• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Mai Thảo

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Mai Thảo


    Ông tên thật Nguyễn Ðăng Quý, sinh ngày 8 tháng 6 năm 1927 tại Quần Phương Hạ Hải Hậu Nam Ðịnh. Mất ngày 10 tháng 1 năm 1998 tại California Hoa Kỳ.
    Thế giới có triệu điều không hiểu
    Càng hiểu không ra lúc cuối đời
    Chẳng sao khi đã nằm trong đất
    Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi

    Những tác phẩm (Văn xuôi):


    Ðêm Giã Từ Hà Nội
    Tháng Giêng Cỏ Non
    Bản Chúc Thư Trên Ngọn Ðỉnh Trời
    Mái Tóc Dĩ Vãng
    Khi Mùa Mưa Tới
    Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật
    Viên Ðạn Ðồng Chữ Nổi
    Ðêm Lạc Ðường
    Cùng Ði một Ðường
    Lối Ði Dưới Lá
    Tới Một Tuổi Nào
    Tuỳ Bút
    Sống Chỉ Một Lần
    Ðể Tưởng Nhớ Mùi Hương

    (Thơ):
    Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền
    Đã chỉnh sửa bởi hoangvu; 27-08-2019, 02:26 PM.
    Sống trên đời

    Similar Threads
  • #16

    ĐỢI BẠN

    Nửa khuya đợi bạn từ xa tới
    Cửa mở cầu thang để sáng đèn
    Bạn tới lúc nào không biết nữa
    Mưa thả đều trên giấc ngủ đen
    Sống trên đời

    Comment

    • #17

      MỘT MÌNH
      Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
      Tiếng người: kia, uống cái chi đây?
      Uống ư? Một ngụm chiều rơi lệ
      Và một bình đêm rót rất đầy
      Đã chỉnh sửa bởi thangbom; 12-02-2008, 04:28 PM.
      Sống trên đời

      Comment

      • #18

        Hai Năm Ẩn Lánh

        Nơi ta ẩn lánh có vườn
        Cành nghiêng mái võng ngõ luồn trong cây
        Cổng siêu mấy nhánh hoa gầy
        Dậu thưa gió lọt ao đầy đêm mưa
        Đầu thềm thiêm thiếp nắng trưa
        Hàng hiên bóng tối nhà thưa vắng người
        Lối vào quạnh ánh trăng soi
        Hạt sương buổi sớm bầy dơi cuối ngày.
        Đã chỉnh sửa bởi thangbom; 12-02-2008, 04:28 PM.
        Sống trên đời

        Comment

        • #19

          Ảo Thuật

          Những phiến vai phơi tới nửa chừng
          Nõn nà như ngọc óng như mun
          Xuống thêm từng chút thêm từng chút
          Ồ hoá đồi nương với suối rừng
          Đã chỉnh sửa bởi thangbom; 12-02-2008, 04:28 PM.
          Sống trên đời

          Comment

          • #20

            MỪNG TUỔI

            Em vẫn trăm xuân mừng tuổi mới
            Tuổi của thềm sương tuổi chúng mình
            Cùng lăn không tiếng về nơi ấy
            Tăm cá không còn cả bóng chim.
            Đã chỉnh sửa bởi thangbom; 12-02-2008, 04:28 PM.
            Sống trên đời

            Comment

            • #21

              MỪNG TUỔI MÌNH

              Một dấu tròn to vĩ đại tròn
              Là mày, mừng tuổi đó nghe con
              Trong không ngoài rỗng không gì hết
              Không cả không là cái số không.
              Sống trên đời

              Comment

              • #22

                Người Thầy Học Cũ

                Người Thầy Học Cũ
                Mai Thảo

                Y gặp lại người thầy học cũ một ngày mưa lớn. Con đê chạy dọc hữu ngạn sông Đáy chỗ đó là giữa quãng Ba Thá, Vân Đình. Đường lầy. Kẻ đi ngược, người về xuôi. Cuộc kháng chiến gian khổ thu lại trong giây phút gặp gỡ bất thình lình một nỗi tủi mừng rưng rưng và cái hình ảnh buốt lạnh của con đường dài thẳm, trùng điệp hầm hố dưới mưa bụi trắng xóa. Xa xa dấu vết những làng xóm tiêu hủy còn lại.
                Hai thầy trò nắm chặt tay nhau, mưa vẫn đổ lớn – cùng chạy đến trú dưới một gốc cây. Nhiều năm tháng qua đi từ ngày bỏ trường lăn mình vào cuộc đời, bây giờ Y đã lớn, đứng cạnh thầy cao hơn thầy hẳn một cái đầu. Thầy thì tuổi già đã làm cho thân hình nhỏ lại. Nhưng giữa hai người vẫn không có sự thay đổi. Người thầy vẫn vững chãi và tự tin hơn. Thái độ gương mẫu và che chở bên trong cửa lớp ngày nào Y vẫn nhận được.
                “Thầy ở đâu xuống?”
                “Tôi ở Ba Thá xuống”.
                “Thầy vẫn dạy học”.
                Người thầy học cười hiền lành:
                “Phải, tôi vẫn dạy học nhưng trường làng vừa bị bom đốt cháy chiều hôm qua. Hôm nay tôi phải về Ty báo cáo. Ty ở dưới Vân Đình. Tôi mất hết, chỉ chạy được những cái này.
                Những cái này: một cái bị cói, mấy bộ quần áo nâu và một cái gậy trúc.
                Y nhìn cái cơ nghiệp nhỏ nhoi vô nghĩa, những đồ tùy thân cuối cùng còn sót lại của một cuộc đời đạo đức và liên tưởng tới hai hình ảnh: vị chân tu của một thời đại nào đi truyền bá trong khổ hạnh những tư tưởng đẹp cho nhân loại và hình ảnh một con đường mưa bay, buổi chiều xuống trên liên khu rộng lớn, người thầy học cũ lại một mình bước đi trên con đường đó mang trên mớ tóc bạc cái nghề đạm bạc cao quý, mang nặng nó trong đêm tối và mưa bão.
                Mưa vẫn đổ lớn. Hai thầy trò đứng sát vào nhau hơn. Thầy nhìn trò, gật đầu:
                “Các anh đổi thay nhiều lắm. Trưởng thành cả rồi. Nhưng mà ở đâu và bao giờ các anh vẫn nhận ra tôi, tôi vẫn nhận ra các anh. Anh thì vẫn còn nguyên vẹn cái nhìn lơ đãng ra ngoài cửa lớp những buổi trưa mùa hạ”.
                Y trả lời:
                “Vâng, con vẫn thế. Con vẫn nhớ con như thế”.
                Giọng thầy trầm trầm trong tiếng mưa đổ rào rào:
                “Chúng ta vẫn thế”.
                Đôi mắt sâu của thầy nhìn xuôi theo con đường dài, qua màn mưa về tận cuối đường, xa hơn cái xa của cuối đường:
                “Chiến tranh đổi thay hình thể những ngả đường trên đó chúng ta đi. Tất cả trở nên khó khăn cực nhọc và chua xót hơn cũ. Những ụ đất. Những hầm hố. Những chiếc cầu đổ. Hình như mưa bão cũng nhiều hơn”.
                Và thầy thở dài:
                “Chúng ta là những con người cũ đang tập đi trên những con đường mới”.
                Rồi thầy quay lại hỏi:
                “Còn anh, bây giờ anh làm gì?”
                “Thưa thầy con đi buôn”.
                “Đi buôn?”
                “Con bỏ học từ sau Cách mạng tháng Tám. Thuyền hàng của con chắc bây giờ đang ngược dòng đi lên ở giữa khoảng Rót Rét. Con sẽ đón thuyền ở vùng Bương Cấn và nếu đêm nay ngớt mưa sẽ đi thẳng tới Phú Thọ”.
                Người thầy “Thế à” một tiếng nhỏ rồi không nói gì nữa. Tính thầy vẫn ít nói. Mưa ào ào trên đầu. Trước mắt họ dòng sông Đáy đục đỏ chảy đi hung dữ. Bãi xa mịt mùng bên kia. Người học trò đứng lùi lại phía sau và nhìn thấy sát tầm mắt, những sợi tóc bạc gió thổi lay tạt trên khuôn mặt mà trông nghiêng vẫn đựng đầy cái vẻ trầm lặng cũ, những ngày xưa nhìn xuống Y trên một nền bảng đen. Những kỷ niệm những hình ảnh của một lớp học vừa trở về lướt thướt và buốt lạnh trên khoảng đường này. Những chùm hoa mùa hạ đỏ chói chang trên góc cửa sổ, sự hé mở của những giấc mộng ban đầu nở từ những chùm hoa rực rỡ ấy, nhịp bồng bềnh đẩy đưa của tâm hồn chạy đến những chân trời những thế giới hoang vu. Cánh bướm mỏng của niềm rung động mới. Những tấm kính sáng trong. Tiếng giảng bài trầm trầm đi giữa hàng ghế. Tà áo thâm và cái đỉnh mũ trắng. Những bực gạch mưa làm mòn cạnh đi lên từng cửa lớp. Lối kiến trúc cổ kính của một mái trường xây cất trên nếp thành đổ nát cũ lượn vòng giữa những hàng cây và những ao đầm. Thành phố ở dưới với tiếng hú dài của một tiếng còi tàu kéo theo những vệt khói còn treo lâu trên nền trời. Ý niệm thứ nhất về không gian trong chuyến đi tưởng tượng. Vụ hè sắp tới thấp thoáng hình ảnh con đường mất hút dưới nắng.

                - o O o -

                Y nhớ thầy đã về sau một buổi tựu trường có nhiều thuyên chuyển. Cũng một buổi sáng mưa lớn. Có tiếng giày từ ngoài hành lang đi tới. Thầy vào, đứng lại một giây nhìn mọi người, nói: “Chào các anh”, đoạn đi thẳng lên bục cao. Giờ học thứ nhất được dành cho sự làm quen nhau. Người thầy bày tỏ nỗi vui riêng sau mười mấy năm ở rừng được đổi về một trường thành phố.
                Thầy nói: “Trường cũ ở sát biên giới Hoa - Việt, học trò nửa Kinh nửa thiểu số. Trên ấy đêm rừng dài và buổi sáng nào cũng dầy đặc sương trong lớp học vừa mở cửa. Rừng thì trùng điệp ở chung quanh. Sân trường đôi khi còn in những dấu chân thú dữ. Và rét thì rét ghê rét gớm. Các học trò chân tay cũng cóng buốt và mặt mũi xám tái lại. Phải đóng kín cửa cho hơi nóng truyền đi một lúc sau mới làm việc được”.
                Hình ảnh của một lớp học biên giới được gợi lên bằng giọng nói đặc biệt trầm trầm. Cái lối kể chuyện của thầy cũng khác. Và ngay lập tức, trong số bốn mươi lăm học trò chăm chú lắng nghe, từ một chỗ ngồi tận đáy lớp nhìn lên, Y cảm thấy mến yêu ngay người thầy học mới. Một nỗi mến yêu đặc biệt chưa từng có. Tưởng như một khám phá, một đổi thay lớn.
                Trong một cuộc đời học trò, từng năm học đi lên, mỗi năm lại gặp một người thầy, nhưng trong tất cả những người thầy đó, thường vẫn chỉ có một người mà về sau lúc đã giã từ cửa lớp, ở mãi chỗ sâu xa cách biệt trong cuộc đời, mỗi lần nhớ lại là người học trò lại nhớ trước nhớ ngay đến người thầy ấy. Tại sao? Có thể vì một nét mặt, một giọng nói, được khắc sâu hơn vào dĩ vãng. Có thể vì một sự bắt buộc nào đó, trừu tượng và siêu hình, khiến cho tương quan tình cảm vượt khỏi mức bình thường, chứa đựng một ý nghĩa rộng lớn hơn.
                Bài luận đầu tiên của Y được nhiều điểm nhất lớp. Một sự lạ. Ba hôm sau khi thầy trả bài, gọi đến tên, ngợi khen và mỉm cười bảo Y hãy đọc cho cả lớp nghe một đoạn văn hay, Y đứng dậy, tờ giấy trên tay run run và giây phút đó đã là cả một dấu son rực rỡ trong cái lịch sử học trò của Y từ trước đến nay vốn rất tầm thường tăm tối.
                Y lười và lơ đãng. Trên tất cả các môn học, điểm số bao giờ cũng ở dưới cùng. Một sự đội sổ toàn diện. Suốt đời Y nhớ mãi cái giờ học lịch sử ấy của một tên học trò đội sổ ngồi tối tăm ở cuối lớp, lần đầu đứng lên ngượng nghịu, hồi hộp đọc cho cả một lớp im sững thán phục cái thành công thứ nhất của đời mình. Ngồi xuống còn cảm động.
                Cả lớp không tìm hiểu được nguyên nhân sự đổi thay đột ngột này. Chính Y cũng không hiểu. Y đã viết bài luận ấy cho một người xem, nó là cái biểu tỏ cụ thể của một tình cảm chân thật và tốt đẹp gửi đến cho một người thầy đã tả được một cái trường học biên giới bằng “những dấu chân thú dữ” và “sương trắng dầy đặc cửa lớp buổi sớm”.

                - o O o -

                Mưa vẫn đổ lớn.
                Buổi chiều như đã muốn đến từ bãi sông bên kia. Trời thấp và xám. Con thuyền đầy hàng ngược dòng ở giữa khoảng Rót Rét bồng bềnh trong ướt lạnh còn là điểm vui ấm bé nhỏ so với tâm sự của người thầy mất trường, không biết sẽ về một nơi nào trong mưa bay.
                Hai người cùng cúi đầu suy nghĩ. Thầy nói:
                “Anh vừa nói hiện anh đi buôn đấy nhỉ?”
                “Dạ”.
                “Các anh làm thật nhiều nghề. Mỗi người một đường. Cuối tháng trước tôi có gặp một anh không rõ đã học tôi năm nào, làm khẩn hoang ở một đồn điền Nho Quan. Vùng ấy lam chướng, nước độc, rất có hại cho sức khỏe. Trông anh ta xanh yếu đáng ngại. Cứ như anh đi đây đi đó trên một con thuyền, có lẽ lại hay hơn”.
                “Kể thì mấy năm nay, từ ngày ra trường con chưa từng có dịp được đi nhiều, thấy nhiều như bây giờ. Nhưng nghề buôn không phải là một chí hướng thích hợp. Nhiều lúc con vẫn cảm thấy đang làm một việc vô ích”.
                Người thầy đáp:
                “Tôi biết. Nhưng chúng ta bây giờ thường vẫn phải làm ngay cái việc nhìn thấy trong tầm tay với mà không có quyền từ chối, lựa chọn. Thế hệ các anh biết bao nhiêu người hiện đang đứng lạc vị trí, băn khoăn tìm đường. Ở tuổi các anh thật đau đớn. Chúng tôi thì không nói làm gì. Nhiều lúc cực nhọc vất vả, tôi vẫn thầm cảm ơn trời còn cho mình được cầm cái thước kẻ giảng bài. Tôi làm gì khác được nếu thôi dạy học?”
                Thầy cười khẽ:
                “Thói quen của nghề nghiệp đấy: Thấy các anh là hỏi về dự định vào đời. Không thích đi buôn, anh muốn làm gì?”
                “Có một lần trong giờ luận, thầy nói đùa con có thể trở thành nhà văn, con vẫn ao ước thực hiện được câu nói đùa ấy”.
                “Thế ư! Tôi không nhớ nữa, nhưng nếu có nói thì nói thực đâu phải đùa. Phải rồi, Việt văn là môn học xưa kia anh ham thích nhất”.
                Giọng thầy trở nên ân cần:
                “Cố gắng đi. Biết đâu chẳng một ngày tôi được đọc văn của một người học trò cũ là anh. Niềm an ủi lớn nhất của một người thầy vẫn là được thấy người học trò cũ của mình đi vào tương lai trên lối đi đã được phác định từ trong cửa lớp”.
                Mưa bỗng ngớt đi, tiếng đổ ào ạt dừng lại. Mé sông bên kia, bờ bãi mịt mùng ban nãy nổi lên dần dần. Nhưng vòm trời thì vẫn thấp nặng và nghi ngút hơi nước. Trận mưa lớn vừa ngớt chỉ để sửa soạn cho một trận mưa lớn khác sắp đổ xuống.
                Hai người ra khỏi gốc cây. Người thầy nhìn lên trời:
                “Đã có thể đi được rồi. Tôi phải đi xuống Ty bây giờ cho kịp”.
                Thầy quay lại, cánh tay gầy yếu đặt lên vai người học trò cũ:
                “Lâu lắm mới gặp nhau tôi cám ơn các anh còn nhớ đến tôi. Các anh bây giờ đã khôn lớn cả, đã tự trưởng thành trong những kinh nghiệm, tôi cũng không có điều gì phải khuyên bảo nữa. Thôi anh ở lại”.
                Giây phút giã từ này thật là cảm động.
                “Con ân hận không được gặp thầy lâu. Con theo thuyền độ nửa tháng bán hàng xong rồi sẽ trở lại vùng này. Xin thầy địa chỉ để con được lại thăm trường mới”.
                Người thầy gạt đi:
                “Chính tôi hiện giờ cũng không biết rồi sẽ được thuyên chuyển đi đâu. Liên khu trong, một trường mới mở trong núi hay là nghỉ dạy vĩnh viễn không chừng. Chắc khó gặp lại, anh còn nhớ đến tôi là đủ và đừng băn khoăn về vấn đề tìm thăm tôi”.
                Người thầy bước đi, cái bị cói nằm trên bờ vai gầy, gậy trúc chống xuống đường lầy. Y chạy theo thầy:
                “Con đi buôn cũng không đến nỗi túng thiếu lắm. Thật tình không dám nghĩ đến chuyện trả ơn, nhưng con có giúp thầy được điều gì không?”
                Người thầy lắc đầu mỉm cười:
                “Tôi một thân một mình cũng không cần gì. Cám ơn anh. Thôi anh trở lại”.
                Y đứng sững giữa con đê nhìn theo bóng dáng cổ kính của người thầy. Cái bị cói, cái gậy trúc, những sợi tóc bạc cứ nhỏ dần mãi. Rồi những cái điểm bé nhỏ ấy nhòa đi sau màn mưa.
                Y gặp lại người thầy học cũ của Y lần ấy là lần cuối cùng. Bán xong chuyến hàng, Y lên bộ về thẳng Vân Đình. Hỏi thăm Ty Học chính ở đó, Y được biết người ta đã nói với thầy là các trường bị phá hủy gần hết, phải đợi một thời gian để lập trường mới và người thầy đã bỏ đi không để lại địa chỉ.

                - o O o -

                Đến nay đã mười tám năm.
                Viết văn, tôi thực hiện được cái ước vọng duy nhất của thuở nhỏ. Trong số những nguyên nhân thầm kín thúc đẩy tôi, tôi ghi nhận lời thầy khuyên nhủ cố gắng ngày nào trên quãng đường lầy.
                Sự đổi thay quyết định một đời người thường vì những nguyên nhân nhỏ. Ở đây có thể vì lời khuyên của một người tôi kính yêu.
                Từ đó tôi không gặp lại thầy, cũng không trở lại một cửa lớp nào nữa. Nhưng kỷ niệm còn giữ được của buổi học ấy, nỗi cảm động đứng giữa hàng ghế đọc bài luận ấy cho cả lớp nghe – nhớ lại – vẫn đưa tôi trở về được với cái thế giới học trò. Nó nằm trong chu vi một lớp học, nhưng rộng và riêng biệt đúng như một thế giới. Chùm hoa phượng, những phiến kính sáng trong, cái đỉnh mũ trắng, những ngày hè chói nắng. Câu văn đầu tay vụng dại, bỡ ngỡ. Trên tất cả, khuôn mặt trầm lặng của thầy ngó xuống như một nỗi bình yên.
                Bây giờ đôi khi ngừng tay trên một trang bản thảo, lúng túng trước một danh từ, một ý tưởng diễn đạt khó khăn, tôi lại thấy những hàng chữ dập dập xóa xóa trước mắt bỗng phảng phất giống với trang giấy nháp của bài luận cũ. Hình ảnh người thầy lúc đó lại hiện lên. Tôi muốn được gặp lại, để nói, ít nhất cũng một lần, với thầy:
                “Những trang giấy này có được một phần lớn nhờ thầy”.
                Nhưng mà những dòng chữ tôi viết bây giờ chắc không bao giờ được biết tới những dòng mực đỏ phê điểm ấy nữa. Buổi gặp mặt cuối cùng. Con đường xa hút dưới mưa trắng. Số tuổi chất nặng lên cuộc đời đã xế chiều. Giọng nói trầm trầm ấy đã chìm lặng, tôi linh cảm như vậy. Cái gậy trúc ấy chắc đã rời khỏi cánh tay gầy yếu, rơi xuống một nơi nào đó, ở ngoài kia.
                Sống trên đời

                Comment

                • #23

                  Ba bài thơ mới tìm được của Mai Thảo

                  Anh Nguyễn Đăng Khánh, bào đệ của nhà văn Mai Thảo vừa gửi cho Sổ Tay ba bài thơ mới tìm được của tác giả Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Anh cho biết ba bài thơ này do anh Nguyễn Đức Chấn, cháu của Mai Thảo, tìm thấy tại Việt Nam hồi đầu năm 1999 khi Chấn về Sài Gòn đón mẹ sang Mỹ đoàn tụ cùng gia đình. Thư anh Khánh viết "Chấn đã cố tìm ở nhà chị tôi [mẹ của Chấn] nơi anh Mai Thảo thường tới ẩn náu khi bị chế độ mới truy lùng trong những năm 1975-78, một tấm ảnh mà Chấn đã chụp anh Mai Thảo với chị Kiều Chinh tại nhà hàng La Pagode. Mặc dù không tìm thấy tấm ảnh nhưng Chấn đã tìm được một tờ giấy trên đó anh Mai Thảo ghi ba bài thơ nhan đề Hình Tượng, Thủy Tinh và Kim. Sau hơn 20 năm, tờ giấy đã vàng, nét chữ đã mờ, rất khó đọc, nhưng vẫn là nét chữ của anh Mai Thảo. ... Ba bài thơ trên xác định một điều: Anh Mai Thảo làm thơ từ nhiều năm trước đấy chứ không phải [mới làm thơ] vào những năm gần cuối đời với tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền xuất bản vào năm 1989..."
                  Cùng với những bài thơ, anh Nguyễn Đăng Khánh gửi cho Sổ Tay tấm ảnh [màu] do nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh chụp Mai Thảo ngồi với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Trên góc trái bức ảnh, dưới chữ ký của Cao Lĩnh, tôi thấy dòng chữ viết tay: Dưới thềm gác mây 1974.
                  Bức ảnh mà tôi đã có lần ghi trong Sổ Tay là đã nhìn thấy trên vách phòng anh Mai Thảo trongcăn phòng nhỏ anh ở trên đường Bolsa, phía sau nhà hàng Song Long. Xin ghi lại nguyên văn ba bài thơ của anh như một tưởng niệm ngày anh qua đời và đồng thời là một đóng góp cho các nhà phê bình văn học những sáng tác còn bỏ quên của thi sĩ / nhà văn Mai Thảo:

                  hình tượng
                  Từ trong cửa tối nhìn ra
                  Thấy gần: bóng lá, thấy xa: biển trời
                  Lá lay, bóng cách ngăn đời
                  Biển im, hình tượng cõi người không ta.


                  thủy tinh
                  Trở mình chăn chiếu mênh mông
                  Giấc mơ chật hẹp vẫn trong cuộc đời
                  Mộng ta không xóa nổi người
                  Đáy đêm còn đọng tiếng cười thủy tinh.


                  kim
                  Miếng da bịt mắt thành đêm
                  Cây kim khâu miệng thành im lặng mồ
                  Tay chân, giây trói bao giờ
                  Da, kim, giây ấy bây giờ là ta.
                  Khẩu khí ấy, chữ nghĩa ấy không thể là ai khác, ngoài Mai Thảo.

                  [url="http://vanmagazine.saigonline.com/HTML-N/NguyenXuanHoangST/STNguyenXuanHoang"][COLOR=black][URL="http://vanmagazine.saigonline.com/"]Link
                  có ai đã đọc "Tình yêu màu khói nhạt " ,Mười đêm ngà ngọc ,Cũng đủ lãng quên đời...chưa. Thử tìm đọc cho biết thế nào là Mai Thảo nhé !)
                  Đã chỉnh sửa bởi GRANDET; 25-07-2009, 01:53 AM.
                  Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                  Comment

                  • #24

                    Tiểu sử Mai Thảo


                    Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, ông sinh ngày 8/6/1927 tại chợ Cồn, xã Quần-phương-hạ, huyện Hải-hậu, tỉnh Nam-định (nguyên quán làng Thổ-khối, huyện Gia-lâm, tỉnh Bắc-ninh, cùng quê và có họ với hoạ sĩ Lê Thị Lựu), cha là một thương gia và điền chủ giàu có. Mai Thảo hấp thụ tính yêu văn chương của mẹ gốc Bắc-ninh. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam-định rồi Hà-nội (học trường Đỗ Hữu Vị, sau là Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng-yên. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà-nội tản cư về quê chợ Cồn, trong "Căn nhà vùng nước mặn", từ đó Mai Thảo rời nhà vào Thanh-hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên-khu-ba, Liên-khu-tư đến chiến khu Việt-bắc. Thời kỳ này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn chương ông. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến vào thành, đi buôn. 1954, di cư vào Nam. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương báo Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông nom báo Văn. Tham gia chương trình văn học nghệ thuật của các đài phát thanh tại Sài-gòn từ 1960 đến 1975. Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển. Sau 7 ngày đêm trên biển, thuyền tới Pulau Besar, Mã-lai. Đầu năm 1978, được em bảo lãnh sang Hoa-kỳ. Ít lâu sau ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 7/1982 ông tái bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ông mất tại Santa Ana, California ngày 10/1/1998.
                    Mai Thảo thích thơ, thuộc thơ, viết nhiều bài thơ dài từ năm 16, 17 tuổi, làm cả kịch thơ. Những tập thơ đầu đã thất lạc. Khi vào Nam viết văn, làm báo, ông bỏ thơ. Mười năm trước khi mất, Mai Thảo cho xuất bản tập thơ duy nhất: Ta thấy hình ta những miếu đền, cô đọng những cô đơn mất mát của một đời người.

                    *
                    Sách đã xuất bản:
                    Đoản thiên: Đêm giã từ Hà-nội (Người Việt, 1955) Tháng giêng cỏ non (1956), Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963), Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965), Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966), Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967), Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968), Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969), Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969), Tùy bút (1970), Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà-nộiTháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970), Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987), Một đêm thứ bẩy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988) Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989), Chân bài thứ năm (Nam Á, Paris, 1990), Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990).

                    Truyện dài: Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963), Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác), Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964). Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966). Đêm kỳ diệu. Cùng đi một đường (1967). Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968), Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968), Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969), Lối đi dưới lá (1969), Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969), Thời thượng (Côi Sơn, 1970), Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970), Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970), Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970), Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971), Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971), Một ngày của Nhã (1971), Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971), Sóng ngầm (Hoa biển, 1971), Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972), Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn đình Vượng, 1972), Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972), Gần mười bẩy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972), Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972), Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Tình yêu mầu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973), Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973), Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973), Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973), Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974), Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974), Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)...

                    Thơ: Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989).

                    Nhận định, hồi ức: Chân dung mười lăm nhà văn, nhà thơ Việt Nam (Văn Khoa, 1985)

                    Phạm Trọng Lệ, trên báo Văn số Tưởng mộ Mai Thảo (tháng 2/1998) đã sưu tầm một thư mục Mai Thảo, trong đó có ghi số trưong mục những tác phẩm được lưu trữ tại các thư viện ở Hoa Kỳ.

                    Để giúp bạn đọc tìm hiểu tác phẩm của Mai Thảo, chúng tôi ghi lại sau đây nội dung một số những tập đoản thiên của Mai Thảo. Mai Thảo viết rất đều tay, nhưng cũng xin gạch dưới môt số bài mà chúng tôi cho là những đoản thiên đặc biệt hơn, đáng chú ý hơn.

                    Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo 1963) : Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời, Luân, Tiếng cười trên ấy, Người điên dưới chân sườn Tam Đảo, Buổi trình diễn cuối cùng, Người đàn bà trong vòng đai trắng, Trong rạp chiếu bóng, Bên kia cồn cát, Buổi sáng và ngọn suối, Vết hằn trên da.

                    Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965): Cô lái đò thời kỳ kháng chiến, Bày thỏ ngày sinh nhật, Người đồng chí cũ, Cái lưới an toàn, Chuỗi hạt trai, Trong cơn mê sảng, Chân dung thành phố, Bước chân ngoài hành lang, Chấp một tay, Truyện tuổi nhỏ, Những người ở khách sạn.

                    Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm 1966):Căn nhà vùng nước mặn, Họp mặt ngày giỗ bạn, Những vì sao thứ nhất, Chuyến tàu trên sông Hồng, Một phố của trời, Quê hương trong trí nhớ, Giòng sông vết thương, Hôm nay đi chùa Hương, Những đêm Sàigòn.

                    Người thầy học cũ (Văn Uyển 1968):Những dò thăm không ngừng quá khứ, Căn nhà bên bờ suối, Người thầy học cũ, Người cha và người con, Sống như hình bóng, Con đường qua rừng, Thần tượng, Cái bót gác trong khu phố, Thư cho một người bạn.

                    Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968): Nói chuyện với những người viết mới, Bước đi một bước, Dòng sông rực rỡ, Cửa sau, Cầu nguyện ngoài trời, Chiều cuối năm, Lá cờ đỏ chói.

                    Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969): Chuyến tàu trên sông Hồng, Vầng trăng thơ ấu, Chấp một tay, Người cha và người con, Lên mười, Người thầy học cũ, Người điên dưới chân sườn Tam Đảo, Những tấm hình của chị Thời, Những vì sao thứ nhất.

                    Mưa núi (Tân Văn, 1970): Tuyển những truyện ngắn trong hai cuốn: Đêm giã từ Hà Nội (1955) và Tháng giêng cỏ non (1956): Lời vào tập, Đêm giã từ Hà Nội, Nhà mới, Mưa núi, Một chiều qua Cửu Long, Chiếc xe hàng cũ, Tháng giêng cỏ non, Người bạn đường, Giai đoạn chị Định, Đêm tân hôn.

                    Chân dung (Văn Khoa, 1985): chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam: Vũ Hoàng Chương, Thanh Nam, Bình Nguyên Lộc, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu. Nguyễn Đình Toàn, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Mặc Đỗ, Nguyên Sa, Phạm Công Thiện, Nhật Tiến, Túy Hồng, Lê Tất Điều, Trùng Dương.

                    Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto Canada, 1987): Ngọn hải đăng mù, Cánh tay dịu dàng một đất nước ở xa, Vệt son, Giữa hai cơn mưa, Thế giới của Kathy Graham, Sân khấu giữa rừng, Đêm Sydney, Người Hà Nội cuối cùng, Đêm sa mạc, Mộ thỏ, Tiếng gọi, Trên một chuyến bus, Thơm của nhành hương, Đáy năm, Một buổi sáng mùa đông ở Massachusetts.

                    Mai Thảo
                    Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                    Comment

                    Working...
                    X
                    Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom