• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

SỰ SONG HÀNH TÌNH CỜ TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • SỰ SONG HÀNH TÌNH CỜ TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN

    SỰ SONG HÀNH TÌNH CỜ TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN
    Trần Văn Nam

    Link" align="left" border="0" alt="" style="padding:7px;" />Cái hào hùng rất dễ tìm thấy trong bài thơ Tây Tiến. Cái bi đát đích thực của chiến tranh cũng rất dễ tìm ra trong bài thơ. Ngày nay ta thường nói về tính nhân bản để bàn về các tác phẩm chiến tranh. Bài thơ Tây Tiến cũng có nhiều dáng vẻ của tính phản chiến. Dùng từ phản chiến thì hơi quá. Dùng những từ khác: Thái độ đích thực của con người đối với cái tàn bạo của bất cứ cuộc chiến tranh nào, dù đó là cuộc chiến tranh thần thánh huy động được cả toàn dân tham gia vào cuộc trường kỳ kháng Pháp.

    Tính hào hùng, tính nhân bản, hai khía cạnh của bài thơ Tây Tiến thực sự rất dễ tìm thấy, không phải là một gán ghép để trình bày một quan niệm mới mẻ thường được bàn tới bởi các ngòi bút Tây phương. Cái làm ta ngạc nhiên là hai khía cạnh đó hiện diện song hành một cách tình cờ trong mỗi đoạn thơ. Thí dụ đoạn thơ Lúc mới rời miền xuôi:

    Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi
    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
    Sài Khao, sương lấp, đoàn quân mỏi
    Mường Lát mưa về trong đêm hơi.

    Đây là đoạn thơ giới thiệu về địa lý, nơi xuất phát của đoàn quân Tây Tiến ra đi từ vùng Thanh Nghệ Tĩnh có dòng sông Mã hùng dũng. Những khí vị của câu thơ "Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi" vừa chứa đựng cái phấn khởi lên đường hướng về vị trí chiến lược trên đất Lào, vừa bao hàm sự luyến tiếc quê nhà đã rời bỏ ngày càng lùi lại miền xuôi. Đích thực của lòng người nghệ sĩ. Oai phong ra đi cũng đầy bịn rịn. Và đây là đoạn thơ Lên Trường Sơn:

    Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
    Heo hút cồn mây súng ngửi trời
    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
    Nhà ai Phà Luông mưa xa khơi

    Đoạn thơ mở ra một góc trời hùng vĩ, cao chớn chở, vùng biên giới Lào Việt. Đèo cao, mây lẫn với đoàn người chênh vênh. Dốc thăm thẳm chập chùng đổ xuống vùng đồng bằng. Khi ở trên cao, Quang Dũng nhìn xuống thung lũng bao quát xa xăm, thấy nhà ai trong mưa, chạnh nhớ nhà. Mưa xa khơi là hình ảnh của mờ mịt, nhà ai là hình ảnh gợi nhớ về mái ấm gia đình. Nhớ nhà xa xôi trong lúc hành quân ngàn thước lên cao ngàn thước xuống, rõ ràng là sự song hành của hai mặt chiến tranh và hòa bình, hành quân ca và âu ca.

    Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
    Quân xanh màu áo dữ oai hùm
    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.

    Gian khổ chốn rừng thiêng nước độc, muỗi vắt làm hao mòn sinh lực. Đoàn binh không mọc tóc vì sốt rét rừng. Địa ngục của Tây Tiến, đáng lẽ Quang Dũng không nên nói ra vì có thể làm nhụt chí khí của những người tiếp nối biết đâu cũng sắp sửa lên đường. Quang Dũng đã mô tả trung thực, vì ông làm thơ do cảm nghĩ của lòng mình, không làm thơ cho mục đích tuyên truyền dấu diếm sự thật theo kiểu "Mặt trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh" (Nhan đề một tập truyện của Đức, thời Đệ Nhất Thế Chiến). Đoàn quân đã tiến sát vào lòng đất địch, vùng bố trí của quân đội Pháp trên đất Lào. Đoàn quân ngụy trang màu xanh lá rừng. Cái hùng vĩ của thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến được thay bằng cái hùng khí của con người. Mắt trừng gởi mộng qua biên giới đầy vẻ hăm dọa của cọp rừng xanh chờ đợi những phút công hãm lũy đồn. Hùng dũng như vậy mà khi đêm xuống, trong lúc hành quân để nghỉ ngơi, tâm trí người chiến sĩ lại mơ về Hà Nội có dáng Kiều thơm. Mơ về dáng Kiều thơm có lẽ không phải là mơ về một người tình nào, mà mơ về những hấp dẫn ở nơi thành thị. Đây cũng là một sự biểu lộ thành thật, không phải đi kháng chiến là lúc nào cũng nghĩ về đánh giặc, quên đi những giây phút nghĩ ngợi về những thú vui bình thường hoặc tầm thường.

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ
    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
    Áo bào thay chiếu anh về đất
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    Hình ảnh thê lương của những nấm mồ viễn xứ rãi rác trên núi rừng. Họ không gục ngã vì lâm trận mà vì bệnh tật dọc đường. Những người tiếp tục ra đi sẽ không khỏi liên tưởng có ngày mình cũng như vậy. Vừa nói ra cái thê thảm. Quang Dũng liền chấn chỉnh bằng cảm nghĩ chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Ta không thể nói Quang Dũng giả tạo, vớt vát lại cái thê thảm của mình vừa nói ra. Vào thời điểm của chiến dịch Tây Tiến, mọi người đều hăm hở lên đường, tự nguyện tham gia kháng chiến, tự nguyện rời bỏ những ấm êm của thành thị, quả là chẳng tiếc đời xanh. Nhưng chẳng tiếc đời xanh cũng bao hàm sự nghĩ ngợi cái vô định của cuộc trường kỳ kháng chiến, vì nếu không nghĩ thì tác giả nói ra làm gì. Những cái chết gục ngã dọc đường cũng là cũng là những cái chết hy sinh, ra đi là biết trước đầy gian hiểm, xứng đáng là những cái chết da ngựa bọc thây, xứng đáng là những cái chết "áo bào thay chiếu anh về đất". Câu cuối của đoạn thơ thật hào hùng. Sông Mã là con sông dũng mãnh, nước chảy gầm thét, mang tên loài ngựa chiến hí lộng ngược dòng đi vào núi rừng sâu thẳm. Tính chất vừa bi thảm vừa hào hùng một lần nữa song hành một cách tình cờ, gắn bó như một cảm hứng vãng lai trong ý nghĩ của Quang Dũng.

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa
    Gục lên súng mũ bỏ quên đời
    Tây Tiến người đi không hẹn ước
    Đường lên thăm thẳm một chia phôi.

    Lại là một hình ảnh của sự kiệt sức, của chết chóc. Đoạn thơ vẫn còn phảng phất hương vị lãng mạn chia ly. Có thể nói Quang Dũng không có ý hướng làm một bài thơ mang nặng tính nhân bản. Cái gian nguy Quang Dũng nói ra là để làm nổi bật sự hy sinh vô bờ bến cho cuộc chiến tranh thần thánh. Câu thơ "Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi" làm cho bài thơ mang một chút huyền bí, hồn ma chiến sĩ thành mây trôi lang thang về Sầm Nứa trên đất Lào. Nếu Quang Dũng đổi một từ: "Lòng về Sầm Nứa.." thì bài thơ có tính chiến đấu hơn. Ông đã viết câu thơ cuối chan chứa một nỗi hoài cảm, khiến cái tình cờ của sự song hành hào hùng và bi thảm càng thêm đậm nét. "Chiến tranh và Hòa bình", "Một thời để yêu và một thời để chết", âu ca và hành quân ca...hiện diện thấp thoáng mỗi đoạn thơ.

    Do đâu mà tính chất anh hùng ca vừa bi ca và âu ca gần như song hành trong mỗi đoạn thơ. Hẳn không phải do một chỉ đạo tiền định, vì thời đại khi Quang Dũng sáng tác chưa có ý hướng làm văn nghệ mang tính nhân bản, cũng chưa có sự chỉ đạo văn nghệ mang tính Đảng, tính nhân dân, tính chiến đấu. Vậy Quang Dũng đã sáng tác theo cảm nghĩ của lòng mình, và sáng tác do ý hướng làm thơ hơn là ý hướng nào khác, mặc dù Quang Dũng là một trung đoàn trưởng trong đoàn quân Tây Tiến, (Có tài liệu nói ông là đại đội trưởng). Nếu do ý hướng cổ võ tinh thần binh sĩ thì đã hẳn Quang Dũng sáng tác một bài hịch hay một bài thơ tuyên truyền như một Lý Thường Kiệt trong lịch sử thời nhà Lý. Quang Dũng sáng tác do ý hướng làm thơ, do cảm nghĩ của lòng mình, nên ông không hề có ý định đem phổ biến trong hàng ngũ đoàn quân Tây Tiến. Bài thơ được truyền tụng do bạn bè, do mọi người đánh giá được bài thơ hay...Bài thơ Tây Tiến không làm nhụt chí khí binh sĩ. Ra đi tự nguyện là chấp nhận hy sinh, chấp nhận gian khổ. Quang Dũng nói ra cũng chỉ là một sự thật mà ai cũng biết. Bài thơ được truyền tụng, chứng tỏ sự thành thật làm cảm động lòng người, sự hào hùng làm ta hứng thú. Quang Dũng sáng tác do ý hướng làm thơ, thế thôi. Thơ đã đạt tới chất thơ thì ta không lạ là bài thơ đã trở thành tác phẩm gí trị cho văn học.
    Sống trên đời

    Similar Threads
  • #2

    Xin góp với anh HV.


    BÌNH BÀI THƠ TÂY TIẾN

    Nguyễn Khôi


    TÂY TIẾN là một trong vài bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam 1945-2000.Đọc Tây Tiến,ta cứ ngỡ như đang đọc một bài Cổ phong-Tương tiến tửu(của Lý Bạch)đương đại ?Cái lối "tráng sĩ hề"-một đi không trở lại ngang tàng hào hoa của các chàng trai HaNoi(thời1946).Với thủ pháp nghệ thuật độc đáo theo kiểu 1 câu chia 2 vế âm /dương đối nhau:
    dốc lên khúc khuỷu/dốc thăm thẳm
    heo hut cồn mây/súng ngửi trời...
    đã tạo sự cân bằng hằn vào trí nhớ của người đọc;còn "đêm mơ HaNoi dáng Kiều thơm" là câu thơ để đời "tử bất hưu" nghìn năm mới mới xuất hiện !
    Cái tài hoa của thi sĩ về mặt dùng "chữ" thì xưa nay ít ai có được,ví dụ như: trong bài thơ có 3 chữ "Hoa"(hoa là ám chỉ về con gái-phái nữ):
    -Câu "Mường Lát hoa về trong đêm hơi" đây là cái "cảm" của Nhà thơ về cái mùi thương yêu ấy( trong bài thơ "Gửi Tuyên Quang" của NK viết sau 45 năm cũng có cái "cảm" đồng điệu ây:
    Đêm Ha Noi đã nhạt mùi hoa sữa
    tưởng tóc ai phảng phất hương rừng...)
    -Câu "đêm trại bừng lên hội đuốc hoa":Đuốc hoa đây là "hoa chúc" tưng bừng của cái"kìa em xiêm áo" với "nàng e ấp"...
    -Câu "trôi dòng nước lũ hoa đong đưa",Ai đã từng"đi Châu Mộc chiều sương ấy" đây là vùng thượng nguồn Sông Mã chung giữa ta và Lào ( Sầm Nưa) thường là đi thuyền mà Câu thơ Sống Chụ Son Sao đã tả "hoa Áy rờn trôi ngang Sông Mã" đoi bờ là hoa rừng và các cô gái Thái(VN)-Lào ra sông tắm giặt...
    - Câu kết "hồn về Sầm Nua chẳng về xuôi" là thể hiện"làm trai có chí xông trời thẳm"của anh Bộ đội Cụ Hồ đi giải phóng dân tộc với tinh thần Quốc tế cao cả!
    Quang Dũng với Tây Tiến đã góp phần đưa thơ Việt Nam đương đại lên môt dỉnh cao nghệ thuật lãng mạn cách mạng,hoành tráng với tâm chí "Nay ở trong thơ nên có thép" thật là tuyệt vời Xưa nay hiếm là vậy !

    Thời điểm 1947 thuộc "Đội vũ trang tuyên truyền Tây Tiến (trung đoàn 52).BCH Đội gồm đ/c Đoàn Hải làm chỉ huy trưởng,đ/c Phúc Thảo làm chỉ huy phó,Văn Sinh&Quang dũng làm uỷ viên.Trong 2 năm 1947-1948 quân ta đả bám sát quần nhau với địch ở vùn biên giới Việt-Lào,ngoài sự hy sinh,tổn thất trong chiến đấu ,trên 200 chiến sĩ Tây tiến đã ngã xuống vì bệnh sốt rét ác tính,suy dinh dưỡng(...đoàn binh không moc tóc/Quân xanh màu lá...)là vậy !
    Mường Lát là một bản dân tộc Thái vùng biên giới Việt-Lào ,bên tả ngạn Sông Mã(Thanh hoá)nhưng lại giáp với Mộc Châu(Sơn La) về phía bắc,giáp Hoà Bình về phía nam.Núi rừng ở đây trùng điệp lên tới tận Sài Khao,nơi cư trú của bản Người dân tộc Dao(Man,Mán-"hèn lên Man điệu...")quanh năm sương phủ.Mùa mưa ở Mường Lát,cả đất trời đẫm trong hơi nước như mây khói bốc lên ngùn ngụt,mịt mù trong đêm.Hành quân từ rừng về bản,bộ đội phải đốt đuốc soi đường,Câu thơ "Mường Lát hoa về trong đêm hơi" là thi sĩ đặc tả "lửa" ở đây được cách điệu thành "hoa"(như kiểu"đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông")
    Câu"trôi dòng nước lũ hoa đong đưa" là câu thơ tài hoa,làm ta liên tưởng tới câu ca dao xứ Mường :
    Trăm thứ hoa không bằng hoa con gái
    trăm thứ trái không bằng trái bông cơm
    trăm thứ thơm không bằng thơm con mái...
    Mà trái bông cơm là lúa gạo,con mái là con gái tuổi dậy thì...Các chàng trai "Vệ Trọc "(đầu trụi không còn tóc) vừa ở rừng ra thấm đượm tình nghĩa Quân dân,được các em (hoa rừng)chèo thuyền đi đón...thì làm sao quên được "hồn lau nẻo bến bờ" ?Thơ Quang Dũng vừa trữ tình vừa bi tráng là vậy !

    Theo tạp chí Văn nghệ số 11-12 tháng tư,tháng năm năm1949-Văn nghệ Bộ Đội của Hội Văn Nghệ Việt Nam-
    Thư ký Toà Soạn: Nguyễn Huy Tưởng
    thì bài thơ in ở trang 17,toàn văn như sau :

    NHỚ TÂY TIẾN
    Sông Mã xa rồi,Tây tiến ơi
    Nhớ về rừng núi,nhớ chơi vơi.
    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
    Mường Lát hoa về trong đêm hơi;

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
    Heo hut cồn mây súng ngửi trời;
    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
    Nhà ai Pha Lương mưa xa khơi.

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
    Gục lên súng mũ bỏ quên đời...
    Chiều chiều oai linh thác gầm thét
    Đêm đêmm Mường Hịch cọp trêu người.

    Nhớ ôi ! Tây tiến cơm lên khói
    Mai châu mùa em thơm nếp xôi.

    Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
    Quân xanh màu lá dữ oai hùm
    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ Hà Nọi giáng kiều thơm.

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
    Chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh
    Áo bào thay chiếu anh về đất,
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    Tây tiến người đi không hẹn ước
    Đường lên thăm thẳm một chia phôi
    Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


    QUANG DŨNG (Đoàn quân nhân văn nghệ L.K.3)

    Chú ý:Pha Lương=Pha luông.giáng kiều=dáng kiều.
    Bài thơ thiếu hẳn 1 đoạn 8 câu"doanh trại bừng lên hội đuốc hoa...trôi dòng nước lũ hoa đong đưa ?"

    Trong tập TIẾNG THƠ(15-5-1949) Xuân Diệu viết :"...Bài thơ hơi buồn,có đoạn buồn lắm:tứ thơ không mới,có những câu văn hoa.Nhưng toàn bài rung rung như những dây đồng.Đoc lên, trong miệng còn ngân âm nhạc.Cái cảnh miền Tây gian nan đặc biệt:bộ đội Tây tiến là một trong những bộ đội nhiều hy sinh.Đánh giặc đã đành,mà người với rừng núi còn tranh nhau ai thua ai được.Một bạn tôi lên thăm bộ đội quá thượng du Thanh Hoá,trên biên giới Việt-Lào kể rằng:"Núi giăng màn trùng điệp;một anh đội viên chỉ quãng chập chùng trước mặt nói:-Một mình tôi phụ trách 5 cây số núi".Lên đến nguồn Sông Mã,còn đâu là đồng bằng? Lúc mới đầu chưa quen thổ ngơi,nhiều chiến sĩ chết.có lẽ cái rùng rợn buổi đầu ấp sâu vào tâm hồn tác giả.Những chiến sĩ lưa thưa giữa nghìn trùng rừng núi chắc cảm thấy mình"cheo leo chòi biên cương",cảm thấy mình lạc đời.Những anh con trai Hànoi lên đến đây cạo troc đầu,hay là sốt rét rụng cả tóc,người mặc áo chàm hay là mặt lây sắc lá,hay là ốm tái màu da;giặc sợ các anh như sợ hùm :nhưng các anh dù thế nào cũng nhớ HàNoi cho được:
    Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
    Quân xanh màu lá dữ oai hùm
    Măt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ HàNoi dáng kiều thơm
    Bài thơ chỗ thì đẹp,chỗ thì ghê,man rợ rồi lại êm ái;đoạn sau cùng đầy những tiếng từ ly.Những tên đất Sài Khao,Mường Lát,Pha Lương...ngân động.Đén cái tên Sầm Nứa thì câu thơ buồn mà hay quá;hồn đây là tâm hồn người sống nghĩ chuyện bên Lào:
    Tây tiến người đi không hẹn ước
    Đường lên thăm thẳm một chia phôi
    Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

    Cho đến nayTây tiến vẫn là một đài thơ(Thi Sơn)đầy kỳ bí.Cái ma lực,cái âm hưởng của bài thơTây tiến...chưa ai lý giải hết được.Phải chăng cái hay là bởi lời thơ,ý thơ,hình tượng thơ Giầu nhạc điệu được chứa trong một hồn thơ thật mới lạ và rất sâu sắc ? Con người nồng hậu,nét bút tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ đã làm nên kiệt tác thơ Tây tiến.Cái độc đáo của bài thơ là không có cấu tứ,cái kết của bài thơ(của cuộc hành binh)lại không nằm ở cuối bài mà lại nằm ở 2 câu 13=14/34 :
    Nhớ ôi,Tây tiến cơm lên khói
    Mai châu mùa em thơm nếp xôi
    Với Tây tiến,Quang Dũng dưa ta đi vào một thế giới đầy mùi hương hoài niệm,của sự vọng tưởng diệu huyền.Với Tây tiến,Quang Dũng đã xây tượng đài về anh Bộ đội Cụ Hồ (Vệ Quốc Doàn-Vệ Út-Vệ túm-lính râu ria) thời kháng chiến 9 năm đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng-Cái buổi đầu đi làm cách mạng của những trai tài gái sắc đất Hà thành(và ven ĐÔ)hiên ngang,hào hoa phong nhã,cái thời"chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh"(tả thực) với "đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"(lãnh mạn).
    Bút pháp bậc thầy của Tây tiến là Nhà thơ đã vận dụng sáng tạo kỹ xảo thơ truyền thống(thơ Đường)với "phép đối" trong từng câu,đoạn thơ,từng khổ thơ tạo ra 2 vế âm / dương ,tương phản trong một "Trường đối nghịch"(thủ pháp đối lập)nhằm tô đậm ý tưởng"không ca ngợi một chiều" mà là phản ánh đúng hiện thực của cuộc chiến...đó là sự đói chọi,sự tàn khốccủa chiến tranh lấy ý chí(Việt Nam)chọi lại sắt thép(thực dân Pháp).Thủ pháp đối ý ,đối âm trong Tây tiến với nững câu thơ ăm ắp hồn chiến sĩ,tạ nên khẩu khí bi tráng của toàn bài.ĐÓ là lối diễn đạt độc đáo,cao thủ mà hình như chỉ riêng Quang Dũng một mình trong cõi thơ"dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/heo hút cồn mây súng ngửi trời" để Tây tiến ở một vị trí tượng đài vút lên trời xanh giữa núi rừng Tây bắc hùng vĩ của Tổ Quốc !
    Trong Tây tiến có một hình tượng thơ đã làm không ít người thắc mắc,đó là"có nhớ dáng người trên độc mộc/trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"...đó chẳng qua là một từ HOA"ẩn dụ" cảm từ câu ca dao Xứ Mường"trăm thứ hoa không bằng hoa con gái"mà con gái Thái-Mường là "bông hoa rừng"chèo thuyền độc mộc đưa Bộ đội qua sông đang mùa nước lũ...Qua rồi để nhà thơ lãng mạn lưu giữ một bóng dáng cô lái đò trên "Châu Mộc chiều sương ấy" cứ đong đưa trong con mắt Người Sơn Tây đẹp đến lạ lùng.
    Cái chết(hi sinh) của người chiến sĩ nay không phải là "da ngựa bọc thây" mà là"chiến bào thay chiếu anh về đất" để Sông Mã gầm lên như súng thần công bắn vang trời tiễn đưa người anh hùng...
    Dùng cái bi,cái mất mát để tôn vinh cái hào hùng...Với cảm hứng lãng mạn cách mạng được đặc tả trên cái nền hiện thực đã tạo nên âm hưởng,ma lực kỳ diệu của bài thơ Tây tiến rất kinh điển mà cũng rất hiện đại-Đó là một trong những bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam thế kỷ XX đặt trong hành trang ta mang theo đi vào thế kỷ XXI,hội nhập cùng làng thơ thế giới hôm nay.

    Hà Nội 8/2005
    Nguyễn Khôi
    Đã chỉnh sửa bởi Ngocanh.online; 12-07-2010, 06:18 PM.
    "ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO BẠN
    HÃY TỰ HỎI BẠN ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC"

    Comment

    • #3

      TÂY TIẾN - Tuyệt CHIÊU của Quang Dũng

      I Tiểu sử Quang Dũng:

      Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Dậu (tức Diệm)sinh năm 1921 tại làng Phượng trì,tổng Đại Phùng,huyện Đan Phượng(Hà Tây).Quang Dũng là lấy tên con trai làm bút danh(năm 1952 viết tập ký sự"Đoàn võ trang tuyên truyền Việt-Lào",ký tên là Trần Quang Dũng.Cụ thân sinh là một chức dịch,mẹ là người phụ nữ đảm ven Đô(làm ruộng và buôn bán nhỏ).Gia đình khá giả nên Quang Dũng gửi ra Hà Nội học văn, học võ,học vẽ,học đàn...để sau này,trong lĩng vực nào anh cũng có những thành tựu đáng kể,trong đó kiệt xuất phải nói là thơ.

      Từ sau ngày Tổng khởi nghĩa 19-8-1945,Quang Dũng được cử làm Phái viên Quân Sự Bắc Bộ,làm công việc cất dấu máy móc quân sự,đi các địa phươbg tìm mua súng đạn,giành chiếc máy bay Nhật ở Ba Vì.Rồi với tư cách Chính trị viên phó Đại đội Tổng vệ binh Cảnh vệ Khu 2...khoảng cuối năm 1947 anh gia nhập đoàn quân Tây tiến.Sau một thời gian chiến đáu ở Lào trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 51 .Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948,rồi được chuyển sang đơn vị khác.Rời xa đơn vị cũ,chưa bao lâu,ngồi ở Phù Lưu Chanh(Kim Bảng-Hà Nam)thi sĩ bồi hồi viết "nhớ Tây tiến",bài thơ xuất thần viết liền một mạch trong một đêm đẻ trở thành kiệt tác thơ Việt Nam thế kỷ xx.

      Trước Tây tiến ,Quang Dũng đã có "đôi mắt người Sơn Tây" rất nổi tiếng với "Vầng trán em mang trời quê hương/mắt em dìu dịu buồn tây phương/Tôi nhớ xứ Đoài mây trăng lắm...".Về Nhạc thì có "Ba Vì mờ cao" với "từ xa thương nhớ Ba Vì ơi !/thời gian như muồn phai bóng người/giang hôduwngf bước/nhớ nhung Ba Vì ơi ! Sau Tây tiến còn là "Những lang đi qua","vườn ổi","em mãi là tuổi 20","mây đầu ô",,,cũng như các bài buổi đầu làm thơ"Chiêu Quân","cố Quận" đều là nhữn bài thơ hay riêng một chất thơ Quang Dũng.
      Nếu ví Hoang Cầm (thơ) là tinh hoa của hồn quê Quan họ thì Quang Dũng là "bạch vân thiên tải không du du" là hồn thơ của mây trắng xứ Đoài với "Sông Đáy chậm nguồn qua phủ Quốc?sáo diều khuya khpawts thổi đêm trăng" cùng "mây ở đầu ô mây lang thang..."
      Lang thang lãng tử thích ngao du sơn thuỷ đi đó đi đây là kiếp đoạn trường của đời nghệ sĩ...cái tinh thần thượng võ ,cái khí,cái thần của người thơ ấy được đúc nên từ lòng yêu que hương xứ sở-yêu đời,đời đẹp như thơ,như đời người chiến sĩ chỉ biết hi sinh,chỉ biết phụng sự lý tưởng và đất nước mà nhà thơ đã đi trọn cuộc đời.

      Nhà thơ Quang Dũng từ trần ở Hà Nội ngày 14-10-1988.Ông đã được Giải thưởng Nhà Nước về Văn học.Bài thơ Tây tiến đã được chọn một đoạn khắc vào Đài tưởng niệm các Liệt sĩ Tây tiến ở Châu Trang,xã Thượng Cốc,huyện Lạc Sơn (Hoà Bình)ngày 20-12-1990,và tượng đồng bán thân của Vệ Quốc Quân Quang Dũng được đặt tại Trường Tiểu học quê nhà là một minh chứng về sự tôn vinh của Nhà Nước-Nhân dân đối với Nhà thơ yêu quí của chúng ta.

      II Về địa danh Tây Tiến

      Thời điểm 1947 thuộc "Đội vũ trang tuyên truyền Tây Tiến (trung đoàn 52).BCH Đội gồm đ/c Đoàn Hải làm chỉ huy trưởng,đ/c Phúc Thảo làm chỉ huy phó,Văn Sinh&Quang dũng làm uỷ viên.Trong 2 năm 1947-1948 quân ta đả bám sát quần nhau với địch ở vùn biên giới Việt-Lào,ngoài sự hy sinh,tổn thất trong chiến đấu ,trên 200 chiến sĩ Tây tiến đã ngã xuống vì bệnh sốt rét ác tính,suy dinh dưỡng(...đoàn binh không moc tóc/Quân xanh màu lá...)là vậy !
      Mường Lát là một bản dân tộc Thái vùng biên giới Việt-Lào ,bên tả ngạn Sông Mã(Thanh hoá)nhưng lại giáp với Mộc Châu(Sơn La) về phía bắc,giáp Hoà Bình về phía nam.Núi rừng ở đây trùng điệp lên tới tận Sài Khao,nơi cư trú của bản Người dân tộc Dao(Man,Mán-"hèn lên Man điệu...")quanh năm sương phủ.Mùa mưa ở Mường Lát,cả đất trời đẫm trong hơi nước như mây khói bốc lên ngùn ngụt,mịt mù trong đêm.Hành quân từ rừng về bản,bộ đội phải đốt đuốc soi đường,Câu thơ "Mường Lát hoa về trong đêm hơi" là thi sĩ đặc tả "lửa" ở đây được cách điệu thành "hoa"(như kiểu"đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông")
      Câu"trôi dòng nước lũ hoa đong đưa" là câu thơ tài hoa,làm ta liên tưởng tới câu ca dao xứ Mường :
      Trăm thứ hoa không bằng hoa con gái
      trăm thứ trái không bằng trái bông cơm
      trăm thứ thơm không bằng thơm con mái...
      Mà trái bông cơm là lúa gạo,con mái là con gái tuổi dậy thì...Các chàng trai "Vệ Trọc "(đầu trụi không còn tóc) vừa ở rừng ra thấm đượm tình nghĩa Quân dân,được các em (hoa rừng)chèo thuyền đi đón...thì làm sao quên được "hồn lau nẻo bến bờ" ?Thơ Quang Dũng vừa trữ tình vừa bi tráng là vậy !

      III Bài thơ buổi đầu trình làng:

      Theo tạp chí Văn nghệ số 11-12 tháng tư,tháng năm năm1949-Văn nghệ Bộ Đội của Hội Văn Nghệ Việt Nam-
      Thư ký Toà Soạn: Nguyễn Huy Tưởng
      thì bài thơ in ở trang 17,toàn văn như sau :

      NHỚ TÂY TIẾN
      Sông Mã xa rồi,Tây tiến ơi
      Nhớ về rừng nuia,nhớ chơi vơi.
      Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
      Mường Lát hoa về trong đêm hơi;
      Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
      Heo hut cồn mây súng ngửi trời;
      Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
      Nhà ai Pha Lương mưa xa khơi.
      Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
      Gục lên súng mũ bỏ quên đời...
      Chiều chiều oai linh thác gầm thét
      Đêm đêmm Mường Hịch cọp trêu người.
      Nhớ ôi ! Tây tiến cơm lên khói
      Mai châu mùa em thơm nếp xôi.

      Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
      Quân xanh màu lá dữ oai hùm
      Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
      Đêm mơ Hà Nọi giáng kiều thơm.

      Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
      Chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh
      Áo bào thay chiếu anh về đất,
      Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

      Tây tiến người đi không hẹn ước
      Đường lên thăm thẳm một chia phôi
      Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
      Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


      QUANG DŨNG (Đoàn quân nhân văn nghệ L.K.3)

      Chú ý:Pha Lương=Pha luông.giáng kiều=dáng kiều.
      Bài thơ thiếu hẳn 1 đoạn 8 câu"doanh trại bừng lên hội đuốc hoa...trôi dòng nước lũ hoa đong đưa ?"
      "ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO BẠN
      HÃY TỰ HỎI BẠN ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC"

      Comment

      • #4

        (tiếp theo)

        VI. Nhà thơ Xuân Diệu phê bình TÂY TIẾN:

        Trong tập TIẾNG THƠ(15-5-1949) Xuân Diệu viết :"...Bài thơ hơi buồn,có đoạn buồn lắm:tứ thơ không mới,có những câu văn hoa.Nhưng toàn bài rung rung như những dây đồng.Đoc lên, trong miệng còn ngân âm nhạc.Cái cảnh miền Tây gian nan đặc biệt:bộ đội Tây tiến là một trong những bộ đội nhiều hy sinh.Đánh giặc đã đành,mà người với rừng núi còn tranh nhau ai thua ai được.Một bạn tôi lên thăm bộ đội quá thượng du Thanh Hoá,trên biên giới Việt-Lào kể rằng:"Núi giăng màn trùng điệp;một anh đội viên chỉ quãng chập chùng trước mặt nói:-Một mình tôi phụ trách 5 cây số núi".Lên đến nguồn Sông Mã,còn đâu là đồng bằng? Lúc mới đầu chưa quen thổ ngơi,nhiều chiến sĩ chết.có lẽ cái rùng rợn buổi đầu ấp sâu vào tâm hồn tác giả.Những chiến sĩ lưa thưa giữa nghìn trùng rừng núi chắc cảm thấy mình"cheo leo chòi biên cương",cảm thấy mình lạc đời.Những anh con trai Hànoi lên đến đây cạo troc đầu,hay là sốt rét rụng cả tóc,người mặc áo chàm hay là mặt lây sắc lá,hay là ốm tái màu da;giặc sợ các anh như sợ hùm :nhưng các anh dù thế nào cũng nhớ HàNoi cho được:
        Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
        Quân xanh màu lá dữ oai hùm
        Măt trừng gửi mộng qua biên giới
        Đêm mơ HàNoi dáng kiều thơm

        Bài thơ chỗ thì đẹp,chỗ thì ghê,man rợ rồi lại êm ái;đoạn sau cùng đầy những tiếng từ ly.Những tên đất Sài Khao,Mường Lát,Pha Lương...ngân động.Đén cái tên Sầm Nứa thì câu thơ buồn mà hay quá;hồn đây là tâm hồn người sống nghĩ chuyện bên Lào:
        Tây tiến người đi không hẹn ước
        Đường lên thăm thẳm một chia phôi
        Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
        Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

        V Bài bình của Nguyễn Khôi:
        a) Bài bình 1: (đã đăng)
        b) Bài bình 2 ( đăng trong thông tin Họ Bùi ở Việt Nam ):

        Cho đến nayTây tiến vẫn là một đài thơ(Thi Sơn)đầy kỳ bí.Cái ma lực,cái âm hưởng của bài thơTây tiến...chưa ai lý giải hết được.Phải chăng cái hay là bởi lời thơ,ý thơ,hình tượng thơ Giầu nhạc điệu được chứa trong một hồn thơ thật mới lạ và rất sâu sắc ? Con người nồng hậu,nét bút tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ đã làm nên kiệt tác thơ Tây tiến.Cái độc đáo của bài thơ là không có cấu tứ,cái kết của bài thơ(của cuộc hành binh)lại không nằm ở cuối bài mà lại nằm ở 2 câu 13=14/34 :
        Nhớ ôi,Tây tiến cơm lên khói
        Mai châu mùa em thơm nếp xôi
        Với Tây tiến,Quang Dũng dưa ta đi vào một thế giới đầy mùi hương hoài niệm,của sự vọng tưởng diệu huyền.Với Tây tiến,Quang Dũng đã xây tượng đài về anh Bộ đội Cụ Hồ (Vệ Quốc Doàn-Vệ Út-Vệ túm-lính râu ria) thời kháng chiến 9 năm đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng-Cái buổi đầu đi làm cách mạng của những trai tài gái sắc đất Hà thành(và ven ĐÔ)hiên ngang,hào hoa phong nhã,cái thời"chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh"(tả thực) với "đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"(lãnh mạn).

        Bút pháp bậc thầy của Tây tiến là Nhà thơ đã vận dụng sáng tạo kỹ xảo thơ truyền thống(thơ Đường)với "phép đối" trong từng câu,đoạn thơ,từng khổ thơ tạo ra 2 vế âm / dương ,tương phản trong một "Trường đối nghịch"(thủ pháp đối lập)nhằm tô đậm ý tưởng"không ca ngợi một chiều" mà là phản ánh đúng hiện thực của cuộc chiến...đó là sự đói chọi,sự tàn khốccủa chiến tranh lấy ý chí(Việt Nam)chọi lại sắt thép(thực dân Pháp).Thủ pháp đối ý ,đối âm trong Tây tiến với nững câu thơ ăm ắp hồn chiến sĩ,tạ nên khẩu khí bi tráng của toàn bài.ĐÓ là lối diễn đạt độc đáo,cao thủ mà hình như chỉ riêng Quang Dũng một mình trong cõi thơ"dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/heo hút cồn mây súng ngửi trời" để Tây tiến ở một vị trí tượng đài vút lên trời xanh giữa núi rừng Tây bắc hùng vĩ của Tổ Quốc !

        Trong Tây tiến có một hình tượng thơ đã làm không ít người thắc mắc,đó là"có nhớ dáng người trên độc mộc/trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"...đó chẳng qua là một từ HOA"ẩn dụ" cảm từ câu ca dao Xứ Mường"trăm thứ hoa không bằng hoa con gái"mà con gái Thái-Mường là "bông hoa rừng"chèo thuyền độc mộc đưa Bộ đội qua sông đang mùa nước lũ...Qua rồi để nhà thơ lãng mạn lưu giữ một bóng dáng cô lái đò trên "Châu Mộc chiều sương ấy" cứ đong đưa trong con mắt Người Sơn Tây đẹp đến lạ lùng.
        Cái chết(hi sinh) của người chiến sĩ nay không phải là "da ngựa bọc thây" mà là"chiến bào thay chiếu anh về đất" để Sông Mã gầm lên như súng thần công bắn vang trời tiễn đưa người anh hùng...
        Dùng cái bi,cái mất mát để tôn vinh cái hào hùng...Vớicảm hứng lãng mạn cách mạng được đặc tả trên cái nền hiện thực đã tạo nên âm hưởng,ma lực kỳ diệu của bài thơ Tây tiến rất kinh điển mà cũng rất hiện đại-Đó là một trong những bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam thế kỷ XX đặt trong hành trang ta mang theo đi vào thế kỷ XXI,hội nhập cùng làng thơ thế giới hôm nay.

        VI Trao đổi với bạn thơ về 2 bài thơ TÂY TIẾN và ĐỒNG CHÍ:

        Theo thiển ý của NK thì 2 bài này đều viết về NGƯỜI LÍNH ,đều do 2 Nhà thơ Lính , cùng thời viết ra nhằm ca ngợi,tôn vinh Anh Bộ đội Cụ Hồ ( thời kháng chiến 9 năm chồng thực dân Pháp xâm lược );Hai bài thơ này đều thuộc "diện" THƠ HAY (trong số 100 bài thơ chọn lọc thế kỷ 20-nxb Hội Nhà Văn 2007 ),được nhiều người yêu thích và đều được đưa vào Sách Giáo khoa giảng dạy trong Nhà trường CHXHCN VN. Tuy nhiên,cách bình phẩm,cách thưởng thức 2 bài thơ này,với riêng NK cảm nhận thì :

        -Bài TÂY TIẾN là 1 trong 5 bài thơ vào loại HAY NHẤT trong số 100 bài chọn lọc kể trên ;Với bút pháp Hàn Lâm,đó là con chim đại bàng vẫy lên đôi cánh mênh mông trên trời thơ xứ Việt...Nó đẹp hoành tráng,kỳ bí-đọc phải suy ngẫm,rất nhiều ý tại ngôn ngoại...chắc là kể cả mai sau,TÂY TIẾN còn tốn nhiều giấy mực người đời bình phẩm về nó ?

        -Bài ĐỒNG CHÍ,với bút pháp bình dân,đó là thứ ca dao được chắt lọc cô đọng: lời lẽ ngắn gọn dễ hiểu,vừa tầm với những người Nông dân (bần cố)mặc áo Lính (thời 1947),đó là Con chim Sáo,chim Bồ câu gần gũi thân thưong với quảng đậi quần chúng thời buổi đầu Cách mạng.

        VII Đôi lời kết :

        Tây Tiến ra đời đến nay đã qua 62 năm, bài thơ cũng như thân phận tác giả đã nếm đủ nỗi thăng trầm thế sự, có một thời khá dài người ta đã cố ý" trẩm" (chìm) nó đi tưởng nó đã đi vào quên lẵng ? - Nhưng không, thây giáo của NK từng bảo : chỉ sợ Thơ anh không hay thôi, con hay đích thực thì sẽ bất hủ Tây Tiến với Quang Dũng quả là vậy . Đây là TUYỆT CHIÊU của Quang Dung- một áng thơ đạt tiêu chí "kim cổ kỳ thi" của đân tộc Việt Nam ta, có bị "đánh" cũng không chết! Nó có thể sánh với HOÀNG HẠC LÂU của Thôi Hiệu, TƯƠNG TIẾN TỬU của Lý Bạch - những thiên thi ca kỳ bí, thiên hạ sẽ còn tốn nhiêu bút mục"bàn" về nó. Ở Việt Nam ta đương đại có 3 Thi sỹ Họ Bùi:
        - Hoàng Cầm (Bùi Tằng Việt) với Lá Dieu Bông ...
        - Quang Dũng (Bùi Đình Diệm) với Tây Tiến, Đôi Mắt người Sơn Tây ...
        - Bùi Giáng với Mắt Buồn ...
        Đó là 3 trái Núi thơ ( Thi Sơn ) sừng sững trên bầu trời thơ Việt đứng sau Nguyễn Trái, Nguyễn Du .... Để cho ta tự hào về sự tài hoa trong sáng của tiếng Việt đầy ắp hồn quên. Để thêm yêu tiếng Việt như "ngàn mày tràng giang" say muôn đời.

        Góc thành nam Hà Nội ngày 7-10-2010
        Nguyễn Khôi
        "ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO BẠN
        HÃY TỰ HỎI BẠN ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC"

        Comment

        • #5

          ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Ngocanh.online View Post
          (tiếp theo)
          ........................

          .........................

          .........................


          . Ở Việt Nam ta đương đại có 3 Thi sỹ Họ Bùi:
          - Hoàng Cầm (Bùi Tằng Việt) với Lá Dieu Bông ...
          - Quang Dũng (Bùi Đình Diệm) với Tây Tiến, Đôi Mắt người Sơn Tây ...
          - Bùi Giáng với Mắt Buồn ...
          Đó là 3 trái Núi thơ ( Thi Sơn ) sừng sững trên bầu trời thơ Việt đứng sau Nguyễn Trái, Nguyễn Du .... Để cho ta tự hào về sự tài hoa trong sáng của tiếng Việt đầy ắp hồn quên. Để thêm yêu tiếng Việt như "ngàn mày tràng giang" say muôn đời.

          Góc thành nam Hà Nội ngày 7-10-2010
          Nguyễn Khôi
          Còn Bùi Chí Vinh nữa đấy.....



          Bác mời Ngocanh đọc thử vài bài của Bùi thi sĩ...



          ĐẢO NGỮ HÀNH


          Hành đảo ngữ kể từ GIẢI PHÓNG
          Thi ca làm PHỎNG DÁI niêm vần
          Muốn in báo phải làm đầy tớ
          Nhưng ta nào phải kẻ lòn trôn


          Ta nào phải là ông Hàn Tín
          Phò Lưu Bang phản bạn lừa thầy
          KỸ SƯ vì thế thành CƯ SĨ
          THẦY GIÁO từ đây chịu THÁO GIÀY



          Họp ĐỒNG CHÍ thấy toàn ĐÌ, CHỐNG
          XÔ VIẾT ngày nay khoái XIẾT VÔ
          Hình treo LỘNG KIẾNG như LIỆNG CỐNG
          Ðể thằng TO DỰ hét TỰ DO


          Chú đeo BẢNG ĐỎ mà BỎ ĐẢNG
          Mượn SAO VÀNG che đậy SANG GIÀU
          CĂNG BỒNG nhờ nói CÔNG BẰNG nhỉ
          LƯU MANH nào lại chẳng LANH MƯU?






          Theo CHÍNH PHỦ ai ngờ CHÚ PHỈNH
          Vào CHIẾN KHU thì bị CHÚ KHIÊNG
          Mồm ĐÁNH MỸ mà tâm ĐĨ MÁNH
          TIỀN ĐÂU? chú chặn họng ĐẦU TIÊN


          GIÁO CHỨC đói meo đành DỨT CHÁO
          Làm NHÀ THƠ vô bót NHỜ THA
          THIÊN TÀI không đủ THAI TIỀN hả?
          CẤT ĐUỐC về quê CUỐC ĐẤT à!


          KHIẾN CHÁN ta làm thơ KHÁNG CHIẾN
          Gào THI ĐUA chú bịp THUA ĐI
          LÀM THƠ mà LỜ THAM mới nhục
          THÌ CẤY cày mất đất THẤY KỲ


          LÃNH TỤ sạch nhờ ôm TỦ LẠNH
          BẨN NGƯỜI DO bác BỎ NGƯỜI DÂN
          BÁC ĐI quá sớm thành BI ĐÁT
          NGHỆ SĨ tụi con NGHĨ XỆ quần…



          *************

          thơ “bỏ dấu xuống chữ”


          A

          Con gái ta thường kêu bằng: ả
          Ðôi khi đụng “xẩm” đổi thành: a
          Các em xinh đẹp thì ta: á
          Giống Chung Vô Diệm thì ta: ạ
          Á ạ gặp ta cũng phải: à



          B

          Nhìn em, ta muốn: bế
          Muốn bế thì phải: bê
          Bê em như bê: bệ
          Bê bệ dễ rớt: bể
          Ðặt xuống giường, ta: bề


          C

          Trong tình yêu không xài: xể
          Làm như thế hai đứa: xệ
          Thà rằng giận nhau, ta: xê
          Ta đi bộ, em đạp: xế
          Lúc gối chăn, bụng sẽ: xề


          BÃO

          Giữa cuộc đời giông: bão
          Ta ruột xé gan: bào
          Văn miếu nuôi cường: bạo
          Triều đình nuôi hổ: báo
          Mình ta nuôi chiêm: bao


          QUẬY

          Ở biển ta là cá: quẫy
          Sao ngươi đem bỏ mặt: quầy
          Giang hồ có câu phải: quấy
          Lẽ nào ta chịu lăn: quay
          Lẽ nào ta không dám: quậy


          THỚ

          Có con ong: thợ
          Không thèm hít: thở
          Khí hậu đền: thờ
          Cho nên có: thớ
          Mật thành ra: thơ



          ********************

          GIAI THOẠI CỦA THI SĨ, PHẦN 1


          Vừa rồi sau khi ra mắt hai tập THƠ TÌNH BÙI CHÍ VINH và THƠ ĐỜI BÙI CHÍ VINH trong nước lẫn trên mạng, tình cờ tôi được nghe một số giai thoại hay hoặc không hay của thiên hạ bàn tán về mình. Đối với tôi, hay hoặc không hay đều vẫn là giai thoại. Nhưng giai thoại phải có cơ sở xác đáng, có thực tế chứng minh, có những người trong cuộc chứng kiến thì giai thoại đó mới trường tồn, truyền khẩu hợp lý và khoa học được. Những giai thoại đồn đại chung quanh hình tích, sự đi đứng, năng khiếu làm thơ ứng khẩu của tôi xuất hiện ngay từ sau giải phóng, lúc tôi còn rất trẻ, đang làm việc tại một tờ báo và chỉ mới 21 tuổi đầu. Giai thoại mỗi ngày mỗi phát triển thêm lúc tôi đi bộ đội, rồi đi giang hồ, rồi làm đủ mọi thứ nghề để sống, thậm chí cả giai thoại lúc tôi bày tỏ chính kiến của mình…

          Trong phạm vi bài viết này tôi xin mở đầu bằng một giai thoại quái đản nhất vừa nghe được. Sự quái đản ở đây tùy nghi ai muốn hiểu sao thì hiểu trong khi câu thơ đồn đại về tôi lại khởi nguồn từ một tình bạn rất đẹp. Cụ thể từ hai câu thơ tam sao thất bổn sau đây:

          “Trọc đầu BÙI làm sao CHÍ ở
          Nhục còn chưa có lấy gì VINH”

          Và họ nói rằng hai câu thơ trên là do Bùi Giáng ứng khẩu tặng tôi trong bàn nhậu lúc tôi đang múa may chữ nghĩa, khiến tôi hoàn toàn tâm phục khẩu phục. Suy nghĩ như thế không riêng gì tôi mà những người quen biết tôi đều phải phì cười. Bởi một lẽ đơn giản, tác giả hai câu thơ trên không phải là Bùi Giáng tiên sinh mà là ông anh Mặc Tuyền, một nhà thơ kiêm kịch tác gia bụi đời làm “chọc quê” tôi khi tôi mạt lộ đang ngồi ở vĩa hè phụ sửa xe cùng anh Phan Văn Bồng tự Bế Văn Bồng mưu sinh kiếm sống vào thời điểm cuối thập niên 80 đói rách.
          Thời điểm ấy nạn dịch bo bo khoai mì hoành hành, mâm cơm không có gạo trắng mà ăn, Mặc Tuyền cố kiềm chế sự ngông cuồng của tôi nên làm hai câu khá cảm động. Vừa chơi chữ, vừa nói về chữ “nhục”, nhục ở đây có nghĩa là “thịt”, thi sĩ lớn cỡ nào mà đầu cạo trọc và thiếu thịt ăn thì bao tử cũng đói meo và chí khí lẫn chí mén cũng đi chơi chỗ khác.

          Còn Bùi Giáng tiên sinh đương nhiên thuộc về đẳng cấp khác. Ông và tôi không phải huynh đệ hoặc thân thiết tri kỷ nhưng khi gặp nhau chưa bao giờ ông dèm pha biếm nhẽ thế hệ sau mình. Giai thoại giữa tôi và ông độc đáo hơn nhiều. Cách đây hơn 20 năm tôi và Hồ Lê Thuần (con trai cố bí thư Thành Đoàn trước 1975 là Hồ Hảo Hớn) vi hành xuống miệt Gò Vấp chợ Long Hoa lúc nửa đêm. Nhằm vào lúc Bùi Giáng rời chùa Long Huê gần đó ra chợ quậy tưng bừng khói lửa với một cây chổi rách tượng trưng cho ấn kiếm. Gọi là ấn kiếm vì Bùi Giáng luôn vỗ ngực xưng vương bất cứ lúc nào cao hứng.
          Đêm đó chúng tôi ngồi uống rượu vĩa hè chứng kiến “vua cỏ” Bùi Giáng làm bà con chạy tán loạn và nhìn ông múa chổi tiến về phía chúng tôi. Ông vừa đi vừa khạc thơ rồi dòm trừng trừng vào mặt tôi. Trong cơn say xỉn ngất trời, Hồ Lê Thuần xúi tôi đọc thơ đáp lễ. Thế là người ngồi người đứng xuất khẩu thành thi qua lại liên tục. Không biết Bùi tiên sinh “phê” thơ tôi ra sao, chỉ biết Người tự động quỳ xuống bàn chúng tôi dâng cây chổi rách lên và tuyên bố “Đêm nay Trẫm thay mặt cựu hoàng Bảo Đại giao ấn kiếm cho thế hệ Hồ Chí Minh”. Câu nói đầy tính “chính trị” và đối phó của Bùi Giáng bắt buộc tôi phải nhận cây chổi và làm một bài thơ tặng ông tại chỗ, có chép lại nhét túi ông đàng hoàng, xin mạn phép ghi ra đây để khép lại lời đồn về sự “tâm phục khẩu phục” của tôi trước Bùi Giáng:


          CÁCH LẠY CỦA BÙI GIÁNG

          “Liên tồn, l… tiên, liền tôn”
          Bác Bùi chưa gặp đồng môn đây mà
          Ta hăm bảy tuổi đăng khoa
          Bác hơn sáu chục mới là Trạng Nguyên
          “Bác đi, bi đát” cơn điên
          Để mua trí tuệ “l… tiên, liên tồn”
          “Riêng ta” thành “ra tiên” con
          Lúc say xỉn vỗ hậu môn cười khà
          “Bán dùi Bùi Giáng” xót xa
          “Bình Chí Vui” ta vốn là “Bùi Vinh”
          Bác không màng nhắc triều đình
          Có đâu ta nỡ cố tình làm vua
          Chi bằng giữa chợ say sưa
          Bùi to Bùi nhỏ đi lùa các em
          Kìa sao bác lạy như điên
          Đợi ta đỡ dậy chiêu hiền nữa sao?!?

          Ngoài ra tôi còn chép cho Bùi tiên sinh bài thơ BÌNH CHÍ VUI khi ông muốn tôi bình tĩnh chí nam nhi trở lại để có thể tồn tại trước bọn sâu bọ làm người. Tôi đã làm bài thơ này theo “môđen “ tiếng lái và chơi chữ của ông:


          BÌNH CHÍ VUI
          Bùi Chí Vinh, Bình Chí Vui”
          Không bình chí, chắc tiếng cười mất tiêu
          Chí trong bình, chí mốc meo
          Chui ra bình, chí mới nhiều nhục vinh
          Bùi làm thiên hạ giật mình
          Sờ ngay “cái đó” kẻo em mếch lòng
          “Bùi như lạc” nhậu sướng không?
          “Trần như nhộng” Bùi tồng ngồng đái chơi
          Bất bình nên chí chưa vui
          Các em nên gọi ông Bùi Chí Vinh

          .................................................

          .................................................. .....

          .................................................. ....






          Còn Bùi Minh Quốc nữa... nhiều thi sĩ họ Bùi nhắm....
          Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 27-10-2010, 07:58 PM.
          ----------------------------

          Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

          Comment

          Working...
          X
          Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom