• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Huyền Thoại Đại Cathay

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Huyền Thoại Đại Cathay

    Huyn Thoi Đại Cathay










    Ngày ấy, truoc 1975, danh tiếng của người đứng đầu “tứ đại giang hồ” là Đại Cathay được cả miền Nam đều biết tiếng, nhất là sau này qua cuốn tiểu thuyết của nhà văn Duyên Anh “điệu ru nước mắt”. Trận hỗn chiến giữa Đại Cathay với Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế đã đưa Đại lên đứng đầu nhóm này. Trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã cho Đại Cathay lập nên một đế chế mà khắp Sài Gòn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu. Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam cũ phải sợ một tên du đãng Đại Cathay đến nỗi tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ phải “xuống nước” mời ra làm nhân viên công lực quốc gia hay tướng cảnh sát Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan mời làm đại úy cảnh sát.


    Hình nh ca Đại Cathay vi mái tóc bng bnh, qun Jean, giày cao c, trên môi không ri điu thuc, Zippo, ... Nhng gìĐại Cathay đã to dng chđứng ca mình trong gii giang h tht khác bit.đó s liu lĩnh không được đánh giá cao bng li sng "tình nghĩa" đáng để suy ngm...

    Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì. Chính Đại Cathay cũng… không biết tên thật của mình nốt. Hơn chục lần bị điệu về bót cảnh sát, Đại tự khai cho mình hơn chục lai lịch khác nhau. Theo đó, cha của hắn lúc là Lên Văn Cự, lúc lại là Trần Văn Trự… Mẹ của Đại Cathay cũng khá… nhiều tên, lúc là Hương, lúc là Duyên, sống hay chết thì “có trời mà biết”. Nói tóm lại, như Đại Cathay thường tự nhận, gã là một thằng… con trời có lẽ xuôi tai hơn cả.

    Kì thực, Đại tuổi Thìn, sinh năm 1940. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mẹ của Đại tên gì không rõ, chỉ biết người xung quanh thường gọi là bà Sáu. Còn cha Đại thì chính tên là Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Sau năm 1945, Hai Cự tham gia kháng chiến, trở thành lính của “Mười ban tự vệ công tác thành”, sau đó bỏ vào chiến khu rừng Sác đầu quân vào bộ đội Bình Xuyên của thủ lĩnh Ba Dương (tức Dương Văn Dương). Đại sinh ra giống cha như đúc nhưng tuổi thơ rất ít được gần cha. Thuở nhỏ, gã sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay la Đoàn Văn Bơ Quận 4). Cả cha lẫn mẹ của hắn đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh chợ cũ, Quận 1. Đại thường xuyên trốn học chạy sang chơi vơi đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất "lì đòn", những đức tính được "thừa kế" đầy đủ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, gã đã thường xuyên luồn lách vào các chợ, sạp hàng xung quanh, ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

    Sau 1945 cha Đại tham gia kháng chiến và bị bắt vào cuối năm 1946, bị đày ra Côn Đảo và ít lâu sau thì chết. Cha mất, mẹ lấy chồng khác. Bố dượng là 1 tay máu me cờ bạc, lại nghiện thuốc phiện năng nên gia sản dần dần biến hết. Cáu bẳn vì sinh kế, ông dượng thường nọc đứa con riêng của vợ ra hành hạ để hả cơn bực tức. Không chịu nổi, Đại bỏ học hẳn, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo tự nuôi thân. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ. Tại đó có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại cứ lăn xả vào đối thủ liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn nửa cái đầu cũng mặc. Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy vết rách bầm. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng nghiễm nhiên, gã được quyền ráp thêm "tên đất" vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, "đại ca" đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954 lúc Đại mới 14 tuồi.

    Trở thành "anh chị", Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em "đi làm" mang tiền về nộp. Mỗi buổi sáng, hàng chục thiếu niên Ba Binh, Ba Tướng, Ba Gà (hỗn danh để gọi đám trẻ du đãng chưa có tên tuổi. Ba Binh là quân sư, Ba Tướng là những thằng trực tiếp đi đánh nhau còn Ba Gà là những tên thuyết khách) cả trai lẫn gái tụ tập quanh Đại Cathay nhận công việc và địa bàn do hắn cắt cử, sau đó túa đi, chiều lại đem tiền về cho Đại. Được cái, hắn rất hào phóng, Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Những đàn em không may bị ế báo, bị mưa ướt thuốc, kẹo phải đền tiền, Đại Cathay cũng không chửi bới, đánh đập như những tên "chăn chíp" tham lam khác mà còn lấy của đứa "trúng mánh" cho thêm. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời "anh Đại". Tình trạng đánh lộn, tranh giành khách trong khu vực của Đại Cathay được dẹp yên.

    Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị các công cò bót quận Nhì xách tai lôi về bót. Hăm dọa, tát tai, đá đít đủ kiểu, thằng nhóc vẵn trơ trơ không chịu khai tên tuổi những đàn em tham gia ẩu đả, đám mã tà phú lít lại đành thả Đại về. Hết thuốc, các ông cò nảy ra đòn độc để trị Đại Cathay, bắt đàn em của đại đứng xem. Chúng bắt thằng nhóc quỳ giữa sàn nhà, hai ông cò hai bên xốc ngược tay Đại lên, cạy mồm, thả vào một con gián sống. Con vật lập tức chui tọt vào cổ họng lao thẳng xuống dạ dày. Ngứa ngáy, kinh tởm và nhột không chịu được, Đại Cathay ói ra mật xanh, mật vàng. Đám Ba Binh, Ba Tướng xung quanh lè mắt, có đứa hét lên ngất xỉu và đái ra quần. Đại Cathay, sau một hồi nôn thốc nôn tháo, bắt đầu trấn tĩnh, lại tiếp tục câm như hến, tuyệt đối không khai. Không còn cách nào khác, các thầy cảnh sát đành tống Đại Cathay vào trại tế bần hoặc Trại giáo hóa thiếu nhi phạm pháp ở Thủ Đức.

    Ở miền Nam trước giải phóng, có bốn nơi được coi là “lò đào tạo du đãng”. Nơi thứ nhất là Trại nuôi dạy trẻ mồ côi, cơ nhỡ nằm tại địa điểm nhà hát Hòa Bình hiện nay. Nơi thứ hai, Làng cô nhi Thủ Đức, điều kiện sống khá hơn nhưng vẫn rất lỏng lẻo, tha hồ cho đám tiểu yêu phá phách. Những tên nhóc bất trị nhất, hai trại trên đều không chứa nổi thường bị cảnh sát lùa vào Trại giáo hóa Thủ Đức. Thực chất, đây chỉ là nơi nuôi báo cô đám du thủ du thực, chờ chúng đủ tuổi là đẩy vào quân đội. Nơi thứ tư, Trại Tế Bần nằm bên kia cầu Trình Minh Thế (nay là cầu Tân Thuận), là một Trạm trung chuyển giam giữ những tên lưu manh sắp hết tuổi vị thành niên. Sau nửa tháng bị giam, nếu có người nhà bảo lãnh, đóng phạt, tên tiểu yêu sẽ được cho ra. Nếu không chúng sẽ bị nhốt lại, chờ đủ tuổi là tống vào đội quân “cưỡng bức phục vụ” tức lao công phục vụ chiến trường. Kẻ nào bị liệt vào hạng này coi như cầm chắc cái chết. Ngoài mặt trận, việc của họ là đi trước phát cây, mở đường, đào công sự, trong khi chân không giày dép, hai người chung một sợi dây xích chân, muốn chạy cũng không được, mặc kệ mưa đạn vãi cả trước mặt lẫn sau lưng. Biết trước số phận “bia thịt” của mình nên đám du đãng vào trại tế bần chưa ấm chỗ đã tìm cách trốn. Lọt ra khỏi vòng rào các trại, đám nhóc lại lần về với các băng nhóm du đãng, bụi đời.

    Hầu hết đám giang hồ Sài Gòn nổi tiếng sau này đều đã từng qua đủ các trại nói trên. Thuộc hang vào ra như cơm bữa, Đại Cathay được liệt vào loại “tù con rạ”, để phân biệt với đám “tù con so” mới nhập trại lần đầu. Ở các trại, Đại Cathay đã làm quen với những Của Gia Định, Lâm chín ngón, Hắc quảy quảy, Hòa áo thun… những chiến hữu đắc lực sau này trên chốn giang hồ.

    Mỗi lần vào trại rồi trốn ra, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, càng “tích cực” lao đầu vào những trận thư hùng - vốn là thứ năng khiếu nổi trội hơn cả ở hắn.

    Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực Hãng phân Khánh Hội cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám trẻ con khu vực này đón tiếp Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ nhóc tì khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân bến tàu vựa cá, vựa rau cải – vốn có hạng trong nghề dao búa – đều bị Đại Cathay qui phục về dưới trướng.

    Khi Đại Cathay còn là một cậu bé đánh giày thì toàn bộ khu vực Cầu Mống - Dân Sinh - Cầu Ông Lãnh mà dân giang hồ gọi là khu Da Heo, đều do một tay giang hồ nổi tiếng là Tám Lâu cai quản. Ở trần, quần dài vắt vai, đi đứng nói năng khụng khiệng, nét mặt luôn đằng đằng sát khí, Tám Lâu bị bà con khu Da Heo coi như một hung thần. Nghề chính là đạp xích lô, nhưng thực chất Tám Lâu là kẻ nhận quyền bảo kê thu thuế toàn bộ khu Da Heo, dưới trướng có hàng chục đàn em. Dưới nệm xích lô, Tám Lâu luôn thủ sẵn "hàng mã", sẵn sàng vung ra bất cứ lúc nào với bất cứ ai.

    Nhiều lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày dẫn quân đập lộn, Tám Lâu đâm "chịu" Đại. Thỉnh thoảng ngồi nhậu thấy Đại đi qua, Tám Lâu lại ngoắc vào kê ghế cho ngồi cạnh mần hơi cho ấm bụng. Qua những lần nhậu ké đó, Đại Cathay được Tám Lâu giới thiệu như một tay trẻ tuổi tài cao đầy hứa hẹn với đám giang hồ đàn anh: Ba Hội, Cảnh Tượng... Tám Lâu cũng thường đưa Đại đến các khu Lò Heo (cũ), Chánh Hưng, hẻm Hai mươi để làm quen với các tay anh chị khu vực khác. Nể tình Đại Cathay cũng hay ghé đến hẻm 110 Nguyễn Công Trứ để thăm hỏi Tám Lâu.

    Tuy hung tợn, dữ dằn nhưng Tám Lâu vẫn phải thúc thủ trước uy thế của anh em Bé Bún, một trùm giang hồ quận 4, khu vực cạnh Hãng phân nơi Đại Cathay trú ngụ. Cậy đông quân lắm mã, đám này thường kéo rốc qua Cầu Ông Lãnh, tràn vào "thu thuế" giật bà con thiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu không cản nổi.

    Một ngày cuối năm 1957, tình cờ nghe đàn anh thở ngắn than dài, nộ khí xung thiên, Đại Cathay đề xuất:
    - Anh Tám để đó em lo. Phải cho Bé Bún nằm viện, đám này mới ngán!

    Tám lâu gạt phắt:
    - Con nít biết gì? Tao còn thua nó, mày là cái đinh gỉ!

    Tự ái Đại Cathay bỏ về. Lúc này đám Ba Binh, Ba Tướng của Đại cũng đã lớn, toàn thanh niên 17, 18 tuổi, lại lăn lộn lề đường nhiều nên cũng khá dày dạn. Nghe lời Đại Cathay, đám này vác dao qua Bến Vân Đồn "chém bậy" vài tay em của Bé Bún để khiêu khích. Điên tiết, Bé Bún hô toàn bộ em út tấn công sang khu Da Heo hỏi tội Tám Lâu. Quân Bé Bún quá đông, khiến Tám Lâu và đám đàn em hoảng hốt, định bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi Cầu Ông Lãnh, băng Bé Bún đã ôm đầu máu chạy ngược trở lại, kêu la vang trời. Không nói trước với đàn anh nửa câu, Đại Cathay đã âm thầm cho đàn em của mình "trải đệm", bất ngờ "luộc" băng Bé Bún. Dưới sự chỉ huy của Đại Cathay, đám giang hồ tân binh tả xung hữu đột lăn xả vào chém quân Bé Bún, xộc thẳng sang cả bên kia cầu. Nói là làm, Đại Cathay đã xỉ cho Bé Bún mấy nhát sau đó phải nằm viện thật, không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa.

    Sau trận hỗn chiến, Tám Lâu đâm ớn "tài ba" của Đại Cathay. Một mặt, Tám Lâu tuyên bố trong khu Da Heo, Đại Cathay có toàn quyền xử sự, mặt khác y lại lo ngay ngáy bị Đại Cathay lấy làm đối thủ. Biết ý, Đại tuyên bố không giành đất, khu Da Heo vẫn của Tám Lâu. Phần Đại, gã chỉ thu thuế các sòng bài, ổ đề, tiệm hút trong khu vực. Tiếp đó, Đại vươn tay bảo kê tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu bao gồm xưởng nấu xà phòng, lò mổ heo, lò rượu...trong khu. Có tiền có quyền, Đại dần dần đã khiến các tay anh chị khác phải dạt ra. Đại Cathay tha hồ ăn chơi và làm mưa làm gió.

    Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập vào miền Nam. Các cậu ấm cô chiêu con nhà giàu tuy được ăn học đàng hoàng nhưng cũng học đòi nhau, thường xuyên có mặt ở các nhà hàng, vũ trường, tiệm hút với đủ kiểu quần áo tóc tai dị hợm. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí... giả trong khoản ăn chơi. Nhẵn mặt ở các nơi đốt tiền nổi tiếng của quận 1, quận 3, Đại Cathay và đám đàn em bắt đầu quen biết với một đám sinh viên, kỹ sư, bác sĩ con nhà gia thế, trong đó có anh em Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò, Hoàng Sayonara (tay này móc classic bản Sayonara rất "não nùng")... và nhiều văn sĩ nghệ sĩ khác. Đám nghệ sĩ trí thức cũng nể Đại Cathay chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã- trông bụi đời, hippi hơn cả. Chính Hoàng Sayonara sau đó đã trở thành quân sư hoạch định chiến lược làm ăn và chinh phạt cho Đại. Nghe lời các quân sư, Đại Cathay đứng ra cùng với Bảy Si, bà Bảy Trà đá mở sòng bài lấy xâu ở khu vực Cầu Muối.

    Ban Đầu Đại Cathay không thích mở sòng bài vì dân giàu có đã có các sòng Đại Thế Giới, Kim Chung... Mở nữa e không cạnh tranh nổi, Hoàng Sayonara vẽ:
    - Không chỉ giàu mới máu me đen đỏ. Các sòng lớn như Kim Chung, Đại Thế Giới toàn dân quí tộc, chức sắc, dân giang hồ, người buôn bán ngại vô. Ta mở sòng vừa vừa kéo khách từ đám này.

    Đại Cathay đồng ý. Ở chợ Cầu Muối trước đó Bảy Si (anh vợ Năm Cam – ông trùm sòng bạc sau này) đã có sòng bài sẵn, nhưng khi nghe Đại Cathay đề nghị hùn hạp, Bảy Si cũng không thể chối từ. Thừa thắng, Đại mở rộng ra cả lĩnh vực làm huyện đề 40 con chung với Hỏi, trùm, khu Cây Da Xà. Hắn mua của Hùng đầu bò một chiếc Traction - 15, chiều chiều cho đàn em lái đi khắp các ngả đường vứt lên từng xấp "phơi" đề cùng với hàng cọc tiền chở về. Quyền lực được tiền bạc hậu thuẫn khiến Đại Cathay càng thêm uy thế. Đến năm 1962, 1963, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm khét tiếng. Gần như hầu hết nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều coi hắn như ông chủ đích thực, Đại Cathay và đàn em tha hồ ăn chơi nhảy múa mà không một nơi nào dám viết hóa đơn, thậm chí còn lấy làm vinh hạnh vì được đàn anh chiếu cố.

    Nhưng nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế bảo kê. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (Vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các "vu", Đại Cathay cũng làm quen, "chơi chịu" được với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

    Chỉ năm năm sau ngày khởi sự ở khu Da Heo, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm không đối thủ, được toàn giới giang hồ kiêng dè, sợ hãi. Nhưng vẫn còn ba ông trùm "lừng lẫy" khác không ưa gì Đại Cathay, đó là Huỳnh Tỳ, ông trùm Lê Lại, Ngô Văn Cái và Ba Thế. Cho rằng Đại "chơi kèo trên", giành mối, giành đất, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định "hội đồng" diệt Đại. Hai tên giang hồ họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World) cùng một giang hồ gộc là Thế Aristo - chủ vũ trường - có thêm Hùng phốc và Luân - 2 giang hồ cộm cán khác cùng hỗ trợ, mời Đại đến "bàn công việc". Không chút nghi ngờ, Đại Cathay đã bất ngờ bị Thế Aristo đá lộn cổ trở xuống. Bốn kẻ phục kích cũng nhất tề rút dao xông vào chém. Đại Cathay vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, chạy được ra ngoài, mình mẩy đầy thương tích nhưng may không chết. Những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại đã đơn thương độc mã giắt dao đi tìm từng tên một trị tội. Cả năm tên đều lần lượt bị Đại Cathay chém trọng thương. Cuối cùng Tám Lâu phải nhờ Cảnh Tượng, Ba Hội và một số tay đàn anh khác xin lỗi giúp cho năm tên, Đại Cathay mới nguôi giận, đồng ý "hòa giải". Danh xưng "Tứ Đại giang hồ" ĐẠI - TỲ - CÁI - THẾ bắt nguồn từ đó.

    Lẽ ra, với những thành tích bất hảo chồng chất lên nhau, Đại Cathay đã ngồi tù mọt gông từ những năm trước đó. Nhưng xã hội miền Nam đầy nhiễu nhương với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền đã tỏ ra bất lực không trị nổi Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Vào thời đó, chức quận trưởng quận 1 trị giá 30 triệu đồng, trong khi lương lính chỉ hơn 300 đồng cho nên những kẻ đương chức chỉ tìm cách vơ vét, làm giàu để bù lại số tiền đã bỏ ra mua lon tước. Cò Ly, quận trưởng quận 1 còn cố tình dung túng cho Đại Cathay mở sòng bài, hoạt động bảo kê thu thuế. Bù lại, hằng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường nhà hang sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Đương nhiên, lương quận trượng một năm cũng không đủ chi cho một lần nhất dạ đế vương nên ông cò chẳng bao giờ phải nghĩ đến chuyện móc hầu bao.

    Có tiền, có quyền, có thế, Đại Cathay quyết định bành trướng xuống Chợ Lớn, lãnh địa của Tín Mã Nàm, ông trùm giới Hắc Đạo người Hoa, xưa nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm.

    So với băng du đãng của Đại Cathay, giới Hắc Đạo của Tín Mã Nàm có tổ chức chặt chẽ và hùng hậu hơn nhiều. Dưới thời Diệm - Nhu, toàn bộ hoạt động kinh tài của các bang hội Hoa Kiều Chợ Lớn đều có cổ phần của giới Hắc Đạo. Toàn bộ nhà hàng, sòng bạc, tiệm hút... đều do giới này quản lý hoặc hùn hạp. Tuy nhiên, sau đảo chính tháng 11/1963, do tham lam, chính Tín Mã Nàm đã khiến giới Hắc Đạo suy yếu. Bắt tay với khá nhiều tướng lĩnh, chính khách thuộc phe đảo chính, "Con ngựa điên" đã bán đứng một số cơ sở kinh tài của các bang hội cho chính quyền mới, tố họ là "cơ sở kinh tài của Diệm - Nhu". Mặt khác, Tín Mã Nàm cũng tố cáo và giao nộp cho cảnh sát một loạt tay giang hồ Hoa kiều không ăn cánh với y như Hỏi Phòong Kin, Sú Hồng, Cọp Chảy, Quầy Thầu Hao, Hắc Quẩy Chảy... nhằm củng cố địa vị "Vua Hắc Đạo" của mình. Vì vậy, Tín Mã Nàm được trung tá Lê Ngọc Trụ - Trưởng ty cảnh sát quận 5 trọng dụng và ưu đãi, trong khi bị nhiều đàn em oán giận và tìm cách trả đũa.

    Trong những kẻ oán Tín Mã Nàm có tay tài pán tên Chó, người giúp việc cho Tín Mã Nàm quản lý ngành kinh doanh cờ bạc. Biết được sự chia rẽ đó, Đại Cathay đã sai đàn em dụ hàng tên này. Chó đã bán đứng Tín Mã Nàm, kéo một lượng lớn các con bạc nặng ký từ các sòng Đại Thế Giới, Hào Huê về Cầu Muối cho sòng của Đực Bà Tiều và Bảy Si thuộc quyền Đại Cathay, đồng thời bỏ luôn khu Chợ Lớn về theo Đại Cathay mở mang sòng bạc ở khu Sài Gòn. Biết chuyện, Tín Mã Nàm hạ lệnh cho giới Hắc Đạo:
    - Chém bất cứ tên đàn em nào của Đại Cathay bén mảng xuống Chợ Lớn.

    Chỉ chờ có thế, suốt 12 tháng trời, Đại Cathay đã liên tục đổ quân tập kích xuống các điểm làm ăn của Tín Mã Nàm ở vùng Chợ Lớn, chém phứa vào bất cứ ai rồi tức tốc bỏ chạy. Người bị chém thường là dân lành, khách chơi, chính vì vậy họ đâm sợ các điểm ăn chơi giải trí của Hắc Đạo, không dám lui tới nữa. Vắng khách, thu nhập thấp, đám cô hồn bảo kê của Tín Mã Nàm đành túa ra làm ăn lẻ để gỡ gạc, bất chấp kỷ luật của ông trùm. Nhưng cứ tên Hắc Đạo nào lọt xuống khu Sài Gòn là tên đó bị đàn em của Đại Cathay chặn đánh. Đầu năm 1964, biết phe Hắc Đạo đã hết phong độ, Đại Cathay quyết định đánh trận cuối, Đại dẫn theo 9 tên đàn em "chiến đấu" nhất, trong đó có Ba Thế và Lâm chín ngón đi trên 5 xe Goebel bất thình lình tấn công vào quán cà phê ngay trước rạp Hào Huê, đối diện với Đại Thế Giới. Đây là điểm tụ tập của các tay đàn em Tín Mã Nàm vào 2 buổi sáng chiều.

    Cuộc tập kích thất bại, hai bên đều thiệt hại nặng nề. Nhưng máu liều của Đại Cathay càng được giới giang hồ truyền tụng và vị nể. Tín Mã Nàm cũng lo lắng: nếu cứ để cho Đại Cathay tập kích mãi như vậy, giới Hắc Đạo chỉ còn nước dẹp hết sòng bài, tiệm hút vì không còn ai dám bén mảng. "Con ngựa điên" phải kìm cơn điên, cử người đến mời Đại Cathay lên nhà hàng Đồng Khánh điều đình. Đàn em cố khuyên Đại đừng vào hang cọp, e bị "trải điệm" nhưng Đại Cathay nổi máu yêng hùng, vẫn quyết định nhận lời. Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình tay không lên nhà hàng hội kiến với Tín Mã Nàm. Cử chỉ ngang tàng này khiến Tín Mã Nàm thầm phục. Hắn nhượng bộ, đồng ý giao toàn bộ khu vực từ chợ Nancy về Sài Gòn cho Đại Cathay toàn quyền . Phần quận 5, Chợ Lớn, đàn em của Đại được phép hoạt động với điều kiện không lấn vào những khu vực đã có sẵn người của Hắc Đạo. Riêng các khu vực chợ Sắt, chợ Tân Thành, hẻm "dzách bạc hồ hãn" (hẻm 100), Đại Cathay và đàn em tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn riêng của Tín Mã Nàm, nơi vợ bé của y sinh sống.


    Mỗi lần ra đường, Đại Cathay và băng du đãng lại một phen khiến người đi đường khiếp vía. Như một gã con trời thứ thiệt, Đại Cathay chễm chệ trên băng trước chiếc Mustang mui trần do Năm Công lái, có cả chục tên đàn em phóng xe máy theo sau hộ tống. Xe chạy xả ga, hú còi vô tội vạ khiến mọi người hốt hoảng chạy giạt sang hai bên đường, trong khi đám lưu manh tha hồ vỗ tay cười hô hố. Có lúc cao hứng, Đại Cathay còn thượng cả hai chân ra trước kính xe hoặc thò ra bên cửa hông gỏ thùng xe loạn xạ…

    Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay khiến những kẻ tai to mặt lớn và cảnh sát hết sức tức tối, nhiều lần tống cổ Đại vào khám. Nhưng bắt cóc bỏ đĩa, chẳng lần nào cảnh sát đủ bằng chứng để giam giữ hắn lâu, đành phải thả. Dùng luật không xong nhiều quan chức chính phủ VNCH tìm cách mua chuộc hắn.

    Biết Đại Cathay đang tuổi quân dịch, viên tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ - có lẽ do muốn chơi trội – bèn cho gọi tên du đãng đến. Kỳ phủ dụ:

    - Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn mãi được đâu. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành, muốn đi đâu làm gì mặc sức mà khỏi bị ai thù oán. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được.

    Tên du đãng ít học đời nào chịu suy nghĩ những ba ngày. Kỳ chưa dứt Đại Cathay đã trả lời luôn:

    - Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp?

    Tướng râu kẽm bầm mặt nhưng vẫn ngọt nhạt:

    - Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi.

    Đại Cathay vẫn ngổ ngáo:

    - Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…

    Sau Nguyễn Cao Kỳ đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành. Tuyên bố “Đặt giang hồ ra ngoài vòng pháp luật”, tướng Sáu Lèo cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” đặt ở bên kia cầu Bình Triệu (quận 9) và lập “Biệt đội hình cảnh” nhằm tiêu diệt giang hồ do đại úy Trần Kim Chi làm đội trưởng. Theo lệnh Sáu Lèo, “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên giang hồ nào trên đường phố nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát. Sau một thời gian hoạt động, “Biệt đội hình cảnh” vẫn chỉ tóm được một số tên du đãng “tép riu”, tướng Sáu Lèo bèn quay sang tìm cách mua chuộc Đại Cathay hòng “dĩ độc trị độc”. Đính thân Mã Sâm Nhơn, phụ tá của tướng Sáu Lèo đến gặp, đưa giấy mời của ngài chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho Đại Cathay. Cùng một đàn em, Đại Cathay có mặt y hẹn. Nguyễn Ngọc Loan ra giá:

    - Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát quận 7. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng.

    Đại Cathay từ chối:

    - Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt.

    Nguyễn Ngọc Loan hạ giá:

    - Anh không muốn nhận, tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành.

    Đại Cathay đồng ý với điều kiện để cho y và đàn em toàn quyền làm ăn và cai quản khu cảng Sài Gòn, Khánh Hội, khu vực chợ vựa Cầu Muối, và hai bên bờ Kinh Tẻ. Thấy tên giang hồ cứng đầu, Nguyễn Ngọc Loan nổi đóa:

    - Tôi lệnh cho anh giải tán hết, nếu không giang hồ, du đãng sẽ không còn đất sống!

    Đại Cathay trả lời:

    - Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được.

    Cuộc mặc cả kết thúc. Tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu kẽm” tướng Nguyễn Cao Kỳ và từ chối chức tước của Nguyễn Ngọc Loan ban cho. Đại Cathay càng vênh váo hơn. Nhưng chính bằng sự nổi tiếng ấy, Đại Cathay đã tự ký cho mình bản án tử hình.

    Quá ngạo mạn, đang đang là giai đoạn cực thịnh của băng Cathay, Đại vẫn tiếp tục lộng hành. Không chi ngổ ngáo với tướng Sáu Lèo trong công việc, Đại Cathay còn công khai qua mặt và thách thức viên tướng này trong cả khoản ăn chơi, chẳng thèm lưu tâm gì đến sức nặng của cái lon chuẩn tướng và trọng trách “Chief” ngành cảnh sát mà Nguyễn Ngọc Loan đang nắm giữ.

    Vào thời điểm đó, Sài Gòn ngập tràn trong không khí sống gấp và hưởng thụ, không cần biết đến tương lai. Một trong những mốt thời thường của các nhà buôn giàu có, các sĩ quan cộng hoà hào hoa, các công tử con nhà gia thế là công khai có nhân tình nhân ngãi hoặc cặp bồ với cave, nghệ sĩ trẻ đẹp. Đường đường là một vị tướng, Nguyễn Ngọc Loan đâu thèm để mắt tới các cô cave, ca sĩ phòng trà bình thường. Người ta thường thấy “ông tướng độc nhỡn” thường xuyên có mặt tại vũ trường Olympic trên đường Lê Lợi vào mỗi tối thứ 7. Tại đó, Nguyễn Ngọc Loan là chủ nhân của một vưu vật: ca sĩ Phương Dung nổi tiếng xinh đẹp và quý phái, người được mệnh danh là “con nhạn trắng Gò Công”, lấy vũ trường này làm đất biểu diễn. Mỗi lần đến thăm tình nhân, viên tướng xách theo cả chục tên vệ sĩ thuộc hàng thiện xạ, cũng nổi tiếng ngổ ngáo và chịu chơi, phóng xe Jeep bạt mạng với những đường cua cong lề bạt phố, đạp phanh cháy cả mặt đường.

    Olympic cũng là chốn mà băng Đại Cathay thường xuyên lui tới. Hơn thế nữa, Thủy Tàu – tài pán vũ trường Olympic còn là một “mối” rất khoái Đại Cathay. Khác với viên tướng và đám lâu la bụi bặm, Đại Cathay thường lướt trên một chiếc Chevrolet có gắn điều hoà không khí, choáng lộn và êm ru nhẹ nhàng bơi đến cửa vũ trường. Loại xe đó, cả Sài Gòn chỉ có dăm ba chiếc.

    So với đám vệ sĩ với lương lính còm cõi, Đại và băng Cathay luôn sẵn sàng “xài lớn”, rút tiền chẳng bao giờ đếm, người ngợm củng “kẻng” hơn, dĩ nhiên là được các em cave ở đây săn đón nồng nhiệt hơn nhiều. Bị “gác kèo”, đám vệ sĩ tức lắm, nhiều lần hậm hực, nhưng Đại Cathay và đám đàn em vẵn phớt ănglê, coi như “chuyện tép”.

    Một tối, Đại và khoảng chục đàn em, trong đó có Lâm Chín ngón và Lành Cầu Muối – một tay cảnh sát ăn “rơ” với giang hồ kéo đến Olympic từ khá sớm. Thấy các đàn anh, đám cave ríu rít túa ra vây lấy bá cổ níu tay, chí choé cả gian bar trên lầu 2. Cả đám “vui vẻ” mới chừng nửa tiếng, cánh cửa lại xịch mở. Đám vệ sĩ của Sáu Lèo – không có chủ tướng đi cùng – xộc vào, cũng cỡ chục tên. Ngồi chờ cả 15 phút, đám vệ sĩ vẫn không thấy cô cave nào đến săn sóc. Trong khi đó, ở mấy bàn bên vẵn liên tục vọng sang tiếng cấu véo giỡn hớt rúc rich của băng Cathay với đám cave như thể trêu ngươi. Nổi cáu, cả đám vệ sĩ đưa mắt nhìn nhau và đứng bật dậy. Thiếu úy Hải, một tay nổi tiếng thiện xạ tiến sang, đứng đối diện với Hải Súng của băng Cathay, hất hàm:

    - Vui vẻ quá hả? Sang bớt mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng?”

    Vẫn không buông vai cô “đào nhí”, Hải Súng hất mặt:

    - Đâu có được, đến trước có phần trước, trâu chậm phải uống nước đục, trách gì?

    Viên thiếu úy gườm gườm, đưa tay vào bụng đặt lên báng súng:

    - Đừng chơi quê tụi này chớ!

    - Thì đã sao? – Hải Súng hếch mặt lên. Lúc này băng Cathay và đám cave cũng đã ngưng đùa giỡn, ngẩng lên thủ thế. Được khích lệ, Hải Súng tiếp: - Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích!

    Bị khiêu khích, mắt thiếu úy Hải vằn lên. Hắn xấn xổ chụp lấy tay cô đào nhí kéo về phía mình, tuyên bố:

    - Không thích cũng bắt!

    Sợ hãi, cô cave thét lên. Không nói không rằng, Hải Súng vớ ngay chai Black and White trên bàn giáng thẳng xuống đầu đối thủ. Phản xạ nhanh, thiếu úy Hải vội buông cô cave nhảy vọt sang một bên và móc súng. Hai băng xông vào nhau. Bàn ghế ly tách bay tứ tán. Đột nhiên, Đại Cathay hét lên:

    - Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây.

    Pằng! Pằng! Pằng! Ầm

    Đại chưa dứt câu, dàn đèn phe lê đã rơi ụp xuống sàn, vỡ tung toé, đồng thời một viên đạn cũng nhằm đầu gối Đại găm tới, xô y gục xuống. Hải Súng vội xô tới xốc Đại lên bỏ chạy. Trong băng chỉ có Hải và Lâm Chín ngón giắt súng theo. Cả hai cũng vội móc ra bắn loạn xạ. Lâm Chín ngón gào lên:

    - Anh em rút đi, để tôi lo!

    Lúc này, đám cave, bồi bàn đã hoảng hồn bỏ chạy hết. Thủy Tàu khá nhanh trí, vội chạy bổ vào trong sập cầu dao điện. Bóng tối chụp lấy vũ trường đã hỗ trợ cho băng Cathay bỏ chạy. Bị thương, Đại Cathay khó khăn lắm mới được Hải Súng và Ngân Pôcon dịu được xuống lầu và kéo thẳng ra đường. Lúc này, Lành Cầu Muối cũng vừa vặn trờ chiếc Mustang tới, hốt cả bọn lên xe chạy thẳng. Lâm Chín ngón chạy sau cùng. Sau khi nhả hết đạn, y cũng vội đu cửa số phóng xuống được Tạ Thu Thâu cắm đầu chạy luôn một mạch. Sau lưng, đám vệ sĩ Sáu Lèo vẫn nã đạn theo chíu chíu.

    Không thu phục được Đại Cathay, tướng Sáu Lèo đã ra lệnh cho “Biệt đội hình cảnh” bắt bỏ tù hàng loạt đàn em nhằm cô lập hắn. Núng thế, Đại Cathay đành tìm cách hoãn binh. Một buổi tối, hắn mua nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy Trần Kim Chi đến dự tiệc. Khi rượu đã chếnh choáng, Đại Cathay mới ngỏ ý:

    - Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…

    Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng không kém gì Đại Cathay, từ chối thẳng thừng:

    - Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

    Nếu là trước đó mười hôm, máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên ngay. Nhưng đang yếu thế nên Đại vẫn nhũn nhặn:

    - Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi. Còn hôm nay mời đại úy đến là để anh em vui vẻ. Mời đại úy cứ tự nhiên, đêm nay toàn bộ nhà hàng này là chỉ để phục vụ chúng ta, đại úy đừng bận tâm làm gì.

    Viên đại úy không vui vẻ được lâu, cũng chẳng còn thời gian để bận tâm lâu hơn nơi cõi thế. Sau buổi tiệc chỉ nửa tháng, một chiếc xe “be” chở gỗ không rõ xuất xứ đã “bò” ngang qua chiếc xe hơi CV2 của Trần Kim Chi khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ. Đại úy Chi và viên lái xe chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất tăm, “không nhận dạng được biển số”. Giới giang hồ đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại Trần Kim Chi.

    Cái chết của Trần Kim Chi đã đánh dấu chấm than cuối cùng cho cuộc đời du đãng của Đại Cathay. Tháng 8/1966, với tội danh “Du đãng đặc biệt”, Đại Cathay lại bị tóm cổ. Cùng với một loạt du đãng khác, ngày 28/11/1966, Đại Cathay bị tống lên máy bay vận tải C47 đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc.

    Gọi là “Trung tâm hướng nghiệp” nhưng chính xác, đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.
    Trại là những dãy nhà dã chiến thấp lè tè nằm trong rào kẽm gai bịt bùng đặt cạnh sân bay Phú Quốc ngay tại thị trấn Dương Đông. Gọi là “hướng nghiệp” cho oai, kỳ thực đám tù suốt ngày chỉ ngồi ngáp vặt, đánh mạt chược mà không hẹn ngày về chứ chẳng có việc gì để làm. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo:

    - Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, tụi mình đặt lại tên cho nó đi.

    Cả bọn đồng ý. Bác sĩ Nghiệp, một tên du đãng có học đề xuất:

    - Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó.

    Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.

    Không giống như dự định của tướng Sáu Lèo, Trại “Cửu Sừng" chẳng những không “hướng” được chút “nghiệp” nào cho đám đầu trâu mặt ngựa mà ngược lại hoàn toàn. Toàn bộ đám du đãng bị bắt vào đây như Đại Cathay, Hải Súng, Hoà áo thun, Lâm Chín ngón, Bảy Si, Hỏi Phoòng Kin, Thanh tưa, Quẩy Thầu Hao... sau này đều là những tên giang hồ cộm cán nhất của Sài Gòn – Chợ Lớn, càng ngày càng hung hãn hơn. “Trại Cửu Sừng” như một con dấu chất lượng để đánh giá giang hồ. Tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này đểu trở thành đàn anh, được quyền ăn trên ngồi trốc trên chốn giang hồ.

    Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Khi Đại và cả đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại tù không án như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.



    Đầu tháng 1/1967, Nhân có mặt trong đoàn thân nhân ra thăm nuôi đám du đãng bị nhốt ở Trại Cửu Sừng. Gặp Đại Cathay cô báo cho chồng biết đã lo xong việc tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục. Đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn sẽ đưa đám tù ra khơi, có tàu hải quân do Nhân bố trí sẵn rước về đất liền. Để mua chuộc đám lính gác, Nhân đưa cho Đại một chiếc áo bluson và dặn dò kỹ lưỡng. Nhìn bề ngoài, nó chỉ là một chiếc áo lạnh rẻ tiền, sau lưng có một con rồng ấp quanh bản đồ Việt Nam thêu hai màu, nửa miền Bắc màu đỏ, nửa miền Nam màu vàng. Loại áo này bán nhan nhản dọc các tiệm đường Lê Thánh Tông, trong chợ Dân Sinh… chủ yếu để đám lính Mỹ sắp hồi hương mua về làm kỉ niệm.

    Khi chuyển áo cho Đại Cathay, tên lính canh của trại hướng nghiệp Phú Quốc thấy nó nặng hàng ký nên đâm nghi ngờ. Lần theo lưng áo hắn sờ thấy giữa hai lần vải có hàng chục miếng kim loại mỏng được khâu đầy trong đó. Đoán là vàng, tên lính canh định lôi ra khám xét. Lập tức cái liếc xéo mắt của tên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn hắn lại. Tên lính đành trả lại áo cho Đại Cathay mang về phòng.

    Theo lời đồn đại của giới giang hồ thì khi về phòng, Đại Cathay đã xé chiếc áo lấy ra đúng 62 lá vàng loại 1 lượng khâu trong đó. Với số vàng này, Đại đã mua chuộc đám cai ngục để chúng bố trí cho lính gác làm ngơ khi Đại bỏ trốn.

    Đi theo Đại Cathay có khoảng một chục đàn em trong đó có Xì kíp, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hải Súng và Lâm Chín ngón… Đến phút cuối, Đại Cathay theo lời Hải Súng tham mưu, quyết định để Lâm Chín ngón – gã đệ tử thân nhất - ở lại. Đại nói với cả đám:

    - Thằng Lâm lóc choc, dễ làm bể chuyện lắm. Vả lại, chuyến đi này lành ít dữ nhiều, nó còn trẻ, tội lắm. Chi bằng để nó lại, mình thoát rồi lo cho nó về sau an toàn hơn.

    Trước giờ khới sự, Đại Cathay gọi Lâm Chín ngón đến và bảo:

    - Mày phải bỏ xì ke đi, hại lắm. Tao chích cho mày một lần cuối cùng, sau đó là phải chừa hẳn, nếu không đừng trách.

    Đại đã tự tay chích cho Lâm một mũi gấp đôi đô bình thường do chính tay Hải Súng pha chế, có độn thêm một ít tân dược để tăng nồng độ. Phê thuốc, Lâm Chín ngón quay ra ngủ say như chết. 12 giờ đêm ngày 7/1/1967, Đại Cathay dẫn đàn em đào thoát ra ngoài.

    Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải Súng chạy theo hướng bờ biển. Bất ngờ, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất, gồm Xì kíp, Hùng Mỏ chuột,.. bị tóm cổ lại ngay. Đại Cathay và Hải Súng vội đổi kế hoạch, chạy lên phía Bắc đảo, lần vào khu núi tượng, nơi có Quân giải phóng hoạt động. Đến đây, không ai còn tận mắt gặp lại Đại Cathay và Hải Súng. Và hàng loạt giai thoại giải thích sự mất tích của hai tên du đãng đầu sỏ bắt đầu xuất hiện.

    Theo hồ sơ về cái chết của hai tên du đãng mà chúng tôi có được: Biết không trị nổi Đại Cathay, lại nhiều lần bị tên đãng làm bẽ mặt, chuẩn tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan rất hận, tìm cách loại trừ vĩnh viễn Đại Cathay. Khi biết cô Nhân – vợ Đại – đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn Đại và Hải, chúng cố ý để cho đào thoát vào núi Tượng. Sau đó, Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại và Hải, bắn hạ chúng. Khi đi, toán biệt kích dù phải thay quần áo bà ba, đội mũ tai bèo, mang dép râu và sử dụng súng AK47, giả trang làm Việt Cộng để đổ vấy cho việc giết Đại Cathay và Hải Súng cho Việt Cộng. Diệt xong, toán biệt kích dù phải đắp mộ, đề bia tử tế để dễ bề nhận diện và gây dư luận. Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay. Khá nhiều người cũng biết rõ ngọn nguồn sự việc, song trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, không một tờ báo nào dám viết về âm mưu hại địch thủ của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Vì vậy, lời đồn đại, đoán non đoán già vẫn cứ loang ra mãi, đắp thêm chất huyền thoại vào cuộc đời và cái chết của Đại Cathay – tên du đãng ngoại hạng.
    _________________
    <Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng>

  • #2
    (Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì.)

    Tên thật của Đại Ca Thay là Trần Đại
    Huyền thọai về Đại Ca Thay đã đuợc thể hiện thành bài hát và phim "Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang ".Tôi chỉ biết nó được lấy ý tưởng từ 1 truyện của Duyên Anh (Vũ Mộng Long) do Phạm Duy viết lời, còn Ngọc Chánh phổ nhạc).
    Điệu ru nước mắt (Loan mắt nhung)
    Loan mắt nhung là một thanh niên lương thiện bị hoàn cảnh xã hội đưa đẩy trở thành du đãng nổi tiếng. Vì cuộc sống khốn khổ, Loan phải đương đầu để sinh tồn rồi trở thành một đàn anh trong giới dao búa.
    Khi còn lương thiện, Loan đã có mối tình rất đẹp với một cô gái tên Xuân . Vào với giang hồ, Loan gặp Dung. Loan đã thực hiện nhiều phi vụ lớn, ăn cướp, buôn lậu... nhưng anh vẫn mong có một ngày trở về cuộc sống lương thiện.
    Gặp lại Xuân trong tình cảnh éo le, khi Xuân bị bọn xấu hãm hại và giết chết. Quá đau khổ, Loan nổi loạn giết hết bọn du đãng, giang hồ rồi ra đầu thú chính quyền.
    Hoàng guitare (tên là Hoàng, đờn guitare rất giỏi nên có biệt danh là Hoàng guitare, Hoàng là một thành viên cộm cán của một băng du đãng thời bấy giờ, sau đó muốn hoàn lương, về mở lớp dạy đàn, nhưng đồng bọn cũ không muốn vậy, vẫn muốn lôi kéo anh vào những phi vụ bất chính. Và để rồi một hôm, đẻ giải quyết một vài khó khăn trong cuộc sống, Hoàng đã nhận lời làm một phi vụ cuối cùng và bị lộ, những phát đạn oan nghiệt cắm sâu vào lưng Hoàng như những vết thù đời không bao giờ xoá được và cũng chấm dứt kiếp ngựa hoang)
    Ngựa Chứng Trong Sân Trường
    ....
    Nếu ai sống ở Sài Gòm trước năm 75 thì hiểu rõ về những trùm du đảng vang danh một thời. Tuy nhiên đó là những "anh hùng mã thượng", bất mản chế độ Sài Gòn, họ chuyên sống về bảo kê các vũ trường, các em cave , và dưới tay lá các đệ tử trốn linh, đào ngủ, quân phạm,thương phế binh VNCH ...(đa số là lính Dù, TQLC, BĐQ)
    (Đây là quan điểm của HVP , nếu có sơ sót xin xí xóa) Các bạn nào có ý kiến gì xin góp thêm )
    Với nhạc phẩm nổi tiếng một thời Vết thù trên lưng ngựa hoang, hoạt cảnh đưa người xem đến một tình cảnh éo le khác. Một đại ca giang hồ lừng lẫy, trong một lần gặp nạn đã được một người con gái đi bán trái cây dạo cứu giúp (diễn viên nổi tiếng Như Phúc đóng), sau đó hắn đem lòng yêu thương. Từ tiếng gọi của tình yêu chân thật đó, gã giang hồ muốn hoàn lương để quay về cuộc sống thiện. Oan nghiệt thay, là những kẻ từng một thời là đồng bọn của mình vì một lẽ gì đó không cho hắn quay lại cuộc sống lương thiện. Và hắn đã phải ngã gục trước những đòn thù bạo tàn của đồng bọn, để lại một trái tim nhung nhớ không nguôi. Chuyện tình nghe uỷ mị, nhưng đằng sau câu chuyện đó, Michael Hùng đã nhắn gửi một thông điệp hết sức chân thành: Sám hối, hoàn lương là điều tốt. Nhưng tốt hơn là hãy sống lương thiện từ ban đầu. Vì nhiều khi sự sám hối là quá trễ để có thể làm lại cuộc đời. Một triết lý sống hết sức đơn giản, nhưng không phải ai cũng làm được. Vì thế câu chuyện tưởng cũ mà không mòn, sến mà không sáo!


    Trần Quang với diễn viên cải lương Thanh Nga trong phim Vết thù trên lưng ngựa hoang, SX 1971, đạo diễn Lê Hoàng Hoa.
    Giai thoại 1:
    Trước đây, bài hát Ngựa Hoang (Nhạc sĩ: Phạm Duy - Ngọc Chánh) được lên phim, do tài tử Việt Nam là Trần Quang đóng, em út của Trần Đại do hề râu Thanh Việt đóng vai phụ). Câu chuyện phỏng theo nhân vật Trần Đại - biệt danh là Đại Cathay, trùm du đãng Sài Gòn - có lần đụng độ vói Thiếu tá Long, cảnh sát trưởng Sài Gòn - Gia Định. Sau này bị bắt và đày đi Côn Đảo, rồi mất tích luôn (Muốn biết thêm về Đại Cathay, xin xem tài liệu về Trung Tá Long, đã tự sát trước tượng đài TQLC ngày 30/04/1975).
    Nhà văn Duyên Anh đã viết thành truyện Loan Mắt Nhung (Điệu ru nước mắt), ca tụng một nhân vật có tính anh hùng bất mãn thời thế... Có lẽ nhiều bạn biết câu chuyện này, tôi xin tóm lược (hiểu mang máng thôi) như sau:
    - Trần Đại gốc là học sinh con nhà giàu ở Sài Gòn nhưng bất mãn chế độ Sài Gòn (bắt lính) nên anh ta trốn lính, tụ tập đệ tử làm bảo kê các vũ trường ở Sài Gòn (Em út của Trần Đại toàn là lính Dù, TQLC, BĐQ, lính đào ngũ, thương phế binh bất mãn,...). Có rất nhiều bi kịch đồn đại về mối tình của Trần Đại (Đại Cathay) yêu ca sĩ phòng trà. Thiếu tá Long (Cành Sát Truởng) cũng mê cô ca sĩ này cho nên xảy ra thư hùng giữa 2 người. Ai là kẻ thua thì ắt hiểu rồi (Mảnh hổ địch nan quân hồ)...
    Có thể do câu chuyện trên mới có bài hát Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang, và vì bài hát quá hay cho nên đựợc lên phim. Tôi có được xem phim và đọc truyện, thấy có thành viên lấy nick nguahoang và nhắc đến Ngựa Hoang nên gửi lời bài hát này cho các bạn tham khảo. Sẵn đây, xin gửi lại bài hát (Bài này do Elvis Phương ca lần đầu tiên, các ca sĩ về sau không ai hát qua tiếng hát Elvis Phương).
    Có thể bài hát Ngựa Hoang cũng được viết để đề cập đến tay anh chị trùm du đãng Mã Thầu Dậu ở Chợ Lớn (Vì họ Mã cũng là ngựa mà)? Ngày xưa, có rất nhiều tay anh chị như Dzũng ĐaKao, tướng cướp Bạch Hải Đường,... bắt chước anh hùng Lương Sơn Bạc, ảnh hưởng các tay súng cao bồi Mỹ (Dzango, Ringo), anh hùng cô thân độc mã, hào hoa giang hồ mã thượng... Họ lúc nào cũng ra tay nghĩa hiệp (Nên nhớ là không có trấn lột, cướp giựt, buôn lậu, xì ke - ma tuý, á phiện...), đa số là con nhà giàu, ghét đi lính, sống nhờ tiền bảo kê ở các nhà hàng, sòng bạc (Đại Thế Giới)... Ngày xưa, các phòng trà, hộp đêm, quán Snake Bar, Vũ trường... thường có những tay ma-cô bảo vệ vì sợ lính Dù, TQLC, BDQ... quậy phá. Chắc có lẽ nhiều anh chị em cũng xem qua các tư liệu về miền nam Việt Nam trước năm 75? Thời cuộc nhiễu nhương, loạc lạc, chiến tranh... Có câu RỪNG NàO CỌP NẤY là phát xuất từ thời đại lúc đó.
    Giai thoại 2:
    Chuyện kể rằng Bạch Hải Đường một lần đi hút thuốc phiện thì gặp một tay nhà thơ. Thấy tay nhà thơ này có máu nghệ sỹ nên Bạch Hải Đường rủ nằm cùng cho nó đúng bọt và hắn kể về cuộc đời hắn cho nhà thơ nghe. Tay nhà thơ này nghe xong chuyện của hắn nổi hứng làm luôn một bài thơ Ngựa Hoang, Bạch Hải Đường nghe xong thấy hay quá, cảm kích bèn đòi kết nghĩa anh em.
    Vì bài thơ đó hay và lạ cho nên các nhạc sỹ bèn phổ nhạc cho nó và lấy tên là Ngựa Hoang.
    Sau này tay nhà thơ còn gọi Bạch Hải Đường là ... (tiếng Pháp), Bạch Hải Đường chả biết nghĩa nó là cái mẹ gì cả nhưng nghĩ chắc là nó ca ngợi mình thôi nên hắn rất tâm đắc về cái từ đó "ba chấm" đó.
    Sau này có người dịch nghĩa cái từ đó ra là đàn bà (?), thế là Bạch Hải Đường nổi đoá lên cho là tay nhà thơ chơi xỏ mình nên thề túm được sẽ giết. Tay nhà thơ biết chuyện, sợ quá phải trốn lên Đà Lạt. Mãi đến khi nghe nói Bạch Hải Đường bị bắt (Hay sự kiện 30/4? lâu quá rồi nên cũng không nhớ) mới dám quay trở về lại Sài Gòn.

    Link
    HVP sưu tầm
    Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 15-10-2011, 05:52 PM.

    Comment


    • #3

      Duyên Anh sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại Thái Bình Bắc việt mất ngày 6 tháng 2 năm 1997 tại Paris, Pháp (nhằm ngày 29 tết). Ông đã xuất bản năm mươi tác phẩm văn chương. Năm 1975, bị coi như "một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của Việt Nam", chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung. Ông được tự do nhờ Amnesty International và Pen Club International can thiệp. Vượt biển sang Pháp, ông viết lại và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó Un Russe à SaigonLa colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư đại học Sorbonne, nhà văn lừng danh coi Duyên Anh là "nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia". Chưa một người Việt Nam nào tạo nổi sự vinh dự cho dân tộc ở tư thế lưu vong như Duyên Anh. Tự tin vào tài năng và sự phấn đấu của chính mình, ông đã bước lên mọi nghịch cảnh, bước qua mọi oan khiên để giành một chỗ đứng trên vũ trụ văn học quốc tế như một tiểu thuyết gia đầy đủ tư cách.




      Comment


      • #4
        ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi HoaiVienPhuong View Post
        Huyền thọai về Đại Ca Thay đã đuợc thể hiện thành bài hát và phim "Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang ".Tôi chỉ biết nó được lấy ý tưởng từ 1 truyện của Duyên Anh (Vũ Mộng Long) do Phạm Duy viết lời, còn Ngọc Chánh phổ nhạc).
        Điệu ru nước mắt (Loan mắt nhung)
        Dzũng ĐaKao
        Hoàng guitare
        Ngựa Chứng Trong Sân Trường
        ....
        Nếu ai sống ở Sài Gòm trước năm 75 thì hiểu rõ về những trùm du đảng vanh danh một thời. Tuy nhiên đó là những "anh hùng mã thượng", bất mản chế độ Sài Gòn, họ chuyên sống về bảo kê các vũ trường, các em cave , và dưới tay lá các đệ tử trốn linh, đào ngủ, quân phạm,thương phế binh VNCH ...(đa số là lính Dù, TQLC, BĐQ)
        (Đây là quan điểm của HVP , nếu có sơ sót xin xí xóa) Các bạn nào có ý kiến gì xin góp thêm )
        Với nhạc phẩm nổi tiếng một thời Vết thù trên lưng ngựa hoang, hoạt cảnh đưa người xem đến một tình cảnh éo le khác. Một đại ca giang hồ lừng lẫy, trong một lần gặp nạn đã được một người con gái đi bán trái cây dạo cứu giúp (diễn viên nổi tiếng Như Phúc đóng), sau đó hắn đem lòng yêu thương. Từ tiếng gọi của tình yêu chân thật đó, gã giang hồ muốn hoàn lương để quay về cuộc sống thiện. Oan nghiệt thay, là những kẻ từng một thời là đồng bọn của mình vì một lẽ gì đó không cho hắn quay lại cuộc sống lương thiện. Và hắn đã phải ngã gục trước những đòn thù bạo tàn của đồng bọn, để lại một trái tim nhung nhớ không nguôi. Chuyện tình nghe uỷ mị, nhưng đằng sau câu chuyện đó, Michael Hùng đã nhắn gửi một thông điệp hết sức chân thành: Sám hối, hoàn lương là điều tốt. Nhưng tốt hơn là hãy sống lương thiện từ ban đầu. Vì nhiều khi sự sám hối là quá trễ để có thể làm lại cuộc đời. Một triết lý sống hết sức đơn giản, nhưng không phải ai cũng làm được. Vì thế câu chuyện tưởng cũ mà không mòn, sến mà không sáo!


        Trần Quang với diễn viên cải lương Thanh Nga trong phim Vết thù trên lưng ngựa hoang, SX 1971, đạo diễn Lê Hoàng Hoa.
        tieng kèn hay qua , nhưng sao qd kg thích video clip này , đạo diễn kg hay , chả thấy đại cathay anh hùng gì hết , có lẽ phim doTrầnQuang và Thanh Nga hay hơn há...cám ơn HVP
        <Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng>

        Comment


        • #5
          tieng kèn hay qua , nhưng sao qd kg thích video clip này , đạo diễn kg hay , chả thấy đại cathay anh hùng gì hết , có lẽ phim doTrầnQuang và Thanh Nga hay hơn há...cám ơn HVP
          Đúng rồi , phim VN bây giờ có gi hay ho đâu! Không như phim VN trước năm 75, khán giả chen nhau xem nườm nượp
          Có phim MỐI TÌNH ĐẦU (phim đen trắng, có nữ nghệ sĩ Thanh Nga và Thế Anh đóng hay lắm! Quynh Dao có xem không?
          Hồi đó HVP có xem phim VTHTLNH và phim Loan Mắt Nhung,... HVP rất mê truyện của Duyên Anh (Hihihih)
          (Nếu có dịp, HVP sẽ gửi phim Vết Thù Hằng Trên Lưng Ngựa Hoang do cố nghệ sĩ Thanh Nga và Trần Quang đóng phim)
          Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 14-10-2011, 03:42 AM.

          Comment


          • #6
            ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi HoaiVienPhuong View Post
            tieng kèn hay qua , nhưng sao qd kg thích video clip này , đạo diễn kg hay , chả thấy đại cathay anh hùng gì hết , có lẽ phim doTrầnQuang và Thanh Nga hay hơn há...cám ơn HVP
            Đúng rồi , phim VN bây giờ có gi hay ho đâu! Không như phim VN trước năm 75, khán giả chen nhau xem nườm nượp
            Có phim MỐI TÌNH ĐẦU (phim đen trắng, có nữ nghệ sĩ Thanh Nga và Thế Anh đóng hay lắm! Quynh Dao có xem không?
            Hồi đó HVP có xem phim VTHTLNH và phim Loan Mắt Nhung,... HVP rất mê truyện của Duyên Anh (Hihihih)
            Cam ơn HVP , phim <mối tình đầu> chưa được xem , hay lắm hả?
            <Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng>

            Comment


            • #7
              Cam ơn HVP , phim <mối tình đầu> chưa được xem , hay lắm hả?
              Mối Tình Đầu
              Đau đớn vì người yêu đi lấy chồng, Duy đã bỏ học và lao vào con đường nghiệp ngập. Nhưng ánh sáng đã trở lại với cuộc đời Duy khi được Hai Lan - chị của Duy là cán bộ hoạt động nội thành thức tỉnh.
              Trong những ngày rút chạy khỏi Sài Gòn, Diễm Hương phát hiện ra chồng cô có âm mưu bắt cóc trẻ em Việt Nam đưa lên máy bay ra nước ngoài. Sợ bị lộ, tên Mỹ đã giết Diễm Hương hòng bịt đầu mối.
              Mối Tình Đầu được coi là một sự phá cách và dấn thân của đạo diễn Hải Ninh khi ông đề cập tới vấn đề tình yêu khá nhạy cảm lúc bấy giờ và cũng vì trước đó khán giả đã quen với một đạo diễn Hải Ninh của những bộ phim chiến tranh...
              Bộ phim với sự tham gia của một dàn diễn viên nổi tiếng như Trà Giang (vừa được trao Giải thưởng trọn đời tại giải thưởng Cánh diều Vàng 2007), Thế Anh, Lý Huỳnh, Nguyễn Lan Hương... đã gây tiếng vang ở Miền Nam và tạo cơn sốt khi được công chiếu ở Hà Nội.
              Bộ phim đã đoạt giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ V - năm 1980, đồng thời bộ phim cũng mang về cho diễn viên Thế Anh giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất.
              Xem phim Mối tình đầu của vn sx 1975
              Nếu như các bạn muốn coi một cuốn phim thật sự có giá trị nghệ thuật. Đã đoạt nhiều giải thưởng và nằm trong top những phim kinh điển của nước nhà hãy thử đến với MỐI TÌNH ĐẦU phim của đạo diễn Hải Ninh với dàn diễn viên vang bóng một thời : Trà Giang, Thế Anh , Như Quỳnh , Lan Hương....
              Xin trích một đoạn giới thiệu về Phim và nam diễn viên chính Thé Anh
              "..Vào vai Ba Duy trong Mối tình đầu của đạo diễn Hải Ninh, Thế Anh dành trọn 1 tháng để "lê la" tìm hiểu các con nghiện. Ít ai biết rằng "anh chàng diễn viên Bắc kỳ cao to đẹp giai" này lại phải ép xác cả tháng với toàn cà phê và hạn chế ăn uống để có thân hình còm cõi, dáng vẻ thất thần, liêu xiêu. Đến nỗi, khi "anh chàng nghiện" đi vào chợ Bến Thành liền bị các dì ở đó chắc lưỡi: "Tội nghiệp, nhìn mày đẹp trai sáng sủa vậy sao để nghiện hả con?". 30 ngày, có những đêm ông lang thang trên đường Hàm Nghi, xem con nghiện vật vã, chứng kiến cảnh họ phê thuốc rồi làm tình ở ngoài đường. Rồi ông tìm đến trại Fatima ở Bình Triệu, sống cùng những người cai nghiện. Ông đối chiếu, nhớ lại những trải nghiệm từng có khi đóng phim Vua Mèo, để rồi điện ảnh có một Ba Duy để đời.
              Vất vả là vậy nhưng Mối tình đầu cũng gặp ít nhiều trục trặc lúc ban đầu. Tuy nhiên, khi công chiếu ở Hà Nội, bộ phim đã gây một cơn sốt khủng khiếp, thậm chí, có khán giả đã bị đè chết khi cố chen vào xem phim. NSND Thế Anh nhớ lại: "Có khán giả bị mất dây chuyền, đồng hồ khi chen vào xem. Lúc ấy, phim chiếu ở một bãi đất rộng chứ có được rạp đàng hoàng như bây giờ đâu". Ông tỏ ra khiêm tốn khi lý giải sức hút của Mối tình đầu: "Bà con miền Bắc chưa biết miền Nam thế nào, họ muốn được xem không khí và con người miền Nam".
              thật là quý khi tìm mỏi mắt nay mới có xin chiêu đãi các bạn .
              cho một lời cảm ơn để ủng hộ
              link phim:
              Link
              Link
              Link
              Link
              Link
              Link
              Link
              Link
              [url="http://www.megaupload.com/?d=HBYNR4ZH"][COLOR=navy]Link

              Mối tình đầu (1976)
              Đạo diễn: Hải Ninh
              Kịch bản: Hoàng Tích Chỉ - Hải Ninh
              Hãng sản xuất: Xí nghiệp phim truyện Việt Nam
              Năm sản xuất: 1976
              Thời lượng: 120 phút
              Diễn viên chính:
              Thế Anh - Ba Duy
              Trà Giang - chị Hai Lan
              Như Quỳnh - Diễm Hương
              Hồng Liên - mẹ Duy
              Robert Hải - Henry Jackson
              Lý Huỳnh
              Nguyễn Lan Hương...

              Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 14-10-2011, 05:17 PM.

              Comment


              • #8
                Đại bàng&quot; rũ cánh

                Đại bàng" rũ cánh
                Ngay từ những năm 1975, đất Sài Gòn đã sản sinh ra những tay giang hồ, du đãng cộm cán làm khuynh đảo đời sống của người dân.
                Thời niên thiếu của một giang hồ
                Trần Đại (Đại Cathay)
                Đó là một số cái tên như Trần Đại (Đại Cathay), Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Ba Thế, Minh “Cầu Muối”... Còn về giang hồ người Hoa cát cứ ở khu vực Chợ Lớn và một số địa bàn ở hướng tây thành phố thì có: Tín Mã Nàm (con ngựa điên), Lục Chỉ, Sám Sò, Xây Tỷ, Hải Phùng Kin, Xú Hùng... Trong số đó, Chà Và Hương (tên thật là Ngô Văn Hương, SN 1940) - một đại ca có số má - hiện là nhân chứng sống phản ánh đầy đủ bản chất của giới giang hồ trong bối cảnh xã hội thời đó. Hương từng kết nghĩa giang hồ với Đại Cathay, sống chung với Sơn Đảo, bảo kê cho hàng loạt sòng bạc của Hải Phùng Kin, Tín Mã Nàm, Năm Thông Lợi, Hai Niệm... Sau giải phóng, Chà Và Hương đã được tập trung giáo dục, ông trở thành cố vấn võ thuật cho liên đoàn võ thuật cổ truyền TPHCM. Bước sang tuổi “cổ lai hy”, được Năm Cam mời tham gia tổ chức của hắn nhưng ông không đồng ý mà dọn về ở ẩn tại Củ Chi với cuộc sống bình thường của nghề bốc thuốc, châm cứu.
                Kỳ 1: Thời niên thiếu của một giang hồ
                Những năm 1970, giới giang hồ Sài Gòn - Chợ Lớn thường tổ chức lôi đài cho các võ sĩ thi đấu tự do để lấy tiền. Ngoài việc “thâm canh ma túy” và “mua quan bán tước” ra thì đây là cách kiếm tiền dễ dàng nhất. Mạnh ai nấy đấu, không cần phải phân biệt hạng cân, độ tuổi, võ phái. Các đấu thủ muốn so tài với ai thì nhìn mặt chỉ đích danh người đó. Có thể nói, sự bất lực của bộ máy chính quyền chế độ cũ khiến cho tình hình xã hội bấy giờ rất phức tạp, bầu không khí ngột ngạt, bạo lực và chết chóc bao trùm lên cuộc sống người dân. Từ Sài Gòn đến Tây Ninh, từ miền Đông Nam bộ xuống tận lục tỉnh Nam kỳ nơi nào cũng có lôi đài đấu võ. Kèm theo đó, võ đường mở ra rất nhiều và thanh niên theo học võ cũng rất đông, mục đích chủ yếu là đánh nhau kiếm tiền. Trong giới cao thủ đương thời vẫn truyền nhau câu nói về “cặp chân Sáu Nhỏ, cặp chỏ Chà Và Hương”. Nếu như lôi đài nào có sự tham gia của hai cao thủ này thì sẽ thu bộn tiền của dân cá cược.
                Chà Và Hương gốc ở Hóc Môn - Sài Gòn nhưng sinh ra tại Bình Đức - Long Xuyên - An Giang, là con thứ năm trong một gia đình có 8 anh em. Vì lai gốc Ấn Độ nên mọi người thường gọi là Chà Và Hương. Khi lớn lên thất lạc mất bốn người anh em, Hương lên Sài Gòn. Học đúng ba năm nhưng không viết nổi một chữ cái nên hằng ngày, mẹ bán bánh tét, theo sau tập nghề đánh giày. Nghề đánh giày không đủ nuôi thân bởi mỗi đôi giày được 3 đồng, trong khi giá một đĩa cơm đã 1,5 đồng. Tiền làm ra bị bọn bảo kê trấn lột hết. Và cũng như các “đại ca” nổi tiếng khác, chính cái nghề “cắp tráp rửa hia” cũng là bước “nhập môn” cho Hương bước chân vào thế giới gang hồ, du đãng, sống lang thang ở ga xe lửa Bà Chiểu.
                Sau nhiều trận đánh sứt đầu mẻ trán để chiếm lĩnh địa bàn đánh giày, Hương đã gặp được Sáu Nhỏ (sau này là Trần Văn Trọng ở Đakao). Cả hai, ngày đánh giày kiếm sống tạm bợ, tối về được ông từ gác miếu ở Đakao cho cơm ăn và chỗ ngủ tạm ngay trong miếu. Tại đây, gặp được một đối tượng khác tên Cà Na là một kẻ du côn khu vực Tân Định. Cà Na mồ côi cha mẹ, tóc quăn, da đen, thân hình nhỏ con nhưng rất lì lợm. Trong một lần có cuộc đua xe đạp từ Sài Gòn lên Trảng Bàng - Tây Ninh, cả ba mang tráp dụng cụ chạy bộ theo đoàn đua lên Tây Ninh và ở lại Trảng Bàng mấy đêm liền. Cũng trong dịp này, ở Trảng Bàng có tổ chức lôi đài đấu võ để dân chơi cá cược ăn tiền, tuy không ai biết võ vẽ thế nào nhưng đám “nhóc tỳ” này cũng xin tham gia thi đấu để kiếm tiền. Ngày đó thi đấu võ không phải tính theo trọng lượng thứ hạng mà chỉ mặt để tìm đối thủ, muốn đánh nhau thì lên võ đài, dễ kiếm tiền như lấy đồ trong túi. Do không xuất thân từ lò võ nào nên nhóm của Hương, Sáu Nhỏ, Cà Na thi đấu chỉ tính từ hòa đến thắng, không bao giờ bị xử thua. Thắng thì được thưởng 400 đồng, còn thua cũng nhận được 300 đồng. Cà Na do lì đòn nên đã thắng được võ sĩ Ba Tăng (tức Văn Tâm, học trò của võ sư Văn Hai ở Thị Nghè). Chà Và Hương đấu với võ sĩ Cao Thành Hai, đệ tử của võ sư Cao Thành Sang và hậu quả bị đánh nhừ tử. Còn Sáu Nhỏ thì khỏi nói, bầm dập toàn thân, đứng không vững.
                Trong trận lôi đài đó có nhiều cao thủ Sài thành tham dự. Sau khi trận đấu kết thúc, Cà Na té khỏi sới thì một người đàn ông xuất hiện hỏi: “Con là học trò của ai?”. Không ngần ngại, Cà Na trả lời là “học trò của Huỳnh Tiền”. Người đàn ông kia giật mình bởi ông ta chính là võ sư Huỳnh Tiền và trong đám đệ tử của mình không có đứa trẻ này. Rồi sau đó, cũng nhờ sự láu cá, Cà Na cũng được võ đường Huỳnh Tiền nhận làm đệ tử với tên gọi Huỳnh Sơn. Còn Hương và Sáu Nhỏ do bị đòn quá nặng nên được trung tá Hoàng - quận trưởng Trảng Bàng cho 300 ngàn, nhà thuốc Võ Văn Vân cho 2 chai thuốc bổ trị giá khoảng 300 ngàn.


                Chà Và Hương (bìa phải) làm cố vấn cho liên đoàn võ thuật cổ truyền TPHCM
                Sau trận thượng đài đầu tiên ở đất Trảng Bàng, Chà Và Hương được một người tên Tú (biệt danh Moustadia) đưa về giữ chuồng bò sữa tại Bà Quẹo. Tú cũng là người học võ, tuyệt kỹ của anh ta là những cú đá mạnh có thể làm chết con bò. Hương vừa trông bò vừa học võ, thời gian sau đưa thêm Sáu Nhỏ đến đây học võ. Sau một thời gian, Hương được cha mẹ đưa về học chữ tại khu vực hẻm chùa Long Vân - Bà Chiểu (nay là P24, Q.Bình Thạnh). Học chữ mãi không được nhưng bản chất giang hồ đã hình thành và bắt đầu ăn vào máu. Hương thấy võ thì mê và nghĩ rằng không có nghề gì dễ kiếm tiền bằng... đấm đá nên đã xin gia nhập võ quán của võ sư Lê Quảng Đại lấy tên là Lê Phi Hoàng.
                Năm 1959, nhân hội thi võ Thị Nghè, Chà Và Hương được đăng ký thượng đài với võ sư Óp Bi Đơ (võ sĩ người Campuchia). Trong trận đấu đó, khi hiệp đấu thứ hai kết thúc, Hương bị quần tơi tả, nhưng được bản chất lì lợm nên khụy xuống lại cố đứng dậy để không bị thua. Lúc này dưới khán đài, vợ của võ sư Lê Quảng Đại thấy vậy nóng ruột liền thét lên: “Mày đánh thế nào tao không biết, nhưng mày không thực hiện được cú đá của Moustadia thì đừng về nhà nữa”. Sức không có, chịu đòn không nổi, huống gì dùng lực đá phản công đối phương, tuy nhiên trong lúc tưởng như cầm chắc phần thua, Chà Và Hương đã sử dụng cặp cùi chỏ vô cùng nguy hiểm của mình để hóa giải đòn của đối thủ và cuối cùng hạ được võ sĩ Óp Bi Đơ với một cú nốc ao quyết định bằng cặp cùi chỏ trời giáng vào đầu.
                Kỳ 2: Tung hoành ngang dọc
                Lúc bấy giờ, việc đấu võ diễn ra hầu như khắp nơi, nổi tiếng nhất là sới võ lưu động của ban tổ chức Lê Ngọc Sánh. Võ sĩ thì ít trong lúc đám giang hồ du đãng đăng ký rất nhiều. Người thượng đài chỉ việc chọn mặt chọn đối thủ thách đấu, không phân biệt trọng lượng, tuổi tác. Có thể nói đấu võ đài lúc bấy giờ mang yếu tố thanh toán ân oán giang hồ là chủ đạo.
                Sau khi giành thắng lợi trước đối thủ Óp Bi Đơ, trên đường về nhà thì Chà Và Hương được một người bạn cảnh báo: sư mẫu (vợ của võ sư Lê Quảng Đại) đang cầm chổi chờ trước cửa nếu mày về bà ấy sẽ đánh chết không cho vào đâu. Nghe thế, Hương một phần vừa bị đòn, mặt khác vì tự ái nên quyết định bỏ võ đường của võ sư Lê Quảng Đại, bỏ luôn họ Lê chỉ còn lại tên Phi Hoàng. Cũng từ trận đấu với Óp Bi Đơ, với cặp cùi chỏ thiên bẩm của mình, Hương được một người Pháp gốc Việt tên Kít Đăm Xây nhận về dạy quyền Thái. Kít Đăm Xây từng sống và thượng đài tại Pháp, sau này lưu lạc ở Thái trước khi về Việt Nam.
                Qua một thời gian theo học võ, trong dịp Lâm Tấn Phát tổ chức hội chợ Quang Trung tại Hóc Môn, Chà Và Hương đăng ký tham gia và được xếp lịch đấu với Lê Hoàng Thọ (là đồng môn một thời trong lò võ Lê Quảng Đại) và được xử hòa. Nhưng bắt đầu từ đây Hương theo luôn ban tổ chức võ đài lưu động Lê Ngọc Sánh, ăn cơm võ đài, rong ruổi khắp nơi, kiếm tiền tiêu từ võ đài và tiếng tăm bắt đầu nổi cùng những trận đấu với bậc võ sư tiếng tăm của lục tỉnh miền Tây Nam bộ.
                Từng so găng với võ sĩ Thành Đô ở Tân Hiệp Rạch Giá, khi trận đấu mới chỉ được hơn một phút thì Hương buộc đối thủ phải lột găng xin thua khiến tiếng tăm nổi như cồn. Đến đất Long Xuyên thì gặp Cao Thành Hai (người từng đánh Hương một trận nhừ tử ở Trảng Bàng mấy năm trước), nhưng lần này võ sĩ Thành Hai không chấp nhận thách đấu. Tại Mỹ Tho đụng với võ đường Hồng Nga, đến Bến Tre đụng với võ sĩ Nguyễn Hữu Tiết (người Long Xuyên) và võ sĩ Nguyễn Thành Tý. Đến Rạch Giá - Kiên Giang, Hương thượng đài với Danh Ngâu, người gốc Campuchia - mệnh danh “con hùm xám miền Tây” và giành được những thắng lợi giòn giã. Sau đó về Trà Ôn đêm đầu tiên Hương đấu với võ sĩ Nguyễn Khiêm và đêm sau là võ sư Nguyễn Khâm. Đây là lần đầu tiên đấu với võ sư nên Chà Và Hương được sư phụ Kít Đăm Xây gọi vào phòng riêng đưa một loại thuốc gọi là Trô - bin. Kít Đăm Xây đã nói rằng đây là loại thuốc quý mà ông ta từng sử dụng nhiều lần ở Pháp công dụng thì khỏi phải nói, “đến con ngựa đua khi được chích thuốc vào chạy đứt ruột còn không biết huống gì con người chỉ mấy phút thượng đài”. Ông ta dặn Hương rằng: “Việc này chỉ có hai người biết nếu có người thứ ba hay chuyện thì chỉ có mày nói ra mà thôi và lúc đó hậu quả không ai có thể gánh nổi”.
                Quả thật loại thuốc này có công dụng thần kỳ, đối thủ nhìn thấy máu thì sợ, còn Hương trong ảo giác khi nhìn thấy máu thì rất hưng phấn. Cho đến sau này Hương mới biết không chỉ mình anh ta được Kít Đăm Xây cho dùng loại thuốc đó mà cả Sáu Nhỏ khi về học võ cũng được ông ta cho dùng với cách tương tự. Do không từ bỏ được thuốc nên Sáu Nhỏ đã sa vào nghiện ngập, sau giải phóng ông ta đã chết ngồi trong một chung cư cũ nát tại Q4 khi đang hành nghề xích lô.


                Sài Gòn những năm trước 1975
                Sau lần giành thắng lợi trước võ sư Nguyễn Khâm, vì không được giới võ thuật tại địa phương đồng tình nên nhiều nhóm người đã tìm cách trả thù, Hương đã được quận trưởng quận Trà Ôn cho người dùng bobo chở về bắc Cần Thơ để lánh nạn. Chính võ sư Nguyễn Văn Thọ, người từng vô địch 21 tỉnh miền Tây lúc bấy giờ nhận định: “Chà Và Hương tuy gầy gòm nhưng ai cũng sợ, nhất là cặp cùi chỏ của nó”. Tiếp đến là việc lấn địa bàn ra vùng miền Đông, hai thầy trò Kít Đăm Xây và Chà Và Hương đánh nhau với võ sĩ Văn Hai thường gọi là Hai Néo (lính không quân); đụng độ với võ sư Xuân Bình - chủ lò võ Xuân Bình ở rạp hát Biên Hùng (Biên Hòa). Đến Nha Trang thượng đài và giành thắng lợi trước lò võ Thành Đô - Nha Trang, đến Phan Rang đánh với Nguyễn Ninh, đến Buôn Mê Thuột thì đánh với võ sư Châu Long trận thượng đài cuối cùng tại đất võ Quy Nhơn là một sự kiện đáng nhớ khi Chà Và Hương đã bước sang tuổi 31. Đây là trận thách đấu với võ sư Hà Trọng Sơn tại sân vận động Nguyễn Huệ TP. Quy Nhơn. Võ sư Sơn đã nhận lời nhưng lại không đấu trực tiếp mà cho con trai là Hà Trọng Khôi thượng đài. Khôi là lính trinh sát thuộc sư đoàn 22 lính cộng hòa. Trước trận đấu, Hương tuyên bố dù thua hay thắng thì đây cũng là lần cuối cùng đấu võ đài.
                Sự kiện võ thuật này thu hút sự quan tâm của người dân đất võ khi cả sân vận động kín mít không còn một chỗ đứng. Trên khán đài còn có sự chứng kiến của thị trưởng thành phố Quy Nhơn. Trận đấu chỉ diễn ra được hơn một phút thì võ sĩ Hà Trọng Khôi không thể chịu nổi và liên tục bị dính đòn. Biết không thể cầm cự trước sự tấn công dồn dập của “cặp cùi chỏ” vang danh Nam bộ, võ sư Sơn đã vứt khăn xin thua trận cho võ sĩ Khôi nhưng Khôi không đồng ý và nhặt khăn bỏ xuống võ đài. Thị trưởng thành phố Quy Nhơn yêu cầu bác sĩ Ngyễn Văn Tâm kiểm tra và ra hiệu cho trọng tài ngừng trận đấu vì Khôi bị thương quá nặng. Ngay lập tức lính sư đoàn 22 đã tràn lên bao vây võ đài, chúng yêu cầu xét găng tay của Hương. Dù không thấy gì bất thường nhưng đám đông này vẫn kích động hè nhau lao vào vây đánh túi bụi. Hương được đám quân cảnh giải vây chở bằng máy bay đưa về bệnh viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang để chữa trị. Trong chuyến bay đó Hương đã gặp cô gái 16 tuổi tên Tôn Nữ Thị Yên. Chưa hết bệnh, Hương trốn bệnh viện quay lại tìm người yêu và một lần nữa bị nhóm người của sư đoàn 22 vây chém. Sau lần đó Hương đã đem lòng yêu thương kết hôn với Yên. Sau giải phóng, đôi vợ chồng này bị thất lạc suốt 30 năm trời. Họ vừa gặp lại nhau cuối năm 2005 khi bà Yên từ Mỹ quay về tìm chồng.
                Như vậy trong hơn 10 năm thượng đài với hàng trăm trận đấu, Chà Và Hương chỉ bị thua duy nhất một lần trước võ sư Nguyễn Lâm tại sân Tinh võ Q5 - Sài Gòn nhưng sau đó lại thắng võ sư này ở sân chùa Bà - Phan Thiết. Sau khi giải nghệ đánh đấm, Chà Và Hương bắt đầu về mở lớp dạy võ tại Cầu Sơn (nay ở QL13 P24, Q.Bình Thạnh) và truyền thụ võ nghệ cho một loạt những tên tuổi nổi tiếng sau này. Bắt đầu từ đây, Hương dấn thân vào con đường giang hồ bảo kê, đâm chém.
                Kỳ 3: Câu chuyện về Đại Cathay

                Từ bỏ lôi đài, Hương tập hợp đệ tử bắt đầu quá trình bảo kê, tranh giành lãnh địa làm ăn với các thế lực xã hội đen. Nhờ tiếng tăm của mình, Hương đã kéo về dưới trướng hàng chục tay giang hồ để tạo vây cánh bảo kê một loạt các nhà hàng, vũ trường, quán bar, tụ điểm ăn chơi... từ TPHCM ra đến Biên Hòa - Đồng Nai.
                Trong số các đệ tử máu mặt của Chà Và Hương (tự Phi Hoàng) có Phi Long (Tạ Văn Hường), Phi Hổ (Lê Văn Hậu), Phi Hải (Lê Văn Phước), Phi Hùng (Lâm Văn Phi) và nữ võ sĩ Cẩm Huê, Cẩm Hồng... được giới giang hồ gọi “ngũ hổ tướng” đánh đấm quậy phá khắp nơi.
                Thời điểm bấy giờ, giang hồ đất Sài Gòn có bốn cao thủ “tứ đại thiên vương” gồm Đại - Tỳ - Cái - Thế (Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Ba Thế). Trong đó, Đại Cathay được xếp đầu bảng và mệnh danh và “vua của các đại ca giới giang hồ”. Bên cạnh đó, các tổ chức băng nhóm giang hồ người Hoa hoạt động tại khu vực Chợ Lớn có băng “Hắc đạo” do Tín Mã Nàm (con ngựa điên) cầm đầu. Dưới tay của Mã Nàm có những cao thủ như Lục Chỉ, Sám Sò, bên cạnh đó còn có một tay giang hồ khét tiếng trong giới cờ bạc Hoa kiều đó là Hải Phùng Kin. Xét về tổng quan, tập đoàn tội phạm của Trần Đại (Đại Cathay) là có uy thế nhất.
                Năm 1959, trong lần tổng động viên thu gom các đối tượng giang hồ của chính quyền chế độ cũ với mục đích “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn pháp luật”, Chà Và Hương đã gặp Trần Đại trong “trại tế bần” ở cầu Chữ Y, Q8. Gọi là trại tế bần nhưng thực chất là điểm tập trung nuôi cơm báo cô đối với những thành phần “du thủ du thực, cô hồn cát đảng” đang thịnh hành trong xã hội rối ren, mục ruỗng lúc bấy giờ. Lúc đó Đại chưa nổi tiếng như sau này, hắn nhỏ con, ít nói, nhìn có vẻ hiền lành nhưng thực ra rất lì lợm và liều mạng đến mức ghê sợ. Nếu giải quyết mâu thuẫn mà đối phương mang dao ra hù dọa thì Đại nhất quyết chưa thấy máu sẽ không bao giờ về. Trong trại tế bần ngày đó hình thành hai phe nhóm, đó là nhóm du côn người Hoa và du côn người Việt. Những trận đụng độ nảy lửa của hai phe khiến đội quản lý không thể khống chế được. Bọn chóp bu cai trại nghĩ ra mọi cách để hợp lý hóa những trận đánh nhau loạn xạ trong trung tâm giáo dưỡng này. Và phương pháp cho một chọi một là tối ưu hơn cả vì không gây ồn ào, náo loạn toàn khu vực. Vì Đại nhỏ con lại lì lợm nên đám tiểu yêu người Hoa rất ghét, cứ đến lượt Đại lên đấu thì chúng đưa ra những tên đầu lớn tay to để mục đích dần cho Đại những trận ra hồn, dằn mặt được Đại là sẽ khống chế được đám du đãng người Việt. Và cứ mỗi lần Đại bị đánh lăn kềnh ra đất, Chà Và Hương lại nhảy lên sới đài để cứu giúp. Sau nhiều lần như thế Hương và Đại đã kết nghĩa giang hồ, sau này cùng ngụ tại đường hẻm ve chai sau rạp hát Cathay.
                Theo lời Chà Và Hương, nếu còn sống bây giờ chắc Đại cũng khoảng hơn 70 tuổi, quê gốc ở miền Trung, nói giọng lơ lớ vùng Nghĩa Bình (Quảng Ngãi - Bình Định), cha tên là Lê Văn Cự chết sớm, mẹ lấy chồng ở Q4, dượng ghẻ là kẻ thô lỗ lại nghiện hút nên từ nhỏ Đại sống với bà nội và chứng kiến không biết bao nhiêu mặt đen tối của cuộc đời. Hương về sống với Đại ngày đi đánh lộn, đêm ngủ lề đường và được một chủ quán cơm tên Ba Chó cho ăn hằng ngày. Có thể nói rằng, trước năm 1970, Đại Cathay là kẻ duy nhất có thể đứng ra thống lĩnh giới giang hồ du đãng. Không những tập trung các tay anh chị đầu trâu mặt ngựa mà Đại còn thu phục về dưới trướng mình rất nhiều các đối tượng có học hành, nghệ sĩ... để “xã hội hóa” tập đoàn tội phạm của mình. Trong đó phải nói đến những kẻ con nhà giàu học ở trường Tây như: Hùng “đầu bò”, Hoàng sayonara (người móc classic bản này rất hay).
                Giới giang hồ thời điểm này, do du nhập lối sống phương Tây nên rất mê nhảy đầm, cặp bồ với các văn nghệ sĩ, tài tử... Không những đại ca giang hồ mà giới tướng lĩnh của chế độ cũ cũng chạy theo trào lưu thời thượng này. Một trong những người mê nhảy đầm là tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ. Trong một lần gặp nhau trên sàn nhảy, Đại Cathay thể hiện sự ngông nghênh của mình nên bị Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó còn mang hàm trung tá không quân) nhắc nhở. Không ngờ sự thể hiện uy quyền này đã bị thoi một quả đấm trời giáng vào bụng. Giữa tiếng nhạc và từng động tác uốn éo của các vũ nữ, bạn bè đồng liêu, Kỳ “râu kẽm” tái mặt tức tối nhưng không nói câu nào. Dồn nén nhiều hiềm khích với các tướng lĩnh ngụy quyền khác, diễn biến sau này của Đại Cathay không thoát khỏi bản án tử được tuyên ngày hôm đó.
                Thời gian sau khi giải nghệ võ đài, Hương bắt đầu tập hợp đàn em tham gia giới giang hồ bảo kê kiếm tiền. “Ngũ hổ tướng” cùng với hàng trăm đệ tử bảo kê hầu hết các quán bar nằm nhan nhản trên đường Tự Do và Hai Bà Trưng như Karina Bar, Fuji Bar, Ok Bar, Thanh Thanh Restaurant (của gia đình Tướng Mai Hữu Xuân), Jackaline Bar... Còn Đại Cathay thì bảo kê các sòng bài của Hải Phong Kin, Da Heo, Đại Thế Giới...
                Nói tóm lại, ngoài nhóm Hắc Đạo của Tín Mã Nàm còn một số sòng bạc tại khu vực Q5, Chợ Lớn thì hầu như toàn bộ lãnh địa hái ra tiền đều đã rơi vào tay của Đại Cathay. Sự uy quyền của Đại trong thời điểm này là không đối thủ. Tại nhà hàng Đại Nam và Melody tại Chợ Lớn có ba “đại gia” được dành 18 cái ghế sắp thành ba hàng. Hàng ngày nếu những người này không đến thì phải để ghế trống không ai được ngồi. Hàng sáu cái ghế thứ nhất là của cậu Ba Huy (Công tử Bạc Liêu); hàng sáu cái ghế thứ hai là của Đại Cathay và hàng sáu cái ghế thứ ba là của trung tá Lê Hằng Minh - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Trâu Điên khét tiếng. Khi Đại và đàn em đến bất cứ quán bar, sàn nhảy nào đều được giảm giá hoặc không tính tiền, có nhiều ông bà chủ còn coi sự hiện diện của Đại là niềm vinh dự cho cơ sở kinh doanh của mình. Có nhiều ông chủ kinh doanh giàu có cũng đã âm thầm tài trợ hàng tháng cho đám côn đồ du đãng này để được hậu thuẫn trong nhiều phi vụ làm ăn.
                Còn về Chà Và Hương, khi thấy mảnh đất màu mỡ nội thành đã dần bị thôn tính, Hương đã tiến về phía đông mà trọng điểm là địa bàn Biên Hòa. Tại đây, Hương đã sớm gặp phải sự kháng cự quyết liệt của đại ca Út Lai (vua giang hồ vùng Biên Hòa - Long Khánh). Nhiều trận chiến kinh hoàng nổ ra và cuối cùng, được sự dàn xếp của nhiều trùm băng nhóm khác, Hương và Út Lai đã hòa giải và Lai chấp nhận phân chia thị phần bảo kê các tụ điểm vui chơi tại Biên Hòa cho Hương. Thời điểm đó một số lính Mỹ khi đổ bộ đồn trú tại đây cũng bắt đầu xưng hùng xưng bá. Các trận thư hùng của giang hồ người Việt với “giang hồ mũi lõ” xảy ra thường xuyên.
                Trong một trận đâm chém tại dốc Sỏi - Biên Hòa, hai trong số bốn tên lính Mỹ đã bị giang hồ chém chết. Người Mỹ phản ứng dữ dội, buộc ban chỉ huy vùng ba chiến thuật của ngụy quân phải ráo riết tiến hành tìm cho ra thủ phạm để khỏi ảnh hưởng mối quan hệ “bang giao”. Tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy vùng ba chiến thuật lúc bấy giờ đã triệu tập các trùm băng nhóm trên địa bàn phát lệnh: nếu không tìm ra thủ phạm thì tất cả quán bar sẽ bị dẹp hết. Qua gần ba tháng trời tìm kiếm vẫn không bắt được hung thủ nên quân đội ngụy đã dẹp phần lớn các quán bar liên quan đến những cơ sở kinh tài của các băng nhóm giang hồ. Chà Và Hương dẫn quân quay về Sài Gòn nhưng lúc này, đám lính nhái của hải quân khu vực Bạch Đằng gồm Trâu Nhị, Trọng Tấn, Minh Móm, Bình Nhái hầu như làm chủ lãnh địa cũ của Hương.
                (Còn nữa)
                Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 14-10-2011, 05:48 PM.

                Comment


                • #9
                  &quot;Đại bàng&quot; rũ cánh

                  Bí ẩn quanh cái chết của Đại Cathay
                  Có thể nói, trong thời điểm tranh tối tranh sáng, nhiều tướng lĩnh quân đội vì bất lực trong việc dẹp loạn du đãng nên dựa vào các đại ca giang hồ để “dĩ độc trị độc”. Nhưng giới giang hồ có những cách cư xử riêng mà trong bối cảnh mục ruỗng thời bấy giờ, pháp luật chỉ là “chất xúc tác” để tô vẽ và khẳng định thêm số má của bọn du đãng mà thôi.
                  Những năm tháng niên thiếu cho đến khi xưng hùng xưng bá trong giới giang hồ, Trần Đại (Đại Cathay) luôn tỏ ra là một người nghĩa hiệp. Hắn không hề biết chữ, nhưng sự láu cá trong cuộc đời đã dạy cho hắn cách đối nhân xử thế. Tuy lãnh địa nhiều, màu mỡ nhưng Đại không thể nào quản lý hết vì không biết chữ. Dưới trướng Đại có hai nhân vật “Ba Chó - là người thường xuyên cho Đại và Chà Và Hương ăn cơm thời niên thiếu nên được Đại rất tin cẩn giao viết giấy thu tiền của các sòng bạc do người Việt làm chủ.
                  Đối với việc thu tiền tại các khu Hoa kiều thì do Tài “ngạnh” rất giỏi tiếng Hoa viết. Chữ ký của Đại cũng là một giai thoại truyền nhau trong giới giang hồ lúc này. Chính Chà Và Hương và Đức “rê mông” đã dạy cho Đại cách ký tên. Theo ông Hương kể lại, Đại khá thông minh, chỉ cần nói một lần là hiểu. Trong một lần đi Đà Lạt, Hương đã hướng dẫn chữ “Đ” giống như chiếc cung của người thượng quay ngược lại. “Chữ “A” giống như hình biển báo giao thông và gạch ngang giữa. Còn chữ “I” là một thanh sắt cắm từ trên xuống đất rồi đóng một cái đinh vào phía dưới. Đó là tên của mày”.
                  Chỉ nói một lần, Đại hiểu ngay và từ đó mỗi lần thu tiền bảo kê, Đại chỉ cần ký vào tờ giấy viết sẵn và đệ tử chỉ việc cầm đến lấy tiền. Có một lần nhóm đệ tử thân tín gồm Năm Công, Hiếu “mặt mâm”... qua mặt giả chữ ký của Đại thu tiền tại một sòng bài. Tuy nhiên, chữ ký giả này đã bị phát hiện và Năm Công, Hiếu “mặt mâm” bỏ trốn luôn không dám ra mặt. Chỉ sau khi Đại bị tổng động viên và mất tích tại Côn Đảo, thì chúng mới dám xuất hiện. Đại rất phóng khoáng, do vậy mỗi lần hắn ngồi đánh bạc ở đâu là nơi đó đám du đãng, nghiện ngập tập trung vất vưởng bên ngoài để chờ được bố thí. Có những đối tượng quê tận An Giang sau khi mãn hạn tù cũng đến rạp Cathay để tìm Đại xin tiền mua vé xe về quê. Dường như muốn tỏ ra là một trùm giang hồ hiệp nghĩa có người đã được hắn cho tiền mua luôn chiếc xe máy để làm phương tiện đi về. Mỗi lần sắp xâm lấn lãnh địa nào, Đại luôn tìm đến làm trước công tác “chính trị, nhân đạo” để thu phục nhân tâm trước khi vào bảo kê cai trị. Có kẻ gặp may đã được hắn cho tiền mở cả sạp hàng.

                  Trung tâm TP. Sài Gòn, nơi các băng nhóm giang hồ bành trướng
                  Những năm trước 1970, dân đại gia Sài thành thường tổ chức những khu vui chơi rất hoành tráng. Một trong những điển hình trong cách ăn chơi đó là “Hầu Cung” tại Chợ Lớn do người Hoa đứng ra tổ chức. Chỗ này chỉ dành riêng cho các tướng lĩnh và những người cực giàu, còn đối với dân giang hồ thì chỉ có Đại mới có tiền và “uy” để đến được nơi này. Hay nói đúng hơn, Đại giống như một con ngáo ộp mà ai cũng phải nể sợ. Khi xe của Đại xuất hiện sẽ có người mở cửa ngay tức thì. Hương cũng đã nhiều lần đi cùng Đại vào tiêu khiển ở đây.
                  Vào đây thượng khách sẽ được phục vụ theo kiểu “nhất dạ đế vương”. Khi đại gia có yêu cầu thì muốn hóa thân vào bối cảnh của hoàng đế đời nào cũng được, nhất là mỹ nữ. Đại sống cũng rất khác người, chuyên mặc quần áo Jeans, cổ đeo dây chuyền to tướng, mái tóc bồng bềnh và đặc biệt không bao giờ đi giày tây kể cả trong lúc nhảy đầm. Hắn nghĩa hiệp nhưng cũng rất ngang tàng không sợ bất kỳ ai. Chính sự nổi tiếng đó đã giết Đại. Việc bắt Đại trong đợt tổng động viên du đãng ra Phú Quốc năm 1966 để kết liễu cuộc đời hắn cũng có bàn tay đen của các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn. Đại ngang tàng nên hắn đã quên rằng mình từng gây hấn với Nguyễn Cao Kỳ trên sàn nhảy (lúc này ông Kỳ trở thành tướng và giữ chức vụ quan trọng trong ủy ban hành pháp trung ương). Đại lại từng thẳng thừng từ chối lời mời cộng tác của tướng Nguyễn Ngọc Loan trong việc giúp bình định các băng đảng giang hồ cát cứ nên việc Đại bị “buộc phải chết” sẽ chỉ là vấn đề thời gian.
                  Trong đợt tổng động viên này, Hương và Đại đều có trong danh sách của tướng Nguyễn Ngọc Loan nhưng do Chà Và Hương trước đây nổi tiếng với chuyện đấu võ lôi đài nên đã được ông Toàn - trưởng ban Hàng Keo Gia Định bảo lãnh đưa về làm tài xế kiêm bảo vệ. Hôm gửi giấy triệu tập Đại, Loan đã lệnh cho đại úy Chi mang giấy gọi đến tận nhà. Khi đó Đại không có mặt ở nhà mình trên đường Hồng Thập Tự (đường Nguyễn Thị Minh Khai bay giờ) mà đang hút thuốc phiện ở chỗ một người quen. Nghe nói có công sai tìm mình, Đại liền hỏi: ông Loan mời tôi hay triệu tập bắt? Rồi hắn nói thêm: “Nếu bắt thì đưa còng số 8 vào đây, còn nếu mời thì 30 phút nữa tôi sẽ có mặt tại Tổng nha cảnh sát”. Đại úy Chi chạy về Tổng nha báo lại cho Loan biết và đúng 30 phút sau thì thấy xe của Đại chạy đến. Không hiểu sao, khi đến cửa Tổng nha cảnh sát, hắn tháo van xì hơi hết bốn bánh xe rồi rú ga chạy vào khiến bụi bay mịt mù, cao su cháy khét lẹt. Tướng Loan ra đón Đại ngay tại cửa và lên tiếng hỏi: “Xe bị sao vậy?”. Đại trả lời một cách đầy ẩn ý, hình như biết được đây là chuyến đi cuối cùng của mình: “Xe tôi chạy niềng với vỏ không à, không có ruột đâu”. Loan nghe vậy chỉ nhếch mép cười thâm hiểm. Khi bước chân lên tàu đi ra trại ở Phú Quốc, Đại còn quay lại đấm thượng sĩ Giàu một quả vào mặt khiến Giàu dập sống mũi máu me dàn dụa chỉ vì hắn nghe loáng thoáng người này nói một câu gì đó không lọt tai.
                  Trong đợt tổng động viên du đãng năm 1966, ngoài Đại Cathay còn có một số giang hồ cộm cán như Bảy Si (anh vợ Năm Cam sau này), Lâm Chín Ngón, Hải Súng... Sau khi Đại bị bắt, vợ của hắn biết chồng đi lần này không biết bao giờ trở lại nên đã treo giải 1 triệu đồng sau đó nâng lên 1,5 triệu nếu ai đưa được Đại về lại Sài Gòn. Món hời này đã được đại tá Long - một sĩ quan thuộc lực lượng Hải quân chỉ huy tàu tuần lưu nhận giúp đỡ.
                  Tuy nhiên sau đó không biết do có sự sắp đặt từ trước hay vô tình mà giữa Đại và Bảy si đã xảy ra hiềm khích. Đúng vào đêm Đại và nhóm đàn em tổ chức vượt ngục theo kế hoạch, đại tá Long đã cho tàu đợi sẵn bên ngoài. Những tưởng kế hoạch rất hoàn hảo nhưng khi Đại và đàn em chui ra khỏi hàng rào thì bất ngờ lính cảnh vệ ập đến, pháo hỏa châu bắn sáng rực cả bầu trời. Thấy thế đại tá Long quay tàu đi, Đại Cathay đã thoát ra ngoài nên đành phải cắm đầu chạy. Sẵn có một chiếc xuồng ba lá gần đó, Đại và Hải Súng đã nhảy xuống giật nổ máy sang đảo Đông Dương - nay là thị trấn Đông Dương. Sau đó người thì nói Đại mất tích, người thì nói vượt biên và cũng có người cho rằng Đại đã bị bắn chết. Những giai thoại về Đại Cathay - ông trùm của các ông trùm giang hồ chấm dứt.
                  Giang hồ Sơn "đảo" bị giết như thế nào?
                  Các đại ca giang hồ muốn thể hiện “số má” của mình không chỉ bằng tiền, quyền lực, “địa bàn phủ sóng” mà còn cả gái đẹp. Vụ án Sơn “đảo” - trùm giang hồ và hoạt động sòng bạc khét tiếng tại Q.Tân Bình có quan hệ “mật thiết” với sư đoàn Dù của ngụy quyền Sài Gòn đã bị giết bởi một gã du đãng tàn tật ngay trước vũ trường Crystal đã nói lên bộ mặt xã hội lúc bấy giờ
                  Sơn “đảo” tên thật là Vũ Đình Khánh vốn là một du đãng từ Hà Nội di cư vào Sài Gòn từ trước những năm 1960. Ngay từ nhỏ hắn đã thể hiện sự ngang tàng của mình qua các vụ đánh lộn và cướp bóc. Sau khi tướng “râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ lên nắm giữ chức vụ lãnh đạo Ủy ban hành pháp trung ương ngụy, ông ta đã chủ trương “bài trừ du đãng” và lập ra đội quân “đặc quyền” chuyên hoạt động trong lĩnh vực này. Sơn bị bắt trong một lần quỵt tiền taxi tại Q1 và bị đưa ra tòa xét xử tuyên án 5 năm tù tại Côn Đảo.
                  Những tưởng bản án này “cải tạo” được Sơn nhưng không ngờ tại đây, hắn đã trở thành “đại bàng”, gây dựng thanh thế trong giới tội phạm. Và cũng giống như Đại Cathay, Sơn cũng được gắn tên vùng đất thành danh của mình là Sơn “đảo” từ ngày đó. Sau khi về Sài Gòn, bằng những mánh khóe học được trong tù Sơn đã len lỏi gia nhập vào sư đoàn Dù “quý tộc” của ngụy quyền. Hắn tập thể hình khiến cho cơ thể phần trên rất bệ vệ, ngực nở phồng to tướng khiến hai tay như không thể khép sát vào nách, tuy nhiên hai chân thì bé tí tẹo. Khi về Sài Gòn, hắn mở sòng bạc tại Tân Bình và nghiễm nhiên trở thành ông trùm trong giới đỏ đen. Sơn thường xuyên sử dụng xe phân khối lớn và kè kè bên mình lúc nào cũng có trung tá Đường của sư đoàn Dù.



                  Đại lộ Nguyễn Huệ và thiếu nữ Sài Gòn ngày xưa
                  Thời điểm bấy giờ, họ hàng quan chức của các tướng lĩnh Sài Gòn ra sức cấu kết với các băng nhóm giang hồ để làm giàu. Chúng xây các tòa nhà cho các băng đảng giang hồ thuê để mở vũ trường, sàn nhảy thoát y, sòng bạc và kể cả việc buôn bán ma túy. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có một người em vợ được giới giang hồ gọi là “cậu Mười”. Dựa hơi anh rể là tổng thống, chị gái là “đệ nhất phu nhân” của Việt Nam Cộng hòa, cậu Mười đã bất chấp pháp luật mở rộng giao du với đám giang hồ. Các “đại ca” lúc bấy giờ được làm ăn với cậu cũng là vinh dự và an toàn bởi đã có cái “dù” rất lớn che chở. Khoảng cuối năm 1973, cậu Mười xây dựng một tòa nhà 5 tầng trên đường Trương Minh Ký để cho các đại ca giang hồ thuê mở sòng bạc, vũ trường.
                  Vào một buổi sáng, Y “cà lết” tức là Phạm Bá Y - một tay giang hồ bị thọt chân đi cà nhắc chuyên “thâm canh” ma túy tại khu vực sau Bệnh viện Từ Dũ, chở trên xe hơi một cô gái tên Trang - vũ nữ của vũ trường Barcaras (Trang là vợ giang hồ Lộc điên, lúc này Lộc đang thụ án tù vì buôn ma túy) đến gặp cậu Mười để xin thuê một tầng lầu làm điểm kinh doanh. Duy chỉ có lầu 3 còn trống nên cậu Mười đồng ý cho Y thuê lại tầng này. Khi cả Y và Trang chuẩn bị ra về thì một chiếc xe phân khối lớn lao đến, trên xe không ai khác đó là Sơn “đảo” và chở sau lưng là thiếu tá Đường. Khi thấy Sơn, Trang liền vồ tới ôm vai gọi liên tiếp anh Sơn (Trang cũng là bồ nhí của Sơn). Sơn vừa ôm Trang vừa gọi cậu Mười xuống hỏi thuê phòng làm điểm kinh doanh sòng bạc.
                  Vốn không ưa gì Sơn nên cậu Mười nói chỉ còn lầu 3 trống nhưng em nói muộn quá nên vừa cho thằng Y “cà lết” mướn rồi. Sơn đảo mắt xung quanh thì thấy Y đang ngồi trong xe hơi, Sơn hỏi Trang: “Em đi với hắn à”, Trang gật đầu. Sơn tiến tại phía cửa xe đánh Y hai tát vào mặt làm Y rơi kiếng. Y ngước lên hỏi: “Tại sao anh đánh tôi”. Sơn tiếp tục hỏi “mày biết tao là ai không?”, Y trả lời “biết”. Sơn tiếp tục: “Biết sao không chào? Tao đánh mày vì tội biết mà không chào”. Y gằn giọng: “Chào hay không là quyền của tao, nhưng mày nên nhớ cái tát này nhé”. Nói dứt lời, Y gọi Trang rồi khoát tay chào mọi người, cả hai lên xe biến mất. Tưởng rằng sự việc bình thường nhưng Y đã rắp tâm trả thù. Sau vụ việc hôm đó, Y không thuê sòng bài nữa mà dẫn theo một số đàn em thân tín lên Đà Lạt. Hắn yêu cầu chủ khách sạn cho mượn phòng ba tháng. Dù không ở nhưng hắn vẫn trả tiền đủ và yêu cầu chủ khách sạn ghi tên lưu trú của hắn tại đây suốt ba tháng trời. Sau đó Y âm thầm quay lại Sài Gòn tìm cách giết Sơn trả thù.
                  Vào một ngày cuối tháng 1-1975, Y phát hiện Sơn cùng đám sĩ quan Dù đang ăn chơi nhảy múa tại vũ trường Crystal trên đường Lê Lợi. Y “cà lết” bố trí đàn em chở mình bằng xe máy với khẩu Colt 45 thủ trong người. Hậu thuẫn phía sau cho hắn là chiếc xe hơi chở bọn đàn em thiện chiến được trang bị hỏa lực mạnh, phòng xa nếu lính Dù ra tay can thiệp thì phải có sự yểm trợ khi rút lui. Sau khi nắm rõ tình hình, Y thuê một đứa trẻ đánh giày ngay trước cửa vũ trường với giá 10 đồng để xì hơi bánh xe của Sơn đang để trước cửa, sau đó hắn trốn vào gốc cây bên đường nơi có điểm vá xe phục sẵn. Trong ánh đèn leo lét trên đường Lê Lợi lúc nửa đêm, Sơn “đảo” cùng thiếu tá Đường vãn cuộc loạng choạng ra về nhưng phát hiện bánh bị hết hơi nên dắt sang điểm vá xe bên kia đường kiểm tra.
                  Đúng như kế hoạch của Y, khi Sơn cúi xuống nhìn bánh xe thì ngay lập tức từ phía sau hốc cây phát ra một tiếng quát: “Sơn đảo”. Sơn ngước nhìn lên, bất ngờ một tiếng nổ đanh thép vang lên. Mùi thuốc súng khét lẹt, viên đạn găm vào vai khiến Sơn ngã xuống. Y “cà lết” gằn giong: “Mày có nhớ tao không Sơn?”. Sơn bị thương rất nặng nhưng vẫn nhận ra đó là Y “cà lết”. Sơn thều thào: “không lẽ vì chuyện nhỏ vậy mà mày bắn tao hả Y? Y “cà lết” lạnh lùng: “Tao đã nói trước với mày rồi, vì cái tát đó nên mày phải chết”. Nói dứt lời, Y nã tiếp hai phát đạn vào bụng Sơn rồi lên xe máy đàn em chờ sẵn rú ga bỏ chạy. Sự việc diễn ra quá bất ngờ khiến thiếu tá Đường mặc dù có súng lăm lăm bên người nhưng không dám rút ra mà bỏ chạy theo hướng khác. Sơn “đảo” được mọi người đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng đã chết sau đó hai tiếng đồng hồ. Thời điểm bấy giờ có giả thiết cho rằng nguyên nhân vụ án mạng trên là do Sơn lấn lãnh địa vào Cây da Xà của Bảy Diệm nên bị trùm giang hồ này giết. Về phần Y “cà lết” sau giải phóng đã bị kết án tử hình vì phạm tội cướp của giết người trong nhiều vụ án khác. Trước khi ra pháp trường, Phạm Bá Y cũng đã thừa nhận Sơn “đảo” do chính y bắn chết để trả thù cho cái tát trước nhà cậu Mười trên đường Trương Minh Ký năm xưa.
                  Dấu chấm hết cho giang hồ Sài Gòn
                  Các băng đảng giang hồ Sài Gòn những năm 1975 đã bắt đầu tan rã cùng với sự biến mất của các tướng lĩnh.
                  Cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam mùa xuân năm 1975 đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Đất nước bước sang trang mới, người dân miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng từ đây được hưởng cuộc sống hòa bình, hạnh phúc. Theo chân các tướng lĩnh chế độ cũ, các băng đảng giang hồ cũng tan rã. Tuy nhiên, sự mục ruỗng của bối cảnh xã hội trước 1975 đã để lại hậu quả thật nặng nề mà phải mất một thời gian khá dài chúng ta mới nhổ tận gốc rễ những tàn dư tội phạm đó.
                  Sự mất tích bí ẩn của Đại Cathay tại Phú Quốc đã đưa giới giang hồ đất Sài thành vào hoàn cảnh “rắn không đầu”. Không có Trần Đại đồng nghĩa với các băng nhóm giang hồ người Hoa khu vực chợ Lớn như Tín Mã Nàm, Hải Phùng Kim bắt đầu tìm lại ảnh hưởng và chiếm lĩnh thị phần của mình.
                  Nhưng do lòng tham, “con ngựa điên” đã dần dần bị thu phục trở thành tay chân của một số tướng lĩnh ngụy quyền nên đã bị nhiều đàn em thân tín bất mãn, tìm cách “làm ăn riêng” và sau đó trở thành đối thủ của hắn. Sau ngày giải phóng, Tín Mã Nàm vẫn muốn “bành trướng” thế lực, củng cố vị thế giang hồ số 1 trong giới người Hoa ở khu vực Q5 nhưng rồi hắn đã bị lực lượng CSHS CATPHCM triệt phá sau khi gây án tại Cây Da Sà. Nói về chế độ cũ, với bản chất mục ruỗng và thối nát, các tướng lĩnh ngụy quyền lúc bấy giờ xem mạng người như cỏ rác. Cà Na, du côn Tân Định một thời, sau này thành võ sĩ Huỳnh Sơn do đánh đấm quậy phá nên cũng bị tập trung về trại tế bần ở cầu chữ Y, Q8. Trong một lần định trốn chạy, hắn đã bị bắn, mang theo vết thương nhảy qua khỏi tường rào. Do mất nhiều máu nên Cà Na chết dưới ao bèo sau trại tế bần. Đám quản lý trại cứ ngỡ rằng mặc dù bị trúng đạn nhưng hắn đã chạy thoát nên không tìm kiếm. Ba ngày sau, một người đàn ông đi vớt bèo phát hiện thi thể Cà Na với vết thương giữa ngực.
                  Y “cà lết” sau vụ trả thù tình với Sơn “đảo” khiến tiếng tăm vang xa nhưng cũng bị tử hình vì tội cướp của giết người... Sau giải phóng, hầu hết các băng nhóm giang hồ lần lượt tan rã. Riêng Chà Và Hương, nỗi đau không phải là thiếu tiền, mất cơ hội làm ăn mà chính là thất lạc vợ. Hương buồn bã, sống ẩn dật tại Q3 rồi sau đó về ở với mẹ già ở Hóc Môn hành nghề dạy võ. Sau khi mẹ mất, Hương chuyển đến Củ Chi hành nghề bốc thuốc, châm cứu và được mời làm cố vấn võ thuật cho Liên đoàn võ thuật cổ truyền TPHCM.
                  Gặp chúng tôi vào những ngày đầu năm 2011, tuy đã ngoài tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng ông vẫn có sự quắc thước, nhanh nhẹn của một người suốt đời theo nghề võ. Kể về chuyện đời của mình, lão võ sư này cho biết sau năm 1975, người dân Sài Gòn lần đầu tiên được tận hưởng cuộc sống ổn định về chính trị, an toàn về tính mạng bởi các băng nhóm giang hồ phần nhiều đã tan rã. Sống mà không sợ phải trốn lính, tù đày, thanh toán lẫn nhau. Một số đại ca giang hồ góp phần tạo nên bầu không khí ngột ngạt thời đó như: Hải Phụng Kim chết sau cải tạo do bệnh áp huyết cao, Ba Thế thì mất tích sau ngày giải phóng, Ngô Văn Cái sa cơ thất thế sống tạm bợ lề đường rồi sau đó cũng chết. Minh “cầu muối” chết năm 1999... Còn những đám “giang hồ nửa mùa” thì lợi dụng đao mác để bám gót tướng lĩnh như Bình “đen”, Bình “nhái”.
                  Bình “nhái” là cận vệ của Hoàng Đức Nhã - cháu họ của Nguyễn Văn Thiệu. Lợi dụng người thân làm tổng thống, Nhã chẳng khác gì một “cò chính trị”, hắn đã có lần đứng trước thượng viện chửi bới um sùm mà chẳng ai dám lên tiếng. Biết sẽ thất bại, Nhã theo gót chủ bỏ chạy sang Mỹ, trước khi đi, Hoàng Đức Nhã không những mang theo Bình “nhái” còn kéo theo một đối tượng tên Nghĩa - chủ một nhà máy sản xuất kem đánh răng ở Q. Bình Thạnh để “lợi dụng kinh tài trụ lại đất khách quê người”.
                  Còn đối với Chà Và Hương, sau khi lấy vợ, bà Tôn Nữ Thị Yên còn quá trẻ nên không chịu sinh con. Bà nhận một đứa trẻ lai gốc Mỹ làm con nuôi và về sống bên nhà bố me, còn Hương bôn ba với cuộc sống giang hồ ở Sài Gòn. Trước năm 1975, tình hình xã hội hỗn độn phức tạp nên một thời gian sau thì hai người thất lạc nhau. Sự thất lạc này một phần cũng do những người thân trong gia đình bà Yên tạo nên khi lên kế hoạch để bà sang Mỹ nhằm tách bà với người chồng giang hồ cộm cán này.
                  Sau giải phóng, Hương lặn lội nhiều lần về quê tìm vợ nhưng chỉ nhận được câu trả lời “vợ mày đi Mỹ mấy năm nay và mất tin tức không thể liên lạc được”. Bên cạnh đó họ lại thông báo cho bà Yên biết Chà Và Hương đã bị chết trong cơn loạn lạc. Buồn bã vì mất vợ, Hương sống lang thang, nhận dạy võ cho một số “cậu ấm, cô chiêu” để kiếm sống qua ngày. Hơn 30 năm sau, cũng thật tình cờ trong một lần trị bệnh cho con trai một người em bên nhà vợ, Hương để lại địa chỉ của mình và may mắn người này đã tiết lộ thông tin về việc Hương còn sống cho bà Yên biết. Vậy là cuộc trùng phùng diễn ra đầu năm 2005, bà Yên từ Mỹ về Việt Nam để tìm lại chồng. Hai người gặp lại nhau vui mừng khôn xiết. Khúc “đoạn trường” hơn 30 năm thất lạc đã khiến ông già 70 tuổi khóc như đứa trẻ.
                  Kể từ đó đến nay, cứ mỗi năm họ lại đoàn tụ hai tháng bởi bà Yên bây giờ đang làm công việc buôn bán ở bang Kentucky - Mỹ. Ông Hương tâm sự: “Cuộc sống bây giờ thật hạnh phúc, tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ có được ngày hôm nay. Ngày xưa là giang hồ đâm chém nay sống mai chết không ai lường trước được, thậm chí những ngày cuối đời phải chết trên vỉa hè, lề đường thật xót xa. Có thể nói, giang hồ ngày đó dựa vào bản chất chế độ để sống nên khi chế độ tan rã thì vấn đề diệt vong cũng là hệ quả tất yếu. Sống trong thời đại hòa bình hiện nay mới cảm nhận được hết giá trị của con người”.
                  Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 14-10-2011, 06:36 PM.

                  Comment


                  • #10
                    XẢ HỘI BẤT CÔNG NUÔI TA LỚN
                    ĐƯỜNG ĐỜI XÔ ĐẨY DẠY TA KHÔN


                    Bụi Đời


                    Những kẻ bụi đời nụ cười đã tắt trên môi
                    Đời mấy lần vui dĩ vãng về trong đêm tàn
                    Lần theo hè phố buồn nghe từng tiếng bước
                    Lòng nhớ ôi nhớ nhớ câu chuyện đời mình
                    Điều thuốc tâm tình chuyện lòng thích những thương đau
                    Vạn đắng nghìn cay riêng bóng thăng tối u hoài
                    Còn chi buồn hơn chiều lên đường phố cũ
                    Nhìn thấy người yêu tay trong tay một người
                    Rượu không men mà say
                    Chẳng uống mà say hay tình đời làm say lòng người
                    Người vô tình quá nào thương giùm đến
                    Tình yêu đã mất lâu rồi tìm trong nụ cười
                    Phố vắng hoa đèn âm thầm nhớ nhớ thương thương
                    Giờ phút từ ly xao xuyến lòng tôi mơ gì
                    Còn chi đẹp hơn tình yêu là quê hương
                    Là gió vang vang trong đêm gọi hồn...!!!

                    NGỰA HOANG
                    Đã chỉnh sửa bởi HoaiVienPhuong; 14-10-2011, 06:39 PM.

                    Comment

                    Working...
                    X
                    Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom