• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Văn Cao, thơ của những giấc mơ

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Văn Cao, thơ của những giấc mơ



    Văn Cao, thơ của những giấc mơ

    Nguyễn Mạnh Trinh

    Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923, mất ngày 10 Tháng 7 năm 1995

    Với riêng tôi, Văn Cao vừa quen và vừa lạ.
    Quen, bởi vì những bản nhạc nghe hàng ngày, những Ðàn Chim Việt, những Suối Mơ, những Buồn Tàn Thu,... từ lúc vừa mới lớn ở quê nhà đến cả những lúc sống ở đây.
    Quen, bởi vì biết ông là một nghệ sĩ đa tài, nghệ thuật văn, nhạc, họa độc đáo, là một người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm và bị chế độ đương thời đầy ải, trù dập suốt cả cuộc đời mặc dù là tác giả của bản quốc ca “Tiến Quân Ca.”
    Và, cũng quen là những hành khúc hùng tráng mà tôi đã cùng với bạn bè đồng ngũ hát vang lên trên thao trường, trên binh lửa, những “Không quân Việt Nam,” những “Chiến sĩ Việt Nam” của những bài hát mà chúng tôi nghĩ đã nợ từ lòng ái quốc, từ sự hy sinh của thế hệ cha anh đi trước.

    Còn lạ, bởi vì trong thế hệ những người sinh ra và lớn lên trong khoảng thập niên 40, 50 và trưởng thành ở miền Nam như chúng tôi, ông vẫn chỉ được biết đến từ một vài chi tiết không đầy đủ và có lẽ chứa khá nhiều chất huyền thoại, không giống với những nhạc sĩ khác như Phạm Duy hoặc Trịnh Công Sơn có nhiều nét sống thực gần gũi hơn.

    Có một nhà văn bây giờ cũng đã quá cố, nhà văn Xuân Vũ, đã so sánh hai khuôn dáng Văn Cao và Phạm Duy:

    “hai người cùng khởi hành
    cùng một đường một lúc
    hai người cùng đến đích
    nhưng mỗi người một nơi
    cách nhau một đường tơ
    xa nhau một sợi tóc.”

    Tuy tơ tóc cách nhau nhưng là thẳm biệt nghìn trùng. Văn Cao đã mất, nhưng tác phẩm và tư cách vẫn còn sống. Không phải chỉ một mình Xuân Vũ, mà cả Thụy Khuê trong bài viết “Văn Cao - Phạm Duy, trần gian và tiên cảnh” cũng có ý mang hai người, hai phong cách, ra đối chiếu. Nhưng, đó là bài viết lúc mấy năm trước.
    Còn, bây giờ, Phạm Duy đã đổi khác ...

    Tôi quen thuộc thêm với Văn Cao khi xem cuốn video do Ðinh Anh Dũng quay “Giấc mơ một đời người.” Những hình ảnh đã gây thật nhiều ấn tượng. Một ông già tóc bạc trắng, lê cái gậy chậm bước trên ngõ phố Hà Nội, trên ruộng đồng với cái phông của núi rừng ẩn hiện xa xa. Những vỉ tường loang lở, những mái ngói rêu phong, những cầu thang khuất khúc, nơi ấy, người nghệ sĩ già đã sống, đã làm việc, đã chịu đựng những nỗi đau thầm kín của một kẻ sĩ không gặp vận thời. Căn phòng nghèo nàn, cỗ dương cầm cũ kỹ, những bước tranh treo trên mảnh tường xám xịt, đã hơn một lần là những hình ảnh của tạp chí quốc tế National Geographic cho một bài viết về một nghệ sĩ tài hoa Việt Nam cả về hội họa, âm nhạc và thi ca. Những hình ảnh ấy, mở ra một cuộc sống, mà nghệ thuật là một cái nghiệp nặng nề đeo đuổi lên không những với một người mà cả một gia đình, một dòng tộc. Những vết nhăn khắc khổ trên khuôn mặt phong trần, những bước đi chông chênh tựa trên cây gậy, những lời nói tâm sự đằm thắm, tất cả, làm đậm nét thêm chân dung của một người đã sáng tác ra bản quốc ca đã hơn nửa thế kỷ, dù có lúc, chế độ ấy muốn thay thế, mở ra những cuộc thi để tìm kiếm một bản quốc ca khác. Mà lý do, xem ra khá cá nhân vì một số các quan chính quyền và quan văn nghệ không ưa tác giả!!!

    Nguyễn Thụy Kha, một nhà văn khá thân cận với Văn Cao, đã từng chứng kiến cũng như chia sẻ những khốn khó của cuộc đời ông, viết:

    “Hòa bình. Chỉ sau khi ấn hành trường ca “Những người trên cửa biển” một thời kỳ hết sức nghiệt ngã đã ập xuống đầu Văn Cao cũng như một số đồng nghiệp văn nghệ khác. Suốt mấy chục năm, Văn Cao phải lặng lẽ âm thầm sáng tạo trong đớn đau, trong cảnh túng quẫn. Dường như ông không viết bài hát nữa mà chuyển vào những tiểu phẩm nhạc không lời như “Hàng dừa xa,” “Sông tuyến,” “Biển đêm.” Ông dằn lòng viết những câu thơ không in, vẽ minh họa để kiếm chút “tiền còm” bởi thúc bách của đời sống thường nhật. Dù được nhìn nhận như là một trong những người làm minh họa và bìa sách sang trọng Văn Cao vẫn gắng bơi qua những nhạc phim và một tổ khúc “Anh bộ đội cụ Hồ” cho dàn nhạc. Nhưng túng quẩn vẫn luôn luôn rình rập trước số phận Văn Cao, luôn đe dọa dập tắt mọi ý nghĩa sáng tạo. Ðỉnh điểm của thời kỳ này là “cuộc vận động sáng tác quốc ca mới” nhằm thay thế quốc ca cũ. Ðã có đến 17 bài nhạc lọt vào vòng sơ khảo, được ấn hành và được phát thanh liên tục trên làn sóng điện. Nhưng chính khi ấy, năm 1982, sau cơn đau dạ dày hiểm nguy, Văn Cao lại được mời sang Ðức (Cộng Hòa Dân Chủ Ðức lúc đó) với tư cách là tác giả bản Quốc ca. Cùng trong thời gian đó, ở Ðại Hội Nhạc Sĩ Việt Nam lần thứ ba, Văn Cao được trúng trở lại trong Ban Chấp Hành. Tuy nhiên cảnh túng quẩn vẫn triền miên vì cả hai ông bà đều đã về hưu từ mấy năm trước. Quốc ca vẫn được cất lên trong các buổi chào cờ, trong các cuộc đón tiếp quốc tế long trọng, còn tác giả của nó thì vẫn chật vật với đời sống chật vật...”


    Khó khăn đời sống bắt đầu từ trường ca “Những người trên cửa biển” viết về thành phố cảng Hải Phòng được in trong tập thơ chung của bốn người được nhà xuất bản Văn Nghệ ở Hà Nội phát hành năm 1956: Hoàng Cầm, Văn Cao, Trần Dần, Lê Ðạt, mà ngày hôm nay, Thanh Thảo đã cho là một tác phẩm quan trọng của văn học Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ bị vùi dập, tiêu hủy từ chế độ.

    Trong trường ca ấy, có một đoạn thơ được trích đăng trong Nhân Văn Giai Phẩm Mùa Thu tập II Tháng Mười năm 1956 “Những ngày báo hiệu mùa Xuân” có những câu thơ như những lời tố cáo, dõng dạc đầy chất chính luận:


    “Chúng tôi đêm ngày vét nước nối đê
    Tưới ngọt lại ruộng đồng, dựng lại từng thôn xóm
    Tìm lại những nụ cười ở môi người sống sót
    Lửa đỏ đêm đêm trên bãi biển bập bùng
    Trong những ngày khó khăn chồng chất.
    Kẻ thù của chúng ta xuất hiện
    Những con rồng đất khi đỏ khi xanh
    Lẩn trong hàng ngũ
    Những con bói cá
    Ðậu trên những chiếc dây buồm
    Ðang đo mực nước
    Những con bạch tuộc
    Bao nhiêu tay chân dìm chết một con người
    Ðất nước đang lên da lên thịt
    Ðất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày
    Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải
    Ðã thấy loài sâu nằm tròn trong cuống
    Chúng muốn các em nhỏ mới biết đi phải rụng
    Mòn mỏi dần sức vỡ đất khai hoang
    Làm rỗng những con người, lùi dần niềm hy vọng.
    Héo dần mầm sáng tạo, mất phẩm giá con người
    Chúng nó ở bên ta, trong ta lén lút
    Ðào rỗng từng kho tiền gạo thuốc men
    Tôi đã thấy từng mặt từng tên xâu chuỗi
    Tôi sẽ vạch từng tên, từng mặt
    Hãy dừng lại
    Những tên muốn ôm cây mùa Xuân không cho mọc
    Những tên muốn làm cây to che cớm mầm non
    Con đường ta đi tự hào lực lượng
    Con đường nước nguồn thành sông thành biển
    Con đường ta đi tự hào duy nhất
    Con đường đi trái đất quanh mặt trời...”

    Những câu thơ ấy, có phải xuất phát từ một tâm cảm xúc động trước những biến cố của quê hương? Tâm cảm ấy, bàng bạc trong bài viết “Mấy ý nghĩ về thơ” in trên tạp chí Văn Nghệ một năm sau:

    Người làm thơ phải đi tìm những tư tưởng cảm xúc và cảm giác trên kia trong thực tế ở những con người đang hàng ngày túi bụi xây dựng. Càng tới gần cái cuộc sống đầy mâu thuẫn đấu tranh là càng như đi gần lại một kho thuốc nổ. Có người dao động và sợ hãi quay lưng lại. Có người vụng về mà làm nổ. Nhưng cũng có người can đảm biết làm nổ để mở đường.
    Hôm nay con đường lớn nhất của chúng ta là mở cho tất cả những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bay đi xe mật về ổ. Mở cho những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bao nhiêu là tập trung tất cả giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chậm chạp...”


    Thuốc nổ đã cháy và bùng lên, nhưng, thay vì để mở đường cho một vận hội tốt cho đất nước lại là làm nghẽn lối cho nhà thơ. Và, tâm trạng thất bại ấy biểu lộ rõ trong bài thơ “Có lúc”

    “có lúc
    một mình, một dao giữa rừng đêm không sợ hổ
    có lúc
    ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
    có lúc
    nước mắt không thể chảy ra ngoài được.”

    Những loài rồng đất đổi thay màu da, những con bói cá rình mò, những tay bạch tuộc nhớt nhúa, ... dẫy đầy trong chế độ và là những kẻ cầm quyền tự tung, tự tác ngự trị trên đầu trên cổ nhân dân. Thi sĩ, vật vã với khốn khó, im lìm trong nỗi đau, thoi thóp trong suy tưởng. Nhưng, vẫn còn hy vọng. vẫn còn chút mơ ước, bởi vì:

    “anh có thấy không
    chỗ nào cũng có tiếng
    chưa nói lên”

    Phùng Quán cũng viết về cái tâm trạng não nề của một người đầy hùng khí mà biến thành một người dửng dưng câm lặng nuốt hết những nhọc nhằn mà không tránh được tiếng rên:

    “Cả tiểu đội tôi chỉ còn mắt với răng
    Như một đồng ca chúng tôi lên cơn sốt rét
    Lên cơn sốt rét Chúa Trời cũng phải rên!
    Nhưng chúng tôi không rên
    Chúng tôi hát
    Bao chiến sĩ anh hùng
    Có một điều anh không bao giờ ngờ được
    Chúng tôi đã cài biên khúc quân hành bão táp của anh
    Thành nhạc không lời
    Thành một điệu rên”


    Phải rồi, cái dũng khí chiến trường có giúp gì trong cuộc sống cơ cực nheo nhóc. Chiến đấu với cái đói, cái thiếu không phải cho riêng mình mà cả một gia đình sao khó nhọc đến thế. Và, để đổi lấy áo cơm, là những nhạc không lời, những tranh vô ngôn, những bìa sách không nói. Những chế độ chuyên chính đã có phương cách kiến hiệu nhất để bắt nhân dân tuân phục. Như, ở miền Bắc, những Trần Ðức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường,à trí thức sâu sắc, Nguyễn Tuân ngang ngạnh lãng mạn, Quang Dũng hào sảng ngông nghênhà phải tối mặt với đời thường và mai một đi những sở đắc của mình mà chế độ cho rằng có ngày sẽ thành động lực để triệt hủy sự thống trị của họ...

    Hai mươi năm, Văn Cao không làm thơ. Nhưng, thơ lại là những trang nhật ký, viết trong cuốn sổ tay chi chít chữ, hay những mảnh giấy vụn, những bao thuốc bỏ đi. Thơ, là những phân tử máu của cuộc sống. Thơ là cái nhìn, cái nghe, cái thở, cái khóc, để nén vào thẳm sâu, để ghi lại và phác thảo chính cái hình của mình, cái bóng của mình trong một thời đại mà sự nghi kỵ và rình mò lẫn nhau trở thành quen thuộc bình thường.

    Sau khi đổi mới, có sự nới tay “cởi trói,” tập thơ Lá của Văn Cao được xuất bản. Tập thơ mỏng, trình bày sơ sài, in giấy xấu. Tuy vậy, cũng là một vừa ý miễn cưỡng. Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn “biên tập” Lá viết:

    Những bài thơ chi chít trong những cuốn sổ tay nhỏ xíu úa màu thời gian vàng vọt. Những bài thơ viết trên vỏ bao thuốc lá nhặt được trong quán rượu. Có bài thơ được ghi lại không phải nét chữ của ông mà là chữ của vợ ông, bà sợ ông quên đi mất nên bà bắt ông đọc để bà chép lại. Năm 1987, Nguyễn Thụy Kha đã lần mò chép lại những bài thơ trong cặp bản thảo nhòe mờ ấy của ông rồi đưa cho tôi đọc. Giữa quá nhiều bất trắc của cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng.Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ngòi bút kim cương chứ không phải là bút lông, bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ Lá, Văn Cao rất vui lòng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo và tôi tuyển chọn hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói: “Ba thằng mày bảo được là được.”

    Tập thơ Lá của ông được in ra không đúng như chúng tôi đã chọn dưới sự ủy thác của ông, 5 bài thơ ông tâm đắc bị bỏ ra, và thay vào mấy bài thơ ông in báo thời kháng chiến chín năm. Tuy không được hài lòng lắm, nhưng ông cũng mỉm cười sau 30 năm trở lại thi đàn. Ông tiếp tục viết những bài thơ mới. Vẫn là Văn Cao tươi ròng không tuổi...”

    Lá là một tập thơ gồm 28 bài. Trong đó có không gian của Hà Nội, Hải Phòng, Qui Nhơn, có thời gian những ngày rất đặc biệt của đất nước lúc chế độ Cộng sản vừa tiếp thu đến khi dằng dặc cuộc chiến tranh đau xót. Ở đó, cũng có tình yêu, với đất nước ruộng đồng, với phố thị quen thân, có những giấc mơ và có những hiện thực đời thường nhói buốt. Ở đó, âm nhạc và hội tụ vào, để những nốt nhạc trầm đến mức thành vô thanh, để những nhát cọ mảnh và tinh tế đến thành không dáng. Thơ là kết tinh của những nỗi niềm, là men rượu trắng “cuốc lủi” len sâu vào dòng máu, là là những tân toan tủi cực nén sâu vào trong tâm dù vẫn còn thoi thóp vài tia hy vọng.

    Thơ là “Giấc Mơ,” giấc mơ của những vì sao tuy lung linh nhưng biệt thẳm hay hiện thực như những mái nhà của cơn ngủ mệt mỏi:

    “dưới mái nhà
    một người đang ngủ
    với giấc mơ của những vì sao
    những vì sao đang kể truyện
    giấc mơ của mái nhà
    giấc mơ của một người đang ngủ”


    Thơ là Hải Phòng, của trường ca “Những người trên cửa biển,” là nỗi tình tự quê hương hòa với nỗi đau thời thế:

    Tôi hay ngủ trên cầu sương
    Nửa đêm thức giấc
    Thấy mình bay cùng tinh tú
    Ngày đến lòng tôi xếp cánh
    Sao chim bay bướm lại bay lên
    Tất cả tình yêu khát khao hy vọng
    Bốc lên trong lòng
    Rơi xuống những giọt nước mắt
    Có tuổi thanh niên
    Như cây mùa Xuân mới mọc
    Bị tước dần vỏ non
    Mất chim mất bướm mất chân trời.
    Lòng không biết nghĩ điều gì
    Như con sơn ca bị bẫy
    Thấy mắt lưới nào sáng cũng nháy ”


    Thơ là Quy Nhơn, là:

    “từ trời xanh
    rơi
    vài giọt Tháp Chàm
    quanh Quy Nhơn
    tôi như đứa nhỏ yêu huyền thoại ”


    Như một bức tranh tĩnh vật, giọt Tháp Chàm rơi trên trời xanh, trong cái “tĩnh” của lặng lẽ lại chứa đựng cái “động” ghê gớm của nội tâm. Và, từ “giọt” Tháp Chàm ấy, mở ra biết bao huyền thoại...

    Thơ, còn là Hà Nội của “Chiếc xe xác qua phường dạ lạc,” của những bức tranh “phố Phái” với những hình ảnh và gam màu tượng hình bằng ngôn ngữ thi ca. Thơ còn là Huế của “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế.” Và thơ, còn là Kinh Bắc với lời nhắn:

    “Hỡi người cưỡi ngựa về Kinh Bắc
    Tôi gửi thư đưa hộ mẹ già
    Cố thét song lời tôi yếu quá
    Ngựa đều chân chạy, nhạc càng xa ”


    Thơ Văn Cao, là quê hương, là những nốt nhạc và nét vẽ chen nhau để phác họa trung thực và sống động tâm cảm của cả một thời. Trong ánh nến của hoài nhớ, trong rung động của tiềm thức, thơ chắt lọc tháng ngày trong đau đớn nhân sinh để tượng hình nỗi khắc khoải của bức tượng phù điêu tạc trong những cơn mê đắm của lãng mạn mơ mộng. Thơ Văn Cao là thơ, là tinh tuyền của nỗi hoang sơ, của Thơ viết hoa, của những dòng chữ chở chuyên cả một vùng trời biển. Thơ là...

    Viết về Văn Cao, muốn đầy đủ phải đầy một tập sách. Nguyên Văn Cao nhạc sĩ, với bao nhiêu bản nhạc, từ quân hành ca đến tình ca, từ nhạc quê hương đến tụng ca lịch sử, từ bản quốc ca đến trường ca “Sông Lô,” bao nhiêu đề tài, bấy nhiêu ý tưởng, bấy nhiêu chữ nghĩa... Rồi cuộc đời ông, trải dài theo những tháng năm biến động, từ vai trò của một người ám sát hoạt động nội thành, rồi tham gia Nhân Văn Giai Phẩm, viết quốc ca, đến những cảnh khốn khó cùng túng trong cái bóp nghẹt từ sinh kế đến tư tưởng của chế độ chuyên chính đương thời.

    Những đề tài ấy, quả là mênh mông biết bao. Làm sao chuyên chở cho hết trong một vài bài.

    Tôi là một người yêu thơ. Nên trong dịp kỷ niệm ngày mất của ông, 10 Tháng Bảy năm 1995, viết một đôi dòng mạo muội về thơ của một người nghệ sĩ lớn, hoàng đế của nhiều vương triều nghệ thuật như thơ-nhạc-họa. Dù tôi lớn lên ở miền Nam, nhưng không vì thế mà thấy xa lạ với một chân dung của một Văn Cao trong trí tưởng. Cái địa chỉ 108 phố Yết Kiêu có lẽ quen thuộc lắm. Những mái nhà phủ rêu, khuôn cửa sổ nhìn ra một mảnh trời, dốc cầu thang cổ lỗ, bờ tường loang vôi , tất cả, có lẽ sáng lên trong ánh nắng của miền đất kỷ niệm của một hoàng hôn tưởng nhớ...

    Nguyễn Mạnh Trinh
    Đã chỉnh sửa bởi Visaolaithe; 11-07-2011, 05:29 AM.
    Similar Threads
  • #2

    Năm Buổi Sáng Không Có Trong Sự Thật



    Nhà thơ Văn Cao và tượng VC của Phạm Văn Hạng (Ảnh của Nguyễn Đình Toán )




    Năm Buổi Sáng Không Có Trong Sự Thật

    "Những mái nhà ủ những cánh chim đêm
    Ủ những giấc mơ dưới trời sao lồng lộng"


    MỘT

    Ngủ dậy một sáng
    Cả phố biến đâu mất
    Không một bóng người đi
    Im lặng hồ nước sâu thăm thẳm
    Mặt đất đỏ màu gạch nung
    Như miệng quả núi lửa
    Anh đi tìm em
    Tìm dấu vết những con đường
    Chúng ta thường đi lại
    Giữa mênh mông tôi gọi em mãi mãi
    Thế kỷ chúng ta đứng lại nơi đây
    Em ở đâu ?
    Thế kỷ chúng ta còn đang tiếp tục
    Trên trái đất này
    Hàng ngày đứng lại nơi đây
    Tôi gọi em mãi mãi


    HAI

    Buổi sáng nay không nghe tiếng chim hót
    Một buổi sáng không thật
    Tôi bước đi không thấy tiếng chân đi
    Cả thành phố cùng tôi im lặng
    Tất cả những con người
    Chỉ thấy mắt đen lay láy
    Cả tiếng xe không thành tiếng
    Tại sao ? Tại sao ?
    Không ai nhìn miệng tôi gào thét không ra tiếng
    Trong kinh hoàng tôi chạy trên đất
    Một mình
    Giữa thành phố mọi người im lặng
    Tại sao ? Tại sao ? Không tiếng nói
    Không tiếng động, không sự sống
    Tại sao thành phố sa mạc
    Không nghe gió thổi
    Những hình người như bị đẩy
    Qua nhanh
    Hình như nơi đây
    Bị đày trong im lặng


    BA

    Buổi sáng nay không phải mình thức dậy
    Một người nào trong tôi đang thở
    Trước mặt tôi
    Buồn nửa đêm nửa ngày len lỏi
    Nửa phố mặt trăng nửa phố mặt trời
    Từ khi ấy chúng tôi, hai người suy nghĩ
    Hai kẻ thù nhau
    Hai thái cực tâm hồn
    Hai người ấy trong một người chịu đựng
    Mưu lại lẫn nhau
    Không biết ngày đêm không biết giả thật
    Từ phút ấy, tôi không còn thật nữa


    BỐN

    Buổi sáng nay cả phố phường như mở hội
    Mọi con người đeo mặt nạ đi chơi
    Những bước chân nhảy múa
    Vui lên cành non
    Lá bàng trên phố xanh màu ngọc
    Xuân tháng hai
    Cửa hàng rượu bên đường
    Tơ lụa pha len, hoa giấy ni-lông
    Những mặt nạ gặp nhau chào hỏi
    Những em bé búp-bê mùa xuân
    Hồng hào da thịt
    Ngồi đập nút chai làm tiền bạc chơi xuân
    Mở tròn mắt nhìn kinh ngạc
    Họ vui làm sao
    Ô kìa
    Nước mắt mồ hôi
    Sao chảy ra trên từng mặt nạ
    Từng con người
    Vội vàng lau mồ hôi và nước mắt
    Trên những mặt nạ giấy bồi


    NĂM

    Những cánh cửa đều khóa chặt
    Trong gian phòng trong suốt thủy tinh
    Em ở đây với anh
    Cho bớt lạnh sáng mùa xuân náo níu
    Thịt da em cho anh sưởi
    Hơi ấm mình con chim khuyên
    Trong lòng bàn tay
    Run rẩy
    Giữa hai cành non
    Nghe nhựa mùa xuân
    Những nụ hồng mới nở
    Và mật vừa thơm và ong đã tới
    Chúng ta đi vào bí mật mùa xuân
    Ngày đầu tiên của em trên biển


    VĂN CAO- 1960

    Comment

    • #3

      Không Đề - Văn Cao



      Không đề

      Con thuyền đi qua

      để lại sóng

      đoàn tàu đi qua

      để lại tiếng

      đoàn người đi qua

      để lại bóng

      tôi không đi qua tôi

      để lại gì?


      Văn Cao

      Comment

      • #4

        Thời Gian - Văn Cao

        Thời gian

        Thời gian qua k tay

        Làm khô những chiếc lá

        Kỷ niệm trong tôi

        Rơi

        Như tiếng sỏi

        Trong lòng giếng cạn

        Riêng những câu thơ

        còn xanh

        Riêng những câu hát

        còn xanh

        Và đôi mắt em

        như hai giếng nước


        VĂN CAO

        Comment

        • #5

          SỰ THẬT VỀ CHÙM THƠ “QUY NHƠN” CỦA VĂN CAO


          Văn Cao và Nguyễn Trọng Tạo - Tại nhà riêng Văn Cao 1994 - Ảnh: Nguyễn Đình Toán





          Cuối tháng 3-1985, tỉnh Nghĩa Bình (cũ) mời anh Văn Cao, Nguyễn Thuỵ Kha và tôi vào thăm và sáng tác nhân dịp 10 năm giải phóng. Nhận được giấy mời, anh Văn mừng lắm vì đã hơn 40 năm anh không có dịp trở lại miền Trung. Nhưng thời gian này sức khoẻ anh không đựoc tốt. Sợ không thể đi được vào đầu tháng Tư như đã dự định, anh nằm trên giường bệnh viết một bài thơ về Quy Nhơn, nói nỗi niềm của anh với thành phố biển mà anh chưa một lần ghé thăm, với ý định là nhờ tôi và Nguyễn Thuỵ Kha mang vào tặng tỉnh Nghĩa Bình thay cho lời cảm ơn chân thành của anh. Chúng tôi đưa in bài thơ “Quy Nhơn” cùng với bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên”chân dung tự hoạ của anh trên “tờ rời” chuẩn bị cho chuyến bay vào Quy Nhơn thiếu anh Văn. Nhưng đến khi Thanh Thảo từ nghĩa Bình ra đón thì anh Văn bỗng khoẻ ra, và tất cả chúng tôi bay vào Quy Nhơn (có cả chị Băng vợ anh Văn) vào ngày 7-4-85.

          Tuy được sự đón tiếp rất thịnh tình của tỉnh uỷ, uỷ ban và hội văn nghệ tỉnh, nhưng những ngày đầu, Văn Cao luôn ngỡ ngàng trước thành phố biển đầy bí ẩn này, nó không giống như sự tưởng của anh. Tối 10/4 tại nhà khách của Tỉnh, anh Văn viết được bài thơ mới về Quy Nhơn với những câu mở đầu: “Tôi đã đến đây – Không phải Quy Nhơn – Chỉ một thành phố lạ”. Anh gọi tôi và Kha sang phòng anh uống rượu, khoe bài thơ mới làm. Tôi thấy có một từ anh dùng hơi gượng khi bà mẹ gặp lại con lại nói: “Chào con”, nên đề nghị anh chữa. Anh cùng Kha và tôi tìm chữ để thay. Và cuối cùng, anh rất khoái khi tôi chữa được chữ “Chào con!” thành “À con!”. Lúc này anh Văn mới đặt tên cho bài thơ “Quy Nhơn” viết ở Hà Nội thành “Quy Nhơn I” và bài viết tại Quy Nhơn là tên “Quy Nhơn II”.

          Năm ngày sau, sau những chuyến đi thăm nhiều cơ sở ở Nghĩa Bình trở về nhà khách, anh viết bài “Quy Nhơn III” (để làm thành một bộ 3 trọn vẹn) với câu mở đầu thật tài hoa: “Từ trời xanh – rơi – vài giọt tháp chàm”. Vì sức yếu, chữ anh viết nguệch ngoạc rất khó đọc, anh đã nhờ tôi chép lại sạch sẽ để ký tặng lại địa phương.

          Cả 3 bài thơ này anh Văn đều viết rất nhanh. Những “nhân vật” trong thơ đều hàm chứa ẩn dụ và khái quát: Em, Con trai, Con gái và Mẹ.
          Chính vì vậy mà khi đọc bài “Những điều chưa được biết về hai bài thơ của Văn Cao viết về Quy Nhơn” của Việt Hiền in trên Tiền Phong chủ nhật số 28 (12-7-1998) tôi khá ngạc nhiên khi anh Việt Hiền cho rằng, nó bắt nguồn từ câu chuyện tình riêng của Văn Cao. Càng ngạc nhiên hơn khi Việt Hiền khẳng định: “Do chiến tranh, loạn lạc người bạn tình của nhạc sĩ đưa con ra Quy Nhơn làm ăn sinh sống. Cũng do hoàn cảnh chiến tranh, rồi Bắc Nam cách trở, nên Văn Cao không được gặp lại vợ và đứa con đầu của mình”.
          Vẫn biết là nhiều văn nghệ sĩ cùng lứa với Văn Cao trước cách mạng tháng Tám năm 1945 thường có những mối tình lãng mạn, thậm chí đi hát cô đầu hay ghé qua nhà thổ cũng chẳng có gì lạ. Do chơi thân với anh Văn và gia đình, tôi và Nguyễn Thuỵ Kha cũng biết khá rõ về mối tình của anh truớc khi anh lấy vợ (chị Băng), cho nên những lời khẳng định của Việt Hiền là rất sai sự thật.
          Trước cách mạng tháng 8- 1945, anh Văn chưa hề lấy vợ, dù là ngoài giá thú, vậy làm sao lại có chuyện “Văn Cao không gặp được vợ và đứa con đầu của mình”? Còn cái chuyện “người tình… đứa con ra Quy Nhơn làm ăn sinh sống” chỉ là ”huyền thoại” mà thôi. Có lẽ do tác giả bài báo được nghe hóng hớt đâu đó, chuyện nọ xọ chuyện kia rồi tưởng tượng ra như vậy để gán ghép vào bài thơ “Quy Nhơn” của Văn Cao cho có vẻ ly kỳ hấp dẫn.

          Trong bài viết ngắn này, tôi không có ý định kể ra những chuyện tình đẹp hoặc buồn của anh Văn, mà chỉ muốn nói rõ sự thật về chùm thơ “Quy Nhơn” của anh, đấy là một tình yêu lớn của người nghệ sĩ đa tài đối với “mảnh trời chim yến” và mảnh đất “mọc lên từ nước mắt” như chính thơ anh đã khẳng định.


          QUY NHƠN I


          Một nửa hình con trai

          ngày

          lấp lánh sắc cầu vồng

          một nửa hình trăng

          đêm

          nằm nghiêng trên cát biển

          Qui Nhơn chúng ta

          vài dây buồm nhỏ

          vài con đường phố nhỏ

          vài ngôi nhà nho nhỏ

          vẫn ngày đêm lấp lánh

          mang vết thương xưa

          ngày đêm làm ngọc

          chưa về được Qui Nhơn

          mà nhớ em

          khuôn mặt càng hiền dịu

          càng lấp lánh

          lấp lánh.



          Út Nhất Chép gửi bạn Hà L




          QUI NHƠN II


          Tôi đến đây

          Không phải Qui Nhơn

          chỉ một thành phố lạ

          biển đưa về vài chùm chim yến

          nắng làm khô những lá dừa non

          Không phải Qui Nhơn đẹp

          Các nhà thơ tôi đọc

          Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Xuân Diệu

          ôi Qui Nhơn hằng mơ

          Khuôn mặt những con thuyền cá

          những người dân lầm lũi

          Sau chiến tranh

          những người lái xe

          những xóm mọc bên đường

          Chào mẹ

          Các mẹ già lặng im

          Chào các em

          Các em nhỏ lặng im

          Chào đường phố

          những đường phố lặng im

          lầm lì

          những vết thương xưa chưa xóa hết

          xây tất cả những tượng đài cao tưởng nhớ

          một thành phố lạ

          tôi đến đây làm gì

          những chùm chim yến bay về đảo

          bỗng một ngày bà mẹ Qui Nhơn

          nói với tôi một lời

          à con !


          10.4.1985




          QUI NHƠN III


          Từ trời xanh

          rơi

          vài giọt tháp Chàm

          quanh Qui Nhơn

          tôi như đứa nhỏ yêu huyền thoại


          từ núi xuống

          từ biển vào

          từ cánh đồng mọc lên

          con trai

          con gái

          Nghĩa Bình

          một lưỡi mác

          vẳng tiếng trống Quang Trung

          xác xe tăng trên đường Mười Chín

          mọc nhửng làng dừa

          mẹ ơi muối đâu Sa Huỳnh

          phải mồ hôi làm nước biển

          mẹ ơi đường ngọt từ đâu

          phải mồ hôi đọng

          mẹ ơi các con từ đâu

          phải từ sữa mẹ

          mẹ ơi Qui Nhơn từ đâu

          mảnh trời chim yến

          mẹ ơi Nghĩa Bình từ đâu

          phải từ máu thắm

          Không

          đất này mọc lên

          từ

          nước mắt ! ...



          15.4.1985


          [url="http://nttnew.vnweblogs.com/post/14517/300350"][COLOR=indigo]Link

          Đã chỉnh sửa bởi Visaolaithe; 12-07-2011, 08:41 PM.

          Comment

          • #6

            Một đêm đàn lạnh trên sông Huế - Văn Cao

            Một đêm đàn lạnh trên sông Huế


            Nẩy nẩy tơ đồng nhịp nhịp đôi

            Lòng nâng ngòn ngọt lại đầu môi

            Này em hát khúc tương tư nhé

            Ngâm khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời

            Sao đàn u hoài gì mùa thu?

            Sao đàn u hoài gì mùa thu?

            Tri âm nghe thử dây đồng vọng

            Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru

            Như Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha

            Em nghe anh dạo khúc thu xa

            Thuyền xuôi về bến mô thuyền bỉ

            Sông trắng bờ xa lộ bóng nhà

            Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi

            Từng canh trời điểm một sao rơi

            Tà tà trăng lặn hiu hiu gió

            Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi

            Tay nhấn tơ chùng đã ngấm sương

            Hò ngân cung Bắc lướt cung Thương

            Dòng Tiêu Kim Thủy gà xao xác

            Ngẩng thấy kinh kỳ khói vấn vương

            Em cạn lời thôi anh dứt nhạc

            Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh

            Một đêm đàn lạnh trên sông Huế[1]

            Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh


            VĂN CAO

            [1] Cách gọi sông Hương của tác giả

            Comment

            • #7

              Văn Cao vẫn “cứ bay”!

              Văn Cao vẫn “cứ bay”!


              [COLOR=#000000]“Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư…”.

              Đó là lời nhận xét của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi nói về âm nhạc của Văn Cao. Trong giới nghệ thuật của Việt Nam nói chung, Văn Cao là một nghệ sĩ hiếm hoi mà bước lãng du ở lĩnh vực nào cũng để lại dấu ấn sâu đậm, từ thơ ca đến nhạc họa. Nhưng với tôi, ca khúc là lĩnh vực ông thành công hơn cả.

              Theo bước Văn Cao

              Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray, Hải Phòng (quê gốc ở Vụ Bản, Nam Định), trong một gia đình nghèo, mới học tới lớp 7 thì phải nghỉ học, sau đó xin làm việc tại Sở bưu điện. Từ nhỏ, ông đã bộc lộ rõ khả năng âm nhạc của mình, người thầy dạy nhạc muốn phát huy năng khiếu thiên phú của cậu học trò nhỏ, đã gửi Văn Cao vào trường dòng Bonnal để học nhạc. Văn Cao bắt đầu sáng tác nhạc từ thời điểm đó.

              Vào năm 1939 (lúc đó ông mới 16 tuổi), đã có sáng tác đầu tay “Buồn Tàn Thu”, với những ca từ rất lãng mạn, rất mượt mà: “Nhờ bóng chim uyên/ Nhờ gió đưa duyên/ Chim với gió bay về/ Chàng quên hết lời thề…” , ca khúc ấy đã làm chấn động mạnh tới công chúng yêu nghệ thuật ở Hải Phòng và thủ đô Hà Nội lúc bấy giờ. Sau đó một năm, bản nhạc thứ hai “Thiên Thai” ra đời. Bản Thiên Thai là một giấc mơ của người nghệ sĩ vào chốn an bình, mà người Việt khó đạt được trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Nhạc điệu bài hát như khiến ta lạc vào một mơ ngoan, dìu ta đến với cõi thần tiên xa thẳm, thư thái, dịu dàng như đang sống giữa chốn bồng lai.

              Năm 1941, ông gặp Phạm Duy, nghe lời khuyên của Phạm Duy, Văn Cao rời Hải Phòng lên Hà Nội, ông thuê một căn gác nhỏ số 171 phố Mongrant (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền), và theo học dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương . Trong khoảng thời gian này, ông sáng tác nhiều nhạc phẩm danh tiếng như “Trương Chi”, “Thu cô liêu”, “Bến Xuân”, “Suối Mơ”. Chàng Trương Chi gõ mạn thuyền mà ca vào một thời lãng mạn xa xưa những lời thiết tha, bay bổng. Đã qua rồi những Thu cô liêu, ta lại dìu em về Bến xuân trong trẻo, ngọt ngào, em dùng dằng như vừa muốn đi, vừa muốn ở, ở lại với xuân tươi hay về cùng anh nơi có những Suối mơ?





              Không những có năng khiếu âm nhạc, Văn Cao còn có năng khiếu hội họa. Ông đã tham gia cuộc triển lãm Salon Unique tại Hà Nội ở Nhà Khai Trí Tiến Đức cùng với các danh họa như Tô Ngọc Vân, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tiến Chung, Lưu Văn Sìn vào năm 1944, với 3 bức sơn dầu Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa và Cuộc khiêu vũ của những người tự tử (Le Bal aux suicidés) đã gây sự chú ý cho giới mỹ thuật về bút pháp và màu sắc. Thế nhưng, thật tiếc vì những tác phẩm hội họa của Văn Cao không được lưu hành và phổ biến rộng rãi.

              Là một người có lòng yêu nước, khi thấy trước mắt mình Tổ Quốc đang bị thực dân Pháp đô hộ, lòng lại càng sôi sục căm thù. Văn Cao đã theo Việt Minh, dưới sự hướng dẫn và tuyên truyền của anh Vũ Quí. Cùng thời điểm đó, Vũ Quí đã nhờ Văn Cao soạn một bản nhạc quân hành cho trường quân sự Việt Minh, Văn Cao đã viết “Tiến Quân Ca”, giai điệu Tiến Quân ca rập ràng, dứt khoát, thể hiện được cái hùng khí trên mỗi bước chân của người lính: “Đoàn quân Việt Nam đi/Chung lòng cứu quốc/Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa/Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước/…”.

              Trong cuộc biểu tình cướp chính quyền của Việt Minh ngày 19-8-1945 tại Hà Nội, Văn Cao đánh nhịp cho đoàn Thanh Niên Xung Phong hát bài "Tiến Quân ca" của ông trước nhà hát lớn. Sau đó một năm, Tiến Quân ca được Quốc hội khóa I (năm 1946) công nhận là quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một vinh dự lớn, bởi không phải nhạc sĩ nào cũng được dân tộc tôn vinh và lấy một bài hát của mình làm quốc ca.

              Năm 1954, khi chiến tranh đang vào thời điểm khốc liệt, thay vì viết về đề tài Điện Biên Phủ như các văn công Cộng sản khác vẫn thường viết, Văn Cao lại bày tỏ ý tưởng của ông qua một bức tranh sơn dầu lập thể. Bức tranh đó có thể được mô tả như sau: Một cậu bé thổi sáo bằng 2 cái mồm, một cái được vẽ từ góc độ thẳng, và 1 cái được vẽ từ góc độ nghiêng. Đằng sau cậu bé, đông nghịt những con người đang trong 1 tiết tấu chuyển động của nhịp chiến tranh. Nhiều nhà phê bình đã cố tìm ra lời giải cho ý nghĩa của bức tranh, có người nói: "Bức tranh vẽ đứa trẻ với hai cái mồm, chắc là hàm ý Đảng Cộng Sản Đông Dương có hai miệng? ", người khác lại đùa: “Đứa trẻ đó là chính Văn Cao!”. Thế nhưng, ý nghĩa thật của bức tranh chỉ có chủ nhân của nó mới biết được.

              Kể từ sau hiệp định Gieneve, năm 1955, Văn Cao dường như vắng bóng, có chăng là một vài bài thơ, và ta nhận thấy ở đó, lời thơ của Văn Cao rất buồn và chán nản. Đặc biệt, từ sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, ông đã “ẩn mình”, sống âm thầm bằng đủ thứ nghề, như viết nhạc không lời cho các truyện phim và truyện kịch, trang trí sân khấu cho các đoàn kịch, và vẽ quảng cáo cho các báo.

              Dù rất ít viết, thế nhưng, về cuối cuộc đời, người nghệ sĩ tài hoa này cũng cho ra một bản nhạc vào cuối năm 1975, đó là bài “Mùa xuân đầu tiên”, Mùa xuân đầu tiên như báo trước những giá trị nhân bản chúng ta cần vươn đến, một bài hát rất nhẹ nhàng, êm dịu, thắm thiết tình người, Thế nhưng, bản nhạc này cũng bị phê bình là không đi đúng đường lối của Đảng, không phục vụ cho Cách Mạng, vì thế bản nhạc mới phát hành đã bị tịch thu. Tuy thế, các chương trình Việt Ngữ tại Moscow vẫn cho trình bày bài hát, nên bài hát đã không bị vào lãng quên. “Mùa xuân mơ ước ấy đã đến đầu tiên, với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông, một trưa nắng cho bao tâm hồn.” . Mỗi khi cất lời bài hát này lên, dường như ta vẫn thấy, Văn Cao đang reo vui, tung tẩy trước mùa xuân tự do.


              Đôi lời cảm nhận

              Nhận xét về hội họa Văn Cao, nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân viết:
              “Ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực, theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh. Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân Phái, Sỹ Ngọc, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng…) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa. Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa vẽ bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc. Nếu âm nhạc, thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát”.

              Rồi người nghệ sĩ đa tài trải qua bao thăng trầm cũng đến lúc dừng bước lãng du. Tháng 7 năm 1995, ông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương của người yêu nhạc cả nước. Trước sau ông vẫn là một nhân cách lớn, không a dua, chạy theo thời thế. Trong lời vĩnh biệt người nghệ sĩ đa tài Văn Cao, nhạc sĩ Thế Bảo đã viết: “Thơ với họa đã theo suốt hành trình âm nhạc hơn nửa thế kỷ, vỗ về an ủi ông, chia sẻ những cảm xúc đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ mà đôi lúc âm thanh dường như phải nhường bước cho ngôn từ và màu sắc”.

              Vậy là Văn Cao đã yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng. Mọi vui buồn, được mất của đời nghệ sĩ cũng đã lắng dịu đi, đủ để mọi người bình tâm phác thảo một chân dung thơ – nhạc – họa Văn Cao. Ông đã đến với chúng ta, sống giữa chúng ta rồi rời xa chúng ta và để lại những Buồn tàn thu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ, Mùa xuân đầu tiên, Trường ca sông Lô… như những bó hoa tươi thắm dâng tặng cho đời, cho người mà ông đã ròng rã, miệt mài lao động trong hơn nửa thế kỷ qua.

              Thanh Hải


              [url="http://thocon.vnweblogs.com/print/4071/272967"][FONT=Verdana][SIZE=2]Link







              Buồn Tàn Thu - Văn Cao - Thái Thanh





              Bến Xuân - Văn Cao ( Lời : Phạm Duy ) - Khánh Ly






              Thiên Thai - Văn Cao - Hà Thanh





              Suối Mơ - Văn Cao - Lệ Thu





              Trương Chi - Văn Cao - Ánh Tuyết





              Thu Cô Liêu - Văn Cao - Ánh Tuyết





              Mùa Xuân Đầu Tiên - Văn Cao - Thanh Thúy






              Đã chỉnh sửa bởi Visaolaithe; 20-07-2011, 08:00 AM.

              Comment

              • #8

                Tâm thức “trôi” trong thơ Văn Cao - TRẦN HOÀI ANH

                Tâm thức “trôi” trong thơ Văn Cao


                “Tâm thức "trôi" trong thơ Văn Cao tuy nhuần thấm lẽ vô thường và bồng bềnh trong hư vô bất định nhưng không bao giờ lạc hướng. Ngược lại ông luôn thể hiện chủ kiến của mình trước cuộc đời”.

                Trong bài thơ Đêm ngàn của Văn Cao viết năm 1941, có mấy câu thơ thật ấn tượng mà mỗi lần đọc lên tôi có cảm giác mọi thứ quanh mình đều chông chênh, chao đảo, huyễn hoặc

                Sương buông chừng núi vấn vương
                Tiếng chim lạ cất tiêu thương buồn trời
                Cái gì cũng thấy chơi vơi...
                (Đêm ngàn)

                "Cái gì cũng thấy chơi vơi". Phải chăng, đó là cảm giác bồng bềnh của tâm thức "trôi" trong thơ Văn Cao mà nếu đối sánh với khí hậu của thơ ca lãng mạn đương thời, ta thấy đây là một giọng thơ mang âm hưởng lạ.

                Cái cảm giác "chơi vơi" nầy như một dự báo về thân phận của thi nhân. Và đó là căn tính tạo nên tâm thức "trôi" trong thơ Văn Cao. Một tâm thức với cái nhìn vô định về cuộc đời như chiếc thuyền bềnh bồng trôi dạt.

                Khuya rồi ốc rục trong làng
                Thuyền ai vơ vẩn trôi sang bên nầy
                (Đêm mưa)

                Đó là cảm giác trôi trong nỗi lo sợ trước cuộc sống đầy bất an đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm thức thi nhân. Nên:

                Có lúc
                ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
                có lúc
                nước mắt không thể chảy ra ngoài được
                (Có lúc)

                Và dường như tâm trạng hốt hoảng này là căn duyên xô dạt nhà thơ trôi trong nỗi cô đơn chất ngất của phận người.

                Chúng tôi hai người
                Một bóng...
                (Đôi bạn)

                Để rồi từ trong nỗi cô độc ấy, mọi hiện hữu chỉ còn là một thực tại trống rỗng. Nên tâm thức của nhà thơ đã trôi trong khoảng trống hư vô. Và mọi sự vật đều rơi vào một khoảng không bất định.

                Một cái bình vỡ
                Một khoảng trống
                Một người đi xa
                Một khoảng trống
                mênh mông...
                (Khoảng trống)

                Có thể nói cái tâm thức "trôi" trong hư vô, bất định này đã trở thành một sự ám ảnh miên viễn như một dòng sông vô thức chảy suốt hành trình thơ Văn Cao. Đó là hình ảnh cánh cửa mở ra sau "một tiếng động" nhưng không có con người. Mà:

                Chỉ thấy
                Một chiếc cầu thang nhà trên gác
                Và ánh sáng
                Không động đậy
                (Cánh cửa)

                Hay hình ảnh "người đi dọc biển", không để lại "dấu chân". Tất cả như bị cuốn trôi vào cái mênh mông của biển cả bao la. Và phải chăng, đó chính là hiện thân của sự mỏng manh kiếp người trước hư vô !

                Người đi
                dọc biển
                không để lại
                dấu chân
                (Người đi dọc biển)

                Bởi lẽ, như chính Văn Cao đã nói "Cuộc đời và nghệ thuật của nhà thơ phải là những dòng sông lớn càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng" (1)

                Có phải vì những bài thơ của Văn Cao đều gợi cho chúng ta cái cảm giác bồng phiêu, trôi dạt và mỏng manh như thế mà Tạ Tỵ khi cảm nhận về Văn Cao cho rằng: "Văn Cao vẫn hiện diện trong tôi với hình dáng một tinh cầu giá lạnh, với cô đơn dằng dặc ở cuối khung trời ngăn cách" (2). Còn Trần Văn Nam trong bài viết "Văn Cao, dòng sông ba nhánh sương mù" thì cho rằng: "Tâm hồn Văn Cao có nhiều cảm hứng về sự huyền ảo" (3). Phải chăng chính căn tính của tâm hồn thi nhân luôn sống trong nỗi "cô đơn dằng dặc" của "một tinh cầu giá lạnh" đã tạo nên cái tâm thức "trôi" trong thơ Văn Cao.

                Rõ ràng, đi vào thế giới thơ Văn Cao là đi vào thế giới của sự huyền hoặc, linh diệu, trống không. Và trong một chừng mực nào đó chúng ta lại bắt gặp trong thơ ông cái triết lý vô thường của nhà Phật. Cảm thức vô thường ấy hiện hữu trong thơ Văn Cao như hơi thở, như không khí trong đời sống. Đọc lên ta thấy hiển hiện bóng dáng của thơ thiền, của thơ Haiku.

                Gió cứ như không
                Trôi qua cửa sổ
                Một mảnh trời xám
                Xuống dần
                Xuống dần
                Có tà áo trắng
                Loang qua khung cửa
                Mùa thu phai đi
                Màu hoàng lan
                (Mùa thu)

                Và đây nữa, bài thơ "Không đề" cũng là một thông điệp đầy chất thiền mà Văn Cao gởi đến chúng ta.

                Con thuyền đi qua
                để lại sóng
                Đoàn tàu đi qua
                để lại tiếng
                Đoàn người đi qua
                để lại bóng
                Tôi không đi qua tôi
                để lại gì
                (Không đề)

                Tôi không đi qua tôi / để lại gì. Câu thơ như một lời phản tỉnh đối với mỗi con người sống trên cõi đời. Một sự phản tỉnh vừa có ý nghĩa như một giá trị của hiện hữu lại vừa như một giá trị của hư vô. Hiện hữu mà hư vô, hư vô mà hiện hữu. Cái cảm giác ấy chính là cội nguồn của tâm thức "trôi" trong thơ Văn Cao, giúp ông vượt lên những tai ương, hoạn nạn, những cám dỗ để không đánh mất mình trong vũng lầy của lợi danh, dục vọng mà nhiều khi đó là nguyên nhân đẩy ta vào bi kịch. Bởi nói như Đặng Tiến: "Thơ Văn Cao là cuộc tra vấn thường xuyên cuộc sống và con người, về thân phận về ước vọng" (4). Có lẽ cái tâm thức "tra vấn thường xuyên" ấy không phải chỉ có ở Văn Cao mà đó là một phẩm chất, một ý thức trong nhân cách của những nghệ sĩ lớn. Đây chính là một hệ giá trị làm cho tác phẩm của họ vượt không thời gian để trở thành bất tử.

                Cuộc đời là thế đó. Tất cả rồi cũng trở về với cát bụi, cũng trôi theo thời gian và tan chảy vào cõi hư vô. Thân phận con người chỉ là một cánh bèo bồng bềnh trôi trên dòng nước, là con thuyền trôi trên đại dương mênh mông, vô định, là ánh chớp mỏng manh cuối trời... cái số kiếp ấy, cái tâm thức ấy đã kết tinh trong thơ Văn Cao như một giá trị mà bài thơ "Trôi" là một điển hình.

                Tôi thả con thuyền giấy
                Con thuyền giấy trôi
                Tôi thả một bông hoa
                bông hoa trôi
                Tôi thả một chiếc lá
                chiếc lá trôi
                Tôi ôm em trong tay
                em vẫn trôi
                (Trôi)

                Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài. Người ta biết đến Văn Cao không chỉ có thơ, mà còn có nhạc, hoạ, kịch... Thành công của Văn Cao chưa hẳn là thơ nhưng chính thơ lại góp phần hiển lộ tính chất đa tài của Văn Cao. Và cũng chính thơ đã cho thấy sự nhất quán trong tư tưởng nghệ thuật của ông. Đó là tư tưởng của một nghệ sĩ luôn phóng chiếu sự sáng tạo của mình trên đôi cánh của chủ nghĩa siêu thực và hiện thực.

                Tâm thức "trôi" trong Thơ Văn Cao chính vì thế cũng chính là tâm thức "trôi" trong hoạ, trong nhạc với những tình khúc bất tử như Buồn tàn thu, Bến xuân, Trương Chi, Suối mơ, Thiên thai... Nhiều lời trong các bài nhạc của ông cũng đầy chất thơ mà mỗi khi hát lên luôn tạo cho ta cảm giác nao lòng như đang trôi trong cõi phiêu bồng vô định của cuộc đời.

                "Thiên thai, ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian"
                .......
                "Thiên thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian
                Có một mùa đào đông ngày tháng chưa tàn phai một lần
                (Thiên thai)

                "Suối mơ, bên rừng thu vắng
                Giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng
                Ngày chưa đi sao gió vương?
                Bờ xanh ngắt bóng đôi cây thuỳ dương"
                (Suối mơ)

                Lamartine cho rằng: "Những tiếng hát hay nhất là những tiếng nấc". Quả thật, nhạc Văn Cao là những tiếng nấc của sự thổn thức, của những khát vọng yêu thương nồng cháy đối với cuộc sống và con người. Chính vì vậy cùng với nhạc, hoạ, thơ Văn Cao đã góp phần hoàn thiện thế giới nghệ thuật và chân dung tinh thần của mình, một nghệ sĩ đa tài mà thiên năng của ông đã làm rạng rỡ nền nghệ thuật dân tộc. Bởi nói như Tạ Tỵ "Ở Văn Cao, mỗi lời thơ là một hạt ngọc, mỗi tiếng nhạc là mỗi sợi tơ, mỗi màu sắc là một vùng hào quang diễm lệ" (5). Tìm đến với thơ Văn Cao là tìm đến một giòng sông dịu êm, yên bình, tự tại của một tâm thức "trôi" trong những dòng chảy cuộc đời mà chính ông đã trải nghiệm. Tâm thức "trôi" trong thơ Văn Cao, vì vậy là tâm thức của một sự nghiệm sinh. Thơ ông là dòng ý thức về sự hiện hữu của phận người mà sự tồn sinh của ông đã minh chứng cho sự hiện hữu đó.

                Song tâm thức "trôi" trong thơ Văn Cao tuy nhuần thấm lẽ vô thường và bồng bềnh trong hư vô bất định nhưng không bao giờ lạc hướng. Ngược lại ông luôn thể hiện chủ kiến của mình trước cuộc đời. Với lẽ sống cao đẹp của người nghệ sĩ, ông luôn nêu cao ý thức trách nhiệm công dân trước xã hội và nhân dân. Và đây chính là cảm hứng chủ đạo để Văn Cao viết những bài thơ mang hơi thở nóng hổi của hiện thực cuộc sống như: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Ngoại ô mùa Đông 1946, Quy Nhơn 3, trường ca Những người trên cửa biển... Đồng thời đó cũng là tiếng gọi thao thiết từ trong tâm cảm, để ông trở thành một nghệ sĩ luôn dấn thân vì dân tộc:

                Những năm tháng Hải Phòng đầy biến động
                Đời tôi như cái phao trên mặt biển
                .........
                Tôi giờ đây liếm môi nóng bỏng
                Nhìn ra biển bao la
                Lòng hãy còn nhiều khát vọng
                còn rất nhiều khát vọng
                Biển thành người khổng lồ kêu khát suốt
                ngày đêm
                (Những người trên cửa biển )

                Vì vậy, thi nhân luôn ước mong "gặp được biển" để tắm mình trong lòng biển mênh mông vô tận, thẳm sâu như một biểu tượng của khát vọng tự do.

                Tôi sống
                Nhìn những chiếc lá trôi theo dòng suối
                Đến mùa gió Nam thổi
                Tôi lại đi theo những chiếc lá
                Phiêu du
                Tới bao giờ tôi gặp được biển
                (Tôi ở)

                Bởi vì, hơn ai hết Văn Cao là người luôn ý thức về giá trị của sự sống mà ông đã chọn lựa như một tâm thức hiện sinh
                Giữa sự sống và sự chết
                Tôi chọn sự sống
                Để bảo vệ sự sống
                Tôi chọn sự chết
                (Chọn)

                TRẦN HOÀI ANH



                Chú thích:
                (1) Văn Cao, "Mấy ý nghĩ về thơ" Tuyển tập thơ Văn Cao, Nxb Văn học, Hà Nội, 1994, tr.153
                (2) (5) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt Văn Nghệ, Tác giả xuất bản, Sài Gòn, 1970, tr.187, tr.179
                (3)Trần Văn Nam, "Văn Cao dòng sông ba nhánh sương mù" Văn học số 114 ra ngày 1/11/1970, Sài Gòn, tr.70
                (4)Đặng Tiến, Thơ thi pháp và chân dung, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2009, tr.269


                Comment

                Working...
                X
                Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom