nhạc trên bảng bỗng ngưng lại, tay bẻ cục phấn, mắt nhìn tôi có vẻ bực mình lắm, tôi sợ lắm, cố ngồi thật chăm chú dù tự xét lại trước đó tôi không có làm điều chi sai trái, bỗng thầy ném vèo viên phấn, đánh tốc lên đầu trò Hạnh ngồi cạnh tôi, thì ra trò Hạnh đang nói chuyện với trò Nguyệt và tại đôi mắt thầy đã làm tôi lầm ... Sau nầy lớn lên tôi chỉ gặp thầy có một lần trong nhà hàng Thanh Bạch, lúc thầy đang ăn sáng chung bàn với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết, tôi có đến chào thầy. Thực ra thầy làm việc tại đài phát thanh SaiGon ( số 3 đường Phan Đình Phùng ) còn đơn vị tôi đóng quân tại số 1 bis cũng trên con đường nầy mà lại không có dịp gặp nhau.Để rồi hơn 30 năm sau tôi gặp lại Vợ Chồng Thầy tại Houston, nhân dịp thầy về dự Đại Nhạc Hội vinh danh Lê Minh Bằng.
                              Với một người bạn học chung lớp ....hơn 40 năm sau, trong những ngày quản chế sau khi giặc tha về, một buổi sáng tôi đến quán cà phê của Minh ( Nguyên pháo đội trưởng tiểu khu Gò Công ) một thằng bạn tù, quán nằm trước khuôn viên nhà bác sĩ Trần Công Đăng, lúc giặc tha về đâu có làm ra đồng xu cắc bạc nào ... Đôi lúc buồn cũng ra chợ chơi vào quán của Minh mong gặp vài người bạn để nói chuyện cho ...qua ngày, Minh không bao giờ tính tiền tôi mà còn mang đến vài điếu thuốc hút cho ...thơm râu, tôi ngồi ở bàn trong góc, một vị trí khuất lấp ít ai để ý, tôi đang nhâm nhi ly cà phê thì có một hán tử, dáng người kịch cợm, càm và môi đầy râu, tay xách cây roi ngựa, trông dáng sung mãn mà có vẻ phong trần, kéo ghế ngồi cạnh tôi, cất giọng ồm ồm gọi cà phê và thuốc lá, mới nhìn qua hán tử, tự lòng tôi cảm thấy quen quen, thế rồi bộ nhớ tôi bắt đầu làm việc, tôi click từ bạn lính, bạn tù, bạn nhậu ...tới bạn học ... Lòng tôi chợt vui vì tên của hán tử nầy có ghi trong bộ nhớ của tôi, tôi khều tay bạn và hỏi :
                              - Dạ , có phải anh là Nguyễn Thành To
                              Hán tử có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi xa lạ mà sao biết rõ họ tên
                              - Dạ, tôi là To, tôi không biết anh mà sao anh biết tên tôi ? Tôi thích chí vì biết trí nhớ của mình còn tốt
                              - Tôi là bạn học với anh năm học lớp tư với cô giáo Đỏ, anh ngồi đầu bàn áp chót dãy bên trái ... Đi học anh thường mặc quần cụt đen vải mỹ a mặt đệm ...
                              Cô giáo Đỏ trong một chuyến xe định mệnh từ Mỹ Tho về Gò Công, Cô qua đò Chợ Gạo, Bỗng giông gió nổi lên, phà đứt cáp chiếc phà trôi đi và chìm ... Cô chết trong lần sang sông nầy. Thương Cô hiền lành mà sao chết thê thảm quá ...!
                              Tôi học lớp ba với cô Sáu Nghĩa, cô thật hiền từ và thương học sinh, học với cô được mấy tháng, cô theo chồng đổi về SàiGòn dạy, cô Bảy Huyện từ trường nữ về dạy thế, theo lời Ba tôi vẫn thường nhắc nhở, Cô Bảy là người đàn bà học giỏi, có bằng đíp lôm thời tây, nói tiếng tây như ...đầm, biết đàn, biết hát nhạc Tây ... lẽ ra cô phải làm bà đốc mới xứng, nhưng có lẽ do cô biết nhiều quá nên có một sợi dây thần kinh nào đó bị...gút, cô buồn vui bất thường, trò nào lỡ nói chuyện trong lúc cô buồn thì thật là tội nghiệp cho cái mông của trò đó ,...Ở năm học nầy tôi còn nhớ học sinh toàn trường phải đi dưng cộ đèn ( Ngoài đêm trung thu thường niên ) mừng Ông Võ Hà Trị đắc cử dân biểu lập hiến thời đệ nhất cộng hòa .. Cuộc rước đèn bắt đầu từ trường Nam tiểu học đi ra đường Gia Long quẹo ra hướng chợ ngang qua đại lộ Phạm Đang Hưng bọc đường Chủ Sự Thiều về sân vận động để xem chiếu bóng ngoài trời ... Nhưng toán dưng cộ mới ra được tới gần chợ thi trời đổ mưa ... tất cả tự động tan hàng đi về hướng sân vận động ... Tôi còn nhớ vào được sân vận động mình mẩy tôi ướt loi nhoi ... cây đèn hình con chim câu ba tôi phất giấy màu lại từ chiều hôm trước bây giờ chỉ còn lại cái sườn tre ..Tôi còn nhớ Phim Đài Loan ... Hằng Nga du nguyệt điện do tài tử Lý Lệ Hoa đóng vai Hằng Nga ... Tôi đứng nép mình trước góc khán đài để tránh mưa ... mắt nhìn lên màn ảnh mà lòng lo sợ ... Trời mưa lai gần khuya làm sao dám đi về nhà một mình ... Nhớ tới cây me ngay ngã ba trước nhà Bác Tư Bính mà thấy ớn ... Cây me với nhiều câu chuyện ma mà tôi vẫn thường nghe kể ...Bỗng có bàn tay từ khán đài thò xuống khều vai ...
                              -Em đưa tay anh kéo lên ..
                              Thì ra là Anh Dinh, đang học lớp đệ thất trường Trung học Gò Công ... Anh đở tôi ngồi vào lòng anh ... Một cảm giác thật ấm áp dễ chịu .( Anh Nguyễn văn Dinh đền nợ nước trong sắc áo Pháo binh ) ... Ngoài ra tôi không còn nhớ gì nhiều lắm, một vài người bạn như trò Phát ( sau nầy tôi không còn gặp lại ) trò Khải ( sau trò từ trường bán công vào trường công học chung năm đệ nhất với tôi, sau đó tốt nghiệp Sư phạm Vĩnh Long về dạy tại Gò Công ) ...Khi giặc cờ đỏ thả tôi về (1983)tôi được người nhà cho biết Cô Sáu Nghĩa về sống ở Gò Công ( Dãy nhà xưa đối diện với lăng Trương Công Định, cạnh nhà ông Phán Chà ) Tôi có chỡ người chị thứ sáu đến nhà thăm cô, sau khi nhắc nhở chuyện hơn 30 mươi năm về trước, cô rất vui mừng khi gặp lại người học trò cũ, dù bây giờ người học trò cũ đã xệ cánh, tả tơi hơn xác pháo ...Mấy tuần sau cô có xuống nhà thăm tôi, thật vô cùng cảm động, tôi còn nhớ, mẹ tôi ngồi tiếp cô tại bộ ghế cẩm thạch đặt giữa nhà, tôi và chị tôi đứng sau lưng mẹ để hầu chuyện ...
                              Tôi từ giã cây gạo vẫn nở hoa trắng phơn phớt hồng, từ giã những thùng phuy đựng nhựa đường mà những lần trú nắng vẫn thường đứng dưới gốc cây gạo, vẫn táy máy cạy từng cực nhựa đường nắn thành hình nầy hình nọ, hay lén ve viên chọi vào đầu thằng bạn để rồi làm mặt tỉnh tuồng đứng nghe nó chửi bông lông ...
                              Tôi chính thức bước vào trường Nam tiểu học, ở thời khoảng đó tôi tự thấy mình lớn hơn, nhiều hãnh diện hơn vì được học tại trường Quan ( trước trường Nam là một nhánh của con kinh Sa Li Sết Ti chảy dọc theo đường Tổng đốc Phương xuống Cầu Huyện, có một cây cầu bắt ngang bên hông trường Bà Phước là Cầu Quan nối với con lộ đâm thẳng vô dinh tỉnh trưởng, từ trường Nam trở ngược hướng Cầu Tàu tới sau dinh tỉnh, trước kia chỉ là dinh thự và nhà quan quyền, nhà dân thường rất ít thường ở mãi ngoài cầu Tàu hay trước nhà thờ có lẽ cầu Quan có tên là do vậy ) .
                              Thời tôi vào trường Nam, Thanh tra là Thầy Lắm, hiệu trưởng là Thầy Võ Văn Giáp, đây là một vị hiệu trưởng được tuyệt đại dân Gò Công kính phục vì sự tận tụy và đạo đức của ông, giám học là thầy Nhàn, nhân viên văn phòng có thầy Mai ( Thầy có nét chữ rất đẹp chuyên viết tên trong văn bằng tiểu học và các giấy khen thưởng )Thầy Đẩu ( tóc thầy trắng như bông ) Thầy Lợi ( con trai thầy giáo Thạnh ), lao công là chú Ba Quản, nhà ở xóm Cầu Tàu, đi sổ điểm danh là Ông Tám .
                              Tôi học lớp nhì A với thầy Nguyễn Văn Huệ. Thầy Huệ gốc người Trà Vinh, về Gò Công dạy học, cưới vợ là Cô giáo Hớn, con gái của Ông Huyện Đạt nhà ở ngã ba Lộ Me Cầu Huyện, Thầy thuộc họ Văn Công ở Trà Vinh không biết vì sao lại đổi ra họ Nguyễn. Trường Nam lúc bấy giờ có 6 lớp nhì, B Cô Lan ( Con gái Ông Tòa Lê Bằng Ý), C Thầy Phụng, D thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm ( chồng cô Hiếu dạy trường nữ ),Đ thầy Lắm, E cô Diệu ( con gái Ông Louis Đại Đồng, F thầy Núi, lớp cô Diệu nằm ngay khúc quẹo và lớp thầy Núi nằm tiếp với hồ nước cạnh kỳ đài Trước hai phòng đầu không có hành lang, bắt đầu từ lớp thầy Huệ trước lớp mới có hành lang .
                              Thầy Huệ đi dạy bằng chiếc xe đạp sườn xe solex, trước thềm giữa lớp nhì A và B có một hồ nước nhỏ khoảng hơn thước khối nước, thành hồ bằng đá mài màu hồng chứa nước mưa cho học sinh uống. Lớp nhì A đặc biệt có tấm bảng đen bằng đá cẩm thạch dầy khoảng một tấc rất nặng, bạn bè chung lớp tôi còn nhớ có Nguyễn văn Sáu ( hỗn danh là Sáu sậu , Sáu nhậu , Sáu Cạo , Sáu nhánh ) Trò có một bàn tay 6 ngón gốc người Hòa Nghị là học sinh có học bổng, có trò Nguyễn Bá Chính ở Hòa Nghị té xuống piscine suýt chết, có trò Ron ( con trai thầy giáo Đầm ) đi học mà tai còn đeo khoen, có trò Ngài ở Long Chánh sau kỳ nghỉ lễ Bắc bị bệnh chết, có trò Huỳnh trước 75 là tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 12 nhà ở Thạnh Trị . Tôi ngồi đầu bàn nhì phía trái cạnh trò Bòn ở Tân Cương, Sau nầy học chung một đợt trên trung học với tôi có trò Nhuận và trò Sáu. Thầy Huệ rất hiền lành đạo đức, thầy thường ngồi ở mỗi đầu bàn để chấm bài, 5 trò ngồi trên bàn dồn tập ra cho thầy chấm, thầy vừa chấm vừa giảng, thỉnh thoảng thầy cũng nhịp thước đối với những trò quá chậm tiến, trước giờ tan học khoảng 10 phút, thầy thường kể một chuyện đời xưa mà nội dung chuyện kể không ngoài mục đích giáo dục, buổi chiều thầy thường xách vợt đến sân trường Nam ( Trường có 2 sân quần vợt ) để chơi tenis .Mực của học trò thầy Huệ tự pha lấy trong một chai lít mang đến lớp chia cho từng mỗi học sinh nên màu mực trong lớp được thống nhất. Ở lớp nhì có thêm một môn học lạ là môn Pháp Văn, tôi còn nhớ thầy dạy rất dễ hiểu ghép chữ thành những câu ngắn , thầy vừa giảng vừa viết lên bảng le chien là con chó, le là giống đực, le chien est très fidèle , est là là, très là rất, dịch nguyên câu là con chó rất trung tín ... Thầy giảng trò nhớ và tôi nhớ tới bây giờ. Tôi còn nhớ môn vẽ có thầy giáo Giáo, thầy rất hiền, thường Thầy không cho học trò chuốc viết chì bằng ống chuốc mà dạy học trò chuốc bằng dao hay lưỡi lam, tôi chuốc không được khéo nên sau mỗi lần chuốc nhờ thầy xem giùm được chưa, thế là thầy gai mắt chuốc giùm tôi thật đẹp... Năm đó thầy có cho một đề vẽ mà tới bây giờ tôi còn nhớ ..." Vẽ một cảnh mua bán vải ở chợ mà trò thường thấy ". Tôi đã vẽ dở mà gặp đề tài nầy thì chịu dù cảnh nầy tôi vẫn thường thấy, hàng vải chợ Gò Công đâu có xa lạ gì với tôi bởi tôi vẫn thường theo mẹ hay chị đi mua sắm áo quần, dãy hàng vải lúc đó nằm bên hướng tây của chợ, bắt đầu bằng sạp của chị Lan ăn trầu ( dù chị còn rất trẻ ) trong lớp tôi nhớ chỉ có trò Nhuận là vẽ được, Ông thầy cầm bức tranh mà nhìn hoài, riêng dưới con mắt tôi thì tôi thấy rất giống cảnh tôi thấy ngoài chợ. Cũng năm học nầy tôi còn nhớ có họa sĩ Ngân Hà từ Sài Gòn mang tranh lịch sử xuống trường bán cho học sinh, tranh có khổ bằng phân nửa tập vở học trò in trên giấy bìa, mặt trước in hình những bậc anh hùng nữ kiệt trong lịch sử như : thù nhà nợ nước, đầu voi phất ngọn cờ vàng, cờ lau tập trận, chiến thắng Bạch Đằng, Lời thề sông Hóa, Lê Lai cứu chúa ... một bộ 12 tấm, mặt sau in tóm tắc một đoạn lịch sử của bức tranh .
                              Tôi lên lớp nhứt E học với thầy Thức, một giáo viên trẻ tốt nghiệp Sư Phạm là giáo viên có bằng tú tài I đầu tiên của trường, phòng học nằm ngay đầu dãy trệt, một căn của hội trường, cách một lối đi nhỏ đến hàng rào bông bụp cao quá đầu, ranh giới của nhà vệ sinh, tôi học được 2 tuần lể thì phải trở lại lớp nhì vì thiếu tuổi, toàn trường có khoảng hơn 20 trò, trong đó tôi còn nhớ có trò Trần Công Chức, sau nầy là giáo sư trường bán công Gò Công. Trở lại học lớp nhì thầy Huệ dĩ nhiên tôi học đứng đầu lớp .
                              Trong thời gian nầy tôi còn nhớ trường có mở giải bóng bàn, trường có một phòng cạnh học xưởng để bảng là Thư Viện nhưng bên trong không có sách vở chi cả mà được kê một bàn banh bông ( Phòng cách kỳ đài với lớp thầy Núi ) Vô địch khối lớp nhì là trò Đinh văn Nhân ( Khi Nhân học đệ ngủ lại chiếm giải vô địch của trường trung học), vô địch khối lớp nhứt là trò Hồ hũu Phước ( tên nhà là Bé Cu, con trai thầy Phụng ).Phước sau nầy phục vụ trong binh chủng Hải Quân còn Nhân tốt nghiệp Cán sự Công Chánh Phú Thọ .
                              Thời tôi học có 9 lớp nhất bắt đầu từ A đến G - Lớp A Thầy Lộ Công Bích, lớp B Thầy Phan Thanh Sắc, lớp C Thầy Lê Tấn Ngọc, lớp D thầy Lượng, lớp E thầy Lê văn Sấm, lớp F thầy Thức, lớp G thầy Đạt, lao công trường là chú ba Quản, đặc biệt mang sổ kiểm danh hàng ngày có Ông Tám, vóc người ốm cao khoảng 1m80, râu bạc trắng, gốc người Yên Luông Đông đi chiếc xe đạp sườn ngang 700, những người học sinh năm xưa, bây giờ liệu còn mấy ai nhớ tới Ông ...Tôi cũng biết sơ một số nét về các thầy dạy lớp nhứt, Thầy Bích rất hiền miệng lúc nào cũng như mỉm cười, tóc quăn dợn đẹp trai Thầy hỏi vợ lần đầu gốc người Bình Ân, hai bên đều chấp thuận nhưng khi xem thấy kỵ tuổi nên đành chia tay ... kiều nữ năm xưa vẫn còn độc thân tuổi hơn 80 đang sống tại Bình Ân ...Gia đình thầy có lẽ anh em rất đông, thuở nhỏ tôi biết anh Mười Lăm là bạn của anh tôi là em trai của thầy ( hiện ở Canada), tôi không biết anh đã là út chưa ?...Lớp thầy dạy còn kiêm bán hợp tác xã cho trường ( bán văn phòng phẩm ),thầy còn có một quán sách đối diện với nhà Ông Đốc Phủ Hải, một dãy kios cất tạm trên bờ sông bên kia bờ trường nữ tiểu học, quán có tên Cô Giang, thời Ba te thịnh hành, thầy cũng tráng sân trước nhà mở quán ba te, hình như thầy không có số thương mại nên tất cả đều không mang lợi nhuận đến cho thầy...Thời Cộng Sản chúng ghép thầy vào tội đảng phái lưu đày khổ sai ra trại Vĩnh Phú gỡ hơn tám cuốn lịch, tôi là bạn học năm lớp nhì với con trai của thầy là trò Lộ Công Huân, thầy cũng có nhiều công nương cũng thuộc loại sắc nước của tỉnh nhà ...
                              Thầy Phan Thanh Sắc, gốc người Gò Tre, Thân phụ là bác Bảy Tứ, vợ là cô giáo Khoai dạy trường nữ công và dạy nữ công trường trung học bán công Gò Công, khi vào nghề thầy chỉ là một giáo viên sơ cấp, khi đổi về trường Nam thầy đi dạy bằng chiếc xe mô bi lết từ Gò Tre lên tỉnh, tự học đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, tiếp tục tự học thầy đậu bằng tú tài 1, động viên khóa 13 Thủ Đức, về làm thầy giáo lính trong ban vũ khí thuộc trung tâm huấn luyện Van Kiếp, thầy mướn một căn phố bìa trong dãy phố 6 căn sau lưng ty cảnh sát Bà Rịa, số 85 đường Thành Thái ... Thầy giải ngũ khi mang cấp thiếu úy được 1 năm 18 tháng về dạy lại ở Gò Công, tiếp tục học đậu tú tài phần 2, rồi ghi tên vào Văn Khoa Sài Gòn .... đậu nhiệm ý rồi lần lượt 4 chứng chỉ lấy bằng cử nhân chuyên khoa Nhân Văn tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Trong 12 cấp lớp của chế độ giáo dục miền Nam thầy đã dạy qua tất cả các lớp từ lớp 1 ( lớp chót ) cho tới lớp 12 ( đệ Nhất ) một việc ít có trong nghề giáo và lên tới tuyệt đỉnh của nghề giáo trong tỉnh ... Hiệu trưởng trường trung học đệ nhị cấp ... sau 75 ở tù gần một năm được thả về dạy sinh ngữ tại trường trung học Trương Định, sau cùng giữ chức vụ tổ trưởng tổ sinh ngữ cho tới ngày về hưu.
                              Thầy Sấm nhà ở khu Kho Muối, gia đình nghèo, là cựu học sinh giỏi của trường P . Ký, trong thời gian đi học phải đi dạy kèm để đủ tiền sách vở, nên đậu xong bằng Díp lom và đậu luôn bằng Brờ vê, thầy phải về quê nhà xin dạy học, tính rất hiền, học trò thầy thường trội môn luận văn, thời gian dạy học thầy thường viết truyện ngắn gửi đăng ở tuần san tiểu thuyết thứ năm với bút hiệu là Lê Sấm, sau năm 75 thầy không phải đi tù và vì tình trạng thiếu giáo sư, thầy được mời dạy Pháp Văn ( Đệ nhị cấp) cho trường Trương Định, Thầy đi dạy trong tư thế " nín thở qua sông ", cố làm trọn chức năng của mình để được hưởng đồng lương công nhân viên dù rất khiêm nhường nhưng không phải dễ kiếm trong một xã hội mà ...Bác Hồ nhân đạo mua gạo phải xếp hàng ...!, bởi vì thầy đang sống trong một bối cảnh mới, có lắm thầy từng được ưu đãi trong chế độ quốc gia đã" trở mình "mau chóng xum xoe nịnh hót nếu họ làm để được yên thân còn tha thứ được ... đàng nầy đã nhẩn tâm tố cáo đồng nghiệp mà lời tố cáo có thể gây tù tội cho người bị tố cáo mà sự việc thật ra không có .... đó mới là điều tồi tệ ., thầy ít giao tiếp, thoảng lắm mới thấy nở một nụ cười. Hiện thầy định cư tại Cali, thỉnh thoảng có gửi thơ đăng báo dưới bút hiệu là Lê Trường Nam.
                              Thầy Lượng nhà ở Yên Luông Đông, đi dạy cũng bằng chiếc mô bi lết.Học trò của thầy đa phần đều học khá, lớp thầy dạy nằm ngay tầng trệt ngay cổng vào đối diện với piscine .
                              Thầy Đạt, vợ là cô giáo Thu Hà, thầy đi dạy bằng chiếc xe lam.Tính thầy hiền, trông dáng người hơi khắc khổ nhưng lại có nụ cười rất tươi, thầy thường mặc áo sơ mi măn sết, cài nút tay cẩn thận. Phòng thầy dạy chung hội trường với lớp nhất của thầy Thức.
                              Tôi lên lớp nhứt C học với thầy Lê Tấn Ngọc, gốc người Yên Luông Đông là con trai thứ sáu của Ông Phán Nhứt. Thầy còn có hỗn danh là Sáu Bụng, là cựu học sinh P.Ký, đậu bằng Díp lôm xin về tỉnh nhà dạy học với ngạch giáo viên công nhựt thời đó lương tháng khoảng hơn 1.700$nên thầy dạy có mấy năm bỏ nghề, sau năm tôi học, thầy tình nguyện vào ngành Hiến Binh, dân dã vẫn quen gọi là ông cò mũ đỏ ... Vào hiến binh ra trường mang lon trung sĩ lương tháng trên 3.500$ " Hà Nam danh giá nhất ông cò ..." lương đã cao hơn đi dạy học mà còn có quyền ... chưa kể tới bổng lộc đủ sống dư thừa ....Sau nầy ngành hiến binh giải thể, một số theo đơn xin về học sĩ quan tại trường Thủ Đức ra trường làm tiểu đội trưởng quân cảnh tư pháp, quyền uy một cõi trong tỉnh, số còn lạì không chịu đi học cho tới ngày sập tiệm mang cấp thượng sĩ, Thầy Ngọc không qua ngành quân cảnh mà phục vụ trong ngành tư pháp Cảnh Sát Quốc Gia, tù đày ra Vĩnh Phú, tưởng đâu thầy đã chết vì ...nước trong một tai nạn té giếng ở trại nầy, hiện thầy định cư tại bang V.A...
                              Tôi ngồi bàn nhứt, góc bìa sát tường là trò Trần Công Quang ( hải quân trung úy ) con trai của thương gia Trần Công Đán, bên cạnh tôi là trò Nguyễn văn Ba ( hỗn danh Ba Nựng, nhập ngũ khóa 4/69 , mang cấp Đại úy hải quân, hỗn danh trong tù là Ba bọ chét) ) trò quá nhỏ con, nên khi nghe giảng bài thì trò ngồi, khi chép bài thì trò đứng, đầu bàn là trò Nguyễn Công Hoan ( trò có tật chân nên có hỗn danh là Hoan què ) trò nầy khi lớn tôi không gặp lại ...Thầy Ngọc có một vũ khí bằng gổ hình dáng như cái bánh trung thu, trò nào giỡn hay làm bài sai rất dễ dàng được thầy cho ăn cái bánh vào đầu, lớp nhứt C nằm ở cạnh mặt Bắc trường, ngó ra kỳ đài, trước lớp có một cái trống để trên cái giá trống, thầy Ngọc phụ trách điểm giờ, trống ra chơi và vô học đánh 3 tiếng, trống tan trường đánh nguyên hồi dài, thầy đánh trống rất điệu nghệ, trong lớp có trò Trần Công Chức có nhịp trống cũng suýt soát với thầy, thỉnh thoảng cây dùi cũng bị trẻ rắn mắt dấu mất thầy phải đánh bằng tay ...! Tôi còn nhớ, trong lớp có trò Âu, trò học kém nhưng ngâm thơ rất khá, buổi trưa trời nóng, học trò thường ngủ gục, thầy thường gọi trò Âu đứng dậy ngâm thơ, bài thơ nỗi tiếng của Vũ Đình Liên ...Ông Đồ Già ( có in trong quyển Việt ngữ độc bản ) Trò Nguyễn văn Tấn hát tân nhạc trò là học sinh học lại nên học rất khá, trò ngâm thơ và ca được 6 câu vọng cổ ... Trò thường ngâm đoạn thơ Anh Hùng Nguyễn Trung Trực một vở kịch thầy đang cho lớp tập mà chưa xong ....Em là cô gái Tà Niên - Đường xa gánh chiếu ra Kiên Giang thành - Chiếu em là chiếu chung tình - để người áo vải anh hùng bước lên ...đặc sắc nhứt về 6 câu vọng cổ là trò Vàng ( nhà gần chùa Thiêng Liêng ), Ngoài ra còn có trò Thời, biểu diễn bài tứ trụ và bài Mai hoa quyền ( trò nầy lớn lên thành danh trong nghể võ, võ sư Hồng Long nỗi tiếng trước 75 và cũng là phó ty thanh niên Gò Công sau khi tốt nghiệp trường huấn luyện viên thanh niên trung cấp, sau 75 mở trường võ lấy tên là Triệu Tử Long, cạnh nhà thầy giáo Liểu và đối diện với nhà Lục sự Châu văn Phú ..) Cuối năm Trường Nam thường có văn nghệ tổ chức phát thưởng hay văn nghệ trình diễn ngoài trời vào dịp bãi trường tết, lớp thầy Ngọc năm nào cũng góp mặt một vở kịch xuất sắc, lần hát tại hội trường của trường thầy cho diễn vở " Bình Định Vương Lê Lợi " với trò Trương Văn Phò( Phi đoàn chiến tranh điện tử) xuất sắc trong vai Lê Lợi, lần hát tại bến xe đò Gò Công lớp nhứt C góp mặt với vở kịch " Ông Thầy Láo " do trò Vàng thủ vai pháp sư rất được dân chúng hoan nghênh, có trò Láng ngồi bàn chót rất lớn tuổi, trò Láng dù học lớp nhứt nhưng cũng dự thi đua xe đạp do Ty thanh niên Gò Công tổ chức, đa số bạn học chung lớp nhứt tôi đều nhớ tên hết nhưng không tiện kể ra vì quá dài, có một người bạn chung lớp nhất ngồi bàn áp chót là trò Nguyễn văn Bảy ( có hỗn danh là Bảy mát, Bảy thần kinh ... ) thân với tôi từ thuở đi học cho tới ... bây giờ ( trước 75 trò là SVSQ không quân khóa 7/68 nhưng ra trường về SĐ7BB, giờ chót làm đại đội trưởng biệt lập đóng tại cầu Tân Cảng )
                              Trong năm học nầy có thầy Phạm Văn Răng gốc người Bình Ân dạy thể Dục và Thầy Minh dạy nhạc, vẽ thầy Giáo ..
                              Năm học nầy phải qua một kỳ thi tiểu học, tôi còn nhớ thủ khoa toàn trường là trò Đổ văn Vân, học trò thầy Sắc ( bên trường nữ thủ khoa là trò Nguyễn Thị Hiếu, sau nầy là vợ của giáo sư Nguyễn văn Non, Hiếu đã qua đời ở tuổi tri thiên mệnh tại Gò Công ), riêng trong lớp nhứt C tôi được xếp thứ 2 sau trò Nguyễn văn Tám ( hỗn danh là Tám Thơ, tai có đeo khoen, ở Gò Công lúc đó có chú Tám Thơ là anh của chú Chín Cò mở ra tiệm hớt tóc ngay Kios đầu tiên bên hông chợ có căng băng vải quảng cáo, trong tiệm trang hoàng rất đẹp có dàn đờn cổ nhạc, có cờ tướng nên rất hấp dẫn khách ...)
                              Tôi còn nhớ và nhớ rất rõ như chuyện xảy ra ngày hôm qua, thầy Ngọc gọi tôi lên bàn thầy để nói về chuyện phát thưởng cuối năm, thầy cho tôi biết, dù tôi là hạng nhì, nhưng môn toán tôi kém hơn trò Nguyễn văn Để xếp thứ ba nên phần thưởng hạng nhì dành cho trò Để nên phần tôi khỏi lãnh gì hết ( mỗi lớp chỉ có hai phần thưởng ) Quân sư phụ, khi thầy đã quyết định thì làm sao dám cải ... Việc nầy ám ảnh tôi suốt đời đi học, tôi đâm ra ghét học môn toán ...Sau nầy lớn lên tôi mới hiểu rõ lý do ....
                              Đây cũng là niên học quyết định của đời học sinh, vì nếu đậu được vào đệ thất thì con đường đi được thênh thang suốt 7 năm dài, rớt kỳ thi đệ thất phải thi tuyển vào lớp tiếp liên ... học trường tư là một gánh năng cho gia đình ...mà kết quả học cũng khó bằng trường công .
                              Niên khóa 59-60 Trường Trung Học Gò Công mở kỳ thi tuyển vào đệ thất lấy đậu 100nam và 50 nữ, có tất cả 1.500 thí sinh toàn tỉnh tham dự . Thủ khoa là trò Trương văn Xệ ( học trò lớp tiếp liên Thầy Nhàn ) ngày loan báo kết quả đọc tại trường Nam tiểu Học, khi thầy xướng tên người Thủ khoa thì Xệ được đở đứng lên thềm cửa sổ để mọi người nhìn rõ mặt, có nhiều tiếng xì xầm trong hàng ngũ phụ huynh :
                              -Ý là Xệ mà còn thủ khoa ...!Ông thầy đọc tới hạng 100 mà vẫn chưa có tên tôi, dù tên tôi cũng rất dễ đọc .
                              -Sau đây là 5 em đậu vớt ...101 ..., 102..., 103 Trần văn Bán , 103 đồng hạng Võ Hiếu Để , 103 đồng hạng là tên cúng cơm của tôi, thế là tôi đứng chót bảng, vẫn còn hơn cả ngàn tên không có tên, ba trò hạng 103 đều là học trò lớp nhứt C cuả thầy Ngọc, năm đó lớp nhứt C đậu tổng cộng 5 trò ( Trần văn Tâm và một trò nữa tôi quên tên ) phá kỷ lục của trường Nam, bởi vì học sinh lớp nhứt phải học nhiều môn như thủ công, nhạc, vẽ, thể dục, pháp văn, đức dục, hoạt động thanh niên đều là những môn không có trong chương trình thi mà phải đụng với hai lớp tiếp liên thầy Nhàn, một lớp tiếp liên bán công của thầy Tạo, lò luyện thi đệ thất của Thầy Xuyên ( Hòa Nghị ) thầy Chương ( Tăng Hòa ) thầy Đủ ( Tân Phước ) ...chưa kể học sinh đệ thất đệ lục trường tư trở lại thi ...và một số ghế dành cho các quý tử con quý vị chức sắc tỉnh nhà được sự gửi gấm ( thử tìm xem có con ộng trưởng ty chi sở nào học trường tư không ?)
                              Đặc biệt hai trò đậu thủ khoa bằng tiểu học đều không có tên trong danh sách, cũng như trò Tám và trò Để hai trò lãnh phần thưởng của lớp tôi .Bên nữ trò Trần Thị Phát, ái nữ của thầy giáo Đẩu đậu thủ khoa ...
                              Trước năm 1957 , trường tiểu học Gò Công là trường tỉnh lỵ, thuộc ty tiểu học Gò Công và mỗi năm mỗi bành trướng thêm.Nhưng từ năm 1957 tỉnh Gò Công được sáp nhập với tỉnh Mỹ Tho nên trở thành trường Quận, thuộc ty tiểu học Định Tường, càng ngày trường càng thu hẹp vì lần lượt các trường sơ cấp lân cận được mở rộng thành trường tiểu học .
                              Ngôi chánh là một nhà lầu hình chữ thập, từng dưới có một phòng việc hiệu trưởng và 3 phòng học, từng lầu có 4 phòng học, dãy trệt gồm có 10 phòng học ; tất cả nằm trên một miếng đất hình chữ nhật dài 76mét rộng 60mét có rào tường bằng gạch chừa hai cửa vào cửa phía Nam ngó ra đường Trường Công Định , cửa phía Tây thông ra đường Gia Long đối diện với cổng trường nữ tiểu học Gò Công .
                              Sân trường rộng đủ chỗ cho học sinh chơi, có trồng cây che mát, một vài gốc phượng vỹ lâu đời trổ hoa rực rỡ vào mùa chia tay ...với vài cây lim mới trồng , sân chơi không lầy lội nhờ có 2 sân quần vợt, điều kiện vệ sinh rất thích hợp, phòng học rộng rãi thoáng mát.Trường có hồ chứa nước mưa cho học sinh uống và một nhà xí tự hoại 12 căn .
                              Những cây phượng năm xưa bây giờ còn không nhỉ ? một cây cổ thụ tàn che mát phòng lớp thầy Sấm, một cây cạnh lớp thầy Bích ... Những cây Lim lúc tôi học chưa cao khỏi đầu người lớn nay nếu còn thì cả lớp năm xưa trèo lên cũng còn dư chỗ, Tôi nhớ những chiếc xe đạp nhỏ xíu xếp gọn gàng trong nhà để xe bắt đầu từ cổng đối diện trường nữ kéo dài đến Học Xưởng ( tiền thân của trường Kỷ Thuật, lúc tôi còn học, trường Học Xưởng có 3 phòng nằm ké trong khuôn viên trường Nam, Một phòng học văn hoá trong phòng tầng trệt ngó ra kỳ đài, 2 phòng nằm cạnh phòng thư viện gồm một lớp thực tập mộc và một lớp nguội, Lớp dạy văn hóa do Thầy Nhản ( chồng Cô Sa Bi) phụ trách, lớp Mộc do Thầy Giáo Hiện phụ trách lớp, lớp nguội tôi không nhớ, Hiệu Trưởng là Thầy Trần Văn Báu, chồng của Cô Lê Thị Điệu hiệu trưởng trường nữ công )
                              Những chiếc xe đạp tuy nhỏ nhưng đều là những con thần mã mang chú học trò từ Tân Bình Điền, Vàm Láng, Tân Thành ... đều xa trên 10 cây số ...
                              Thời tôi học, trường giữ được một kỷ luật tuyệt đối cũng nhờ vào sự tận tâm và đạo đức của quý vị thầy cô, Ông Hiệu Trưởng Võ Văn Giáp, thầy giám học Nhàn, tự hậu tôi nghĩ khó tìm được người thay thế ...
                              Thời đó tuyệt nhiên không bao giờ thấy một vị thầy nào la cà ở quán cà phê chứ đừng nói quán nhậu ... như những thời mạt vận sau nầy ...!!
                              Tôi viết về ngôi trường tiểu học mà tôi rất vinh dự được mài đủng quần 6 năm tại đây, trường có một chiều dài thời gian tương đối lớn, nên một cá nhân không thể nào dùng ký ức mà hồi tưởng lại được tất cả mọi sự việc xãy ra tại trường, dù bộ nhớ của tôi thuộc hạng khá tốt, những gì tôi thấy, những gì tôi nghe,những sự việc đó cho tới bây giờ tôi cũng còn nhớ, người viết rất mong được đọc các bài kỷ niệm về trường của các bậc huynh trưởng cũng như của các niên đệ ...để một phút nào rỗi rảnh, đọc lại hồi ức về trường, để mà bồi hồi nhớ lại một thời tuổi thơ, nhất là công ơn của thầy cô ...đã ân cần dạy dỗ ta thuở còn thơ ấu ...
                              ...Cái gì qua rồi mới thấy tiếc !!

                              Thủy lan Vy
                              Viết tại Kỳ Đà Động , Mạnh Thu 2002


                              Con đi dưới lá cờ sao máu
                              Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...

                              Comment

                              Working...
                              X
                              Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom