• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Viết vào Bùi Giáng mong manh...

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • khietbong
    replied
    Đọc bài "Viết vào Bùi Giáng mong manh"

    Nhận xét của HV khá là khách quan và thú vị.Mong được
    xem thêm những bài bình hay về Bùi Giạng

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Mùa Xuân và Thơ Tình Bùi Giáng



    Thưa rằng ly biệt mai sau
    Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân…


    Bùi Giáng,một thi sĩ đặc biệt của nền thơ đa dạng Việt Nam hiện đại.Ngưòi ta đã nói nhiều về ông và chắc theo thời gian về ông còn nói nhiều nữa!

    Bùi thi sĩ sinh ngày 17-12-1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, mất năm 1998 tại Sài Gòn. Ông là con trai thứ của ông Bùi Thuyên và bà vợ lẻ Huỳnh Thị Kiềng. Tốt nghiệp trung học khi tuổi vừa đôi mươi , học chưa xong Đại học Văn khoa, ông bỏ dở, đeo đuổi sự nghiệp văn chương. Văn nghiệp của ông gồm nhiều thể loại: Lý luận - phê bình ,biên khảo triết học, dịch thuật văn chương, sáng tác Thơ, Văn …Lĩnh vực được
    người đọc nhắc đên nhiều chính là Thi ca, có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu : Mưa nguồn, Rong rêu, Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột, Mười hai con mắt, Mùa màng tháng tư, Bài ca quần đảo,Màu hoa trên ngàn, Đêm ngắm trăng, Thơ vô tận vui v.v.

    Bằng một phong cách nghệ thuật rất riêng, ông đã tạo nên một cõi mông lung huyền ảo về quê hương ,đất trời , về cỏ hoa muôn vật, về nhân sinh, về Đạo… Tất cả như lãng đãng sương mù ,như hoa đăng, ảo ảnh.Thế giới trong thơ ông như trong một kính vạn hoa. Ông là một bậc thầy về ngôn ngữ Việt và thể tài thơ lục bát. Thơ ông có nhiều câu, nhiều bài rất thuần khiết nhưng cũng có nhiều bài lời thơ mơ hồ phiêu lãng chập chờn giữa đôi bờ thực và mộng, nối cõi nhân sinh trầm luân thực tại và thế giới ảo huyền siêu thoát . Nó là những cơn mơ giữa đời thực, đôi khi như là một “ru - bích” của trò chơi tâm linh .

    Trong cái biển thơ mông lung huyền ảo đó ta bắt gặp một dải thơ nói về tình yêu khá chân tình và giản dị, tuy cũng không thoát khỏi cái sương khói mơ màng chung của thơ ông .

    Thơ tình Bùi Giáng tỏa thành hai nhánh, một về cõi thực, một về cõi mơ và đều gắn với một không gian, một xứ quê mà ông gọi là “cố quận”. Đó là một quê thực xứ Quảng của ông nhưng cũng là một xứ mơ, một quê xưa , nước cũ đầy khái quát mơ hồ .

    …Đất hoa khóc vĩnh biệt người
    Ngàn cây cố quận đôi lời sương thu …

    Dọc theo miền Trung cằn khô chúng ta tới đất Quảng, ngược dòng Thu Bồn đến sông Vu Gia, rồi ngược mãi lên sông Côn, sông Bung, qua Hòn Kẽm, Đá Dừng…nghe bâng khuâng những câu ca dao xa xót một thời xứ sở phân tranh

    “Ngó lên Hòn Kẽm , Đá Dừng
    Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi !”.

    Cuộc hành trình tiếp tục , ta sẽ như thấy mình trôi trong cổ tích: một sông nước mênh mông, những làng thôn trải dài qua những nương dâu xanh ngát, kẽo kẹt xa quay tơ tằm vàng óng, sẽ hiểu thêm một phương diện thực tế của hai từ “cố quận”. Đó chính là nơi chôn rau cắt rốn, nơi chứa đầy những kỷ niêm một thời của ông. Nhớ người từ những buồn vương, xa người từ thuở đoạn trường diễn ra? Cuộc thế thăng trầm buồn vui hư ảo, khi muốn trở về thưc tại,về với những an ủi, về với cái thuở ban đầu đầy ấp iu nồng đượm, con đường ngắn nhất và dễ tìm về nhất là cố quận – quê xưa!

    Khi nói về những mối tình, về những người con gái đi qua đời mình, Bùi thi sĩ đều mơ màng và nâng niu. Kỷ niệm sau đây về một người cũ nơi miền quê xa thấm đượm một tình cảm se sắt , trìu mến:

    Bây giờ em đứng nơi đâu
    Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao?
    Gắng thu xếp gấp rồi vào
    Tấm quần năm trước phai màu rồi phải không?
    Trong này thiên hạ rất đông
    Ăn mặc thật đẹp nhưng trong không mặn mà bằng em..

    Nhà thơ buồn nhớ không biết em giờ ở đâu và cỏ trong mình mẩy của em sầu ra sao?”. Câu thơ đầy ẩn ý, hư hư thực thực, trần thế mà phiêu bồng, rồi Tấm quần năm trước phai màu rồi phải không?" Tại sao là “tấm” mà không là “cái”, là “chiếc” hay chỉn chu hơn là ”manh” (tấm áo, manh quần). Chữ “tấm“ ở đây rất dân giã thể hiện được cái nghèo của đối tượng nhưng phủ đầy sự thân thương của tác giả .Chao, thi sĩ tuy mơ màng nhưng câu hỏi ở đây, rất thực, rất chân tình, có cái gì như bẽ bàng như trách móc mà cũng đầy thương yêu!

    Trong này thiên hạ rất đông-

    người thành phố mà, ăn mặc cũng thật đẹp nhưng tác giả không thấy mặn mà như em nơi thôn dã ( chắc em ở miệt ngoài chân quê). Con người bao năm mơ màng nơi phố phường nhưng tận sâu trong lòng vẫn da diêt một thâm tình quê kiểng, nâng niu vẻ đẹp mặn mà nguyên sơ .Và với một tình cảm như vậy nên từ khi cất bước khắp bến giang hà thì ở đâu cũng không nghĩ đến ai khác ngoài em thân thuộc, ngọc ngà Nơi nào cũng thấy ngọc ngà đèo truông”.

    Câu thơ gợi cả hai trường nghĩa đen và nghĩa bóng ! Còn thì nhớ nhung , mất thì xa xót, cái tình người của Bùi cũng rất nhân thế .

    Người bạn tấm mẳn của Bùi Giáng qua đời đã ngót nửa thế kỷ, có lẽ cảnh chia biệt đó đã tạo cho ông những xót xa buồn khổ, để rồi từ đó ông thổ lộ một cách vô cùng sâu sắc trên những trang thơ, dựng nên bóng
    dáng ấm áp của những người em, người vợ . Một nỗi nhớ nhung xa xót khôn nguôi,đôi tình nhân lỗi hẹn:

    Em ở lại với đời ta em nhé
    Em đừng đi cho ta nắm tay em ..

    Bên cạnh những người em rất thực thì thơ Bùi cũng thường nói nhiều đến những người em rất mộng - nguồn tạo sinh muôn màu trong cuộc thế ! Những vần thơ xinh tươi diễm ảo đầy sức khêu gợi nói về cây cỏ , mặt trời , chim chóc …tất cả đềutrào dâng sức sống , đều từ em, nhờ em mà sinh sôi.

    …Một hôm nào em mở cửa đầu khe
    Và bữa đó đến bây giờ cỏ rạ
    Thi nhau mọc mặt trời lên lả tả
    Bông lúa chín trong rừng kêu tiếng lá
    Chóc chim xanh đòi đẻ trứng bây giờ …

    Em là cái chân dung toàn thiện toàn mỹ của người nữ trong cuộc đời : em ở khắp nẻo đường, em là mây gió, là cây lá, là sông hồ..Tác giả nâng hình ảnh em lên tầm hoàn vũ :

    …Em là em anh đợi khắp nẻo đường
    Em có nụ cười buồn mây mọng
    Em có làn mi khép lá cây rung
    Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
    Hồ gương ơi! Sao sóng lục vô chừng !

    Những câu thơ vừa thực vừa ảo. Những câu thơ nói về một người con gái đẹp đẽ, thánh thiện nhưng là của một tình yêu chiêm bao, một tình yêu khoáng dật vô thường !

    Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt
    … Ồ thưa em ta thấy mộng không thường .

    Cái chất Bùi Giáng huyễn hoặc thể hiện ở cái mộng không thường này. Em như sương khói, như suối nguồn, em đến làm dịu mát tâm hồn thi sĩ nhưng em không hiện hữu trong đời thực, dẫu ôm em trong vòng tay thì “ em vẫn trôi”, vẫn chảy lọt qua hai vòng tay khép chặt” !


    Ta thả một chiếc lá, chiếc lá trôi
    Ta thả một con thuyền giấy, con thuyền giấy trôi
    Ta ôm em trong vòng tay,Em vẫn trôi…

    Tình yêu trong thơ Bùi Giang, đối với chúng ta vẫn như một định đề muôn thuở ,vừa quen vừa lạ. Quen vì nó mang đến cho hồn ta sự ngọt ngào của tình người như rượu ngọt và cũng mặn chát bẽ bàng như thuốc đắng, mà thiếu nó vũ trụ sẽ không hồn. Nó lạ vì khác những tình yêu mà ta đã gặp hoặc nồng nàn như Xuân Diệu, bẽ bàng như Huy Cận, phiêu du như Vũ Hoàng Chương…, tất cả đều rất thực , thực đến mức “cắn”vào được, nhưng cáí tình của Bùi lại lưỡng phân vừa thực vừa mộng, vừa đời vừa đạo ,vừa chạm tay vào đã sương khói bay xa, đôi lúc ảo giác và cuồng vọng gần với Hàn Mặc Tử …

    Một sắc thái khác của thơ tình Bùi Giáng không thể không nói đến, bên cạnh cái đằm thắm , cái ảo huyền lại còn nữa cái đuà cợt châm biếm . Một sắc thái “tự trào” làm đa dạng thêm cái “Tình“ trong thơ ông. Một cái tình thoáng qua,một cái tình thất vọng nhưng sự thất vọng, sự bất lực được thể hiện trong một chuỗi cười rất đáng được chia xẻ.

    Gọi là gặp gỡ giữa đường
    Trái tim không chịu giữa đường rút lui
    Bỏ đi buồng phổi sụt sùi
    Trái tim không chịu lau chùi máu me…( Kẻ qua đường )

    Nhà thơ không nói gì đến cái đối tượng ái tình cuả mình , không cầu xin, không trách móc như những vần thơ khác trong trường hợp tương tự ta thường gặp .Ở đây nhà thơ chỉ nói về cái “tình si” quá mức của mình, vừa bày tỏ vừa chế giễu , nhưng chắc rằng, sau cái “sụt sùi” , cái “máu me” này nhà thơ chúng ta vẫn vui vẫn sống. Đó là cái nét ngồ ngộ của ái tình Bùi Giáng mà có nguời cho rằng “thái độ hậu hiện đại trong thơ”( Hoàng Ngọc Tuấn ).

    Bản chất của những vần thơ tự trào là nhà thơ “tự yêu” cái kém cỏi, cái bất lực, cáí vô dụng của mình ; tự cười nhạo , tự chế giễu, nhưng đằng sau cái cười nhạo đó âm thầm che giấu một tâm tình kiêu bạc thách thức
    “ta trong giữa đời đục” !

    Đã hơn mười mùa xuân thi sĩ ra đi , văng vẳng bên tai ta một câu hỏi đau đáu khi xuân về :

    Mùa xuân em có về không?
    Nhành mai cố quận trổ bông dịu dàng…

    Câu hỏi nghe xao xuyến và nếu ta thay cố quận bằng một tên làng cụ thể thì câu thơ quả thực chính là tâm trạng của chính ta, của bao người xa quê, bao kẻ ra đi vì cuộc mưu sinh mong ngóng ngày gặp gỡ nhất là những dịp xuân về tết đến.… Nhưng cố quận” của Bùi Giáng phải chăng là một từ phiếm chỉ , một miền đất đã lìa xa, một kỷ niệm, một ước vọng hơn là một thực tại. Và người em, và tình yêu nơi ông cũng chỉ gợi ta về một giấc mộng nơi “bờ nước cũ” của người “em xưa” .

    Ta sẽ đến đứng bên bờ nước cũ
    Mộng xanh ngần giậy nối giấc em xưa…

    hoặc may mắn hơn, thì cũng chỉ là chốn đào nguyên tương tư hai hình bóng:

    Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó
    Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu…

    Bùi Giáng quả một thi sĩ đặc biệt, thật khó hình dung nền thơ Việt Nam hiện đại lại thiếu ông.Thơ tình của thi sĩ góp phần tạo nên cái sự riêng,cái nét đặc biệt đó .


    Hà Quảng

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi M Mít Đặc View Post
    Nỗi Lòng Tô Vũ





    Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi
    San sát đồi phủ phục quấn núi xanh
    Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối
    Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh
    *
    ......................................

    ........................................


    Và giờ đây hoàng hôn mờ trĩu nặng
    Bốn bề tràn lan bóng mịt mùng sa
    Xếp hàng ngay nhanh lên hàng ngũ thẳng
    Rập ràng về bế hế rập ràng ca.

    Bùi Giáng - (Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi

    Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú )


    Mít ui là Mít !!!






    Bùi Giáng - Thi sĩ kỳ dị

    Chương 3: HAI NĂM LÀM NGƯỜI DU MỤC

    Gia đình Bùi Giáng là gia đình địa chủ, vì vậy điều kiện kinh tế rất khá giả. Do đó, Bùi Giáng có đủ điều kiện để học lên cho tới đại học, nhưng ông luôn luôn phá ngang. Bùi Giáng từng viết rằng ông không có ý định học để lấy bằng cấp này nọ.

    Thuở nhỏ, Bùi Giáng học tiểu học ở trường Bảo An thuộc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Sau đó ông được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở trường trung học Thuận Hóa. Năm 1945, khi đang học lớp Đệ Tứ thì thời thế thay đổi. Đại chiến thế giới thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp, rồi Cách mạng Tháng Tám thành công. Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung. Đến năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương, rồi lên đường ra Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học. Từ Quảng Nam thuộc Liên khu V ra tới Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV phải đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi ra đến nơi, ngay trong ngày khai giảng, Bùi Giáng đã quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam. Và một tháng rưỡi đi bộ nữa theo đường mòn trên dãy núi Trường Sơn với muôn vàn gian khổ. Nguyên nhân gì khiến Bùi Giáng hành động như vậy? Ông Bùi Công Luân cho biết, Bùi Giáng từng tâm sự, ông không có ý định đi học đại học mà chỉ ra đó cốt yếu là để thăm quê hương Nguyễn Du, còn theo ông Bùi Văn Vịnh thì Bùi Giáng làm vậy là vì thấy thất vọng về ông thầy hiệu trưởng!

    Bỏ học đại học trở về nhà, ông theo chân đàn bò đàn dê rong ruổi khắp các vùng đồi núi. Sau này ông có sáng tác bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ in trong tập Mưa nguồn để kỷ niệm cho khoảng thời gian này.

    Một số tài liệu cho rằng Bùi Giáng đã có nhiều năm chăn dê nhưng thực ra ông chỉ trải qua 2 năm, từ 1950 đến 1952 trên vùng rừng núi Trung Phước. Có lẽ đây là quãng đời lãng mạn nhất của ông.

    Và ông đã gọi quãng thời gian này là 15 năm chăn dê, như Tô Vũ ngày xưa đi chăn dê. Nhớ lại những tháng ngày này, ông viết: “Tôi bỏ học, chẳng biết chi sách vở. Chạy về quê làm thằng chăn bò. Bao nhiêu thơ làm ra, tôi âm thầm tặng hết cho chuồn chuồn châu chấu!”.



    Bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ dài đến 60 câu, được nhiều người thích đọc. Bài thơ với những lời thơ hết sức thiết tha, đằm thắm, ông dành cho những nàng thơ đặc biệt của ông là những con bò con dê, đọc lên nghe rất thú vị. Trong bài thơ, ông xưng anh với chúng và gọi chúng là em:

    Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện

    Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi

    Ông tặng các nàng thơ của ông những chiếc vòng bằng mây mà ông tự đan đủ màu sắc như người ta tặng kỷ vật cho người mình yêu:

    Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm

    Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu

    Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh

    Này đây em Hoa Cà hỡi! Chiếc nâu

    Mỗi nàng dê một chiếc vòng, ông tự tay đeo vào cổ các nàng và thủ thỉ:

    Ngẩng đầu lên! Dê ơi anh thong thả

    Đeo vòng vào em nghển cổ cong xinh

    Ngẩng đầu lên! Đây lòng anh vàng đá

    Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên

    Tặng xong kỷ vật cho các nàng bò nàng dê rồi ông mới thề thốt:

    Và giờ đây một lời thề đã thốt

    Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta

    Cao lời ca bê hê em cùng thốt

    Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha

    Lấy bò, dê làm nàng thơ quả là một chuyện xưa nay chưa có ai làm. Nhưng đáng kinh ngạc hơn nữa là ông so sánh chuyện đeo vòng mây cho chúng với việc trao vòng cầu hôn cho vị hôn thê của mình:

    Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ

    Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi

    Trao người em trăm năm lời ước thệ

    Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi

    Trong lần xuất bản đầu tiên của tập Mưa nguồn, Bùi Giáng còn ghi chú rõ ý khổ thơ này là, ngày xưa khi ông cưới vợ, thì cái giây phút đeo chiếc vòng đính hôn kỳ diệu ấy không làm ông xúc động bằng bây giờ đeo vòng mây cho dê! Thật là một cảm xúc khác người. Sau này chúng ta sẽ thấy, thứ cảm xúc này không phải do ông cố nặn ra cho thành bài thơ lạ mà đó là những gì diễn ra thực tế trong đầu ông.

    Nỗi lòng Tô Vũ là một bài thơ độc đáo bởi đối tượng cảm xúc của tác giả không phải là cảnh đẹp, là người thơ mà là những con dê. Tuy nhiên ngoài những đoạn thơ không giống ai đó, lại có những đoạn thơ đẹp lạ lùng:

    Em nhớ hay không hồn hoa dại cỏ

    Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya

    Vàng cao gót nai đầu buông hãi sợ

    Gió cây rung trút lá mộng tan lìa.

    Tác giả: Trần Đình Thu

    Link
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 22-01-2011, 01:18 AM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Nỗi Lòng Tô Vũ


    Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi
    San sát đồi phủ phục quấn núi xanh
    Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối
    Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh
    *
    Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
    Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe
    Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
    Vang vang lên đồi núi giọng be be
    *
    Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng
    Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh
    Bao lần anh cùng chúng em lận đận
    Bôn ba qua rú rậm luống rùng mình
    *
    Những bận nào Quế Sơn Rù Rì con suối ngược
    Nước trôi nguồn nước lũ xuống phăng phăng
    Những bận nào mịt mùng mưa gió ướt
    Đẫm thân mình co rúm lạnh như băng
    *
    Em nhớ hay không? hồn hoa dại cỏ
    Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya
    Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ
    Gió cây rung trút lá mộng tan lìa
    *
    Nhưng từ nay Giáp Nam anh đóng trại
    Cố định rồi - em khỏi ngại ngày đêm
    Dưới nắng mưa tha phương du mục mãi
    Cay đắng từng, bùi ngọt mặn mà thêm
    *
    Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện
    Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi
    Khoanh mấy vòng tay anh thoăn thoắt bện
    Vòng cho em từng chiếc sắp xong rồi
    *
    Chiều đã xuống em đà no nê chắc
    Huýt tù và! em xúm xít lại anh đeo cho
    Mỗi chúng em mỗi vòng mây mỗi sắc
    Lại mau đây! to nhỏ cổ anh so
    *
    Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm
    Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
    Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
    Này em Hoa Cà hỡi! chiếc nâu
    *
    Ngẩng đầu lên! dê ơi anh thong thả
    Đeo vòng vào em nghển cổ cong xinh
    Ngẩng đầu lên! đây lòng anh vàng đá
    Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên
    *
    Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ
    Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi
    Trao người em trăm năm lời ước thệ
    Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi
    *
    Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc
    Dành riêng mình - Dê hỡi hiểu vì sao ?
    Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết
    Gán đời mình trọn kiếp với Dê Sao
    *
    Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng
    Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa ?
    Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng
    Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa
    *
    Và giờ đây một lời thề đã thốt
    Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta
    Cao lời ca bê hê em cùng thốt
    Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha
    *
    Và giờ đây hoàng hôn mờ trĩu nặng
    Bốn bề tràn lan bóng mịt mùng sa
    Xếp hàng ngay nhanh lên hàng ngũ thẳng
    Rập ràng về bế hế rập ràng ca.


    Bùi Giáng - (Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi
    Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú )

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied


    MỘ BÙI GIÁNG

    TRẦN CÔNG NHUNG


    Mộ Bùi Giáng và “bức tường lưu niệm”

    Đối diện nghĩa trang chùa Quảng Bình, nơi an nghỉ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có mộ thi sĩ Bùi Giáng, chếch về phía tay phải vài chục mét. Mộ họ Bùi cũng nằm chung trong khu nhiều mộ khác. Nhưng "vóc dáng" mộ của nhà thơ khác xa mộ nhà soạn nhạc. Nếu mộ của Trịnh Công Sơn hòa vào thiên nhiên thì mộ Bùi Giáng lại nằm trong kiến trúc xây dựng.

    Khuông viên mộ không lớn, giới hạn bời bờ xây thấp bằng hai lớp đá láng mặt. Mộ khối chữ nhật cao 50cm, đá ốp lát bên ngoài, trên nóc khoét lỗ tròn đường kính gần bằng bề ngang của mộ, trồng lơ thơ mấy cây hoa. Thường người ta chừa một khoảng trống dài để trồng cỏ hay đổ sỏi chứ không ai làm như vậy. Tôi liên tưởng đến ý niệm "trời tròn đất vuông", có phải càn khôn thu cả vào đây chăng.

    Góc trái trên đầu mộ, có tượng bán thân của nhà thơ đặt trên bục xi măng cao, khắc mấy dòng:

    Thi sĩ Bùi Giáng
    Nguyên Quán: Vĩnh Trinh Duy Xuyên Quảng Nam,
    Sinh năm Bính Dần 1962,
    Tạ thế 17 - 8 - Mậu Dần (7 - 10 - 98) hưởng thọ 73.
    Các anh chị em. Bà con Bùi Tộc Vĩnh Trinh và các thân hữu đồng lập mộ

    Bức tượng rất nghệ thuật, thể hiện được khuôn mặt đặc biệt nghệ sĩ của Bùi Giáng. Phông tượng là một tấm đá mài màu chu có bài thơ nét chữ của Bùi Giáng:

    Thần Tiên trên núi
    Đùa với tuyết
    Rỡn với vân
    Một mình nhớ mãi
    Gái trần gian xa
    Sương buổi sớm
    Nắng chiều tà
    Trăm năm hồng lệ
    Có là bao nhiêu.

    Tôi thích màu da chu của tượng, màu sét rỉ rất phong trần, màu của gió mưa lang bạt, mặc dù suốt đời ông chưa hề có chuyến đi xa:

    Hỏi rằng quê quán nơi đâu?
    Thưa rằng tôi ở bấy lâu quê nhà.

    Một bức tường cao, chạy hết chiều ngang khuôn viên mộ, kết bằng những tấm đúc mỏng như ván, theo dợn sóng chứ không phẳng mặt, gắn nhiều miếng marble mang những dòng lưu niệm của thân hữu, của khách thăm. Tôi cố đọc một vài mà không nom rõ, chữ nhỏ, không màu nên chẳng phân biệt được gì. Theo thiển ý, lối thiết kế có hơi lạ nhưng rườm rà, thô cứng, mọi thứ như để đóng khung, giam giữ hồn nhà thơ.

    Cuộc đời Bùi Giáng, về cuối, rất ngang tàng, rất nhiều giai thoại. Từ những chuyện quanh mối tình của ông với kỳ nữ Kim Cương, đến những chuyện ông lang thang ngoài đường...nghe mà cười ra nước mắt.

    Họa sĩ Hồ Thành Đức có lẽ là người biết rất nhiều về nhà thơ trong giai đoạn "hậu giải phóng". Anh kể:

    Huy Cận, Thứ Trưởng bộ văn hóa, có bài thơ được Bùi Giáng sửa lại khi mang ra giảng dạy. Huy Cận biết được, phục tài sửa thơ của họ Bùi nên lúc vào miền Nam đã cho người tìm Bùi Giáng để thăm. Nhưng, sau 75 Bùi Giáng đã thành "Chủ Cái Bang", biết đâu mà tìm. đến nhờ họa sĩ Hồ Thành Đức, bởi sau 75 nơi ở của họa sĩ xem như chỗ vãng lai của nhiều nhân vật văn nghệ miền Bắc. Anh Đức chạy kiếm nhà thơ và khuyên ông: "Anh à, đến thăm ông Thứ Trưởng, anh phải ăn mặc cho đàng hoàng, về nhà em tắm rửa rồi lấy áo quần em thay". Bùi Giáng không nghe cứ mặc nguyên áo quần rách rưới hôi hám, ai đời quần xà lỏn mà thắt cà vạt, lại tòn ten trên người lon hũ linh tinh. Lúc đến dinh ông Thứ Trưởng, người bảo vệ không nhịn được cười và sau một hồi hạch hỏi anh ta bảo với nhà họa sĩ:
    - Giờ này ông Thứ Trưởng đang ngủ, ông không thể vào được.
    - Không phải tôi mà ông này.
    - Ông này là ai?
    - Ông này là Bùi Giáng, bạn ông Thứ Trưởng, ông Thứ Trưởng có dặn bất cứ lúc nào đến ông cũng tiếp. Nếu anh không cho ông này vào thì anh ráng chịu.
    Anh bảo vệ đành phải đi báo, và Huy Cận ra tận cửa đón Bùi Giáng, nhưng thoạt nhìn đã phải quay đi vì không thể nhịn được cười. Huy Cận gọi nhà thơ là Tiên Sinh, chuyện vẫn thân mật. Cuối cùng ông hỏi Bùi Giáng:
    - Tiên Sinh có cần giúp đỡ gì không xin cho biết?
    Bùi Giáng nói như thật:
    - Ông Thứ Trưởng giúp cho mấy chữ để tôi trình công an chớ họ gặp là đánh tôi bầm mình bầm mẫy.
    Huy Cận viết cho Bùi Giáng mảnh giấy đại ý: Nhà thơ Bùi Giáng, bạn tôi, ông ta có tính hay đi thang lang, các anh em công lực thông cảm giúp đỡ. Mảnh giấy như lá bùa hộ mệnh, anh Đức bảo đưa photo để cất bản chính, nhưng Bùi Giáng không chịu. Mấy bữa sau, gặp lại, anh Đức hỏi:
    - Sao công an còn khó dễ với anh không?
    - Nó vẫn đánh tao hộc máu.
    - Sao không trình giấy cho họ?
    - Thì tao chưa kịp lấy ra nó đã đánh rồi.
    Giấy cũng mất, anh Đức lại đèo nhà thơ đến thăm ông Thứ Trưởng lần nữa.

    Người ta đồn rằng có hôm nhà thơ lang thang trên phố Lê Lợi, gặp một phụ nữ người Âu, ông thản nhiên bóp vú cô đầm, công an can thiệp, ông nói như không có gì: "Tôi chỉ muốn thử hai bầu vú Liên Xô có còn nuôi nổi Việt Nam không". Một lần khác trong chợ An Đông, ông giật một chiếc ghi đông xe đạp của bà bán dạo trên hè. Bà hàng đuổi theo bắt, ông trả lại và nói:
    "Mất cả nước thì không la, mất cái ghi đông la oai oái"!
    Chuyện điên của Bùi Giáng có thể viết thành cuốn sách dày...

    Thế nhưng một lần ngồi với anh em văn nghệ Sài Gòn (2005), nhà thơ Huy Tưởng lại bảo: "Bùi Giáng điên mà khôn tổ mẹ, mỗi lần đến quán mình chưởi bới, bà xã mang ra mấy chục (nghìn), nói nhỏ: "Anh cầm đỡ đi uống cà phê", vậy là êm. Có lẽ khi tỉnh khi say. Thực ra, không một thiên tài nào mà tránh được miệng thế gian này. Nói chung, cuộc đời và cuộc sống như Bùi Giáng cũng hiếm lắm".

    Hai nghệ sĩ Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng, lúc sống cũng là chỗ dao du thâm tình, trong nhạc của người này có thơ của người kia:

    Anh Sơn vô tận bấy chầy
    Tôi từ lẽo đẽo tháng ngày trải qua
    Niềm thống khổ đứt ruột rà
    Còn chăng? chỉ một ấy là là chi
    Bùi Giáng

    Trịnh Công Sơn làm bài "Con Mắt Còn Lại", có một câu trong bài thơ "Mắt buồn" của Bùi Giáng: "Còn hai con mắt, khóc người một con".

    "Em đi bỏ lại con đường
    Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em

    ...Còn hai con mắt khóc người một con
    Còn hai con mắt một con khóc người"

    Ngày Bùi Giáng qua đời Trịnh Công Sơn có ghi vào sổ tang của Bùi Giáng tại chùa Vĩnh Nghiêm:


    Bùi Giáng Bàng Dúi Búi Giàng
    Ô hay trăm ngõ bàng hoàng lỗ không
    Lỗ không trời đất ngỡ ngàng
    Hóa ra thi thể là ngàn hư vô
    Nhớ thương vô cùng là từ
    Là từ vô tận ứ ừ viễn vông
    Trịnh Công Sơn - 1998

    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 10-11-2010, 01:24 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    "BÙI GIÁNG ĐIÊN VÌ ÔNG QUÁ TỈNH"



    Thanh Hải

    Chàng "trung niên thi sĩ" ra đi đã lâu nhưng đây đó vẫn còn những giai thoại. Hình ảnh một "thi sĩ lập dị" vẫn không phai mờ trong lòng nhiều độc giả. Nhiếp ảnh gia Lâm Ngọc Duy kể về "niềm hạnh phúc nhất của cuộc đời" khi gặp Bùi Giáng.


    Giấc mơ thành hiện thực

    Vì hoàn cảnh nhưng cũng là một cơ duyên, năm 1980 ông Duy rời Đà Lạt xuống Sài Gòn, đem theo đứa con gái nhỏ sống vất vưởng dọc vỉa hè. Hai cha con tứ cố vô thân, không nhà cửa, hằng ngày ông Duy phải đi chụp ảnh dạo dọc đường phố Sài Gòn tìm miếng cơm, bát cháo lay lắt sống qua ngày.
    Một thời gian sau, ông Duy may mắn gặp được nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh. Hai người trở thành bạn thân, từ đó ông Duy thuê phòng trọ và được nhận vào làm trong Ảnh Viện Đống Đa trên đường Trương Minh Giảng.





    Thi sĩ Bùi Giáng (Ảnh: Lâm Ngọc Duy)



    Một hôm ông đi qua bùng binh Trương Minh Giảng, thấy một ông già đang nhảy múa, xung quanh con nít vây xúm rất đông. Cũng hiếu kì nên ông chạy lại xem, ngó chừng dung mạo thấy giống Bùi Giáng được nghe qua lời kể của bạn bè, ông Duy liền hỏi: "Xin lỗi! Có phải ngài là Bùi Giáng không?". Ông già nhướng mắt nhìn và hỏi lại: "Sao anh biết ta?". "Dạ, con là độc giả của ngài đây, hâm mộ ngài đã từ lâu nay mới được gặp, thật là một cơ duyên!".
    Bùi Giáng rẽ đám trẻ con ra, cầm tay ông Duy kéo vào một con hẻm nhỏ trên đường Trương Minh Giảng. Tại đó hai người chuyện trò và Bùi Giáng đã chép thơ lên vỏ bao thuốc lá tặng ông Duy. Bài thơ chỉ có một câu: "Chép lời bờ cỏ ra hoa".
    Nhìn câu thơ mà ông Duy vui mừng khôn tả, thấy thơ lạ nên ông Duy hỏi: "Thơ ngài quả là siêu phàm, con không hiểu được ý thơ?", nghe Bùi Giáng giải thích ông Duy lại càng kính nể và vui mừng hơn (nhưng vì lí do cá nhân nên ông Duy không kể lại lời giải thích của Bùi Giáng).

    Theo dòng ký ức


    ]"]WordPress.com

    Lâm Ngọc Duy (Ảnh: NLĐ)

    Nghe Bùi Giáng giải nghĩa câu thơ xong, ông Duy chở "ngài" trên xe đạp dạo quanh Sài Gòn". Lúc nào bên mình ngài cũng có bầu rượu và túi thơ như thế. Và cứ khoảng 200 mét, Bùi Giáng lại bắt ông Duy dừng lại, tạt vào lề đường làm mấy hớp rượu rồi mới chịu đi tiếp. Đến ngã ba, ngã tư có khi ngài lại xuống đường làm cảnh sát giao thông, chỉ đường cho xe cộ đi lại! - ông Duy kể".
    Sau cả ngày "du ngoạn" Bùi Giáng cho ông Duy địa chỉ nhà và dặn: "Anh muốn tìm ta thì đến đường Lê Quang Định, cứ hỏi nhà của ông già điên thì ai cũng biết, đến mà thấy ta bệnh thì ghé chơi, còn ta khỏe thì im lặng mà về, ta không tiếp" (những lúc bệnh là lúc ông ca hát, nhảy múa, làm cảnh sát...). Chiều tối ấy, hai người từ giã nhau ra về, ông Duy còn vui mừng lắm khi kể với chúng tôi ngày kỷ niệm đó.
    Cách ít lâu sau, ông Duy có đến tìm nhà Bùi Giáng mấy lần, nhưng không lần nào gặp được. Người ta bảo: "Hôm nào ông cũng đi từ lúc 3 giờ sáng, có khi cả nửa tháng mới về nhà". Rồi một bận ông Duy đi sớm. Lần đó ông mang theo bộ tách trà nhỏ với hai cái bánh pía và gặp được ngài trong một quán cà phê ở cuối con hẻm. Thấy ông Duy, Bùi Giáng lên tiếng hỏi: "Sao anh biết ta ở đây?", "Dạ, con đi tìm ngài mấy bữa nay mà không gặp, hôm nay đi không ngờ lại tìm được ngài".
    Tại quán cà phê đó, ông Duy pha trà mời, Bùi Giáng cúi xuống rồi đưa tay cao quá đầu nhận trà một cách lễ phép, còn húp cả những giọt trà rơi xuống bàn. Cử chỉ của thi sĩ Bùi Giáng làm ông Duy nhớ mãi không quên. Bộ tách trà uống cùng Bùi Giáng hôm đó, đến bây giờ ông Duy vẫn giữ và trân trọng.
    Rời quán cà phê, hai người dắt nhau qua chùa Liên Ứng, tại đây ông Duy đã chụp những bức ảnh đầu tiên về Bùi Giáng.
    Ngài lại làm thơ tặng ông Duy. Bài thơ không đề có đoạn viết:

    "Tăng thanh đầu ngọn yêu đào
    Hắc phong hải ngoại tự trào hoàng hôn
    Chẻ hai mảnh giấy vô hồn
    Lầm sương lạc tuyết là cồn điếu tang
    Còn nguyên phố thị hội đàm
    Với trăng châu thổ muôn vàn dưới kia".

    Phía dưới có ghi "Thân tặng Lâm Ngọc Duy, người bạn Quảng Ngãi (tôi bạn Quảng Nam), kí tên Bùi Giáng".

    Vào cuối câu chuyện, Bùi Giáng đề nghị: "Anh đưa ta về thăm nhà anh, ta ở lại một đêm mai đi chơi tiếp". Ông Duy ở trọ trong căn nhà lá nhỏ, chỉ có một chiếc giường, đêm hôm ấy ông Duy mời thi sĩ lên giường ngủ. Bùi Giáng không chịu: "Ta nằm dưới đất quen rồi, anh để ta ở đây thoải mái hơn".
    Bùi Giáng tiếp: "Anh có làm thơ không? Cho ta coi?". Đọc xong, Bùi Giáng khen hay và nói: "Hay anh in chung với ta một tập đi?", ông Duy khiêm nhường trả lời: "Tôi chỉ đáng xách dép cho ngài sao lại ngồi chung chiếu với ngài được".

    Hai lần gặp "một đời" nhớ

    Sau đêm đó, Lâm Ngọc Duy không được gặp lại cho đến khi Bùi Giáng qua đời. Thế nhưng những kí ức về thi sĩ Bùi Giáng đến nay và suốt đời sẽ còn in đậm trong tâm trí ông. Những bài thơ ghi trên giấy vụn, những tách trà xưa uống chung nhau, những bức hình Bùi Giáng, những tập thơ, truyện dịch của Bùi Giáng đến nay ông Duy vẫn còn lưu giữ, tất cả được ép, được đóng khung và trưng trong tư gia một cách trang trọng.

    Ai đó có dịp qua Đức Trọng (Lâm Đồng) nhớ ghé nhà Lâm Ngọc Duy. Một căn nhà gỗ nhỏ nép giữa vườn cây cảnh và hoa, hằng tháng ở đây vẫn có những đêm thơ, hằng năm vẫn có những lần giỗ Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn và đặc biệt là được nghe ông kể về những kỉ niệm của ông với "Trung niên thi sĩ", "Trịnh nhạc sĩ".
    Cuối cuộc trò chuyện, chúng tôi hỏi ông Duy về những nhận xét riêng của ông đối với Bùi Giáng (về cuộc đời, con người cũng như thơ của ông), ông Duy trả lời: "Ngài là một Bồ Tát nghệ Sĩ, người ta cứ nói là Bùi Giáng điên, nhưng tối thấy ngài không điên, họ nói vậy vì họ không biết, Bùi Giáng điên vì ông quá tỉnh!".

    T.H.
    Đã chỉnh sửa bởi hoangvu; 20-10-2020, 04:40 PM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    TƯNG TỬNG QUẢNG GẶP TƯNG TỬNG HUẾ



    Trần Kiêm Đoàn


    Huế là kinh đô của vương triều nhà Nguyễn, nên Huế phải khác thường. Tâm lý "Đế đô" là tâm lý sang cả, đài các. Ăn thì phải ăn nhiều món, chuẩn bị cầu kỳ -- Dẫu là muối bảy món -- Mặc thì phải áo dài lượt là lượt khi ra đường; dẫu là gánh chè bán dạo, áo vá bạc màu. Nói thì phải nói cho sang, chữ nghĩa thưa bẩm đúng trật tự, không cong đuôi cụt đầu, dẫu có mắng nhiếc ai nặng lời thì cũng phải có vần có điệu phù hợp với bài bản.

    Cách biểu hiện tình cảm cũng phải đượm mầu quý phái. Có nghịch ngợm thì cũng phải chòng ghẹo "rím rím". Nghĩa là phải kín đáo, dẫu "có hoang chẳng giống người thường". Không nói toạc móng heo những ý tưởng riêng tư thầm kín mà nói ra nửa kín nửa hở. Khi cái trạng thái hư hư, thự thực, nói năng bóng bẩy, lời lẽ bốn phương, hiểu phương nào cũng đúng nầy mà đạt đến trạng thái thăng hoa nghệ thuật thì sẽ trở thành cái "tửng tửng" điển hình của Huế. Đây là cách kiểu nói ra hay biểu hiện thái độ một cách tự nhiên và tỉnh táo như đùa như thật; như nghiêm như trêu; như theo như chống...

    Trong thơ ca, nhất là thi văn xướng họa thì sự trêu ghẹo nhau bằng chữ nghĩa thường trở thành những màn chơi chữ đầy nghệ thuật thú vị. Kiểu nói tửng tửng nầy thật không ngờ lại chưa hẳn là sở trường của Huế. Một người bạn Huế, phóng một câu tuyệt tác tửng tửng đến nước nầy thì con dân văn bút nhà Huế chỉ còn nước sắp hàng một vỗ tay hoan hô:

    Dạ thưa xứ Huế bây giờ
    Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

    Dạ thưa, đó là Bùi Giáng, anh học trò trong Quảng ra thi của một thời Quốc Học...
    Mới nghe qua hai câu thơ đệ nhất tửng tửng nầy đã có người lên tiếng:
    - Nói chi lạ rứa hè! Sông Hương núi Ngự thì muôn năm vẫn là sông núi cũ chứ có bò đi mô mà phải tìm kiếm! Nói theo kiểu ni thì có khác chi nói lại rằng:

    Dạ thưa cái cổ đã lâu
    Vẫn còn dính với cái đầu, hai vai

    Có những chân lý thị hiện hằng ngày đâu cần tìm kiếm. Nhưng sự nghịch lý của đời nầy là càng hiện rõ chừng nào, càng khó thấy chừng đó. Như lý thuyết nhà Phật thường nhấn mạnh chân tâm Phật tánh ở ngay trong mỗi con người, nhưng có được bao nhiêu người tìm ra được. Sông Hương Núi Ngự đi qua ngày hai buổi nhưng mấy người chịu lắng lòng để nghe câu chuyện dâu bể của dòng sông; mấy người nghiêng mình vào cõi vô trú để nhìn ra dáng vẻ đầy uy vũ muôn trùng của ngọn núi.


    ]"]Link
    Đập đá Huế




    Cái nhìn của Hàn Mặc Tử là cái nhìn quá tĩnh lặng và xuyên suốt bản chất mới thấy được "Nắng hàng cau" nơi thôn Vỹ Dạ. Cái nhìn của Bùi Giáng là cái nhìn bão nổi trong cảm xúc và uyên thông trong trí tuệ mới thấy được trái tim của Huế. Bao nhiêu thế hệ đã đi qua. bao nhiêu nguy biến đã dập vùi mà "Vẫn Còn". Căn tính chưa lụi tàn, thể tính chưa phôi pha nên vẫn còn, vẫn còn và vẫn còn... Vẫn còn Núi Ngự bên dòng sông Hương. Huế vẫn còn là Huế.

    Một thời, có ai nói đến thơ xưa, thơ mới, thơ siêu thực, thơ tượng trưng, thơ nguyên tử... tôi lại lan man nghĩ đến Bùi Giáng với Mưa Nguồn và những bài thơ đăng rải tác đâu đó trên các sách báo miền Nam thời đi học. Có lẽ tại tôi mê chuyện kiếm hiệp nên thích những mẫu người kỳ lạ hơn là nghiêm túc nghĩ đến văn chương.

    Điều tôi thích nhất ở Bùi Giáng không phải là những vòng hào quang cũng như gai góc mà người đời đã không ngớt mang tặng cho ông. Tôi thích nhất ở Bùi Giáng là thái độ rong chơi của ông trong thi ca tư tưởng. Ông nói chuyện triết học cao siêu dễ dàng và cà rỡn như nói chuyện Tấm Cám và nói chuyện Tấm Cám xa vời như tư tưởng của Kant, Nietzsche, Heidegger. Đọc sách của ông rất khó phân biệt được biên giới giữa thi ca và triết học. Ông bàn về chuyện triết học như làm thơ và làm thơ như chuyện đùa giỡn. Bùi Giáng là người làm xiếc trong ngôn ngữ với một “bút-pháp-không-bút pháp”. Thơ ông đầy những từ đẹp như hoa gấm, những câu tuyệt bút, nhưng cũng không thiếu những chữ đệm “tầm ruồng” (chữ của chính Bùi Giáng), những câu khó hiểu, những ý mờ mờ nhân ảnh, nên rất dễ làm hoa mắt những đầu óc quá thông thái mà thiếu cái Tâm thoáng đạt, hồn nhiên, chất phác; thậm chí... quê mùa!

    Khái niệm cổ điển lập ngôn, lập thuyết hay “văn dĩ tải đạo” trong sáng tạo văn chương có vẻ không hợp như những chiếc áo thụng xanh đỏ rộng thùng thình trên tấm thân gầy guộc của Bùi Giáng. Ông đã bứt phá những vòng trói buộc nghìn năm của những thước đo, những “râu mép” (Road Map) làm khuôn vàng thước ngọc cho đường bay sáng tác thi ca: “Thơ tôi làm... là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thóat ra phá vòng vây...”

    Bởi vậy, trong Thi Ca Tư Tưởng ông đã “báo động” cho các bậc học giả và giả học rằng:
    “Thơ tôi làm ra là để tặng chuồn chuồn châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi.”

    Trong suốt nửa chiều dài của thế kỷ nầy, cả trong nước lẫn ngoài nước, đã có quá nhiều bài viết về Bùi Giáng. Hay ho cũng lắm mà tào-lao-luận ba hoa chích chòe cũng nhiều. Dường như ai cũng cố vẽ ra một Bùi Giáng, muốn biết một Bùi Giáng thật sự, nhưng hầu như tất cả các cây bút đều ngại ngùng, lúng túng trước một khối lượng tác phẩm “khó tiêu hóa” quá lớn và một bút pháp lắt léo, quanh co, bay lượn của một “tay phù thủy ngôn ngữ” như ông. Thế nhưng, sau những trận mưa tắm gội ngôn ngữ của người đời dành cho Bùi Giáng, người ta đành chào thua trong cố gắng nhằm phân tích “phức liệu Bùi Giáng” để trả Bùi Giáng về lại Mưa Nguồn của chính ông. Khổ nổi là chưa bao giờ thấy Bùi Giáng lên tiếng phân bua hay cãi chính về những khen chê của người khác dành cho mình. Và càng im lặng, ông càng nổi tiếng. Xung quanh Bùi Giáng nổi lên quá nhiều giai thoại. Những giai thoại cứ xoắn riết ông từ lớp nầy đến lớp nọ; trong khi Bùi Giáng vẫn tiếp tục sống lang thang lây lất, ăn bụi, ngủ hè, bị gậy, áo rách quần xài, khi ẳm chó, khi ôm mèo, đánh bạn với thú vật, muông cầm, cây cỏ, loanh quanh các nẽo đường gió bụi Sài gòn.

    Có thể nói Bùi Giáng là một hiện tuợng thi ca, văn học lạ lùng nhất của Việt Nam thời cận đại. Lạ lùng như một dấu hỏi - vẫn còn mãi là một dấu hỏi nơi ông:

    Hỏi tên rằng biển xanh dâu
    Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa
    Gọi tên rằng một hai ba
    Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm


    Bùi Giáng đã trải qua một cuộc rong chơi tận tình, chất ngất trong tư tưởng và giữa cuộc đời. Ông sinh năm 1925 tại Quế Sơn, Quảng Nam, đã từng đặt cho mình nhiều bút hiêu khác nhau: Báng Giùi, Bùi Báng Giúi, Búi Bàng Giùi, Vân Mồng, Trung Niên Bùi Thi Sĩ, Thi Sĩ Đười Ươi, Bùi Brigitte...

    Bùi Giáng học trường Quốc Học Huế và đột nhiên bỏ học vì lý do, theo lời ông trong tác phẩm Đi Vào Cõi Thơ, là bị “chấn động dị thường” bởi vì tập thơ Lửa Thiêng của Huy Cận. Ông bỏ học về quê chăn dê và đọc sách. Từ đó, ông trở thành một học giả uyên bác hầu như “vô sư tự ngộ”, tự đọc sách , tự học hỏi mà khai phá trí tuệ giống như thiền sư Huyền Giác ngày xưa đọc kinh Duy Ma Cật mà “phát sinh tâm địa”. Đây cũng là khởi điểm cho Bùi Giáng suốt đời âm thầm đi trên con đường tư tưởng đôc đáo và riêng biệt của mình.



    ]"]Link
    Trường Quốc học.





    Tập thơ đầu tay của Bùi Giáng là tập Mưa Nguồn xuất bản tại Sài gòn năm 1962 và tập thơ cuối cùng là tập Đêm Ngắm Trăng xuất bản năm 1997. Trong cuộc hành trình 35 năm đó, Bùi Giáng đã càng ngày càng chứng tỏ ông là một người nghệ sĩ với dáng dấp tàng tàng, lọt tọt (chữ của Nguyễn Hàn Thư) đi rong chơi khắp muôn vạn nẽo trong cõi thơ.

    Thơ của Bùi Giáng thường không dễ hiểu, nhưng rất dễ ngấm mà những đầu óc "ngầu" chữ nghĩa thích gọi là “trực cảm nguyên ngôn” hay gì gì đó... Thử đọc và “ngấm” một khúc “Ly Tao” của ông:

    Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ
    Và yêu thương như lá ở bên hoa
    Và luyến ái như tơ vàng bốn ngã
    Bủa vi vu như thoáng mộng la đà

    Lần đi từ điểm khởi phát của Mưa Nguồn và của Ly Tao là một gã trai quê chăn bò trên vùng quê hẻo lánh xứ Quảng. Thuở đó, tâm hồn Bùi Giáng đầy cây lá và những cảm xúc nhân ái, chân thành. Tâm thức ông tan loãng, hòa nhập với thiên nhiên cỏ nội hoa đồng:

    Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
    Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
    Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
    Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
    Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
    Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
    Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lã
    Anh lim dim cho chết lịm hồn mình
    (Anh lùa bò... Mưa Nguồn, tr153)

    Và có chăng tình yêu ngày đó với cô gái quê bên bờ cỏ mượt thì cũng chỉ là những xao xuyến buổi đầu đời. Rồi tình yêu đó cũng chỉ là những cảm xúc rất vi vu và hư ảo, không đậu lại trên một thân xác nào có thật màrong chơi theo ông, rồi “tan đi trong hố thẳm chôn vùi”:

    Nhìn em nhé bên kia bờ gió thổi
    Lá xanh vườn theo cỏ mượt ngân nga
    Tơ vi vút một đời thương nhớ tuổi
    Của trăng rằm xuống dọ dẫm bên hoa

    Khung cảnh ấy nằm sâu trong đáy mắt
    Có lệ buồn khóc với lệ hòa vui
    Để tràn ngập hương mùa lên ngan ngát
    Rồi tan đi trong hố thẳm chôn vùi
    (Bờ nước cũ. MN, tr 49)

    Hình như giữa cuộc rong chơi, Bùi tiên sinh có lúc dừng lại để ngắm cái đẹp, chiêm nghiệm cái đẹp, cảm thụ cái đẹp một cách rất chi là não nùng trang trọng:

    Anh quỳ xuống giơ hai tay bệ vệ
    Chỉ xin nâng một giọt lệ êm đềm
    (Tự hỏi vì sao)

    Em đi đắm đuối tấm lòng
    Có bao giờ biết người trăm năm buồn
    (Tỉnh mê)

    Anh sẽ khóc suốt thiên thu tình lụy
    Của vấn vương tình nghĩa nặng muôn nghìn
    (Vì có lẽ)

    Tuổi thơ em có buồn nhiều
    Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua
    Mưa có lạnh nhưng chân trời còn mãi
    Những giọt suơng là lệ ở trong mây
    Giòng sông đi cho nước nói ngàn ngày
    Bằng biển rộng không bến bờ em ạ


    ]"]Link

    Cố thi sĩ Bùi Giáng



    Rồi Bùi Giáng tiếp nối cuộc rong chơi. Trái tim ông cũng rất “lăng loàn” khởi phát từ bản chất đa tình nghệ sĩ. Đa tình nhưng lại không đa lụy vì ông vẫn mãi sống một cuộc đời độc thân rong ruổi. Nhưng ông vẫn sống miên man trong cái đẹp thác ngàn của Thúy Kiều, của Kim Cương, của Marilyn Monroe, của Brigitte Bardot, của cô Mọi Nhỏ bên rừng Phi Châu... Nàng thơ, nàng Ly Tao trong thơ Bùi Giáng thường có một vẻ rờn rợn liêu trai, toàn là cõi mộng, cõi tưởng, cõi vi vu đầy mê hoặc:

    Em đã lại với đời về nắng ấm
    Thắm không gian thương nhớ bóng hình em
    Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm
    Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm
    Em có nụ cười buồn buồn môi mọng
    Em có làn mi khép lá cây rung
    Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
    Hồ gương ơi! Sao sóng lục vô chừng
    Em ở lại với đời ta em nhé
    Em đừng đi. Cho ta nắm tay em
    Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
    Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm

    Từ tập thơ đầu, Mưa Nguồn, đến những tập thơ sau như Lá Hoa Cồn, Mùa Thu Thi Ca, Ngày Tháng Ngao Du, Sương Bình Nguyên, Trăng Châu Thổ... là cả một đoạn đường dài rong chơi, đùa cợt, cù cưa bất tận của Bùi Giáng với ngôn ngữ thi ca. Đến Đêm Ngắm Trăng với 227 bài thơ, phần lớn là lục bát, sau cùng trong cuộc rong chơi của Bùi Giáng thì rõ ràng Lão Thi Sĩ đang “nói lục bát” một cách tự nhiên, dễ dàng, khề khà, “tồn hoạt chịu chơi” như những ông già đang ngồi vuốt râu nhâm nhi vài xị đế. Ông nói về “dzách” (thùng cù lũ?):

    Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
    Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
    Đời xưa đất đá cằn khô
    Đời này đất đá đều đờ đẫn điên
    Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
    Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời
    Điên rồi rốt cuộc hỡi ôi
    Cũng đành chấm dứt lìa đời hết điên
    (Dzách. Đêm Ngắm Trăng, tr139)

    Càng điên điên ông càng “chịu chơi” tới cái mức “thần thông du hí”. Đã có hơn một đầu óc uyên bác đem cái lý thuyết biểu tượng, tinh thể và phá chấp ra để xào nấu những vần thơ sau đây. Nhưng riêng tôi thì lý thuyết nào cũng không thể áp dụng vừa vặn vào đây bằng lý thuyết “chịu chơi!”:

    Ông gieo vần điệu dã man
    Tờ điên hoa giậy lang thang lên mùa
    Ông buồn- quýt ngọt chanh chua?
    Còn cam còn bưởi còn xoài riêng đâu?
    Ông tìm kiếm suốt hương màu
    Thời gian tinh thể đi đâu mất rồi
    Ông ngồi suốt những canh thâu
    Nêu từng nghi vấn trình tâu với người
    Nguời từ vô tận chịu chơi
    Thần thông du hý chốn nơi nào là
    (Con vui vô tận. ĐNT, tr 145)

    Thật ra thì ngay giữa cuộc hồng trần nầy, Bùi Giáng sống cùng tận trong cái mơ mơ, màng màng thuần lý mang tính “đồng nam hiển thánh” (chữ của ĐS); nhưng chưa đến mức dám bức phá những hàng rào trói buộc hay những quy ước rất thường tình của con người trong cái hệ lụy nhân sinh:

    Anh uống rượu tới mê man khôn dọ
    Duỗi tay chân tại tâm điểm bụi đời
    Chiêm bao về ứng mộng giữa tuyệt vời
    Quần phong nhụy bất thình lình giũ trút

    Ôi mật ngọt ôi thiên đường bất chợt
    Hiện huy hoàng hiện thể suốt tâm linh
    Anh c hào em từ ảo mộng một mình
    Và dám chắc nhận nhìn rằng: anh hổng dám

    ...Anh bình tĩnh thưa rằng: anh hổng dám!
    Hổng dám đâu! Đâu hổng dám là đâu...
    (Hổng dám đâu. ĐNT, tr 149)

    Càng đọc thơ Bùi Giáng, tôi càng cảm thấy muốn khóc khi ông cười; và muốn ôm bụng cười khi ông khóc... có lẽ vì tôi chưa có một tí ti “chất nghệ sĩ Bùi Giáng” nào trong mình. Đọc bài thơ tự trào hết sức độc đáo và lạ lẫm của ông, tôi cứ ước chi mình có được một phần trăm cái “điên”và một phần mười cái “ngu sy” của Bùi Giáng để có thể có chút nào đồng cảm với ông chăng:

    Cuộc đời tẻ nhạt hôm qua
    Tới hôm nay nữa gọi là hôm mai
    Ba hôm cả thảy than dài
    Thấy thằng bùi giáng đêm ngày ngu sy
    Tháng tròn năm méo tý ty
    Tồn sinh lả tả từ ly cuộc đời
    Nó về tồn hoạt chịu chơi
    Nó đi suốt cõi chơi vơi hồng trần
    Nó từ vô tận mông lung
    Nó đi suốt kiếp trùng phùng thiên thai
    Giữa đêm thở vắn than dài
    Khóc hu hu nó khóc hoài trăm năm
    (Hôm Hôm. ĐNT, tr 150)

    Đến đây tưởng cũng nên làm sáng tỏ tại sao sẽ có rất nhiều người mơ ước có được một phần cái “ngu sy” của Bùi Giáng. Tôi xin được liệt kê lại một phần cuộc rong chơi của Bùi Giáng qua những tác phẩm đã được xuất bản của ông. Ngoài ra, tôi cũng như nhiều người có thể tin; mà cũng có thể không tin, những điều do người khác đã viết trên giấy trắng mực đen rằng, Bùi Giáng đã từng viết ra cả ngàn câu thơ trong một đêm...

    Sự rong chơi của Bùi Giáng trong ngôn ngữ và giữa cuộc đời vừa thâm trầm, vừa vui nhộn, vừa “bi... khoái” là vì ông không dè dặt, giữ gìn mà cố tình buông thả đi về lẫn lộn giữa những câu thơ khóc cười đầy uyên bác, trang đài, cổ kính xen với những từ, những câu đầy ngôn từ dân giã, bụi đời có khi đến mức giang hồ ngỗ ngáo, trần trụi. Vừa nói đến tâm sự mình một cách quý phái:

    Hồn du mục cỏ hoa mòn mõi
    Rừng đêm xanh trăng tạ không lời
    Vì hơi thở cũng sầu như lá úa
    Rớt lưng đèo bối rối lách theo lau

    ... ông “chuyển hệ” mượn lời người khác nói về cái điên của mình một cách thống khoái đầy “sáu Giáng”:

    Vợ chồng tôi lúc nào cũng nhớ anh
    Anh điên mà dzui – dzẻ thập thành
    Chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu

    Sự đùa bỡn với ngôn ngữ thi ca bằng cách sử dụng kiểu nói lái tinh quái của quê hương ông nhiều khi thô thiển một cách cụ thể chứ không bóng bẩy kiểu Hồ Xuân Hương. Người đọc rất thường gặp trong sách ông những cụm từ như: tồn lưu, tồn liên, liên tồn, lưu tồn, tồn lí tí ngọ, tồn lập tập trung, tồn lập tập họp... để đùa nghịch với triết học, nghịch với thi ca, nghịch với cuộc đời và nghịch ngay với chính bản thân ông:

    Lọt cồn trận gió đi hoang
    Tồn liên ở lại xin làn dồn ra...
    (Mưa Nguồn)

    Thời kỳ ông được coi là điên nặng nhất với lối sống kỳ dị thì cũng là lúc ông bơi trong “đại dương thi ca” để cho ra đời tập thơ Bài Ca Quần Đảo. Bùi Giáng làm thơ dễ dàng đến độ nhà văn Huỳnh Ngọc Chiến phải kêu lên rằng, “Đôi lúc chúng tôi có cảm tưởng rằng ông có thể đọc ngẫu hứng thơ lục bát từ sáng đến chiều mà không vấp... Ông làm thơ bằng tiếng Việt, tiếng Hán, thỉnh thoảng bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Ngôn ngữ đã nhập điệu trong ông như cây đàn trong tay người nghệ sĩ kiệt xuất. Chỉ ấn tay là thành giai điệu. Tự nhiên như nước chảy, mây bay mà chẳng có chút dụng công nào. (Thời Văn 19, tr 66)

    Cuối cùng của cuộc rong chơi, Bùi Giáng đã lặng lẽ bỏ mùa xuân của trần gian đi về cõi miên trường phía sau:
    Xin chào nhau giữa con đường
    Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

    ...và bỏ tất cả lại cho đời:
    Bỏ trăng gió lại cho đời
    Bỏ ngang ngữa sóng giữa lời hẹn hoa
    Bỏ người yêu bỏ bóng ma
    Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
    Bây giờ riêng đối diện tôi
    Còn hai con mắt khóc người một con

    Một buổi tối thứ Tư trên xứ Mỹ, tôi đang ngon trớn rong chơi với vườn thơ “tập cười” qua câu chuyện sinh điếu của cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy thì nhận được I-meo của Tà Thư báo tin Bùi Giáng vừa qua đời chiều hôm qua (7-10-98) tại Việt Nam. Tôi bỗng chững lại, quên hết chuyện cười, nhìn xuống thật buồn và cảm thấy một thoáng trống vắng. Những mệ, những ôn, những hoàng thân, tôn nữ một thời của Huế lần lượt vắng bóng, mang theo cái "tửng tửng" truyền đời như tiếng chèo đập nước trên sông lụi tàn sau tiếng máy dầu xình xịch.

    Và, con mắt trần gian cuối cùng đó giờ cũng đã vĩnh viễn khép lại.

    Sáng hôm sau, tôi bâng khuâng kêu một người bạn thân báo tin Bùi Giàng đã ra đi và tự nhiên đọc cho người bạn đó nghe hai câu thơ của Bùi Giáng đã làm tôi xúc động miên man trong những tháng ngày viết lách đùa nghịch với bạn bè:


    ]"]Link
    Mưa Huế





    Ta cứ ngỡ đùa vui trong chốc lát
    Nào ngờ đâu đùa mãi đến điêu linh

    Tự nhiên tôi rơm rớm nước mắt...

    Phía bên kia đầu dây, người bạn cũng lặng im đến nỗi tôi nghe cả tiếng sôi mơ hồ trong đường dây điện thoại. Trong một thoáng phù du đó, tôi biết là người bạn cũng đang rơm rớm nước mắt như tôi. Trên quê hương yêu dấu cái tửng tửng của Quảng đã gặp cái tửng tửng của Huế. Nơi quê người, nếu không không có cái tửng tửng mang theo, tiếng nói yêu thương của ngày xưa quê mẹ cũng sẽ chìm dần trong cổ tích.

    Trần kiêm Đoàn
    Đã chỉnh sửa bởi hoangvu; 20-10-2020, 04:39 PM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Công bố hai tác phẩm chưa in của Bùi Giáng

    Kỷ niệm 10 năm ngày thi sĩ Bùi Giáng đi vào cõi "ngàn thu rớt hột" (17.8 Mậu Dần - 17.8 Mậu Tý), gia đình thi sĩ đã cho xuất bản tập di cảo thứ 6 của ông. Đó là tập thơ Rớt hột phiêu bồng được in lần đầu bởi NXB Văn Nghệ.

    Tập thơ gồm 100 bài Bùi Giáng viết vào những năm cuối đời, báo trước ngày đi khỏi "mộng trường" dằng dặc, đúng kiểu của ông:

    "Anh sẽ chết như chưa bao giờ chết
    Anh sẽ về thăm viếng các em ôi
    Em khốn khổ như ngàn thu mỏi mệt
    Anh chào em, anh chết suốt thiên thâu
    Là chết giỡn cho vui chơi tuế nguyệt...".

    Quả thật, thi sĩ coi chuyện chết là "chết giỡn" chứ không phải "chết thật". Nên trong các bài thơ cuối cùng, viết về tuổi đời chồng chất như "non cao" và suối vàng thì đang trút nước, ông vẫn thản nhiên "mừng rỡ với lá cây" mà bước tới bên rừng. Rồi ông lại ngó qua phần số của người khác, lại thấy những người "em gái nhỏ" mai kia cũng sẽ phai tàn như hoa, nên ông viết bài Các em ôi, nói rằng các em "sẽ chết như anh" nhưng đừng lo, khi chết các em nằm cũng đẹp:

    "Một mai em sẽ lìa đời...
    Em đi em đứng em nằm
    Toàn nhiên em đẹp nguyệt rằm thiên thu...".

    Đọc mấy bài trong di cảo Rớt hột phiêu bồng, có thể thấy Bùi Giáng đã "chết giỡn", rất hợp với tinh thần "thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm" của Bát Nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh.

    Theo tinh thần đó, các chư pháp ở quanh ta như gió thổi, mây bay, núi cao, sông rộng đều là "không tướng" và con người thật ra cũng "không sanh không chết" như Bùi Giáng viết về sinh mệnh, về phong thái lộng lẫy của một "giọt sương đời":

    "Ông chúc phúc ngàn thu con rất đẹp
    Rất vui buồn với tình mộng chia xa ...
    Con sẽ đứng sẽ đi sẽ vùng vẫy
    Sẽ huy hoàng như một giọt sương sa...".

    Một giọt sương cũng huy hoàng nếu hiểu lẽ vô sanh. Nhưng một bầu trời xuân cũng sẽ âm u nếu con người cứ "trụ" vào cái ngã của mình mà đòi bất tử! Theo Bùi Giáng, con người như vậy thật đáng tiếc:

    "Anh tiếc lắm, tiếc cho em, em hỡi
    Tiếc tận cùng từ sa mạc thiên thu
    Anh gục đầu nhắm mắt khóc hu hu
    Rồi can lệ ngẩng đầu mắt ráo hoảnh...".





    Rớt hột phiêu bồng và Trường học đờn bà

    Vì sao vừa khóc "hu hu" xong, Bùi Giáng lại ngẩng lên "mắt ráo hoảnh"? Có lẽ với ông, khóc là khóc theo phàm tình, thương cảm, còn "ráo hoảnh" vì thấy sanh tử, mất còn, được thua, vinh nhục... chẳng có gì đáng cười đáng khóc. Phải chăng vì thế, Bùi Giáng đã im lặng, một mình sống trong đất địa của chơn tâm vào một ngày xuân của tỉnh giác:

    "Mùa xuân tao ngộ bất ngờ
    Ngồi im lặng viết bài thơ một mình".

    Cái tứ "vô sanh" ấy bàng bạc suốt trong Rớt hột phiêu bồng.

    Cũng trong dịp này, lần đầu tiên tác phẩm nổi tiếng L'école des femmes của André Gide do Bùi Giáng dịch dưới nhan đề Trường học đờn bà sẽ ra mắt độc giả cả nước. Dịch phẩm gần 350 trang này nằm trong di cảo Bùi Giáng, do NXB Văn hóa Sài Gòn ấn hành lần thứ nhất, với phong cách dịch "ngẫu nhĩ trùng lai" tuyệt chiêu của Bùi Giáng.

    Giao Hưởng

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    10 năm ngày mất thi sĩ Bùi Giáng (17.8 Mậu Dần - 17.8 Mậu Tý)

    Bùi Giáng có điên thật không ?




    Câu hỏi trên một lần nữa xin phép được nêu lên với anh Nguyễn Thanh Hoài - người cháu từng sống gần gũi nhất với thi sĩ Bùi Giáng trong những năm tháng cuối đời ông tại căn nhà nằm trong một đường hẻm thuộc Q.Bình Thạnh, TP.HCM.

    * Là người sống cạnh thi sĩ Bùi Giáng suốt 13 năm cho đến khi thi sĩ qua đời, hẳn anh biết rõ và nhớ rõ sinh hoạt thường ngày của tác giả Mưa nguồn ?

    - Vâng, tôi nhớ rất rõ về sinh hoạt thường ngày mà người trong nhà xem là có phần "bất thường" của ông cụ. Cứ mỗi sáng ông thức dậy rất sớm, khoảng 3 - 4 giờ, yên lặng ngồi thiền khoảng một tiếng đồng hồ. Sau đó ông bắt đầu lên tiếng, khi thì kể chuyện xưa, chuyện nay một mình, khi thì đọc dăm bài thơ với giọng sang sảng. Đôi lúc ông lại mắng này mắng nọ, to tiếng như để đánh thức cả nhà dậy cùng. Sau này có lần ông nói với tôi rằng ông không muốn mọi người "ngủ nướng", vì ông cho rằng bầu thanh khí dồn tụ ngẫu nhiên, đậm đặc vào buổi sáng sớm, không dậy mà hưởng thì rất uổng. Ông la hét một thôi một hồi rồi leo rào để đi ra đường. Thường thường nơi đặt chân đầu tiên trong ngày của ông là một quán cà phê "cóc" nào đó. Ông gọi cà phê đen để uống và để nhìn thiên hạ qua lại lúc đèn đường còn sáng cho tới khi mặt trời lên. Đó là thú vui không thay đổi của ông suốt mấy chục năm cuối đời.

    Những sáng sớm ấy, ông thường rủ rê con cháu đi theo, nhưng giờ đó còn quá sớm không ai đi được. Vì thế ông đơn độc ra đường, hễ uống xong ly cà phê là ông chuyển qua uống rượu và rong chơi khắp Sài Gòn bất kể mưa nắng. Ông đi bộ là chính, nhiều khi đi suốt ngày - nếu có về nhà cũng chỉ nghỉ chân một lát, sau đó lại tiếp tục ra khỏi nhà, là đà lãng đãng trên đường trong cơn nửa say nửa tỉnh. Khi nào về nhà, ông thường mang quà phân phát cho mấy cháu nhỏ trong nhà, cất những bài thơ đã làm, ăn qua loa vài miếng cơm, rồi... đi nữa! Nếp sinh hoạt đó cứ đều đặn lặp đi lặp lại cho đến khuya ông mới chịu dừng bước. Thông thường trước khi đi nghỉ, dầu nhâm nhi rượu trắng suốt ngày ông vẫn ngồi thiền khoảng một tiếng mới ngả lưng xuống giường. Còn như những lúc quá say thì "bạ đâu ông nằm đó", những lúc ấy gia đình phải ẵm ông vào phòng mới được.

    * Trong thời biểu rong chơi đó, có khi nào thi sĩ Bùi Giáng phá lệ để ở nhà khóa cửa phòng văn không ?

    - Dĩ nhiên, những ngày đau ốm ông không đi đâu được nên phải ở nhà. Song ông không ở "phòng văn" mà treo võng giữa hai gốc cây ngoài sân để đu đưa "thưởng thức cơn sốt mùa hè" đang nhập vào cơ thể. Một điều khá đặc biệt nữa là sinh hoạt rong chơi của ông như được diễn ra theo một chu kỳ riêng. Nếu đi rong chơi 2 tháng, 2 tháng tiếp theo ông chỉ ở nhà, không bước chân ra đường và không nói một lời nào với bất kỳ ai, dù là người trong nhà. Ông chỉ gật đầu khi đồng ý và lắc đầu khi từ chối điều gì. Ông im lặng, lủi thủi chăm sóc cây cối trong vườn. Một bữa, ông lấy đá khoanh một khoảng đất nhỏ để trồng rau muống, rau lang. Trong vườn có nhiều cây ăn trái như mít, xoài, mãng cầu, vú sữa, đều được ông nâng niu, chăm sóc kỹ lưỡng. Những giờ "rảnh rỗi" ở nhà, không phiêu bồng phố thị, ông lại lục lọi quần áo rách ra để khâu vá, hoặc giặt giũ áo quần, sắp xếp lại căn phòng bừa bộn.

    Ông rất thương những người bán ve chai, nên đi tới nơi nào ông cũng ngó quanh ngó quất xem có món nào người ta vứt đi để góp nhặt. Những thứ nào còn xài được, bán được, từ chai xì dầu đến miếng nhựa bên đường, ông đều lượm bỏ vào bao mang về nhà chất đó, đợi đến khi mấy cô mua ve chai đi qua nhà, ông gọi vào trân trọng đem ra tặng mấy cô ấy. Ông nói mấy cô ấy tuy số phận và công việc có cực nhọc, nhưng so với các nữ hoàng, các nàng công chúa, các tài tử xinê nổi tiếng như Marilyn Monroe, hoặc Brigitte Bardot, thì thân xác dung nhan có khác gì nhau?

    Cái tâm bình đẳng nơi ông không chỉ đối với tài tử giai nhân và những người đẹp ve chai trẻ già bé lớn, mà dường như hết thảy ai ai ông cũng xem như nhau, không phân biệt thành phần, tuổi tác. Đối với ai, ông cũng xem là "ngẫu nhĩ tồn sinh" nhất là khi uống rượu như ông từng hét trước sân nhà: Rồi đây tôi sẽ nhớ nhung. Cái ly rượu đế vô cùng trần gian. Có người vô tình hỏi ông uống suốt ngày làm chi vậy, ông khoa tay đọc mấy câu: Bấy nay gặp gỡ cười chào. Con đâu có biết cái đầu tiên ông. Nghĩa là ông rất phiêu bồng. Đầu tiên rất mực cuối cùng ông điên...

    * Như thế thì thi sĩ của chúng ta "điên rất là sáng suốt" chứ anh ?

    - Theo tôi, ông chỉ "điên" có lúc, có ngày... Mà thật ra, tôi nghĩ, trong thẳm sâu của đời sống thi ca và thực tế sinh hoạt thiền mỗi sáng mỗi tối của ông thì không thể nói là ông "điên" được. Là người sống gần gũi với ông từ năm 1985 cho đến khi ông qua đời, nên tôi biết nhiều chuyện riêng mà ông kể vào những lúc ngồi bên nhau và tôi rất quý trọng, rất thương ông.

    Có một lần tôi hỏi ông: "Cháu thấy bác còn tỉnh táo và khôn hơn người ta cả trăm lần nhưng ai cũng nghĩ bác "điên", cháu thấy bác "giả bộ" hay thật"! Nghe vậy ông đáp: "Tao là con trai cả ở trong nhà, nhưng vì mẹ tao làm vợ thứ, nên tao trở thành con thứ sáu, gọi là Sáu Giáng. Tuy thế, vì tao là anh cả nên trong nhà từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn, tụi nó đều bắt tao phải đứng ra giải quyết, nên chi thôi tao điên cho nhẹ người. Vì vô lẽ ăn rồi cứ đứng ra giải quyết ba chuyện trời ơi, đã điên thì làm sao mà đứng ra giải hòa cho được".

    Nói thì nói thế, chứ ông "điên" vì mọi người chung quanh và vì thế giới này còn có hằng hà sa số người "quá tỉnh" trong giấc mộng kim tiền, danh vọng. Tôi đã nghiệm ra điều đó sau khi đọc trong những bài thơ để lại chưa in của ông có bài nhan đề là Tôi. Bài này ông nói về cái điên của mình: Tôi nay bảy mấy tuổi trời. Mà điên chín chục tuổi đời tôi điên. Lúc đầu dạo dưới mái hiên. Lúc nằm ngửa lúc nằm nghiêng ngủ vùi.

    Cứ như bài ấy, ông bước ra đường phố, hoặc khi về nhà, ngâm nga ra vẻ điên, cười khóc ra vẻ mất hồn, nhưng có một con người mang "tâm thể" khác, một con người "không làm bạn với muôn pháp", vẫn từng phút từng giây ở trong ông và quan sát ông, nên ông đã tự viết về cái điên của mình như sau: Ngồi nhổm dậy, khóc sụt sùi. Trẻ con càng rũ rượi cười càng tăng. Rằng ông giả bộ đáng khen. Thật là giỏi lắm phải chăng già khùng? Qua những gì ông đã sống và tôi chứng kiến hằng ngày, cũng như qua những gì ông viết chưa in, còn để lại trong một valy đầy bản thảo, tôi có thể khẳng định rằng Bùi Giáng không quá điên như người đời vẫn nghĩ.

    * Trong valy bản thảo chưa in đó, gia đình định tiếp tục giới thiệu xuất bản ra sao trong thời gian tới ?

    - Thời gian đến, nếu điều kiện cho phép, chúng tôi sẽ giới thiệu những di cảo còn lại, bao gồm nhiều thể loại, trong đó có thơ với các tập do ông đặt sẵn nhan đề, như: Xin quên quá khứ; Trúc Mai; Thơ điên Bùi Giáng; Uống rượu gió mây; Tâm sự tuổi già; Thơ minh họa, Thơ Bùi Giáng. Số thơ chưa đặt tựa của ông để lại còn rất nhiều... Mong rằng sau những tác phẩm mới được công bố, bạn đọc sẽ hiểu sâu thêm về ông - một thi sĩ tự nhận mình vĩnh viễn trung niên và rong chơi mãi mãi...

    * Rất cám ơn anh.

    Tưởng niệm Bùi Giáng

    H.Đ.N

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Một Vài Kỷ Niệm Với Bùi Giáng

    Mai Thảo


    Thuở sinh tiền, khi nói đến thơ, nhà văn Mai Thảo thường nhắc nhiều đến Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng. Mỗi người một phong cách, nhưng theo Mai Thảo, đó là những “ngôi sao Bắc Ðẩu trên vòm trời thơ ca của ta”.

    Chúng tôi cho đăng lại bài viết này (Văn, số 26 tháng 8/1984, USA) như một hình thức tưởng nhớ đến một người yêu thơ rất mực: nhà văn Mai Thảo, và một người làm thơ tài hoa cũng rất mực: thi sĩ Bùi Giáng.

    Cả hai đã ra đi.

    Bên kia thế giới, có lẽ nhà văn Mai Thảo lại có dịp mời thi sĩ Bùi Giáng một chai bia lớn, và lại sẽ được nghe ông nói, bằng chất giọng Quảng Nam đặc sệt: “vui thôi mà”, như độc giả sẽ thấy, trong bài viết dưới đây.

    HỢP LƯU




    Nhiều buổi chiều Sài Gòn, tôi chẳng còn có thể nhớ đích xác vào những năm nào, đâu như năm 1962, đâu như năm 1965 (nếu sai, nhờ hai anh Cung Tiến, Phạm Công Thiện nhớ lại dùm cho), tôi thường được mời tới những họp mặt ăn nhậu trên căn lầu ngăn nắp, thoáng mát của thầy Thanh Tuệ ở đường Lý Thái Tổ. Mỗi họp mặt với Thanh Tuệ, hồi ấy là giám đốc của nhà xuất bản An Tiêm và còn là nhà sư trẻ tươi tắn chưa cởi áo hồi tục, thường vì một cuốn sách. Một cuốn sách mới, vừa in xong chưa ráo mực. Và trước khi gởi sách vào nắng mưa đời, họp mặt An Tiêm với thân hữu là một tiệc rượu lạc thành cho sách.

    Những họp mặt vì sách và do sách đó thường có tôi, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Công Thiện, đôi khi Nguyễn Ðình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, và đương nhiên nhân vật chủ chốt là tác giả sách là Bùi Giáng. Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ vì một tấm lòng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, chỉ in Bùi Giáng, dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản trưóc mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm in ngày, in mệt nghỉ, vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm, ngôn ngữ và tư duy của Bùi Giáng bấy giờ hiển lộng tới không bền không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy.

    Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương. Vậy mà mỗi lần gặp thi sĩ hồi đó, cảm tưởng bao giờ cũng giữ được là đã gặp một Bùi Giáng rất nhàn rỗi, rất rong chơi. Bước chân vào nhà Thanh Tuệ chúng tôi đã thấy Bùi Giáng ngồi trước đó, tươi cười, ung dung, trong cái phong thái của một người nhàn nhã nhất thế giới, chẳng có một dấu vết nào của một người viết đang gió táp mưa rơi trên ngàn ngàn trang sách. Có như Bùi Giáng trước sau vẫn đang chập chờn với đời như một cánh bướm, lững thững với đời như một áng mây. Có như Bùi Giáng, cái áo vải cũ, râu tóc để mặc, điếu thuốc trên tay, chén trà trước mặt, vẫn chỉ ngồi chơi thảnh thơi ngày ngày với An Tiêm như thế. Sau này, sống với Bùi Giáng nhiều hơn, tôi cũng chỉ thấy Bùi Giáng như hồi đầu thấy ở An Tiêm. Trong một phiêu hốt, một ung dung chưa từng thấy. Có như, trọn một đời cái đầu của thi sĩ không một chút nào dành cho suy nghĩ, bàn tay thi sĩ không một phút nào dành cho cây bút. Có như trang giấy trắng, mặt bàn viết là những vật thể xa lạ chẳng bao giờ ông biết tới. Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm gì hết, chẳng ai một lần nhìn thấy Bùi Giáng đang làm gì hết. Mà hoàn toàn phiêu bồng, hoàn toàn rong chơi.

    Vậy mà cái sức viết hồi đó đến như Bùi Giáng là tột đỉnh, là không tiền khoáng hậu. Vậy mà cái lực viết đến như Bùi Giáng và thấy Bùi Giáng là ngàn người không một, là phi phàm, là vô địch rồi.

    Một lần, tôi đem cái điều khó hiểu này ra hỏi một người cũng làm thơ thật nhiều, cũng làm thơ rất đều tay là Thanh Tâm Tuyền. Tác giả Liên Ðêm Mặt Trời Tìm Thấy lắc đầu cười: “Chịu không giải thích được. Chỉ biết Bùi Giáng khác. Với tôi. Với hết thẩy. Là cái chỉ có một. Với tôi là từng bài thơ. Nói đến từng bài thơ Bùi Giáng, bài thơ này bài thơ kia của Bùi Giáng lại là chuyện tức cười lắm lắm. Bùi Giáng là cái hiện tượng dị thường của một suối thơ ăm ắp không ngừng. Ðọc thơ Bùi Giáng cũng phải đọc như thế. Ðứng trên đơn vị từng bài. Bùi Giáng đặt tựa cho từng bài là ngắt thơ ra, ngắt chơi ra vậy thôi. Nói đến mấy ngàn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận vô cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ ra thơ, làm thơ. Ta cứ tạm hiểu cái trạng thái thơ kỳ lạ khác thường ở Bùi Giáng là như vậy.”

    Sự ngược nghịch giữa cái rong chơi một đời của Bùi Giáng với cái lực thơ, cái số thơ, cái lượng thơ khủng khiếp làm ra, tôi đem hỏi thêm nhà xuất bản hằng ngày sống cùng Bùi Giáng, rồi đến chính thi sĩ, cũng không được sáng tỏ gì hơn ngoài suy diễn có tính chất phỏng đoán của Thanh Tâm Tuyền. Thầy Thanh Tuệ cũng chỉ lắc đầu cười. “Tôi cũng lấy làm kỳ”, Thanh Tuệ nói. “Anh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, nói buổi sáng buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc. Ðiều kỳ lạ là không riêng một thể loại mà thể loại trước tác nào anh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh mau vô tả. Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết đến phê bình triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy.”

    Nhà An Tiêm suốt mấy mùa sách, hầu như không thở được nữa trước cái viết tràn bờ của Bùi Giáng, điều này ai cũng biết.

    Rồi tôi rủ Bùi Giáng tới quán. Ðãi ông uống rượu. Vặn hỏi chính thi sĩ. Ðể cũng chỉ được Bùi Giáng cười cười thích thú trước tìm hiểu có vẻ ngớ ngẩn của tôi. Ông không chịu giải thích, chừng như ông không có gì giải thích, sự thành hình tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó. Cười cười, ông đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu: “Vui thôi mà”.Ừ vui, ba chữ “vui thôi mà” là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng trước mọi tìm hiểu của lực thơ và số lượng thơ không thể tưởng tượng được ở nơi ông, cõi thơ vô bờ của ông trăm phương nghìn ngã mênh mông và chính ông là hiện tượng thân của mênh mông nghìn ngã trăm phưong ấy.

    Bùi Giáng nói vui thôi mà. Quả vậy, thơ ông vui cực kỳ. Con châu chấu, con chuồn chuồn. Cơn chuồn chuồn, con châu chấu. Rừng Marylyn. Biển Brigitte Bardot. Ngành Novak. Ðóa John Keats. Ngành Mật niệm. Ðóa U Linh. Hồng Lĩnh Hạc Lâm. Quỳnh Lai Thị Xứ. Thơ đốt pháo bông, ngôn ngữ triệu triệu, như chữ thần diệu:


    Người nằm ngủ thấy gì

    Thấy rất nhiều nắng lạ


    Giấc ngủ đầy nắng, đầy nắng lạ. Bùi Giáng nói vui thôi mà. Thơ ông vui thật. Từ cánh tay áo rộng, thơ bay. Từ trí tuệ gió lộng, thơ phất. Nghìn thu cổ lục. Ngày Hy Nga. Ðêm bé chị. Mọi trên ngàn. Sóng Hồng Hoang. Thềm dục vọng. Thơ ghé thăm đá, thăm bàn ghế, thăm bún bò, thăm lá.


    Ghé thăm trái mận ban đầu

    Bình minh bắt gặp nguyên màu ban mai


    Tiếng thơ sáng rỡ, chói lọi, kỳ ảo, cánh rừng ngôn ngữ ấy suối reo, chim hót, hoa nở, cây ào ào sóng vỗ, sóng từng từng xanh cây, beo gấu rởn nghịch, con chuồn chuồn hóa thân, con châu chấu suy tưởng, những môi nhỏ hằng ngày, gì cũng là thơ, thảy đều biến dạng. Thơ Bùi Giáng vui thật. Một vĩ đại vui. Hãy đọc thơ ấy, như cùng ông đi vào một trận vui lồng lộng. Ðừng cần tìm hiểu. Ðừng cần giải thích. Hãy đọc lại Mưa Nguồn, Bài Ca Quần Ðảo:


    Xin chào nhau giữa con đường

    Mùa Xuân phía trước, miên trường phía sau


    Sẽ thấy cái vẫy tay chào lấp lánh của thi sĩ. Cái sự “vui thôi mà” trước sau ông chỉ nói vậy, ba chữ này tôi ao ước được thấy khắc vào mộ chí ông khi ông mất đi, ông và giữa con đường vui, không dưới không trên, không đầu không cuối gì hết. Giữa và mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.




    Thơ là người. Ngoài đời Bùi Giáng cũng thật vui. Thời kỳ Thanh Tuệ chấm dứt, nhà xuất bản An Tiêm tạm ngừng hoạt động, Bùi Giáng gặp lại Thanh Nam, viên Linh, Vũ Khắc Khoan và tôi ở toà soạn tuần báo Nghệ Thuật và những kỷ niệm chúng tôi có với thi sĩ thời gian này vẫn là những kỷ niệm vui. Lúc này, thần thái ông ấy không còn được rạng rỡ như mấy năm về trước. Cuộc phiêu bồng qua đời sống của ông kỳ dị và tận cùng hơn. Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa bị gãy, nụ cười trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hóm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế. Những con đường trên đó ông đi, cái túi vải thơ nào, những ngã tư ông ngừng lại, tách thoát với nhân thế, tất cả ở Bùi Giáng phơi hiện dần dần một hủy hoại khô khốc, ấy là tôi chỉ biết nhìn thấy ông một cách “hình hài” như vậy, nhưng “vui thôi mà” thì vẫn là rất vui. Ông vào tòa soạ, ngồi xuống ghế, nhìn mọi người, cười trẻ thơ, thường nói khát quá và xin một chai bia uống. Ông uống từng ngụm nhỏ, nói thích chai bia lớn vì uống được nhiều hơn, châm thuốc hút, những ngón tay vụng về lóng ngóng. Uống cạn chai bia, cái túi vải đeo lên và bỏ đi. Ðó là cái đến cái đi êm ả của Bùi Giáng. Nhiều lần không thế. Ông ra tắm ở cái máy nước trước tòa soạn, thản nhiên trước người qua kẻ lại, quần áo lướt thướt đi qua đường, một đám con nít tròn mắt đi theo. Một lần khác, chúng tôi đi ra ngoài một lát trở về, thấy ông nằm ngủ ngon lành trên hai cái bàn viết kê liền lại. Giấc ngủ dài, quên đời, quên hết, mặc hết, phải đánh thức dậy. Những lần đó, ông ngồi im lặng, bất động, thầm thì “vui thôi mà” rồi lặng lẽ bỏ đi, cái bóng dáng gãy đổ, gầy guộc trong chiều xuống.

    Chính là trong cái tình trạng suy nhược đã trầm trọng quá chừng và tiều tụy quá thể này của Bùi Giáng mà chúng tôi bắt đầu cảm thấy quan tâm thực sự đến thi sĩ. Ðến sức khỏe ông, ngày mỗi cạn kiệt. Ðến cách sống ông ngày mỗi tiều tụy. Ðến tâm thức ông, ngày càng bất định. Cuộc vui của ông Bùi Giáng tuyệt vời nhưng chẳng thể phiêu bồng mãi mãi. Phải làm một cái gì về ông. Ðể ghi nhận lại. Về thế nào là cái tiếng thơ trác tuyệt của Bùi Giáng, cõi ngôn ngữ đạt tới hoang đường kỳ ảo của Bùi Giáng. Trong khi còn gần ông. Trước khi ông chẳng gần, chẳng chịu sống cùng ai nữa.

    Số đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng phải chờ đến hơn một năm sau, tờ Nghệ Thuật đình bản, tôi sang trông coi tờ Văn chung với Nguyễn Xuân Hoàng thực hiện được. Cũng nhờ số Văn này mà tôi mới nhìn thấy và hiểu được sự không hiểu của tôi nói ở trên là sự ngược nghịch giữa Bùi Giáng tháng ngày rong chơi với Bùi Giáng mộ tuần lễ cả ngàn câu thơ, cả ngàn trang sách. Số Văn ấy, phần nhận định nhờ Thanh Tâm Tuyền, Ninh Chữ, Tuệ Sỹ, Trần Tuấn Kiệt... viết. Bài phỏng phấn Nguyễn Xuân Hoàng thực hiện. Phần giới thiệu những bài thơ mới nhất là tôi. Chưa biết kiếm tìm Bùi Giáng ở đâu, thi sĩ bất ngờ ghé thăm tòa soạn. Ông ấy chỉ còn là da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy. Kéo ông ra trước báo quán chụp chung tấm hình làm kỷ niệm rồi tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống, và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ. Ông không chép lại thơ đã làm. Ông làm thơ tại chỗ. Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng viết, thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả. Như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút từ đầu ngón thôi. Làm thơ ứng khẩu, làm thơ tại chỗ, nhiều người cũng làm được. Nhưng là thơ thù tạc, và chỉ năm bảy câu một bài thôi. Bùi Giáng khác. Chai bia còn sủi bọt, ông ngồi viết không ngừng, tự dạng nắm nót chỉnh đốn, chỉ một thôi đã xong hơn hai mươi bài thơ, chúng tôi cầm lên coi, thấy bài thơ nào cũng khác lạ, cũng thật hay, cũng đích thực là từng hạt ngọc của cái thơ thượng thừa Bùi Giáng. Lần đó, tô đã hiểu tại sao Bùi Giáng cừ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi. Ðúng là ngủ ra thơ, thở ra thơ, uống la-de, hút thuốc lá ra thơ. Mà thơ không ai sánh bằng, thơ không ai đuổi kịp. Ông uống cạn chai la-de, lập lại ba tiếng bất hủ “vui thôi mà” rồi đứng lên từ biệt.

    Mấy tháng cuối cùng trước biến cố 1975, tôi không thấy Bùi Giáng trong đời sống tôi nữa. Chỉ tỉnh thoảng nghe thấy ông vẫn lang thang đây đó, một quán này, một bãi hoang kia, ngủ bất cứ ở đâu, dưới trời sao, ở một gầm cầu, dưới một mái hiên. Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuỗi toàn dày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ trỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại vi thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói.

    Ở trình trạng này, anh em chúng tôi, những bạn bè một thời thân thiết với Bùi Giáng, từng đã chén thù chén tạc với Bùi Giáng bao lần trên căn gác đường Lý Thái Tổ của nhà xuất bản An Tiêm, nhận sách tặng của Bùi Giáng, ở với ông và trời thơ trác tuyệt của ông, chúng tôi biết chúng tôi chẳng làm gì cho Bùi Giáng được nữa. Chẳng phải bỏ ông. Ông cũng không bỏ. Chỉ là ông đã đi khỏi, đi xa, vào một trời đất khác.

    Hai câu thơ hay tuyệt hay vào tập cho tập Mưa Nguồn:


    Xin chào nhau giữa con đường

    Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau


    Ðã mang một ý nghĩa khác. Lời chào như một xa cách vĩnh viễn. Một bỏ đi. Một vĩnh viễn. Cái kho tàng chữ nghĩa phong phú vô tận ở đó Bùi Giáng vừa tạo dựng nên cái thế giới ảo huyền của mình vừa phá hủy tan tành cái thế giới ấy, kho tàng ấy thi sĩ không thèm sử dụng nữa, và chúng tôi chẳng còn con đường nào tới được với ông.

    (.....)

    Bùi Giáng đã đem lại cho cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng cõi ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận. Ðọc lại Mưa Nguồn, đọc lại Ngàn Thu Rớt Hột, Bài Ca Quần Ðảo, tôi còn muốn bật cười với thơ Bùi Giáng. Vui thôi mà. Ðúng vậy, vui thôi, có khác gì đâu. Mất Bùi Giáng , thơ ta lại trở về với cái hữu hạn đời đời của thơ. Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu.

    MAI THẢO
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 03-03-2010, 12:28 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied




    Thi sĩ BÙI GIÁNG

    Sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926
    Tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
    Mất năm 1998 tại Sài Gòn
    Tác phẩm chính : Mưa nguồn, Rong rêu



    Bùi Giáng (1926-1998) là một nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam, ông nổi tiếng từ thập niên 1960 như một hiện tượng dị thường riêng biệt.

    Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

    Bố của Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con thứ hai của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.

    Cuộc đời của Bùi Giáng được bao phủ bởi nhiều giai thoại ly kỳ, những thông tin hư hư, thực thực. Ông còn nổi tiếng bởi tốc độ sáng tác rất nhanh: tập thơ Mười hai con mắt được ông sáng tác chỉ trong một đêm Noel năm 1992.

    Từ năm 1962, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam Việt Nam trước 1975. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị nghìn bài.

    Sau năm 1975, ông không bị đi học tập cải tạo như nhiều văn sĩ miền Nam khác vì ông bị mắc bệnh tâm thần.



    **************************


    Vĩnh Biệt Bùi Giáng






    Thi sĩ Bùi Giáng tạ thế vào 14 giờ ngày 7/10/1998 (nhằm ngày 17/8 Mậu Dần) tại Sài Gòn, hưởng thọ 73 tuổi.

    Trong những năm gần đây, dù sức khỏe héo cạn, sau một thời gian dài tinh thần phân tán, điên đảo điêu linh, ông đã lấy lại phong độ phiêu bồng và hùng hậu, dành nhiều thời gian cho việc sáng tác, giảm thiểu tối đa việc “hí lộng ta bà” cùng “giảm tửu” đến mức thấp nhất, làm việc miệt mài với nhiều hứng khởi.

    Từ giữa tháng 9/1998, sức khỏe ông đột ngột suy giảm nhanh chóng. Trong đêm 23/9, ông thức khuya, có uống lại chút rượu để gây hưng phấn, trong lúc đang làm việc thì bị ngã quỵ tại nhà riêng (số 482/29 Lê Quang Ðịnh, Bình Thạnh).

    Thân nhân đưa ông vào bệnh viện Chợ Rẫy, chụp Scanner và phát hiện ông bị đứt mạch máo não, tụ huyết hôn mê sâu. Sau cùng ban giám đốc bệnh viện quyết định giải phẫu vào lúc 21 giờ ngày 25/ 9 và hoàn thành vào lúc 23 giờ 30 cùng ngày. Từ ngày 26/9 đến 6/10, ông vẫn hôn mê, tuy đôi lúc có những dấu hiệu khả quan (mở mắt, co duỗi và phản xạ...) nhưng đến ngày 7/10 ông đột nhiên suy yếu nhanh chóng, và đến 14 giờ thì tắt thở trong trạng thái thanh thản nhẹ nhàng.

    Thi hài ông được quàng tại phòng tang lễ chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn, sau đó được an táng tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Ðức, vào ngày 11/10/1998 (nhằm ngày 21/8 Mậu Dần).

    Trong thời gian thi sĩ Bùi Giáng lâm trọng bệnh cũng như lúc nằm xuống, ông đã được nhiều thân hữu, nhân sĩ và người hâm mộ quan tâm, chăm sóc với hết lòng trọng vọng và thân ái đối với đấng tài ba.



    **********************

    Buồn Đã Nhiều


    Buồn đã nhiều giờ xin vui nhiều nữa
    Nhiều không xong thì ít cũng được rồi
    Miễn tí chút long lanh là đủ lắm
    Cạn ly này ? nâng nhẹ nhẹ lên môi

    Thử gắng gượng làm bài thơ chưa biết
    Đã biết rồi ? chưa biết , nói cho vui
    Từ vạn thuở , trăm năm là bất diệt
    Từ thiên thu , chỉ đón một đời người

    Em chịu đón hay là không chịu đón'
    Chịu đón thì đón rước cho tươi vui
    Đừng mặc cả éo le là lẫn lộn
    Lẫn lộn là hỗn độn lấp chôn vùi

    Những từ đó về sau sẽ có lúc
    Bất thình lình tuế nguệt tới sau lưng
    Không báo trước là giây hay là phút
    Là giờ nào tất mệnh đóng kín bưng

    Hai cánh cửa khóa chặt đời chưng hửng
    Mặc tồn sinh gắng sức rúc chui ra
    Và lúc đó còn đâu giờ để tưởng
    Tới máu tim tiều tụy với ruột rà

    Nằm im dưới đất thiết tha
    Thương yêu đứt ruột lá hoa trên đời
    Còn đâu nữa dịp phanh phơi
    Tan hoang hào lũy dưới trời dửng dưng

    Giận hờn đã lắm vô duyên
    Còn đâu kỳ ngộ ngẫu nhiên ban đầu

    Bài thơ có nói gì đâu
    Bài thơ bắt buộc chậm mau hương mùa
    Lúc khắng khít , lúc lưa thưa
    Vì không một lúc nào ngừa mai sau

    Nào ngờ có nghĩa gì đâu
    Trăng thanh gió mát lần thâu đã nhiều
    Đăm chiêu rất mực đến điều
    Tử sinh liều giữa hoang liêu cuối cùng


    Bùi Giáng


    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 03-03-2010, 12:46 AM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Tình sử Bùi Giáng - Kim Cương: "Quyền lực" của Kim Cương (kì 2)


    Phải nói là Kim Cương có "quyền lực" rất lớn đối với Bùi Giáng. Cứ nghe tên bà là ông trở lại ngoan ngoãn như một đứa trẻ con. Một lần, ông làm "chim bay cò bay" giữa phố, gây ách tắc giao thông, công an tới lôi ông vào cũng không được.

    Tình cờ có ông bạn Đoàn Thạch Hãn trông thấy, thế là anh ta rỉ tai ông: "Kim Cương nhắn ông tới nhà kìa!". Lập tức ông riu ríu đi theo Đoàn Thạch Hãn. Ông còn "ái mộ" bà theo kiểu "kinh khủng" của ông. Người ta ái mộ thì xin chữ ký, xin hình, còn ông thì xin... quần. Ông tới nhà nằng nặc đòi bà cho ông cái quần. Bà lấy quần của cậu Toro nay đã lớn cỡ ông mặc vừa. Ông giãy nảy không chịu, đòi cái quần của Kim Cương mới được. Bà bực quá, đưa thiệt. Lập tức ông mặc vô và rồi không chịu thay ra. Tắm xong, mặc lại. Tỉnh bơ.
    Và sau này khi ông ở nhờ nhà anh Hoài - cháu gọi ông bằng bác họ - tại Gò Vấp, thì cũng chỉ Kim Cương là người phụ nữ duy nhất được ông cho phép bước vào nhà. Nhiều lần, các bạn thơ nữ có ghé thăm ông, nhưng vừa mới nghe cháu vô báo tin là ông đã la hét om sòm, đuổi họ như đuổi tà: "Chỉ có tiên nữ Kim Cương mới được bước tới đây. Đi ra! Đi ra hết!".
    Nghệ sĩ Kim Cương nói: "Tôi rất trân trọng tài năng của ông, nhưng phải nói thật là ông điên nặng, nhưng là cái điên trí tuệ, nói ra nhiều câu cực kỳ sâu sắc". Thỉnh thoảng, khi ông hơi tỉnh thì Kim Cương cũng ngồi bàn chuyện thơ văn với ông cho ông vui. Những lúc ấy, ông gọi bà bằng "cô" đàng hoàng chứ không "nương tử", không "Hằng Nga" gì hết. Nhưng có một lần, ông làm bà hết hồn. Hai người bàn luận đến Kiều, bà đọc mấy câu lỡ có sai một chút, ông liền đập bàn, la hét, nhảy dựng lên: "Tại sao Kiều mà cô nói sai như vậy? Câu vậy mà cô nói là của Kiều hả?". Thấy ông trợn mắt giận dữ, bà cứ ngỡ ông sắp bóp cổ mình tới nơi. Bà quên mất rằng ông cũng yêu Kiều say đắm như yêu bà.
    Có một chuyện nhỏ, nhưng cảm động. Kim Cương nói rằng Bùi Giáng có đóng phim gì nữa đó, chắc đóng vai phụ nho nhỏ thôi. Kim Cương nhớ khi ông lãnh tiền thù lao, liền mua hai trái xoài đem tới cho bà. Rất dễ thương.

    Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: "Suốt 40 năm, ông đối với tôi như một người yêu đơn phương, thì ngược lại, tôi đối với ông như chỗ dựa tinh thần, bất cứ lúc nào nghe ông đau ốm hay bị công an bắt, bị người ta đánh là tôi có mặt". Bởi đơn giản, trong đầu Bùi Giáng chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất, đó là địa chỉ và số điện thoại của Kim Cương. Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay la hét, làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu: "Thân mẫu tôi là Kim Cương, ở số... Hoàng Diệu, điện thoại 844...". Thế là công an réo gọi Kim Cương. Bà đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông bị té, bị thương, người ta chở vô bệnh viện, ông cũng chỉ "khai báo" y như vậy. Bệnh viện lại réo bà. Bà lại đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, bị người ta đánh, bà lại đến đưa ông về. Có lần, ông xuất hiện trước nhà bà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh, bà hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu. Ông không chịu: "Chừng nào cô đi với tôi thì tôi mới đi". Ừ, thì đi. Kim Cương gọi chiếc xích lô chở ông, vừa ngồi xe ông vừa nói vung vít, mặc cho Kim Cương chịu trận.

    Và như thường lệ, trong cơn điên điên tỉnh tỉnh, ông lại tiếp tục làm thơ yêu qua cuốn sổ nhỏ nhét vào khe cửa nhà bà:

    - Yêu nhau từ bấy tới nay
    Xiết bao tâm sự từ ngày qua đêm
    Thưa em nương tử dịu mềm
    Bốn mươi năm lẻ êm đềm vô biên
    - Đầu tiên tiên nữ Kim Cương
    Cuối cùng muôn một phi thường Cương Kim
    Cúi đầu bái tạ tình em
    Về sau vĩnh viễn êm đềm thương nhau
    - Làm thơ tiếp tục yêu em
    Ồ Kim Cương ạ êm đềm vô song
    Kể từ lịch kiếp long đong
    Anh điêu tàn tới thong dong bây giờ
    ...


    Hư vô và vĩnh viễn

    Cũng vô lý như lần kia dưới lá
    Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
    Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
    Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh
    Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
    Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
    Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
    Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
    Lá cũng mất như một lần đã lỡ
    Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
    Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
    Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
    Đường vất vả vó ngựa chồn lảo đảo
    Cồn sương đi vào sương lạnh miên man
    Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước dạo
    Đêm tàn canh khắc ngợi nguyệt gương ngàn
    Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống
    Ngón trên tay và tóc xõa trên đầu
    Tình đếm lại muôn vàn thôi đã uổng
    Để bây giờ em có biết nơi đâu
    Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
    Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
    Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
    Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không
    Thơ Bùi Giáng

    Hoàng Kim (báo Thanh Niên)
    Đã chỉnh sửa bởi hoangvu; 19-07-2020, 10:06 PM.

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi M Mít Đặc View Post
    Bây giờ riêng đối diện tôi
    Còn hai con mắt khóc người một con


    [ame="http://www.youtube.com/watch?v=QJZe14hGHww&feature=related"]YouTube- ConMatConLai[/ame]




    Website của Hội Văn Hoá Trịnh Công Sơn có ghi lời bản nhạc Con Mắt Còn Lại và lời chú thích:

    Bản Con mắt còn lại có lẽ hiện diện lần đầu tiên trong K7 TCS/Hồng Nhung Bống Bồng ơi (1993).

    Bài viết theo ý thơ Bùi Giáng: "Còn hai con mắt, khóc người một con…".


    Trong "Sổ tang" cho Bùi Giáng tại chùa Vĩnh Nghiêm (SGN, 1998), TCS ghi:

    "Bùi Giáng Bàng Dúi Búi Giàng
    Ô hay trăm ngõ bàng hoàng lỗ không
    Lỗ không trời đất ngỡ ngàng
    Hoá ra thì thể là ngàn hư vô
    Nhớ thương vô cùng là từ
    Là từ vô tận ứ ừ viễn vông".

    (Trích theo Hợp Lưu, số Tưởng niệm Bùi Giáng, 44 (12/98-01/99), tr.119 và Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ thiên tài,tr.38. )

    Và TCS còn đã từng nói : "Bùi Giáng là hư không là vô thường, là thiên niên kỷ trước, là lầu không, là vô biên mầu nhiệm, là bát quái trận đồ vô ra bế tắc mà rốt cuộc cũng vẫn luân lưu một sự đời miên viễn nói cười hả hê vu vơ mầu nhiệm.", (theo Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỷ XX của Trần Mạnh Thường, nxb Hội Nhà Văn, 1365 tr (2003), trích theo TuoiTreOnline, 18/04/2004.)

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi CONHAKO View Post
    Tình sử Bùi Giáng - Kim Cương: Duyên nợ (kì 1)



    - Kể từ tao ngộ đầu tiên
    Kim Cương vô tận, thuyền quyên vô cùng
    Bốn mươi năm đã lẫy lừng
    Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân
    Trái tim thiết thạch vô ngần
    Từ tam thu tới tử phần hôm nay
    Kể từ sử lịch xa xuôi
    Bất ngờ một bận bùi ngùi yêu em



    Bây giờ riêng đối diện tôi
    Còn hai con mắt khóc người một con

    Leave a comment:


  • CONHAKO
    replied
    Tình sử Bùi Giáng - Kim Cương: Duyên nợ (kì 1)


    Kỳ nữ Kim Cương chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời, trong tâm hồn và trong sáng tác của Bùi Giáng. Trong tâm hồn ông, Kim Cương là "đệ nhất mỹ nhân" trong thiên hạ. Ông yêu Kim Cương bằng một tình yêu lạ lùng nhất thế gian. Chỉ có thể nói đó là một tình yêu bất tử. Đã có rất nhiều giai thoại xung quanh mối tình kỳ bí này.

    Đối với Kim Cương, tuy là mối tình đơn phương từ phía Bùi Giáng, nhưng nữ nghệ sĩ đã rất trân trọng tình yêu của ông, một sự trân trọng vô cùng cảm động và hiếm thấy. Nhiều năm qua, nghệ sĩ Kim Cương có những lý do riêng nên đã không lên tiếng một cách chính thức. Lần đầu tiên, bà tiết lộ với Báo Thanh Niên một số sự thật về thiên tình sử này, vì đã đến lúc bà không còn lý do để tiếp tục im lặng... Chúng tôi tạm gác những phần cuối của loạt bài Bùi Giáng - thi sĩ kỳ dị để giới thiệu riêng cùng bạn đọc những tiết lộ của Kim Cương. Chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn nghệ sĩ Kim Cương. Những tiết lộ này sẽ giúp cho công chúng hiểu rõ hơn con người và sự nghiệp của một thi sĩ độc đáo vào bậc nhất của đất nước.


    Có lẽ trong cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ngoài chuyện văn chương ra thì chuyện tình đơn phương của ông với NSƯT Kim Cương là nổi bật nhất, kỳ lạ nhất, và cũng cảm động nhất. Kim Cương còn giữ rất nhiều bài thơ của ông viết tặng riêng bà, cả hình ảnh nữa, nhưng từ lâu bà từ chối mọi lời yêu cầu của các tờ báo, nhà xuất bản xin được phát hành, đặc biệt sau khi Bùi Giáng vừa qua đời nhiều đơn vị còn đặt vấn đề "mua" những tấm ảnh, tập thơ đó. Bà nói: "Tôi không muốn đem tình cảm của Bùi Giáng ra đánh bóng tên tuổi của mình hoặc làm gì đó có dấu ấn kinh doanh. Dù tôi không yêu ông, nhưng tôi trân trọng tình yêu của ông. Tuy nhiên, bây giờ sau loạt bài của Báo Thanh Niên, tôi thấy đây không còn là chuyện riêng tư nữa, mà Bùi Giáng là một sự kiện văn học chung của đất nước, cần có thêm nhiều thông tin về ông. Và vì không lên tiếng nên có những thêu dệt không đẹp cho Bùi Giáng, vì vậy tôi chỉ muốn nói rõ một vài sự thật để người ta hiểu đúng ông hơn".

    Kim Cương biết Bùi Giáng lúc bà khoảng 19 tuổi, còn theo đoàn cải lương của má Bảy Nam nhưng đã được mệnh danh là "kỳ nữ". Thật ra, ông chú ý đến bà trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh - Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo Kim Cương: "Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị". Kim Cương trả lời: "Ừ, thì mời ổng tới". Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có "điên điên" như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời Kim Cương lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi cả cầu hôn, nhưng bà đều né tránh. Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó "kỳ kỳ", bất bình thường, nên bà sợ. Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: "Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn Kim Cương mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi". Kim Cương ngần ngừ: "Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính...". Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới. Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới... 8 tuổi. Kim Cương hết hồn, thôi rồi ổng đúng là không bình thường!

    Từ đó, mỗi năm Bùi Giáng mỗi bệnh nặng hơn. Ông không có vợ con, suốt ngày đi lang thang ngoài đường, hò hét, rồi cứ địa chỉ nhà Kim Cương mà tới. Thằng bé Toro con của Kim Cương lúc ấy khoảng 5 tuổi, thường trố mắt ra nhìn ông, và hỏi: "Mẹ ơi, sao bác này giống cái xe hoa quá?". Tư duy trẻ con thật ngộ nghĩnh, nhưng lại rất chính xác. Thì trên người Bùi Giáng có đủ thứ: nào hộp lon treo lủng lẳng, nào lá cờ giắt sau lưng, nào nhánh cây, vòng hoa trên đầu... cả một nải chuối đeo thường xuyên trên cổ. Không mở cửa cho ông vào là ông la hét, đập cửa, chửi um sùm, ném đá nữa, khiến hàng xóm náo động. Nhưng riết rồi quen, mỗi lần ông tới nhà Kim Cương ai nấy đều cười. Má Bảy Nam ở trên lầu chỉ cần nghe la rùm beng, đập cửa ầm ầm, là hỏi: "Bùi Giáng phải không?". Nhiều lần ông say khướt, nằm ịch xuống gốc cây trước nhà Kim Cương, mọi người phải khiêng vào. Bà lắc đầu: "Sợ ổng chết. Tướng tá vầy có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng khiêng vô rồi cũng sợ rủi ổng chết trong nhà mình. Mà điều, không nỡ bỏ ổng lăn lóc ngoài đường, thấy tội quá".

    Nhưng điều hay nhất là mỗi khi vô nhà Kim Cương ông lại sáng tác thơ để tặng bà. Tiện tay xé bất cứ tờ giấy, tờ lịch nào là ông viết ào vô đó. Nguồn thơ yêu cứ tuôn trào như suối, không vơi cạn theo năm tháng. Về sau, khi ông "quậy" quá thì Kim Cương nghĩ ra cách, không mở cửa, mà lòn một cuốn sổ ra khe cửa cho ông viết thơ. Ông hí hoáy một hồi, rồi vui vẻ bước đi. Suốt 40 năm, cả chục cuốn sổ tay đã đầy ắp chữ của ông, chỉ riêng tặng "nương tử Kim Cương". Bà trân trọng gìn giữ trong ngăn tủ. Những vần thơ yêu với nét chữ ngả nghiêng chệnh choạng nhưng hồn nhiên say đắm lạ kỳ.


    - Kính thưa nương tử Kim Cương
    Tấm lòng rộng mở phi thường bấy nay
    Ngàn năm điêu đứng đọa đày
    Thiên thu sử lịch cau mày về sau
    Thưa em đời mộng dạt dào
    Tình yêu vô tận yêu đào vô biên
    - Kể từ tao ngộ đầu tiên
    Kim Cương vô tận, thuyền quyên vô cùng
    Bốn mươi năm đã lẫy lừng
    Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân
    Trái tim thiết thạch vô ngần
    Từ tam thu tới tử phần hôm nay
    Kể từ sử lịch xa xuôi
    Bất ngờ một bận bùi ngùi yêu em




    Hoàng Kim (báo Thanh Niên)
    Đã chỉnh sửa bởi hoangvu; 19-07-2020, 10:05 PM.

    Leave a comment:

Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom