• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

QUÁCH TẤN

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • QUÁCH TẤN

    Trăng hoàng Hôn

    Chút lòng
    Vì thiên về luật Thi nên ngót 40 năm, từ ngày bước chân vào làng thơ, từ năm 1932 cho đến năm 1974, tôi chỉ có được một tập Lục Bát trên trăm bài lấy tên là Nhánh Lục.

    Từ Thu 1975 đến Ðông 1977, chuyên về Lục Bát, tôi soạn liên tiếp được hai tập, tập Nửa Rừng Trăng Lạnh và tập Trăng Hoàng Hôn này.

    Nguyên nhân sáng tác, dụng ý trong việc mệnh danh và tánh chất dị đồng của hai tập thơ tôi xin trình bày đại lược:

    Nửa Rừng Trăng Lạnh gồm thơ từ 6 câu trở lên mượn chữ trong thơ của Kỳ Lệ Xuyên Phương Bá đời Thanh:

    Nhất cảnh hiểu phong tầm cựu mộng
    Bán lâm hàn nguyệt thất cô thôn
    (Một đường gió sớm đi tìm giấc mộng cũ
    Nửa rừng trăng lạnh che lấp thôn mồ côi)</DIV>

    Trăng Hoàng Hôn gồm thơ 4 câu mượn chữ trong thơ Lâm Hoà Thịnh đời Tống:
    Sơ ảnh hoành tà thuỷ thanh thiển
    Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn.
    (Ảnh thưa thớt toả dọc ngang trên dòng nước trong và cạn
    Hương kín đáo trôi nổi dưới bóng trăng lúc chiều hôm)


    Thơ của cổ nhân vốn không liên quan đến thơ trong hai tập Lục Bát. Mượn chữ đặt tên chỉ mong tỏ chút lòng cùng bạn tương tri tương ái.

    Thơ tuy chia làm hai, nhưng hai mà một. Bởi thơ của hai vị Thi Bá, Thanh cũng như Tống đều là thơ vịnh mai và đều là mai dưới nguyệt. Mai ẩn trong nguyệt, nguyệt lồng vào mai. Một tinh thần một cốt cách. Song Mai của Kỳ Lệ Xuyên là mai dưới trăng khuya rừng vắng, trong sáng mà lạnh lùng. Còn Mai của Lâm Hoà Thịnh là mai dưới trăng lúc chiều trời bảng lảng, nhã đạm mà thanh u. Phong vị không đồng mà sắc thái cũng khác, nên một mà hai. Một mà hai, hai mà một. Ðó là chỗ không khác mà khác, khác mà không khác giữa hai tập thơ.

    Thơ trong Trăng Hoàng Hôn chỉ là những nét chấm phá lướt qua giấy mỗi khi tâm động ý sanh. Khí cách, thần thái không khác bóng trăng dưới trời chiều, vừa yếu vừa lạt. Lại thêm bị thời cuộc chi phối, tâm hồn tôi không được thanh thản an thư. Chất thơ cũng như giọng thơ do đó không thuần nhất, lắm khi không được trong, không mấy nhuyễn.

    Người xưa bảo: “Oanh già không hót, người già không nên làm thơ” Bởi oanh già biết giọng hót của mình không còn thanh tao, thì người già cũng phải biết rằng lời thơ của mình không còn tráng lệ. Nhưng tôi làm thơ không phải để phấn sức tài hoa, mà để ký thác tâm sự, giải thoát ưu tư. Nên miễn sao từ đạt ý là mừng.

    Song để khỏi ném đi vì vô vị, mong bạn lòng đừng dừng lại nơi Có mà gắng đi vào chỗ Không. Bạn sẽ gặp mùi ám hương của hoa mai len lỏi trong bóng chiều bảng lảng.

    Nha Trang Tiết Xuân Phân
    Năm Mậu Ngọ (1978)
    Quách Tấn


    Nặng tình
    Gái thời bến nước mười hai
    Mười hai bến chợ làm trai là mình
    Dòng đời dù lắm lênh đênh
    Con đò xưa vẫn nặng tình cây đa.

    Thương mình
    Thương mình nặng nghiệp văn chương
    Ðã tơ khúc ruột còn sương mái đầu
    Mênh mông biển nhuộm màu dâu
    Trăm năm thế ấy nghìn thu thế nào?

    Tâm sự
    Toan vùi đóm lửa văn chương
    Dòng trôi tâm sự gió sương lại nhiều
    Gương trong dù chẳng nhiễu điều
    Vầng trăng cổ độ dẫn triều nước lên.

    Lầu khuya
    Lầu khuya đã dứt tiếng đàn
    Còn nghe đôi cánh hương tàn rụng thu
    Phong trần ngấm vị phong lưu
    Lòng không trăng nước Giang Châu vẫn buồn.

    Tạnh mưa
    Mưa rồi trời lại thêm trong
    Giàn hoa thiên lý cánh ong dập dìu
    Lưa thưa rụng giọt nắng chiều
    Áo phơi gió nhẹ ít nhiều hương bay.

    Nở hồng
    Bụi đường đã vắng ngựa xe
    Bức mành rũ thấp còn e gió lồng
    Ngồi nhen bếp lửa sưởi lòng
    Hoa thơm mấy nụ nở hồng trong sương.

    Còn nghe
    Hừng đông nối bóng trăng tà
    Tiếng chim mát mẻ màu hoa ngọt ngào
    Duyên trần đã tỉnh chiêm bao
    Còn nghe bước sóng ra vào bến xưa.

    Ngại ngùng
    Ngại ngùng lửa nắng dầu sương
    Nhớ nhau tìm giấc canh trường thăm nhau
    Trăng tà hiu hắt gió lau
    Thương ai tóc đã bạc màu hoa xuân.

    Cúc tháng hai
    Canh chầy lòng biết gởi ai
    Sân trăng nhìn cúc tháng hai ngậm ngùi
    Lạnh lùng tiếng vạc mây trôi
    Giếng xưa hắt ánh sao rơi vào thềm.

    Ngàn xanh
    Ðều trời nửa nắng nửa mưa
    Thiu thiu giấc mộng song trưa vừa tàn
    Chim non chiu chít gọi đàn
    Ngàn xanh ngắm vọi muôn vàn nhớ thương.

    Hoa quỳ
    Ðổi thay cũng bởi tại trời
    Thân mình mình giữ trách người ích chi
    Nâng lòng đón ánh tà huy
    Vườn quê nghĩ khóm hoa quỳ mà thương.

    Thâu đêm
    Rằng buồn nghĩ chẳng ích chi
    Mà vui cũng chẳng có gì mà vui
    Ngoài hiên mưa gió sụt sùi
    Củi nhen nửa bếp lửa cười thâu đêm.

    Bến xa
    Thuyền ai lạnh phiếm trăng thâu
    Ðìu hiu lau lách nhạt màu áo xanh
    Nước non dệt mộng không thành
    Bến xa huyền hạc bay nhanh trở về

    Nghẹn ngào
    Bạn xưa người mất người xa
    Người gần ngó lại ai là bạn thân
    Song thơ phủi lớp phong trần
    Ngâm câu “xuân thọ mộ vân”(1) nghẹn ngào.

    Tuổi già
    Tuổi già thêm nặng tình thơ
    Nhớ thương người khuất đợi chờ người xa
    Lắm đêm tỉnh giấc canh gà
    Ðem chồng thơ cũ mở ra ngồi nhìn.

    Một tình với thơ
    Mái đầu dầu đã hết xanh
    Trước sau đời vẫn một tình với thơ
    Hiu hiu mạch sống tràn bờ
    Mùa hoa nở trọn những giờ say xuân.

    Ngọt ngào
    Trang lòng phong kín ý thơ
    Chòm mai cổ thụ còn chờ chiêm bao
    Long lanh giếng mọc đầy sao
    Trà chuyên độc ẩm ngọt ngào trăng khuya.

    Nghêu ngao
    Trước nhà chợ họp lao xao
    Dưới hiên nằm hát nghêu ngao một mình
    Ai hay gió cũng đa tình
    Thổi tường hoa nở cho nhành chim kêu.

    Ðọng giọt
    Từng hàng mây kéo ra khơi
    Sương khuya ướt cánh chim trời về đâu
    Bùi ngùi ra đứng sân sau
    Nhìn trăng đọng giọt trên tàu chuối non.

    Bồi hồi
    Tiếng quyên kêu lạnh nắng chiều
    Rừng lan hồng hạc tiêu điều khói sương
    Bồi hồi ngoảnh lại cố hương
    Ngựa ai đủng đỉnh dừng cương giữa đèo.

    Ngậm ngùi
    Non trăng đã lặng dấu hài
    Trải niềm tâm sự sân lài trắng sương
    Thương mình chẳng bước tha hương
    Lòng nghe sóng vỗ trùng dương ngậm ngùi.

    Tiếng địch
    Tiết trời vừa mới sang đông
    Nối tình ly biệt đầy sông lá vàng
    Bến xa tiếng địch mơ màng
    Ðưa theo ngọn bấc lòng chàng Tiệm Ly.

    Lớp lớp mây giăng
    Sân lài ngào ngạt hương đêm
    Một mình thơ thẩn bên thềm đợi trăng
    Phương trời lớp lớp mây giăng
    Tuổi già nghĩ chuyện đấu thăng ngại ngùng.

    Mong bớt chua cay
    Tuổi già gặp buổi khó khăn
    Làm nông thiếu ruộng làm văn trái mùa
    Vị đời mong bớt chua cay
    Ðêm đêm ngồi lắng chuông chùa điểm sương.

    Nửa tin
    Hoa sâm đầy giếng nở hồng
    Trời mai nắng sưởi giấc nồng song thu
    Phấn dồi đôi cánh lãng du
    Nửa tin rằng bướm rằng Chu rằng mình.(2)

    Gió sen
    Mây giăng lớp lớp nhân tình
    Tránh đời sao lại ẩn mình trong mây?
    Ao nhà một giấc ngủ say
    Bình minh trở dậy thuyền đầy gió sen.

    Theo bóng
    Tìm hoa cánh bướm xuyên rừng
    Hiu hiu bụi phấn thơm lừng gió thu
    Gió lồng hương trắng bến lau
    Bóng chiều theo bóng thuyền câu vào bờ.

    Cánh cò
    Già càng thương cháu thương con
    Lo tìm hạnh phúc mong còn sức lo
    Sông sâu gặp buổi không đò
    Bâng khuâng ngắm vọi cánh cò lưng mây.

    Lệ sáp
    Tuổi già ngủ ít nghĩ nhiều
    Ðường kia nỗi nọ lắm điều thương tâm
    Nỗi niềm mong đợi tri âm
    Ðìu hiu lệ sáp ướt dầm trang thơ.

    Ngập tràn
    Lửa duyên lò nhúm chưa tàn
    Sao lòng phong nhã ngập tràn gió sương?
    Ân tình gợn sóng tang thương
    Lệ hoa rơi rụng vô thường dưới trăng.

    Vừa tạnh
    Chùa xa vừa tạnh giọt đồng
    Tường vi nén lệ nở hồng bình minh
    Hương lồng đáy giếng lung linh
    Trà mai một hớp ngọt tình cố viên.

    Tiếng dương cầm
    Dịu dàng trời hảnh nắng mai
    Quanh thềm giếng ngọt nở vài hoa sâm
    Tay ai thơm ngón dương cầm
    Từng đoàn bướm trắng bay tầm mộng xuân.

    Thân này
    Thân này tuy có mà không
    Tuy không mà có trăng trong giữa hồ
    Cây rừng lớp lớp vinh khô
    Mơ màng tiếng hạc bên hồ Chiêu Vương.

    Bến đò năm xưa
    Xa nhau lòng chẳng hẹn hò
    Nhớ nhau trở lại bến đò năm xưa
    Chuồn chuồn mặt nước điểm sưa(3)
    Hoa lau nở trắng đôi bờ tịch liêu.

    Ðôi én huyền
    Canh khuya mưa gió lạnh lùng
    Vẳng nghe trước giậu ngập ngừng tiếng ai
    Vội vàng khêu ngọn đèn côi
    Bay vào cửa hé một đôi én huyền.

    Gầy hơi xuân
    Lông vàng đôi mái gà tơ
    Gà con lông tía sởn sơ một bầy
    Trời chiều hiu hắt gió tây
    Ôm rơm lót ổ mong gầy hơi xuân

    Nhẩy nguồn
    Những lo lo chẳng được gì
    Những buồn buồn chẳng ích chi mà buồn
    Nhẩy sông nhờ nước nhẩy nguồn
    Nguồn chưa cạn nước nước còn xuống sông.

    Chờ lửa
    Ðường trưa nắng những lạnh lùng
    Huống đêm mưa gió não nùng xiết bao
    Thoi trầm ủ bóng non cao
    Nhúm lên chờ lửa ngọt ngào dư hương.

    Vấn vương
    Tuổi già tưởng được thảnh thơi
    Hay đâu bận rộn gấp mười ngày xanh
    Chuyện đời tính quẩn lo quanh
    Lòng thơ thêm mối chung tình vấn vương.

    Thu muộn
    Nắng vàng sưởi ấm hiên trưa
    Võng gai kẽo kẹt nằm đưa tuổi già
    Mây ngàn vọng tiếng chim ca
    Dẫu trong thu muộn vẫn là xuân xanh.

    Chép thơ
    Nghe than “gạo củi hết rồi”
    Bên hiên sẻ đậu vẫn ngồi chép thơ
    Tay đời đã vụng từ xưa
    Học đòi theo nhện giăng tơ ngỡ ngàng.

    Ngày tàn
    Bạn xưa gát bút cả rồi
    Song thơ một bóng mình ngồi ngâm trăng
    Ngày tàn thương Ðỗ Thiếu Lăng(4)
    Nghìn thu chớp ánh sao băng cuối trời.

    Vô tư
    Bạn thơ rày chẳng còn ai
    Tới lui trò chuyện chỉ vài nhà sư
    Chung trà hớp ngụm vô tư
    Chia tay nhìn bóng thanh hư gởi lòng.

    Một mình
    Gặp nhau nửa buổi chuyện trò
    Người về am vắng thơm tho gió ngàn
    Một mình ngồi tựa lan can
    Nhìn đôi chim én cặp làn mây bay.

    Nhớ chùa
    Nhớ chùa lòng muốn lên thăm
    Sườn non đã dốc đá dăm lại nhiều
    Lắng tai nghe tiếng chuông chiều
    Mặt hồ lặng sóng mây điều bay qua.

    Nhớ bạn
    Ngoài trời những gió cùng mưa
    Bâng khuâng nhớ bạn cửa chùa viết văn
    Hoa đèn nở nhuỵ chuông ngân
    Từng trang giấy lật hương xuân ngọt ngào.

    Mưa nắng
    Mưa mai không hẹn nắng chiều
    Nắng chiều sưởi ấm cánh diều mắc mưa
    Duyên bèo một chuyến đò đưa
    Bèo trôi bến cũ vẫn lưa(5) nghĩa đò.

    Nhớ chồng
    Sáng nay trời hảnh nắng vàng
    Ven sông khói biếc từng hàng cò bay
    Nhớ chồng đem lúa ra xay
    Lòng nghe thổn thức lệ ngày đưa nhau.

    Lên đồi Trại Thuỷ
    Mênh mông biển lộng sóng dừa
    Lên đồi Trại Thuỷ nắng vừa lên cao
    Mùi thiền ngấm vị phong tao
    Mùa không sen nở vẫn ngào ngạt hương.

    Ðưa nhau
    Nắng chiều nhuộm thắm ngàn mây
    Lưng đồi hoa nở vàng tay ai về
    Cửa chiền(6) thơm mát tình quê
    Ðưa nhau chiếc lá bồ đề bay theo.

    Am mây
    Lưng đồi khép cánh am mây
    Ðêm đêm lần hạt ngày ngày dịch kinh
    Phong lan trước cửa buông mành
    Hương trong theo ngọn gió lành bay xa.

    Trồng hoa
    Hoa không ấm cật no lòng
    Người trồng dâu lúa ta trồng hoa thơm
    Khi đời ấm áo no cơm
    Hái năm ba nhánh vào đơm lục bình.(7)

    Duyên lành
    Ðã trôi theo ngọn thuỷ triều
    Thân bèo chi khỏi ít nhiều lênh đênh
    Ðường xa gặp mối duyên lành
    Tình tha hương phút trở thành gia hương.

    Vô thường
    Hoàng hôn chầm chậm xuống gần
    Ðồi cao rảo bước thương vần Nghĩa Sơn
    Vô thường lá rụng từng cơn
    Trời xanh thả mảnh trăng non xuống hồ.

    Bên sông
    Hơi sương đã lạnh nắng chiều
    Con đò vắng khách tiêu điều nước mây
    Về rừng từng trận chim bay
    Thân cò mòn mỏi tháng ngày bên sông.

    Vườn quê
    Ngày nay chi khác ngày qua
    Ngày mai rồi nữa cũng là ngày nay
    Ðầy trời lá rụng sương bay
    Vườn quê một khóm mai gầy nở hương.

    Non sâu gởi về
    Bạn thân lớp trước chẳng còn
    Ðồng trang quá nửa mỏi mòn lá thu
    Thương mình đơn chiếc bóng dâu
    Khóm lan hồ điệp non sâu gởi về.

    Vẫn xanh
    Từng cơn lá rụng nắng vàng
    Gió đôi cổ tháp bay sang xóm chài
    Trời cao nhuộm thắm sông dài
    Màu xanh nước chảy chảy hoài vẫn xanh.

    Rụng nắng chiều
    Sen hồ từng trận hương đưa
    Chen tầng mây khói lửng lơ cánh diều
    Gió ru hồn mộng thiu thiu
    Chuông chùa khua rụng nắng chiều đầy non.

    Nỗi niềm
    Giang Lang tuổi đã về già
    Bút đâu còn sức cho hoa thắm màu
    Mây ngàn trải ngọn gió lau
    Ðôi hàng nhạn trắng chép mau nỗi niềm


    Chú thích: (Phần chú thích này không thuộc vào chính văn của tác phẩm, do Trương củng đưa thêm vào)
    (1)Xuân thụ mộ vân.春樹暮蕓. Ý nhớ bạn phương xa.
    Lấy chữ trong bài “Xuân nhật ức Lý Bạch” 春日憶李白 của Ðỗ Phủ, bài thơ tả lúc Ðỗ Phủ ở Giang Ðông ngày xuân nhớ Lý Bạch ở Vị Bắc.

    白也詩無敵, Bạch dã thi vô địch,
    飄然思不群. Phiêu nhiên tứ bất quần.
    清新庾開府, Thanh tân Dữu khai phủ,
    俊逸鮑參軍. Tuấn dật Bào tham quân.
    渭北春天樹, Vị bắc xuân thiên thụ,
    江東日暮雲. Giang đông nhật mộ vân.
    何時一樽酒, Hà thời nhất tôn tửu,
    重與細論文. Trùng dữ tế luận văn.

    Trần Trọng San dịch
    Ngày Xuân Nhớ Lý Bạch
    Không có thơ nào hơn Lý Bạch ;
    Ý phơi phới nhẹ, chẳng ai bằng .
    Thanh tân giống hệt Dữu Khai phủ ,
    Tuấn dật như là Bào tham quân .
    Vị Bắc cây xuân trời chốn cũ ,
    Giang Ðông mây vẫn bóng chiều tàn .
    Bao giờ rượu lại cùng nâng chén ,
    Câu chuyện văn chương lại được bàn ?

    (2) Trang Chu mộng hồ điệp: Trang chu nằm mộng thấy mình hoá bướm, tỉnh dậy không biết tối qua Trang Chu mơ thành bướm, hay sáng nay bướm đang mơ thành Trang Chu, ở đây tác giả tỉnh giấc không biết mình là mình, hay là Trang Chu hay là bướm đang nằm mộng.

    (3) Ðiểm sưa: Ðiểm thưa thưa, thỉnh thoảng đáp xuống nước. Sưa là thưa nói trạnh ra. Ca dao: Tiếc công đan giỏ bỏ cà, giỏ sưa cà lọt, công đà uổng công.
    (4) Ðỗ Thiếu Lăng: Ðỗ Phủ , Thi hào của Trung hoa đời Ðường
    (5) Lưa: còn dư, còn thừa.
    (6) Cửa chiền: cửa chùa, như ta thường nói từ kép chùa chiền.
    (7) Lục bình: độc bình, bình cắm hoa, viết theo phát âm của người miền Trung
    Em ơi lửa tắt bình khô rượu
    Đời vắng em rồi say với ai.
  • #2

    QUÁCH TẤN

    QUÁCH TẤN


    Quách Tấn là một hiện tượng đặc biệt của thi ca Việt Nam.
    Trong khi những nhà nho cuối cùng của chúng ta như Tản Đà, Phan Khôi gần như không còn ai làm thơ Đường luật nữa, và phong trào thơ mới cũng đang bước dần sang thế giới thơ tự do với những Nguyễn Xuân Xanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đình Thi; Quách Tấn vẫn sống lặng lẽ với “vũ trụ thơ ngũ ngôn, thất ngôn bát cú” của ông.

    Trước 1975 ông còn cho xuất bản nguyên một tập thơ sáng tác theo phong cách ấy, lấy tên là Mùa Cổ Điển.
    Hai chữ “cổ điển” chính ông dùng để gọi thơ mình, hình như không hề có ý thách thức hay so sánh vơí bất cứ một hình thức thơ mới / cũ nào. Nó chỉ khẳng định công việc của ông.
    Nói Quách Tấn lặng lẽ sống, không phải chỉ vì ít người, rất ít người gặp ông, biết ông như một người làm thơ, một thi sĩ. Người ta không bao giờ thấy ông tới một nơi nào để hội họp bàn chuyện văn chương, phát biểu ý kiến, phê bình, khen chê người này hay tác phẩm nọ, ở một địa điểm công cộng nào.
    Hình như ông cũng ít di chuyển, đi đây, đi đó.
    Ông ở Huế, hay thật ra, phần lớn người ta phỏng đoán như vậy, vì đọc thơ ông:

    Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng
    Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
    Tro tàn thơ viện duyên ngao ngán
    Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng
    Gầy gọ cỏ sương tùng Thế Miếu
    Bẽ bàng trăng nước trúc Huơng Giang
    Trông vời Thiên Mụ mây man mác
    Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng


    Nhớ xưa, Tản Đà sau đôi lần vào Nam ra Bắc, có lúc ngồi kiểm kiểm lại cuộc đời cầm bút của mình, đã viết trên tờ Đông Pháp Thời Báo số ra ngày 17 tháng 12 năm 1927 như sau:
    “Tôi từ theo nghề quốc văn kể có tới gần mười lăm năm, lên bổng xuống trầm, vào trong ra đục, phong trần chẳng quản, phi nghị mặc ai, thực cũng mong tựa văn chương để có ít nhiều sự nghiệp. Mới đây, tôi ở Hà Nội vào Nam, thăm Thuận An, qua Đà Nẵng, trải Hoành Sơn, Hải Vân, một lần đường bộ, hai lần đuờng thủy, càng thấy giang sơn ta là to, càng mới biết văn chương là rất nhỏ mà bao nhiêu cái tư tưởng muốn lấy văn chương làm sự nghiệp, tự nhiên như bọt bể mây ngàn”.
    Đó đây không thiếu những nguời khuyến khích, tán dương những chuyến du hành, nhất là đối với các văn nghệ sĩ, coi đó như một điều kiện cần thiết để sáng tác.
    Về chuyến đi xa và dài tới tận nước Mỹ của mình, Võ Phiến lại cảm nhận thêm một điều gì đó, vừa khôi hài vừa bi thảm nữa. Một bữa đi vãng cảnh núi non tại Quốc Gia Lâm Viên Hồng Sam, nhìn cây hồng sam có cái tuổi khoảng 4000 năm, gần ngang với tuổi của Tổ Hùng Vương, tần mần cho mấy ngón tay ngoáy vào những lỗ đá lớn bằng miệng chén trà, thổ dân Da Đỏ xưa đã dùng như là một thứ cối để nghiền thức ăn, Võ Phiến bỗng băn khoăn tự hỏi:
    “Một đứa bé sinh trưởng ở làng quê dưới chân dãy Trường Sơn bên Việt Nam như mình sao lại đến nỗi có ngày ngồi ngẩn ngơ giữa một cao độ um tùm miền Tây lục địa Mỹ Châu thế này?”
    Như thế, đi nhiều, đi xa, và có đi thật xa chăng nữa, đó là điều hay hay dở quả thật cũng khó biết. Nó lại còn tùy thuộc mỗi người nữa.
    Trước 1975, ở Sài Gòn, cũng hiếm khi người ta thấy bóng Quách Tấn, hoặc giả ông có vào, nhưng ngay cả trong văn giới hình như ông cũng không giao du.
    Ngay thơ ông, thỉnh thoảng lắm mơí thấy xuất hiện trên báo, thường là chỉ trong các số đặc biệt như số Xuân chẳng hạn.
    Đọc thơ Quách Tấn người ta thấy, cái mà ông yêu nhất có lẽ là sự lặng lẽ, yên tịnh:

    Chim chiều kêu trước giậu
    Gối sách nhìn hư không
    Phơi phới làn mây trắng
    Bay qua ngọn ráng hồng


    Ông sống với sự lặng lẽ tìm thấy, nghe thấy và cả nhìn thấy quanh mình:

    Nghìn xưa trang giấy lật
    Hiu hắt ngọn hàn đăng
    Tháo kính ra thềm đứng
    Cành rơi đôi giọt trăng


    Quách Tấn đã mất tại Huế ngày 21 tháng 12 năm 1992.
    Nghe nói trước khi mất ông đã phải trải qua những ngày khó khăn, tang thương lắm.
    Đọc lại thơ ông, nghĩ tới những nỗi biển dâu trong đời, người ta bỗng thấy cái tịch mịch, lặng lẽ trong thơ ông, thấm qua mình như một sự xóa bỏ không cưỡng lại được.
    Nhưng xóa bỏ cái gì đây?
    Đêm xóa bỏ ngày. Cái chết xóa bỏ đời sống. Quên xóa bỏ nhớ.

    Danh lợi mình không tranh với ai
    Vườn không rào kín ngõ không cài
    Sân lồng gió biển cháu kèo mận
    Hiên ngát hương trời ông thưởng mai


    Đầu bạc tuổi xanh xuân vẫn một
    Chim vàng bướm trắng thú chung đôi
    Bên đường em bé nhủ mua báo
    Rằng: nhạn đưa tin đã đến rồi


    Bài thơ Đường luật, vận / đối nghiêm chỉnh, nhưng hình ảnh, ý tứ, lại có vẻ gì đó nửa tân kỳ, nửa cổ điển: hiên mai, kèo mận, bán báo, nhạn đưa.
    Nếu thơ là nơi ẩn trốn của người làm thơ thì cùng một lúc nó cũng cho thấy đó là một nơi ẩn trốn không an toàn.

    Nguyễn Đình Toàn
    Sống trên đời

    Comment

    • #3

      Thi sĩ Quách Tấn và “tứ bửu” để lại cho con

      Thi sĩ Quách Tấn và “tứ bửu” để lại cho con

      Thương mình nặng nghiệp văn chương
      Đã tơ khúc ruột còn sương mái đầu
      Mênh mông biển nhuộm màu dâu
      Trăm năm thế ấy nghìn thu thế nào?

      Người viết những lời thơ ngậm ngùi ấy, khi mất đi để lại “Trường Xuyên tứ bửu” – Trường Xuyên là một trong những bút hiệu của thi sĩ Quách Tấn, “tứ bửu” là bốn vật quý.


      Lữ Đường di cảo


      Bốn vật quý ấy là những gì?

      Chiếc hộp đầu tiên mở ra, đó là ba lá mận khô. Nhà của thi sĩ có trồng cây mận trước sân, hàng ngày ông vẫn treo võng nằm dưới tán lá ngắm nhìn trời đất, suy tư thân phận và viết.

      Một buổi sáng tỉnh giấc, ông nhìn ra vườn thấy cây mận đã rũ héo (mà sau này ông phát hiện do thuốc khai quang), đau lòng quá ông ngồi bệt xuống gốc, thẫn thờ. Một ý thơ từ nỗi buồn khởi sinh, ông vào bàn và viết thi phẩm Bóng ngày qua. Đến đoạn nói về cây mận, chợt một cơn gió nhẹ thoảng đưa ba chiếc lá mận khô nằm trọn trong lòng ông. Những chiếc lá như lần vẫy chào cuối cùng của cây.

      “Vật kỷ niệm quý hơn vàng ngọc xứ trầm” – thi sĩ đề trên mảnh giấy vàng gói một miếng sừng tê giác có đường kính độ 4cm, bóng lưỡng, nặng trịch. Đó là món quà học giả Nguyễn Hiến Lê tặng thi sĩ. Cẩn thận hơn, phía dưới ông đề: “Khúc sừng tê giác của nhà văn Nguyễn Hiến Lê biếu để chữa bệnh đau mắt thanh quang nhãn, tựa gọi là bệnh hột cườm xanh. Quách Tấn bị đau mắt ngày 11.7.1973”. Sau khi nhận được quà bạn tặng, ông viết: “Khúc sừng này là tê giác hay sơn ngưu giác, đối với tôi vẫn là bảo vật. Tôi quý vật không ở giá trị vật chất hay công dụng của chúng, mà quý những ân tình, những hình ảnh chúng chứa đựng bên trong...”


      Khúc sừng tê giác


      Sinh thời, hai ông một ở Nha Trang, một ở Sài Gòn, quen biết nhau có hơn hai chục năm, nhưng gặp nhau chỉ vài lần mà thành tri kỷ. Cũng từng ấy năm, hai ông viết cho nhau tổng cộng 300 bức thư có thể in thành tập gần 1.000 trang. Có những lá thư học giả họ Lê gửi ra Nha Trang mãi ba tháng sau mới tới và một tháng rưỡi sau mới nhận được thư hồi âm của bạn. Trong mỗi bức thư đều chứa đựng rất nhiều câu chuyện bàn luận về văn chương thi phú và cả những tư tưởng, học thuyết của các triết gia Đông Tây kim cổ. Hiện nay ông Quách Giao, con trai thứ của thi sĩ Quách Tấn, đã tập hợp được 180 bức thư với khoảng 400 trang và chuẩn bị in thành sách.

      Báu vật thứ ba là bộ Tô Văn Trung gồm 20 quyển bạn ông tặng từ năm 1947, sau nhiều lần tản cư, ông vẫn giữ đủ. Nhưng “đến năm 1953 trong nhà không còn một đồng tiền, hột gạo mà nợ lại đang đòi, đành phải bán. Người ta trả 20.000 đồng tín phiếu (mua được 100 ký lúa) để làm… giấy hút thuốc. Không bán thì lấy gì ăn mà bán thì đau lòng quá. Ta bèn đi bộ trên 80km đến tìm Phan Thao làm chủ tịch văn hoá miền Nam và xin bán 10.000 đồng thôi – thà ít tiền mà sách còn trên trần thế. Nhưng văn hoá chê không mua mà tìm không có ai mua để đọc nên đành bán cho người ta hút thuốc!!!...” Bán mà vẫn tiếc nên ông dành lại một cuốn duy nhất, in hình Tô Đông Pha rất đẹp giữ làm kỷ niệm và trở thành một trong những báu vật ghi dấu một thời đói khổ cơ hàn.


      Cuốn sách duy nhất còn lại của bộ Tô Văn Trung


      Ba chiếc lá mận khô


      Báu vật thứ tư cũng là một cuốn sách, có tên Lữ Đường di cảo. “Viết truyện về Lữ – Đường mà tình cờ được tập thơ của Lữ – Đường, tưởng cũng là một truyện ngẫu nhiên kỳ thú”, thi sĩ viết đằng sau tập Đường thi của Thái Thuận, một quan văn triều Lê, vài dòng để kỷ niệm duyên kỳ ngộ này. Sở dĩ ông xem đây cũng là báu vật vì với ông toàn bộ những tinh tuý gửi gắm trong thơ ca đều kết tinh từ những bài Đường thi.

      Bài thơ đáng nhớ
      “Tôi may mắn sống với cha từ nhỏ, chuyện buồn vui, lớn nhỏ gì ông cũng kể cho tôi nghe, kể cả thơ, đôi khi chưa ngâm được với bạn văn, ông bảo tôi pha trà, bắc ghế ngồi cạnh nghe ông ngâm. Rồi ông giải thích cho tôi và tự tôi thấy rất yêu thích mà cũng vội ghi lại trong sổ tay của mình. Sau này nó hữu ích cho tôi mỗi khi chuẩn bị làm sách cho ông. Khi cha tôi mất, ông không nói được, chỉ ra dấu bảo lấy cho cây bút và tờ giấy, ông viết bốn chữ: “Không được bán sách”. Từ đó, không những tôi không bán mà còn tiếp tục in sách cho ông. Cả đời ông, 50 năm viết sách làm thơ được 70 cuốn. Từ đó đến nay đã in được 35 cuốn rồi. Không biết hết đời tôi có in hết không vì năm nay tôi đã gần bảy mươi. Tôi cũng mong đời con, đời cháu mình vẫn còn quý sách”, ông Quách Giao tâm sự. “Vậy ông thích nhất bài thơ nào của cụ?” – “Tôi không thể trả lời bài thơ nào là thích nhất. Nhưng có một bài thơ mà ông cụ bảo tôi chép lại, rồi chép cả ý nghĩa của nó nữa. Bài thơ ấy đơn giản, dễ nhớ mà ý nghĩa sâu xa vô cùng. Có khi cả một đời người sống cũng chỉ gói gọn bấy nhiêu chữ ấy thôi. Tên của bài thơ cũng giản đơn

      Trước–sau

      Trước tết mai là hoa
      Sau Tết mai là củi
      Trước bao nhiêu nâng niu
      Sau bấy nhiêu buồn tủi
      Nâng niu mai chẳng mừng
      Hất hủi mai chẳng tủi
      Nghìn trước nối nghìn sau
      Khe trong lồng bóng núi.

      Ngôi nhà số 12 Bến Chợ – Nha Trang mà cố thi sĩ và gia đình gồm vợ với chín người con ở từ năm 1938, chỉ được sửa chữa một lần duy nhất vào năm 1985. Sửa xong nhà hôm trước, hôm sau là đám cưới cháu ngoại. Đằng trước rước dâu, đằng sau cụ đắp chăn, nhắm mắt thanh thản ra đi. Rồi mãi đến năm ngoái, ông Giao mới cho xây thêm một phòng đằng trước để tiếp khách, còn phòng khách cũ thành nơi thờ và lưu giữ kỷ vật cùng sách của thi sĩ. Đúng là “cơm áo không đùa với khách thơ”. Nhưng thử hỏi mấy ai, kể cả những người giàu có bậc nhất, để lại được “tứ bửu” như thi sĩ Quách Tấn cho con cháu làm bài học về giá trị cuộc sống?

      bài và ảnh Ngân Hà
      ----------------------------

      Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

      Comment

      • #4

        Mít cho CO mượn hình vuonnha nhe...Cảm ơn Mít.


        Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 13-06-2010, 02:00 AM.
        ----------------------------

        Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

        Comment

        Working...
        X
        Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom