• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Vĩnh biệt nàng TÔ THỊ

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Vĩnh biệt nàng TÔ THỊ

    VĨNH BIỆT NÀNG TÔ THỊ



    Hòn Vọng Phu

    Lạng Sơn cách thủ đô Hà Nội 154km về phía Bắc là một vùng phong cảnh nên thơ của Tổ Quốc, nơi có tên trên bản đồ Việt Nam từ năm 981 và là nơi ghi dấu nhiều chiến tích anh hùng trong suốt nhiều thời kỳ giữ nước.

    Từ thị xã Lạng Sơn qua khỏi sông Kỳ Cùng là đã có thể nhìn thấy bóng dáng nàng Tô Thị, một phiến đá thiên tạo trên dãy núi đá vôi ở phía Bắc, trông giống người đàn bà ôm con ngóng trông về một phương trời xa xăm nào đó. Không biết từ bao giờ, dân gian ta gọi đó là núi Vọng Phu (trông chồng) với nhiều câu chuyện đầy huyền thoại và lãng mạn. Trên đất nước ta, trí tưởng tượng phong phú của người dân đã đặt cho nhiều ngọn núi có cái tên vọng phu, như ở Bình Định, ở Khánh Hòa chẳng hạn. Nhưng không đâu bằng Lạng Sơn, nàng Tô Thị với núi Vọng Phu đã trở thành một biểu tượng của lòng sắt son, đã là nguồn thi hứng của bao danh nhân nho sĩ lỗi lạc.

    Nguyễn Du đã cảm xúc khi đứng trước nàng Tô Thị:

    “Thạch da, nhân da, bỉ hà nhân.
    Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
    Vạn kiếp điều vô vân vũ mộng
    Nhật trinh lư đắc cổ kim thân”
    (Đá chăng? Người chăng? Đó là ai?
    Đứng sững đầu non nghìn năm rồi
    Muôn kiếp mây mưa không vướng mộng
    Lòng son nay trước trọn bao đời)

    Nàng Tô Thị, núi Vọng Phu được dân gian truyền lại qua huyền thoại đầy tính thi ca. Tục truyền rằng, nơi đây ngày xưa có một cô gái nhan sắc mặn mà. Nàng lấy chồng sinh được đứa con trai. Một hôm người chồng ra đi rồi mãi mãi không về. Chiều chiều nàng Tô Thị bồng con lên đỉnh núi mong ngóng. Trải qua bao năm dãi dầu mưa nắng nàng mỏi mòn và rồi hóa đá.

    Trong dân gian có nhiều câu chuyện giải thích thêm lý do tại sao người chồng của nàng Tô Thị bỏ đi mãi không về. Có truyền thuyết nói rằng chồng nàng Tô Thị là Đậu Thao làm lính đời xưa, đi chống phong kiến Phương Bắc và không còn có ngày trở lại. Đó là hình ảnh của người chinh phụ đầy tính hào hùng và lãng mạn.

    Thế nhưng cũng có huyền thoại truyền tụng một câu chuyện đầy kịch tính. Chuyện kể rằng ngày xửa ngày xưa, một gia đình nọ sinh được hai anh em một trai một gái. Một hôm thằng anh nghịch ngợm kê một lóng mía trên đầu em gái để róc vỏ. Lưỡi dao bén phạm vào đầu làm đứa em bất tỉnh. Chủ nhỏ sợ cha mẹ rầy đã bỏ xứ mà đi. Mười lăm năm sau hai anh em gặp nhau như người xa lạ và họ đã kết nghĩa vợ chồng. Một hôm nhân khi âu yếm, người chồng nhận ra trên đầu vợ mình có vết sẹo dài, anh hỏi và nghe vợ kể lại lai lịch của mình theo lời mẹ cha. Anh đau xót cảm thấy đã xúc phạm vào điều thiêng liêng nhất. Thế là không nói một lời anh bỏ nhà ra đi - người vợ mòn mỏi lên núi chờ chồng và...hóa đá.

    Dù chuyện dân gian có thế nào đi nữa, nhưng ít ra câu chuyện về nàng Tô Thị đã nói lên một điều mang tính chất phẩm giá và lòng sắt son của người phụ nữ. Phải chăng vì vậy mà nàng Tô Thị đã đi vào thi ca, đã đi vào tâm hồn của dân tộc, trở thành một biểu tượng cao quý của tình nghĩa vợ chồng. Nàng Tô Thị đã sống mãi trong lòng người và núi đá Tô Thị đã được ghi vào sử sách. Thế nhưng bây giờ thì nàng Tô Thị đã vĩnh biệt chúng ta. Nàng không chết vì thiên nhiên tàn phá. Trời đất hàng thế kỷ đã khắc họa một sự trung trinh về người phụ nữ trong huyền thoại này. Nàng Tô Thị đã chết vì sự thô bạo và dốt nát của một số người...

    Vào tháng bảy năm 1991, nàng Tô Thị đã bị giật sập và người ta đã đem nàng nung vôi. Chuyện kỳ lạ ở phía bắc con sông Kỳ Cùng xảy ra từ hai ba năm nay. Dư luận và báo chí ở địa phương đã nhiều lần báo động điều này khi một đơn vị khai thác đá vôi lên đây đào bới cả một quần thể thiên nhiên nổi tiếng ở Lạng Sơn. Người dân ở đây ban đầu phàn nàn sau đó là căm phẫn và bây giờ là hối tiếc. Nhưng mọi sự cũng đã rồi.

    Điều đáng nói ở đây là việc “hành quyết” nàng Tô Thị hoàn toàn không phải là chuyện ngẫu nhiên hay do sơ suất.

    Khu du tích Nhị Thanh, Tam Thanh và núi Tô Thị cách thị xã Lạng Sơn không bao xa và việc tàn phá di tích này không phải diễn ra trong một ngày một tháng, không phải chỉ là năm bảy người đục đẽo, mà là cả một “đội quân” được tổ chức qui mô. Trên hiện trường ấy, hơn một năm nay đã diễn ra biết bao vụ nổ mìn, biết bao âm thanh chát chúa, khói bụi thì mịt mù năm này tháng nọ. Lò nung vôi ở cửa động Nhị Thanh gần đó đã tiêu hủy nàng Tô Thị và biết bao nhiêu bài thơ của các bậc danh nhân chí sĩ một thời ghi khắc vào núi đá, hang động.

    Ngô Thì Sĩ (cha của Ngô Thì Nhiệm), một danh nhân của đời Lê Cảnh Hưng đã ghi vào quần thể văn hóa này một bài thơ nổi tiếng và khắc cả chân dung mình vào một động thạch nhũ:

    “Nhân cưỡi lừa chơi chốn động xưa
    Dùng dằng bên động cảnh càng ưa
    Suối trong đá trắng đường reo gọi
    Núi trước nàng Tô dãi nắng mưa”.

    Có sống vào thời buổi này chắc chắn Ngô Thì Sĩ cũng sẽ phải đau lòng khóc khi phải vĩnh biệt nàng Tô Thị, vĩnh biệt nguồn thi hứng dạt dào.
    Chung số phận với nàng Tô Thị là núi Tam Thanh với nhiều hang động nối tiếp. Đối diện với núi Vọng Phu, nằm trong dãy núi đá vôi, cách thị xã Lạng Sơn chừng 2km ở phía Tây Bắc, Tam Thanh có ba hang động rất đẹp.

    Động Nhất Thanh nhỏ nhất, bên trong đó có thờ Phật và tượng Ngô Thì Sĩ. Bên động Nhất Thanh là Nhị Thanh không rộng bằng nhưng khá sâu, chiều dài khoảng 500 mét xuyên từ bên này sang bên kia núi. Trước hang có nhiều cây cổ thụ rợp bóng, những cụm phong lan nhiều màu sắc rũ xuống rất dịu dàng. Hang động này có nhiều nhũ đá đủ màu sắc lung linh. Ra khỏi cửa hang Nhị là Tam Thanh, không sâu nhưng cao đến hơn 8 mét với nhiều nhũ đá đẹp. Dưới hang có dòng suối róc rách, bên trong hang có ngôi chùa cùng tên Tam Thanh là nơi nhiều du khách thường xuyên đến đây viếng cảnh.

    Chính tại ngôi chùa này, sau ngày nàng Tô Thị bị nung vôi, đứa con của nàng được một bà lão giữ chùa mang về đây thờ cúng. Bà lão giữ chùa đã tìm thấy chiếc đầu ấy khi người ta định nung vôi và một sự cảm xúc đầy nhân ái đã khiến bà kính cẩn nhặt lấy mang về thờ. Đây là phần “thân xác” duy nhất của mẹ con nàng Tô Thị còn được giữ lại, không phải do ngành văn hóa hay cơ quan bảo vệ di tích mà do một bà lão tốt bụng và nhận chân được cái giá trị thiêng liêng của cuộc sống này: đó không phải là đồng tiền kiếm được mà là tình người.

    Còn ngành văn hóa thông tin thì sao? Nhà của Quyền giám đốc Sở Văn hóa Thông Tin Lạng Sơn ở Pò Xoài, cách nàng Tô Thị và các khu di tích hang động chưa đầy 1km. Bộ Văn Hóa Thông Tin và Thể Thao cách Nàng Tô Thị và núi Tam Thanh 154km (Ý nói ở Hà Nội) chẳng phải đã không nghe được những lời than vãn về đợt tàn phá di tích này, bởi trong thời đại hiện nay các phương tiện khoa học kỹ thuật đã rút ngắn chiều dài không gian lẫn khoảng cách thời gian.

    Phải chăng, nàng Tô Thị không thể khóc than khi bị người ta đem nung vôi vì nàng đã hóa đá. Cho nên không ai trong số những người trách nhiệm nhận ra lời kêu cứu bi thảm của một người vợ thủ tiết chờ chồng?
    Phải chăng chỉ có những than vãn nói lên lời mới đánh thức được lương tri?

    Bây giờ thì nàng Tô Thị đã vĩnh biệt chúng ta. Và rồi đây, dù đời sau có xây dựng bao nhiêu nàng Tô Thị đi nữa cũng không thể nào bù đắp được một món quà tặng đầy ý nghĩa mà thiên nhiên đã ban cho chúng ta.

    Kết thúc bài viết, chúng tôi xin ghi lại xúc cảm của nhạc sĩ Lê Thương, người đã làm tôn vinh lòng sắt son của người chinh phụ trong trường ca Hòn Vọng Phu nổi tiếng được anh sáng tác cách đây gần nửa thế kỷ, lấy nguồn cảm hứng âm nhạc từ sự tích nàng Tô Thị.

    “Tôi vô cùng thương tiếc khi biết người ta giết nàng Tô Thị: Đó là sự mất mát tình cảm không chỉ của riêng tôi mà còn là sự tiêu hủy những nguồn thi hứng, nhạc cảm: một sự xúc phạm thiên nhiên thô bạo. Lợi lộc có đáng bao nhiêu đâu mà người ta phải làm một việc sai lầm như thế”.

    Dù sao thì nàng Tô Thị cũng đã vĩnh biệt chúng ta!

    HÀ VINH


    Similar Threads
  • #2

    Thiếu phụ Nam Xương

    VỊNH MIẾU VỢ CHÀNG TRƯƠNG
    Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương
    Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
    Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ
    Cung nước chi cho lụy đến nường
    Chứng quả có đôi vừng nhật nguyệt
    Giải oan chi mượn đến đàn tràng
    Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
    Khá trách chàng Trương khéophũ phàng
    Vua Lê Thánh Tôn
    Nếu như Hương Bình và quý bạn đã biết huyền thọai về Nàng Tô Thi , có lẻ cũng nhớ chuyện thiếu phụ Nam Xương cũng mòn mõi trông đợi tin chồng...


    Thiếu phụ Nam Xương

    Ngày xưa, ở làng Nam Xương, có cô gái tên là Vũ Thị Thiết, người đã xinh đẹp lại thùy mị nết na. Biết bao chàng trai làng bên dòm ngó, nhưng nàng không rung động một ai, bởi vì trong trái tim nàng đã có bóng hình của chàng Trương Sinh vốn là người cùng làng.
    Hai người đã thề non hẹn biển sống với nhau cho đến đầu bạc răng long.
    Thế rồi mọi chuyện đều diễn ra như ý muốn, đôi bên cha mẹ rất bằng lòng xe duyên cho họ.
    Rồi nàng trở thành vợ chàng Trương dưới sự chứng kiến của họ hàng đôi bên.
    Tuy đã có chồng, nhưng nàng vẫn đẹp như xưa, có rất nhiều chàng trai tưởng lầm nàng chưa chồng nên hay buông lời chọc ghẹo.
    Việc này làm cho chàng Trương nổi máu ghen tuông hay xét nét vợ.
    Nàng nghĩ vì chồng quá yêu nàng nên không lấy đó làm buồn, mà càng giữ gìn khuôn phép, đi thưa về trình và tránh xa những lời chọc ghẹo của bọn trai làng hơn nữa, nên vợ chồng chẳng có chuyện gì xảy ra.
    Hai người sống rất hạnh phúc cùng với người mẹ già trong mái nhà tranh.
    Vợ chồng hương đượm lửa nồng chưa được bao lâu thì bỗng nghe tin chốn biên thùy có giặc.
    Mọi người đang ở trong tâm trạng lo âu thì một ngày kia, triều đình phát loa rao truyền tuyển quân vang lên khắp xóm:
    - Loa loa... Toàn dân nghe cho rõ đây! Quân giặc ngang nhiên tràn qua biên giới xâm lược nước ta. Vì vậy tất cả đàn ông trai tráng trong làng phải lên đường làm nghĩa vụ của những người yêu nước để giữ yên bờ cõi nước nhà.
    Nhận được tin, ai nấy đều vâng lệnh, chuẩn bị lên đường.
    Chàng Trương Sinh cũng không ngoài số đó, vâng lệnh vua, từ giã mẹ già cùng người vợ trẻ, lên đường làm nghĩa vụ của người con trai trong thời chiến.
    Buổi chia tay thật bịn rịn, lòng chàng Trương rối bời xen lẫn lưu luyến khi bỏ lại người mẹ già và người vợ đang bụng mang dạ chửa.
    Nhưng người mẹ đã khuyên chàng hãy vững lòng ra đi đánh giặc, chúc cho con chân cứng đá mềm để sớm đoàn tụ cùng gia đình. Còn chàng Trương thì chỉ biết nhắn nhủ vợ gắng phụng dưỡng mẹ già và nuôi con khôn lớn.
    Sau khi chàng Trương chưa đi được bao lâu thì Vũ Thị Thiết sinh được một đứa con trai thật kháu khỉnh. Hai mẹ con đặt tên cho nó là Đản.
    Thằng bé sởn sơ mạnh khỏe khiến hai mẹ con cũng đỡ nỗi buồn cô quạnh. Mỗi khi nhớ đến chàng Trương thì chỉ cần nhìn thằng Đản là vơi nỗi buồn, vì nó giống cha như tạc.
    Tối tối bà cháu quay quần bên ngọn đèn dầu tạo nên một bức tranh vô cùng đẹp đẽ, đầy sự ấm áp của một gia đình, cho dù thiếu bóng người chồng đang chinh chiến phương xa.
    Thế rồi thời gian trôi qua, Vợ chàng Trương biến nỗi nhớ mong thành hành động để lo cho mẹ già và đứa con thơ, nên dù nhớ thương chồng, nàng vẫn vững dạ chờ mong.
    Riêng người mẹ chồng vì tuổi già sức yếu, lại thêm nỗi buồn không gặp lại con khiến bà ngã quị.
    Người thiếu phụ luôn nhớ lời chồng dặn dò nên hết lòng thuốc thang. Nhưng bệnh của bà ngày càng một nặng, chẳng bao lâu bà qua đời.
    Nhờ bà con xóm làng hết lòng giúp đỡ nên việc ma chay cũng chu toàn mọi bề.
    Còn lại hai mẹ con, người thiếu phụ cảm thấy buồn và cô đơn, nhưng sức mạnh của tình yêu khiến nàng quyết tâm đứng vững.
    Ngày ngày gánh con ra đồng, để con trong thúng ngồi chơi một mình, còn nàng xuống ruộng lo việc cày cấy, làm lụng nuôi con.
    Mấy mùa thu qua, bóng chàng Trương vẫn bặt vô âm tín, người thiếu phụ mỏi mòn vì trông đợi, nhưng rồi nàng cũng gắng sức giấu nỗi thất vọng vào lòng để lo cho con và hương khói cho mẹ chồng làm tròn bổn phận của dâu con.
    Mỗi khi đêm về, vợ chàng Trương mới có thời gian để may vá và chơi đùa với con. Những lúc đứa bé khóc hỏi cha đâu, thì nàng thường chỉ vào bóng của mình trên vách và bảo:
    - Nín đi con! Kìa bố đã về. Đấy! Đấy!
    Đứa bé nhìn vào bóng mẹ trên vách, tưởng là cha thật nên nín khóc.
    Cứ như thế lâu dần thành thói quen. Thằng Đản thường đòi gặp bố trước khi đi ngủ. Cái bóng đen đen trên tường từ đấy đối với cả mẹ lẫn con trở thành một hình dáng thân quen, như là một người thân thích vậy.
    Rồi chiến tranh cũng phải có lúc chấm dứt, cõi biên thùy lại bình yên như xưa. Những người lính được trở về quê quán của mình. Trương Sinh cũng được nằm trong số đó.
    Dưới bóng cờ khải hoàn, mọi người cùng nhau lên đường trở về, mặt ngời lên niềm vui không tả xiết.
    Bao tháng ngày lưu lạc phương xa, dầm mưa giãi nắng, nay được đoàn tụ cùng gia đình, nào ai không hoan hỉ và nô nức gặp lại người thân?!
    Chàng Trương còn nôn nóng hơn vì qua mấy năm mà chưa hề gặp mặt con.
    Sau bao năm tháng ly biệt vì chiến chinh, nay hai vợ chồng gặp lại nhau ở đầu làng, mừng mừng tủi tủi.
    Chàng đau lòng vì mất người mẹ thân yêu, nhưng có niềm vui bù lại khi có đứa con trai bụ bẫm.
    Thằng Đản bây giờ đã lên ba tuổi, và đã biết nói bập bẹ. Tuy nó vẫn để cho bố bồng bế, nhưng dường như vẫn có cái gì đấy xa lạ...
    Chàng Trương không buồn vì cho rằng đó là điều tự nhiên, vì chàng vắng nhà và xa con lâu quá nên làm sao nảy sinh tình cảm thân thiết được?
    Qua ngày hôm sau, Trương Sinh hỏi mộ mẹ rồi bế con đi thăm. Ra đến đồng, thằng Đản quấy khóc, chàng Trương dỗ dành:
    - Con nín đi, đừng khóc, bố yêu, rồi bố mua quà cho mà ăn.
    Thằng bé đáp ngay:
    - Ông không phải là bố Đản... bố Đản khác kia... Chỉ đến tối bố mới đến nhà.
    Nghe con nói, Trương Sinh thấy đau nhói ở tim. Chàng ngạc nhiên rồi nhìn con hỏi dồn:
    - Thế thì bố của Đản như thế nào? Con nói đi!
    Thằng Đản ngây thơ đáp:
    - Tối nào bố Đản cũng đến... Mẹ Đản đi thì bố cùng đi, mẹ Đản ngồi thì bố cùng ngồi... nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.
    Mấy lời vô tình của con trẻ làm cho Trương Sinh tin là vợ mình ngoại tình, không còn nghi ngờ gì nữa.
    Máu trong đầu bốc lên, lòng đau đớn vì bị phản bội, không ngờ người vợ thùy mị nết na của mình lại đem lòng phản trắc khi chồng vắng nhà vì phải lo việc chinh chiến để bảo vệ tổ quốc.
    Càng nghĩ Trương Sinh càng giận, thắp hương xong, chàng vội vàng trở về nhà.
    Trong khi ấy thì ở nhà, lòng người thiếu phụ như nở hoa, vì tất cả mọi việc nàng làm đều đầy ắp niềm vui sướng khi được đón chồng trở về.
    Nàng định bày ra một bữa cơm thịnh soạn mừng ngày đoàn tụ cùng chồng.
    Nhưng người vợ chẳng thể ngờ được là lòng Trương Sinh đang dậy sóng, cứ nghĩ đến người vợ xinh đẹp trong tay kẻ khác thì cơn ghen bừng bừng bốc lên.
    Chàng lẩm bẩm:
    - Thật là quá rõ. Không ngờ trong khi mình gian lao ở ngoài biên ải... Thế mà ở nhà lại còn...
    Vừa thấy bóng Trương Sinh từ xa, người vợ vội vàng bước ra đón, tưởng rằng sẽ tìm thấy niềm hoan hỉ trong ngày đoàn tụ.
    Nhưng không ngờ đụng phải bộ mặt hầm hầm của chồng, và nàng chưa kịp hỏi thì chàng Trương đã chỉ mặt nàng rít lên:
    - Tao không ngờ mày là đồ thất tiết, chồng đi vắng, tối tối lại rước trai về nhà.
    Vợ chàng Trương bất ngờ trước lời buộc tội của chồng, không hiểu do đâu mà lại nói như vậy, song nàng cũng cố nén lòng để phân trần giải nỗi oan này.
    Nhưng chàng Trương nhất định không nghe, và cũng chẳng nói cho vợ biết là do miệng thằng Đản nói ra, cứ việc đổ tội cho vợ mình là kẻ ngoại tình đáng bị lên án. Người thiếu phụ chỉ biết vừa khóc vừa nói:
    - Cách biệt ba năm, thiếp một lòng một dạ với chàng, đâu có phải là kẻ hư thân mất nết như lời chàng nói. Chàng đừng ngờ oan cho thiếp mà vương thêm tội.
    Vợ càng nói thì chồng càng giận, rồi không thể kềm chế được cơn ghen hờn, chàng Trương bắt đầu dùng lối vũ phu tra khảo vợ thật là tàn nhẫn.
    Nghe có tiếng la hét trong nhà Trương Sinh, mọi người trong làng rất đỗi ngạc nhiên, vì nỗi vui mừng đoàn tụ của đôi vợ chồng trẻ chưa tròn mà đã xảy ra xô xát, họ không thể làm ngơ, nên đã kéo đến nhà chàng Trương.
    Khi nghe phân trần xong sự việc, tất cả đều bất bình can ngăn chàng Trương và nói tốt cho vợ chàng.
    Nhưng chẳng ăn thua gì, chàng Trương bị cơn ghen làm mất cả lý trí, lại cho rằng vợ chàng khéo mồm khéo mép nên được lòng mọi người, chứ nhất quyết không tin đến lòng trung trinh của vợ.
    Trong cơn phẫn uất, người thiếu phụ ôm ghì lấy con mà khóc, rồi biết chắc rằng không thể minh oan với chồng mình là người tiết hạnh trước sau cũng chỉ yêu một người, thì chỉ còn lấy cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình mà thôi.
    Bởi vậy nên nhân lúc chồng sang nhà hàng xóm, người thiếu phụ lạy tạ linh vị mẹ chồng rồi đặt con xuống, chạy một mạch ra bến Hoàng Giang trầm mình xuống nước tự vẫn.
    Cánh hoa hương sắc đã gởi cho dòng nước xiết cuốn trôi...
    Khi chàng Trương về nhà thấy mất hút bóng vợ thì biết có sự chẳng lành. Nghe mọi người chạy ra bến Hoàng Giang nói rằng có người tự vẫn thì hốt hoảng chạy ra theo. Không ngờ người ấy lại là vợ mình.
    Chàng Trương vô cùng hối hận thuê người mò xác vợ, nhưng dòng nước chảy xiết mãi đến tối cũng chẳng thấy xác nàng đâu. Nước cuốn hoa trôi, làm sao tìm lại bóng dáng của người yêu dấu?! chàng Trương khóc lóc thảm thiết, ân hận về những gì mình làm cho vợ đau khổ đến nỗi phải tuẫn tiết.
    Tối đến, thằng Đản lại khóc vì vắng mẹ, Trương Sinh thắp đèn lên rồi ngồi dỗ con thì không ngờ lúc ấy, thằng bé chợt kêu lên:
    - Ồ, bố Đản đã đến kia kìa!
    Chàng Trương ngạc nhiên hỏi:
    - Đâu con? Bố Đản đâu?
    Thằng Đản chỉ vào bóng chàng trên vách mà nói:
    - Đấy! Đấy! Chính là bố Đản đấy!
    Trương Sinh ngẩn người ra khi nghe thằng Đản nói, chàng nhớ lại lời con khi đi thăm mộ, bây giờ mới chợt hiểu ra sự thật này thì đã muộn.
    Giờ đây biết được nỗi oan tày trời của vợ, chỉ vì lòng ghen tuông nóng nảy của mình mà ra, nhưng đã muộn mất rồi, người thiếu phụ đức hạnh đã quyên sinh, còn làm gì được nữa?
    Trương Sinh chỉ còn biết ngày ngày bồng con ra bến Hoàng Giang, nhìn xuống dòng sông mà khóc.
    Quá hối hận và cũng không biết làm sao để chuộc lại lỗi lầm của mình, nên từ đó về sau, chàng Trương không lấy vợ khác, ở vậy nuôi con, và đêm ngày nhang khói cho nàng hầu mong nàng ở chốn tuyền đài tha thứ cho mình.
    Về sau, người trong làng thương nhớ nàng, cho nàng là người trung liệt, nên đã dựng một cái miếu để thờ ngay trên bến Hoàng Giang.
    Miếu này thờ bà Vũ Thị Thiết, quen gọi là Miếu Vợ Chàng Trương.
    Vua Lê Thánh Tông đã có lần ngự lãm qua đây và biết được câu chuyện về một người nữ tiết hạnh nên đã cảm thán đặt một bài thơ:
    Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
    Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
    Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ
    Làn nước chi cho lụy đến nàng...
    HVP sưu tầm
    Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 04-12-2011, 12:43 AM.

    Comment

    • #3

      Xướng Họa "VỊNH MIẾU VỢ CHÀNG TRƯƠNG"

      Xướng Họa "VỊNH MIẾU VỢ CHÀNG TRƯƠNG"
      Liên Hoàn Thập Tam Khúc:
      I
      Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương
      Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
      Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ
      Cung nước chi cho lụy đến nường
      Chứng quả có đôi vừng nhật nguyệt
      Giải oan chi mượn đến đàn tràng
      Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
      Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng
      Vua Lê Thánh Tôn
      II
      Phũ phàng trót nhận bởi người thương
      Giọt đắng hòa trong giấc mộng thường
      Tại phận hoa hèn không thắm nhụy
      Vì thân cỏ dại chẳng nồng hương
      Đau buồn gởi tới mây đầu phố
      Khổ hận trao đi gió cuối đường
      Để được vùi chôn sầu thế thái
      Phiêu du trọn kiếp khắp ngàn phương
      QuynhNguyen
      27/10/2006
      III
      Trọn kiếp làm sao xóa bóng nường
      Vì tin trẻ dại chuốc sầu thương
      Hờn ghen một phút thần không định
      Nóng giận đôi giây trí chẳng tường
      Nước bạc hiền thê thân thảm não
      Đầu xanh khuyễn tử phận thê lương
      Đêm dài tiếng cú buồn văng vẳng
      Phu phụ từ nay biệt nẻo đường
      Glc
      27/10/2006
      IV
      Từ nay cách biệt bởi âm dương
      Tưởng nhớ người xưa dưới nguyệt đường
      Nghĩa ái không suông đành rẽ bóng
      Ân tình chẳng vẹn phải lìa hương
      Đêm ươm giấc mộng tìm hơi gối
      Lệ thấm vành mi nhuộm ảnh nường
      Phản chiếu đèn chao trên vách đá
      Nghe buồn vọng lại tiếng lòng vương
      Ái Linh
      28oct2006
      V
      Vương sầu khóe mắt mộng buông lơi
      Ngẫm nghĩ mà thương một kiếp đời
      Phụ tử không tin lòng chới với
      Phu thê chẳng tín dạ chơi vơi
      Người đi âm thế tâm tơi tả
      Kẻ ở trần gian trí rã rời
      Nguyện ước lai sinh mình trọn vẹn
      Tình nồng nghĩa thắm lệ nào rơi
      QuynhNguyen
      28/10/2006
      VI
      Nghĩa thắm tình xưa cũng hết rồi
      Vầng trăng ai nỡ xẻ làm đôi
      Thương người bóng lẻ vừa rưng lệ
      Xót bụi hồng đơn mới trổ chồi
      Chẳng trách lời khuyên trôi dưới thác
      Không hờn tiếng hét thoảng trên môi
      Nương theo gió vọng về thăm trẻ
      Gà gáy canh khuya được mấy hồi
      Ái Linh
      28oct2006
      VII
      Mấy hồi cách trở nghĩa tình lang
      Vây kín sương đêm lạnh kiếp nàng
      Bóng lẻ đèn khuya lòng rũ rượi
      Chăn đơn giấc muộn dạ hoang mang
      Suy tàn phận gái vì oan nghiệt
      Sút yếu thời trai bởi lỡ làng
      Khác biệt sự đời đen trắng đó
      Thương người bạc mệnh phủ màu tang
      Mỹ Linh
      (29/10/2006)
      VIII
      Thương người bạc mệnh phủ màu tang
      Ngọn sóng dìm sâu bóng dáng nàng
      Gió sớm cớ đưa chàng vọng tưởng
      Đèn khuya nỡ để thiếp ưu mang
      Giá trong giờ đã hờn "se cát"
      Tiết hạnh từ đây hận "dã tràng"
      Cảm tiếc hồng nhan nhiều tục lụy
      Nghìn năm gương sáng hãy còn vang
      ThuyAnh
      29/10/2006
      IX
      Nghìn năm tiếng nấc mãi còn vang
      Thương trẻ khổ đau động suối vàng
      Trót dại hỏi Cha, Cha phạm tội
      Lỡ lầm chỉ bóng, bóng thành tang
      Buồn thân bi đát nhiều oan ức
      Thảm kiếp trớ trêu thật bẽ bàng
      Gào thét giữa trời mong Mẹ hiểu
      Cả đời tủi hận phải hoài mang
      Mỹ Linh
      30/10/2006
      X
      Cả đời tủi hận phải hoài mang
      Nóng giận mà chi để lỡ làng
      Yến lạc chia bầy trông nắng lại
      Oanh rơi mất tổ ngóng ngày sang
      Đèn soi vách rọi nên lơ láo
      Bóng chiếu hình in khiến ngỡ ngàng
      Sấm nổ bên trời như chuyển động
      Xui người hứng trọn mảnh hồn tang
      Ái Linh
      30102006
      XI
      Hứng trọn đau thương kiếp phũ phàng
      Nơi lòng mộ lạnh gió về ngang
      Đêm khuya héo hắt hồn chia cách
      Cảnh vắng đìu hiu dế khóc than
      Tạo hóa an bày cung ái vỡ
      Ông xanh chỉ định nghiệp đời mang
      Duyên mình đã dứt... tình hai ngã
      Thiếp ở miền âm vẫn nhớ chàng
      QueHuong
      07012007
      XII

      HVP sưu tầm
      Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 04-12-2011, 12:39 AM.

      Comment

      • #4

        (Bây giờ thì nàng Tô Thị đã vĩnh biệt chúng ta. Và rồi đây, dù đời sau có xây dựng bao nhiêu nàng Tô Thị đi nữa cũng không thể nào bù đắp được một món quà tặng đầy ý nghĩa mà thiên nhiên đã ban cho chúng ta.)

        Chỉ còn biết kêu trời , vì qd chưa được tận mắt thấy nàng Tô Thị mà giờ nàng đã ra< người thiên cổ>, tiếc lắm thay....
        <Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng>

        Comment

        • #5

          HNhu được một lần ngắm nàng Tô Thị ... tưởng tượng! Vì, nàng...từng bồng con đứng đó!
          Hỏi người địa phương, họ nói "...bà ấy ở núi kia cơ!"
          Nghe ghét ghê cho sự ấu trĩ của chính quyền địa phương nơi đó, lúc bấy giờ.
          Chợt nhớ có lần đọc hai câu thơ do bác CO sưu tầm, hình như của nhà thơ Hoàng Cầm:
          " Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa.
          Có nàng Tô Thị "nó" vừa nung vôi..."
          Đã chỉnh sửa bởi Hương Nhu; 04-12-2011, 05:20 AM.

          Comment

          • #6

            (Bây giờ thì nàng Tô Thị đã vĩnh biệt chúng ta. Và rồi đây, dù đời sau có xây dựng bao nhiêu nàng Tô Thị đi nữa cũng không thể nào bù đắp được một món quà tặng đầy ý nghĩa mà thiên nhiên đã ban cho chúng ta.)

            Chỉ còn biết kêu trời , vì qd chưa được tận mắt thấy nàng Tô Thị mà giờ nàng đã ra< người thiên cổ>, tiếc lắm thay....


            Nàng Tô Thị


            Bãi đất trắng là chứng tích còn lại của hòn Vọng Phu xứ Thái ở huyện miền núi Quế Phong ngày nay.
            Bay như mộng du, từ thuở hồng hoang đã thăng hoa
            dừng lại một lần để đắn đo thức tỉnh.
            Bay thăng hoa, để rồi chờ đợi, để hoá thành vọng phu.
            Yêu như ông bà nhà ta, để rồi hoá đá, để rồi bất tử.
            Nắng mưa tìm nhau, bão giông tìm nhau, sớt chia cùng nhau, này là nỗi oan nghiệt ngã
            Nỗi oan trời cao
            Nỗi oan biển sâu
            Nỗi oan tiền kiếp,em có tội gì đâu
            Gặp nhau là say, say ngất say ngây, mở mắt mà trông kìa, thế gian cười
            Cười em cũng đợi,cười em vẫn đợi,hoá đá
            Nắng mưa tìm nhau, bão giông tìm nhau, sớt chia cùng nhau, này là nỗi oan nghiệt ngã
            nỗi oan trời cao
            nỗi oan biển sâu
            nỗi oan tiền kiếp em có tội gì đâu
            gặp nhau là say, say ngất say ngây
            mở mắt mà trông kìa, thế gian cười
            cười em cũng đợi
            cười em vẫn đợi
            hoá đá, hoá đá


            Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 04-12-2011, 05:56 PM.

            Comment

            • #7

              Nàng Tô thị bên trái giống mới làm hả anh 2....?
              <Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng>

              Comment

              • #8

                Nàng Tô thị bên trái giống mới làm hả anh 2....?
                quynh dao nhận xét đúng rồi



                Núi Tô Thị ngày xưa

                Tô Thị ngày nay
                Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 04-12-2011, 06:06 PM.

                Comment

                Working...
                X
                Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom