Lần 1
Em tôi, Liệt sĩ Nguyễn Hoài Châu – hy sinh ngày 22.7.1972. Gia đình nhận được giấy báo tử Ls vào một ngày cuối năm 1974. Tôi còn nhớ như in ngày ấy - ngày 25.12.1974, ngày mà Tổ chức, chính quyền ở địa phương làm lễ báo tử, truy điệu em tôi ngay tại gia đình. Một ngày đông giá rét mưa lạnh, có lẽ đây là mùa đông lạnh giá nhất mà gia đình tôi đón nhận khi còn sống trên đất Bắc. Vậy mà gần 30 năm sau gia đình tôi mới có điều kiện tìm kiếm Ls - em tôi.
Tháng 7.2000
Những thông tin mà gia đình ngày ấy nhận được từ đồng đội của em, Ls hy sinh do bom vùi, không lấy được xác trong một trận đánh ở khu vực Bảy núi – An Giang và theo chỉ dẫn của một nhà ngoại cảm thì hài cốt em tôi đã được quy tập về nghĩa trang Liệt sĩ Cần Thơ. Mộ vô danh thứ 3, hàng thứ 3, dãy sau cùng phía bên trái tính từ dưới lên.
Vào thành phố HCM, tôi đi CầnThơ ngay. Đến BCH quân sự tỉnh. Các anh ở phòng chính sách đón tiếp ân cần và được trực tiếp phụ tra cứu hồ sơ liệt sỹ. Lật tìm những trang hồ sơ ố vàng, chắc đã không ít lần qua tay những người tìm kiếm như tôi hôm nay. Không có tên Ls, các anh giới thiệu tôi qua phòng chính sách QK 9. Đã chiều tối, hết giờ làm việc tôi được bố trí nghỉ đêm ở trạm đón tiếp. Rất may cho tôi, đ/c cán bộ phòng chính sách QK 9 vợ con còn ở dưới quê. Ảnh ở lại đơn vị, lâu lâu mới về thăm nhà. Bữa chiều cùng tắm giặt ở bể nước, sau khi nghe tôi tâm sự, ảnh hứa tối nay sẽ dẫn tôi lên phòng cùng tra cứu hồ sơ.
Bữa cơm lính tươm tất, có lẽ cơm khách. Đã mấy mươi năm rồi lại ăn một bữa cơm lính, ngủ nhà lính. Vẫn biết đời lính là gian khổ, nhưng những gì bây giờ người lính có được so với năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt của chiến trường QK 5 nói riêng, miền Nam nói chung mà chúng tôi đã từng sống và chiến đấu thật không thể nào so sánh được.
Gần hai giờ tra cứu danh sách Ls các thời kỳ có tại Ban chính sách QK 9, buồn đến não lòng vì không có tên Ls em tôi, cũng như một chút gì tung tích Tiểu đoàn 553. E 5. F 350 vào chiến trường tháng 2.1972, hay D6-KB mật danh đơn vị lúc em tôi hy sinh. Ghi trong giấy báo tử .
Mật danh ! ôi mật danh. Ba mươi năm sau cuộc chiến mà cái mật danh quái quỷ kia vẫn không được một cơ quan chức năng nào có một lời trách nhiệm giải thích, hướng dẫn. Mặc cho hàng triệu gia đình thân nhân liệt sỹ chúng tôi phải đau đáu xoay xở, tự tiềm kiếm, dò hỏi . Bí mật quốc gia ư ?
Sao mà lạnh lung vô cảm đến thế ? ? “ Nghĩa trang mặt trận phía Nam ” – KT ?KB ? KN ?... Là ở đâu nơi trời Nam mênh mang ấy ? Tại sao lại bí mật quốc gia trên nỗi đau của gia đình Liệt sĩ ?
Vâng. Xin đừng vô cảm với những người đã ngã xuống cho Tổ Quốc, cho hạnh phúc no ấm chúng ta đang hưởng hôm nay. Hãy cảm chia nỗi đau mất mát, khắc khoải vất vả, gian khó chặng đường đi tìm nắm xương cốt nhục Ls của gia đình chúng tôi đã và đang trải
Mọi sự lý giải : ….chúng tôi là thế hệ sau nên chịu…chỉ là ngụy biện, là vô trách nhiệm
… “ Ngày con lên đường phiếu xanh, bìa đỏ
Mái phố nghèo ấm áp tiễn con đi
Giấy gọi con vào trường đại học Y
Mẹ xếp phẳng đợi con về đi học.
Bốn năm sau nhận tin con mất,
Nơi chiến trường xa lắc, xa lơ
Mẹ điên dại sống quanh quẩn bàn thờ.
Lúc nhắm mắt ôm con về với đất.
…..Tờ lịch thời gian quên ngày chiến trận
Mẹ mất rồi ai nhớ giỗ con đây ?
Mười tám, đôi mươi lấp lánh ánh sao
Cánh rừng xanh bạc phai màu ký ức…”
Mưa lạnh, lạ nhà và muỗi như sáo.Thật khó ngủ, mong trời mau sáng. Cùng ở lại trạm đêm ấy có hai chú cháu gia đình Ls từ Thái Bình vào. Cháu khoảng 20 tuổi, đi tìm mộ bố hi sinh trong chiến tranh biên giới Tây nam, Cháu tâm sự chỉ nhìn thấy bố trong ảnh và cũng rất nhiều lần còn được gặp trong mơ nữa. Trước khi xây dựng gia đình muốn làm một cuộc hành hương đi tìm bố. Chặng đường hai chú cháu đi là từ quê vào thẳng An Giang, nhưng chưa tìm được, giờ quay lại Cần Thơ. Cùng hoàn cảnh đi tìm Ls nên chúng tôi dễ hòa nhập thân quen. Cuộc hành trình của hai chú cháu qua lời họ kể đã giúp ích rất nhiều cho tôi trong cuộc hành trình sắp tới
Sáng hôm sau, theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm, tôi đến Nghĩa trang - Đài tưởng niệm Ls ở Thành phố Cần Thơ, Khi đến đúng ngôi mộ trên thì cái nào cũng giống cái nào. Vuông thành, sắc cạnh, một ngôi sao đỏ trên bia mộ và dòng chữ nhói đau : Liệt sĩ vô danh. Sắp đến ngày TBLS 27-7 nên các mộ đều được sửa sang, nhổ cỏ, quét vôi mới… Chưa đủ thông tin chắc chắn nên tôi không dám nhận ngôi mộ ấy mà chỉ thắp nhang chung trên đài tưởng niệm và dành phút lâu mặc niệm bên ngôi mộ ấy. Em - hay đồng đội nào nằm dưới đó hãy thông cảm cho nỗi niềm khó sử của tôi.
Theo gợi ý của hai chú cháu tại trạm đón tiếp QK 9 đêm ấy và đ/c cán bộ ở phòng chính sách. Tôi quyết định đi Châu Đốc, nghĩa trang dốc Bà Đắc…một vệt dài quanh vùng căn cứ bảy núi An Giang – nơi mà lúc đó trong thâm tâm nghĩ. Ls em tôi đã từng sống, chiến đấu ..và nằm lại đâu đó nơi ấy.
Chia tay Cần Thơ, bắt xe đò tôi đi Châu Đốc, sau khi đã được gia đình Ls ở trạm đêm trước chỉ dẫn cặn kẽ hướng đi, giá cả…Khoảng 10h đã có mặt ở Châu Đốc, tranh thủ tôi hỏi đường vào phòng chính sách địa phương, dù đã sắp hết giờ làm việc nhưng các đ/c ở phòng đã nhiệt tình giúp tôi tiếp cận hs lưu trữ tra tìm tên Ls. Cũng không nhiều nhặn gì, chỉ vài cuốn hồ sơ. Đã có kinh nghiệm lần tra cứu tại tỉnh đội Cần Thơ, tôi lật đi lật lại những trang liệt sĩ có tên Châu… Trời nắng lại sắp giông, không khí ngột ngạt oi nồng, mồ hôi thấm xuống mắt cay xè ..và một lần nữa tôi không khỏi thất vọng vì không có một thông tin nào liên quan đến em tôi.
Cảm ơn các anh ở phòng chính sách Châu Đốc, tôi bắt xe thồ thẳng hướng nghĩa trang dốc Bà Đắc -Tri Tôn vì theo tôi được biết ở đó có nhiều bia Ls quê Hải phòng. Vâng chúng tôi là những hs miền Nam tập kết ra Bắc. Phần lớn tuôỉ học sinh chúng tôi sống và học tập tại Hải Phòng, đất Cảng trung dũng kiên cường có mùa hè rợp trời hoa phượng đỏ. Sau khi tốt nghiệp lớp 10 - ngang với hs PTTH hiện nay, chúng tôi lại cùng bao con em đồng bào miền Bắc trở về giải phóng miền Nam. Ngày ấy số hs miền Nam như chúng tôi trong một Tiểu đoàn huấn luyện đi B ở Trung đoàn 5. Sư đoàn 350 thường đếm chưa đếm hết trên đầu ngón một bàn tay, và một khi ngẵ xuống đâu đó như bao thanh niên con em đồng bào miền Bắc khác. Giấy báo tử về gia đình – các cơ quan chính sách hồi đó thường ghi : Đã được mai táng tại khu vực nghĩa trang mặt trận phía nam ! Vâng nằm ở đâu cái “ nghĩa trang mặt trận ” nơi cõi trời Nam mênh mang ấy ??
Bắt xe thồ nhằm hướng Tri Tôn, trời chiều vần vũ kéo mây và cơn giông chợt tới. Trú mưa tại một quán lá ven đường. Theo hướng tay anh xe thồ chỉ, xa xa là núi Bà Đen sừng sững in đậm giữa vùng đồng nước mênh mông, theo lời anh xe thồ. Những năm ác liệt bộ đội miền Bắc hy sinh quanh khu vực núi Bà nhiều lắm. Mưa ào tới rồi cũng mau tạnh. Trời lại trong veo, nắng không còn gay gắt nữa. Chúng tôi hối hả lên đường như mong bù lại khoảng thời gian đã mất. Đến cơ quan chính sách huyện Tri Tôn các anh chị đang họp nhưng khi nghe tôi trình bày xin gặp các anh chị đã tận tình hướng dẫn. Tra danh sách hầu như chẳng có gì vì theo các anh chị : Danh sách các Ls đã được quy tập thì ở Ban quản lý nghĩa trang đầy đủ hơn cả vì hầu như tháng nào cũng có anh em mình được quy tập về do bà con mình làm rẫy, trẻ chận trâu bò trên núi …phát hiện báo cho đội quy tập.Cán bộ dân chính đảng, bộ đội địa phương…hy sinh những năm trước 75 ở một khu do anh Minh, người Tịnh Biên – An Giang phụ trách; Một khu khác gần đó hầu hết là anh em miền Bắc hy sinh sau 75, nhiều nhất là Ls của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1979.
Tôi quyết định tìm đến khu do anh Minh phụ trách, hồi ngoài Bắc có thông tin em tôi khi hành quân vào chiến trường sốt rét nằm lại đường dây, sau bổ sung vào bộ đội địa phương.
Bảy núi âm u khi trời đã về chiều và nghĩa trang càng tĩnh lặng, gọi là anh vì từng là người lính với nhau chứ thực ra tôi phải xưng cháu và gọi anh bằng chú mới phải. Đón tôi trong căn nhà chòi đơn sơ anh Minh cho biết :
- Nghĩa trang mới có kinh phí sữa chữa xây mới, nhà cửa vôi vữa bề bộn lắm. Ít bữa nữa xong anh em mình nơi chốn khang trang, gia đình lên thăm viếng có chỗ đón tiếp chu đáo là Qua mừng rồi.
Cầm tấm ảnh Ls tôi đưa, anh nghẹn ngào lặng đi.
- Tội chú em hy sinh trẻ quá
Ngày ấy chúng tôi ra trận đều vừa mười tám, đôi mươi. Tuổi mơ ước, hứa hẹn, ấp ủ…. Em tôi đậu cơ điện Bách khoa Hà Nội năm ấy, nhưng giấy báo nhập ngũ đến trước. Ước mơ, hoài bão ai mà chẳng có, xong đành xếp lại. Có một câu nhà thơ Tố Hữu đã viết những năm tháng ấy .
….Mỹ hại trăm nhà lo diệt trước
Rắn mình em chịu có sao đâu !
Tuân lời hiệu triệu của Bác Hồ : Tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Là con em Miền Nam trở về giải phóng quê hương, tiếng gọi thiêng liêng ấy đã giúp chúng tôi vượt qua bao gian khổ hy sinh ác liệt ngày ấy
Tra tìm tới lui không có tên Ls. Anh Minh nói :
- Ơ đây phần lớn là cán bộ, bộ đội địa phương hy sinh thời chống Mỹ… do vậy họ biết rõ quê quán, hoàn cảnh, địa điểm chôn cất … Khi quy tập, bia mộ dễ dàng thuận tiện hơn. Chắc chú em không về bộ đội miền, có khả năng nó nằm bển - khu chủ lực miền Bắc vào. Em qua đó coi, may phước có.
Chia tay anh Minh. Qua tới nghĩa trang dốc Bà Đắc trời vừa sập tối. Bầy gà táo tác về chuồng. Vùng này hồi ấy chưa có điện, mấy anh quản trang đang lo đóng cửa, thắp nhang trên nhà tưởng niệm. Tôi theo vào, một nén nhang cho anh em đồng đội; Thương nhớ em tôi. Kệ sau trang thờ vẫn còn ba bộ cốt Ls bọc trong tấm nhựa. Các anh cho biết :
- Cốt anh em mình mới tìm thấy, chưa kịp làm lễ hạ huyệt nên còn để tạm đây.
Bật hộp quẹt xem kỹ bọc hài cốt, tôi không thấy có ghi tên tuổi, ký hiệu gì… Mai này nghĩa trang thêm hàng mộ mới với dòng chữ nhói lòng mà ta thường thấy : Liệt sĩ chưa biết tên.
Mâm cơm chiều đạm bạc, có ngọn đậu, lang luộc chấm nước mắm, canh bí đỏ nấu đậu phộng, con cá tràu trui lửa..và thêm can 5 lít đế. Các anh nói tôi cùng ngồi ăn. Tứ hải huynh đệ mà, vả lại ở đây biết chạy đâu? Chén rượu xoay tua. Lần đầu tiên tôi mới thấy cách uống một nữa, nhổ một nữa rượu như mấy anh đây. Lạ mà không dám hỏi; Sau này mới biết ở đây quen uống vậy. Mới hai ba tua quanh chiếu đã ướt mèm. Kiểu này chắc tốn rượu lắm đây, được cái rượu lạt !
Qua trò chuyện, các anh cho biết : Nghĩa trang này mới xây dựng, chủ yếu quy tập số anh em mình hy sinh trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Nằm đây hầu như đủ mặt các tỉnh thành phía Bắc như… Hải phòng, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Nam Hà.… Được quy tập thành từng tỉnh riêng. Hải phòng đâu có vài chục mộ, đều hy sinh sau 79. Không có Ls năm 72.
Buồn nghẹn lòng. Châu ơi ! em ở đâu ? Có linh thiêng cho gia đình biết nơi em nằm. Chân trời góc biển nào, khó mấy cũng gắng đưa em về. Má ngày càng già yếu, đưa được em về má mới yên lòng nhắm mắt, nỗi đau này mới có thể nguôi ngoai. Giờ còn sức tìm kiếm, mai kia già yếu, lấy ai đưa em về đây ??? Năm tháng vật đổi, con người, sự kiện, hình hài …dần trong quên lãng. Mấy ai có còn nhớ ! Biết hỏi ai đây ???
Đêm ngàn sao. Râm ran côn trùng giữa rừng già thăm thẳm mông lung. Tôi nằm đây, với các anh như giữa bãi khách binh trạm Trường Sơn năm nào, đu đưa cánh võng bài ca ra trận. Thắp nén nhang cầu cho các anh vĩnh hằng cùng non nước. Dù sao cũng là may mắn. Bao anh em đồng đội mình máu xương giờ thành tro bụi, hóa thân vào đất nước, non sông.
Anh Tư quản trang, nhà gần đây cho biết ở vùng này có một lính Hải Phòng thời đánh Mỹ, hết chiến tranh ở lại trong này lấy vợ Miên. Nếu cần mai sớm anh chở tôi đi tìm, may có tin gì, tiện ghé phòng chính sách Tịnh Biên luôn, anh có công chuyện ở đó.
Sáng sớm anh Tư lấy xe chở tôi đi. Đường sớm rất vắng, vì là vùng ven biên giới, thỉnh thoảng mới có Honđa chạy, không có xe lớn . Con lộ đá với lằn xe máy nhẵn thín chạy dọc hai mép đường. Ruộng xấu, săm sắp nước do mưa, mùa này không thấy gieo cấy gì, dân đang lo thu rẫy. Thấp thoáng một lọại cây mới thấy lần đầu nhưng tôi đoán ra ngay là cây Thốt nốt. Bảy núi sừng sững cặp theo phía Tây lộ. Có đi mới thấy sự hùng vĩ, to lớn của nó, nối với Tây Trưòng Sơn kéo gần hết An Giang. Quanh đó biết bao nhiêu cái “ Nghĩa trang mặt trận ” đúng nghĩa hồi ấy. Gặp toàn người quen anh Tư ở phòng chính sách, công việc tìm kiếm mau qua. Lại không có tin tức gì. Anh Tư dẫn tôi ghé nghĩa trang liệt sỹ huyện Tịch Biên.
Nghĩa trang hoàn toàn vắng lặng trong nắng sớm bình yên, vài con bò thảnh thơi gặm cỏ. Gần bốn trăm Ls được chôn cất nơi đây mà chưa đến ba mươi bia Liệt sỹ có tên. Trong số ấy có một mộ mà theo lời anh Tư là Ls miền Bắc; Trên bia ghi : Ls Lương tuấn Ngọc. Tân Yên – Hà Bắc. Một mộ chỉ ghi : Ls Châu, xã Lương phi – Tri Tôn….
Thắp bó nhang trên đài tưởng niệm. Không nén kìm được nỗi đau, tôi òa khóc.
- Ls địa phương sao lại không có họ ? Có phải em nằm đó không Châu ơi ? ?
- Châu ơi ! Em ở đâu ? Anh biết đi đâu ? Phải đến đâu nữa để tìm được em ? ?
- Ai ? Ai ? Trả lời tôi ; Ai có thể giúp tôi ? ?….
Gặp gió, bó nhang bùng cháy thành lửa ngọn. Vâng, chỉ có các anh – Hương hồn những người đồng đội cảm thông được nỗi niềm đau sót này !
Anh Tư đưa tôi đến nhà người lính Hải Phòng. Nếu không giới thiệu trước, tin chắc tôi sẽ lầm tưởng ổng là người Khơme. Gầy đen, đầu quấn khăn rằn, không một chút gì chất giọng Hải Phòng mà tôi rất quen thuộc.
Nhà tình nghĩa nhưng ngoài mái ngói và mấy cái cột ra; Không phên vách, không tủ bàn, giường không chiếu.…Thế mới thấm thía câu trong một tác phẩm văn được học hồi phổ thông : …Nghèo vào nhà khó . Gió vào nhà trống…
Qua câu chuyện biết anh vào An Giang từ những năm 70, thuộc lữ 101…Sốt rét, thất lạc đơn vị ….rồi giải phóng, ở lại trong này luôn. Anh ấy không biết thông tin nào về Tiểu đoàn 553 Hải Phòng vào chiến trường năm 1972 cả. Cũng là lẽ thường tình những năm tháng chiến trường ngày ấy.
Trưa đó tôi nghỉ lại nhà anh Tư. Căn nhà xây cấp bốn, mái tôn, nền láng cimen. Cũng chưa dư dã gì vì anh chị có đến năm đứa con, xong cũng nuôi được heo, gà. Có vườn, rẫy và nhất là năm đứa đều đang đi học. Năm cái “ hạm ” như Anh, chị nói vui. Rau cháo đấy nhưng ấm cúng, nghĩa tình. Gắng nuôi tụi nó ăn học, mai sau may nhờ.
Chiều anh chở tôi ra lộ đón xe về Sài Gòn. Chia tay bịn rịn . Dúi mãi vào tay anh mới chịu nhận mấy chục ngàn đổ xăng. Ghi nhận tấm lòng anh thương binh nghèo miền Tây biên giới. Biết khi nào gặp lại ?
Trời lại giăng mưa, Qua những vùng đất chỉ nghe tên giờ mới gặp; Những Cái Dầu, Thủ dầu Một, Nhà Bàng…Mùa mưa, nước lên mấp mé lộ. Nhiều nghĩa trang ven đường nước ngập trắng, thấp thoáng đài tưởng niệm nhô khỏi mặt nước. Anh em mình chết rồi mà vẫn cực. Biết làm sao được ? ?
Có mấy câu, gọi là thơ - Chuyến đi nhiều kỷ niệm ấy.
Nơi em nằm, mặt trận phía Nam .
Ở đâu hỡi đất trời mênh mang quá
Anh đi tìm em, mưa nguồn nước nổi
Thốt nốt . Ô môn. Châu Đốc, Cái Dầu.
Trắng nghĩa trang, im lìm một màu
Lớp lớp hàng dọc ngang đội ngũ
Chỉ ngôi sao sáng trên đầu mộ.
Và nén nhang đỏ mắt quê nhà
Dựa Bảy núi những ngày ở cứ.
Đêm vượt đường nổ súng phía đông,
Lương Phi – Tri Tôn những ngày đỏ lửa.
Năm tháng xưa, bom đạn dội mưa.
Ba mươi năm, vẫn đau xa vắng
Sống cùng nhau - Chết cũng bên nhau
Em nằm lại kề bên đồng đội.
Những Anh hùng - Liệt sỹ không tên.
7.2000
Lần thứ 2 : Đi tìm KB
Tình cờ đọc bài : Tìm mộ Liệt sĩ qua thư như thế nào ? Của Ông Đoàn Văn Líu trên báo Thanh niên nhân ngày TBLS 27.7.2002 có ghi….
Ví dụ : “ D8 – KN thì tôi hiểu là Tiểu đoàn 8 – Quân khu 5 tại thành phố Đà Nẵng; Hay D3 – KB, thì tôi hiểu đấy là Tiểu đoàn 3. Quân khu 7. Phòng chính sách QK 7 tại Quận Phú Nhuận, TP HCM ”
Mừng hơn bắt được vàng , cứ theo như gợi ý trong thư của Ông Líu (đã có kiểm chứng ) thì mật danh “ D6 – KB ” ghi trong giấy báo tử Ls em tôi có thể là Tiểu đoàn 6 -
QK 7 . Đi Tp – HCM thì thuận tiện hơn rất nhiều so với hồi tháng 7.2000
Cảm ơn ông Đoàn văn Líu – Năm ấy đã ngoài 70 tuổi, giúp cho gần 700 gia đình tìm được mộ người thân bằng cách lặng lẽ ghi lại các thông tin về mộ trên báo đài rồi gửi thư đến các gia đình. Thời điểm đó, Ông đã viết tới hơn 56 000 bức thư như thế với một tấm lòng vô tư tuyệt đối. Năm nay, nếu còn sống, ( trong thâm tâm tôi thầm mong như vậy ) ông đã sấp sĩ tuổi 80. Cầu xin các Anh hùng - Liệt sĩ hãy phù hộ cho ông mắt sáng tinh anh, đầu óc minh mẫn, tay bút không run…Để ngàn vạn gia đình liệt sĩ trên mảnh đất này vẫn nhận được những lá thư chỉ dẫn của ông, giúp cuộc vạn lý tìm mộ Ls chúng tôi bớt gian truân, nhọc nhằn, vất vả. Ngày gặp thêm gần lại .
Một cuộc sống đáng sống. Một tấm lòng đáng kính phục. Xin hãy nhận từ tôi, từ gia đình tôi. Không từ chúng tôi lời Tri ân vì những gì Ông đã góp nhặt cho đời.
Khẩn trương thu xếp. Một ngày tháng 5. 2002 tôi vào Tp – HCM. Đến BCH – QK 7
Sau khi kiểm tra mọi giấy tờ. Vệ binh nói tôi chờ ở phòng đón tiếp - Vọng gác. Khoảng 20 phút sau vệ binh đưa tôi ống nghe nói chuyện với người của Phòng chính sách QK. Giọng nữ ở đầu dây bên kia hỏi :
- Anh cần tìm trường hợp Ls nào ? Ai chỉ anh tìm đến đây ?
Tôi trả lời : - Tôi biết mật danh KB là QK 7 qua một bài trên báo Thanh niên mới đây . Em tôi là Ls Nguyễn hoài Châu, hy sinh 22.7.1972; Đơn vị khi hy sinh trên giấy báo tử ghi D6 – KB nên tôi tìm đến đây.
- Ai nói với anh như vậy? Có phải Ông….không ? D6 – KB thuộc sư 1. Chủ lực Bộ, hoạt động ở miền Tây những năm đánh Mỹ, chứ không phải QK 7. Năm 79 sư 1 hành quân ra Bắc, do có nhiều liệt sĩ mai táng ở trong này nên bàn giao hồ sơ lại cho QK 7. Theo giấy tờ lưu. Ls em anh hy sinh ở Kiên Lương – Kiên Giang; Trong này ghi : Bị bom vào căn cứ không lấy được thi hài…
Tai tôi ù đi không còn nghe rõ. Một luồng điện lạnh toát chạy dọc theo sống lưng. Phải tựa vào bàn cho khỏi khụy xuống, trước mắt như hiện lên hàng chữ xiên xiên viết bắng bút Bic ngày ấy, trang hồ sơ nhuốm bụi chiến tranh, ố vàng thời gian…
Ba mươi năm vất vả tìm kiếm. Hôm nay gia đình đã có được thông tin dù muộn màng nhưng vô vàn quý giá, đáng tin cậy về : Đơn vị; Trường hợp; Và giờ nơi em hy sinh… Gần đúng như những gì mà gia đình thu lượm được bấy lâu nhưng còn bán tín,bán nghi.
Trở lại với đồng đội ? Một cuộc làm việc ? Nửa giờ giao dịch ?….Là cái gì đó tôi không định nghĩa được !
Không giáp mặt; Không bắt tay; Không hớp nước…
Từng là người lính - Ngày ấy chúng tôi, với nhau đâu có tệ như vậy ! Thậm chí dám xả thân che đạn để đồng đội sống!
Ngày ấy – Bây giờ. Tình đồng đội ? Cách đối xử với gia đình đồng đội - Với gia đình Ls ? Là vậy sao?
Câu hỏi ấy cứ xoáy mãi trong tôi. Chặng đường về như dài thêm !
Lần 3 : Đi Hà Tiên
Tháng 4 (2007) Má tôi nhận được một lá thư gửi từ Tp HCM, nội dung :
Kgửi Bà Hường . Đầu thư tôi xin chúc sức khỏe gi/ đình. Sau nữa chia buồn cùng gi/đình cho đến nay vẫn mong chờ tin của A Châu.
Qua thông tin ở mục Tìm đồng đội ở VTV2 phát tối thứ 5 ngày 12/4/07 . Tôi xin hỏi thêm g/đình một vài thông tin sau đây nếu đúng thì liên lạc với tôi còn nếu khôg đúng mong g/đình thông cảm và cũng khôg cần phải liên lạc lại.
Anh Châu…..Nhà ở trước đây nếu tôi không nhớ lầm theo lý lịch trích ngang là số 35 Điện biên Phủ - Hải Phòng, vài chi tiết như vậy g/đình xem có đúng không ?
Còn tôi tên : Nguyễn Đức Tâm, quê Mộ Đức, nhập ngũ cùng ngày, ở Trung đội 4 cùng đại đội ngoài Bắc và cùng đại đội chiến đấu trong này C10. K6. E46 Công trường 1,
còn theo phiên hiệu mà giấy báo tử D6 – KB thì chúng tôi hòa toàn không biết.
Vài dòng ngắn ngủi gửi tới g/đình nếu đúng thì hãy liên lạc với tôi theo địa chỉ.
Nguyễn văn Tâm
185 Đường 3/2. F11. Q10 . Tp HCM DĐ : 0913.......
TB : Chào g/đình, mong g/đình dồi dào sức khỏe để vượt qua nỗi đau mất mát.( Từ trước đến giờ có bao giờ nhà đi xuống Hà tiên chưa ?
Các thông tin trong thư, trừ số nhà a Tâm nhớ lộn số 32 thành 35 - Điện Biên Phủ, còn hầu như đều đúng cả. Năm 2002 sau chuyến đi QK7 về, g/đình tôi có gửi đăng tin trên mục : Nhắn tìm đồng đội – VTV. Có lúc theo dõi được, có lúc không, nên Má tôi cứ cằn nhằn :
- Mãi sao hổng nghe thấy nhắn nhe gì hết ? ?
Vậy là trách oan cho Đài rồi. Liên lạc với a Tâm qua lại; Một tháng 7 nữa ; Ngày 27 sắp tới ; Trời nam đang mùa dông bão… nhưng nóng như trong lòng có lửa đốt, khớp kế hoạch cả hai phía. Chúng tôi thống nhất tháng 7/ 2007 này sẽ đi Hà Tiên; Tâm từ đó đến giờ, cũng chưa có dịp nào về nơi một thời máu lửa ấy.
Quen với những chuyến đi, không nhiều nhặn gì, vẫn những thứ giấy tờ, vật dụng cần thiết …đã được tôi sắp xếp chu đáo, nhanh chóng.
Như đã hẹn trước, xuống ga Sài Gòn tôi điện choTâm ra đón . Cũng dễ thôi, thời buổi thông tin hiện đại, hai người đàn ông lạ ngơ ngác tìm nhau. Chào hỏi, bắt tay…Tâm chở tôi về nhà.
Tâm gầy và cao; Trước là CNV nhà nước, hiện nghỉ giờ chạy xe thồ, có mối ruột đưa đón mấy đứa nhỏ đi học, tháng này hè nên rãnh…Vợ, con theo phía ngoại định cư ở nước ngoài. Không gì cả… trọn vẹn cả nghĩa đen, nghiã bóng. Sống trong khu tập thể nhà nước xưa : Một cầu thang xoắn chóng mặt lên từng năm; một sàn chờ rẽ vô từng căn hộ ; dàn máy bơm và… một trời ống dẫn nước rối mắt.
Trưa đó, sẵn có mực khô mang từ Nha Trang vô, hai anh em lai rai. Tâm kể :
Tối đó tình cờ bật Tivi đúng lúc VTV2 phát mục nhắn tìm đồng đội, loáng thoáng nghe Châu. Nguyễn hoài Châu mới giật mình để ý chứ nếu Châu nào là cho qua rồi. Vì tên, chữ đệm ấy hơi đặc biệt. Hình nữa, không trật vào đâu dù. ..đã ba mươi năm qua lẻ. Châu cùng đại đội ngoài Bắc, cả tiểu đoàn có vài đứa quê trong này, cùng Quãng Ngãi nữa. Tuy không thân nhưng biết nhau, rồi vượt bưng xuống Hà Tiên, cùng đại đội. Châu -Tịnh Sơn - Quảng Ngãi nhưng sao lại nhắn cho mẹ ở Nha Trang nhỉ ? Hôm sau tôi phải nối máy chờ VTV 2 phát lại, thu cho chắc. Rồi thư cho má anh.
Châu bị bom vùi khi thằng AD6 bổ nhào cắt loạt bom thứ hai, lúc đó cũng gần trưa, dứt bom anh em lao tới bới, đất vẫn còn bốc khói. Châu nguyên vẹn, nằm như đang ngủ, máu tươi rỉ ra nơi khóe miệng. Hai đồng đội cùng hầm không toàn vẹn. Đây là trận đầu tiên Châu tham dự. Lúc đó tôi làm liên lạc ở hầm đại đội, Châu ở hầm cối. Vào chiến trường mới có năm tháng, tăng võng còn đầy đủ nên việc khâm liệm, chôn cất… chu đáo. Trực tiếp Hòa - tiếu đội phó hồi còn ngoài Bắc và anh Giới khẩu đội trưởng chôn mấy đứa.
Nghe Tâm kể mà ứa nước mắt. Châu hồi nhỏ sức khỏe yếu, nghe nói lúc khám tuyển chỉ đạt B2, cán bộ tuyển quân động viên, g/đình phân vân nhưng Châu nói với gia đình :
- Để con đi Má ạ !
Thế là em lên đường - Đi mãi.
Có một sự trùng hợp. Trận đầu nổ súng năm 71 khi vào chiến trường Nghĩa Hành - Quảng Ngãi tôi cũng bị bom vùi suýt chết. Tôi ở cối. Đại đội cối 82 Trung đoàn 21. QK5. Tôi lúc đó là số đạn, vào trận thường nằm tuyến bộ binh bảo vệ hầm pháo phía sau. Hôm đó chúng tôi đánh càn. Sáng sớm súng đã nổ ran khắp tuyến bộ binh. Bên cao xạ 12,8 bắn rớt một trực thăng trinh sát, thường gọi với là “ Tàu rọ ” vì toàn khung kim lọai, kính meca trông xa như cái rọ bắt heo, Thằng giặc lái Mỹ trèo lên cánh quạt ném trái khói kêu đồng bọ xuống cứu.
Sau một hồi quần thảo, thằng “ gọng bừa ” OV 10 điểm trái khói ngay gần hầm tôi đào. Trúng rồi! Dù là trận đầu nhưng với những bài học từ cựu binh, tôi lặng lẽ mở b bòng vải cất bớt băng đạn, xé giẻ nút nòng khẩu AK. Gài chặt quai mũ cối, khuy tay áo…. chuẩn bị. Cũng là AD 6 bổ nhào, tiếng bom xé gió như khoan vào đầu.
Ầm ! Tối sầm mặt mũi. Mở mắt ra thì hầm đã sập, đất đá ngổn ngang, khói bom đắng nghét, đất vùi nén tức nghẹn đến cổ. Cố hết sức mà không tài nào đứng lên được. Mũ cối gài chặt vậy mà văng đâu mất. Gắng ngọ ngậy hai bàn tay còn tự do đẩy gạt bớt đất ở trước mặt cho dễ thở, có lẽ khả năng sinh tồn nên lúc mũ bị giật bay tôi đã kịp hai tay ôm lấy đầu. Tự động viên, ráng lên không loạt nữa chắc nó chôn ngồi mình luôn. Máy bay bổ nhào đợt 2.
Ầm ! Tôi không còn biết gì nữa. Sau nghe anh em kể lại :
Dứt loạt bom thứ 2; Khẩu đội cử Tào Mạc, người Thanh Hóa - pháo thủ số 1 chạy ra coi thử. Bụi tre chỗ tôi đào hầm đêm qua bật gốc, đất đá tơi tả không còn nhận ra địa hình. Mạc chạy vào báo :
- Thằng Sơn dính rồi ! Mấy số pháo nói với nhau : Mất một thằng tích cực. Hồi đó tuy là tân binh mới nhưng tôi đã là đảng viên dự bị, kết nạp trên đường vào chiến trường.
Anh Du, trung đội phó cho anh em ra làm tử sĩ : Trưa nắng nó sình.
Thấy tôi còn ngoi lên được cái đầu, thoi thóp, anh em súm khiêng vô địa đạo. Y tá Hải tiêm cho mũi trợ lực; Tôi tỉnh. Nền điạ đạo mát lạnh tôi thiếp đi. Tỉnh dậy đã chiều tối; Anh nuôi mang cơm ra. Tôi uống hết ca sữa do Y tá pha, làm hết vắt cơm nóng hổi. Vừa ăn vừa nghĩ :
- Hốt quá, định kiếm cớ lánh vài trận. Giờ sơi hết vắt cơm, ca sữa nữa. Mai không đi có mà đeo mo vào mặt.
Đêm di chuyển trận địa, lại đào hầm, đánh tiếp. Dạn dần
Chiều ra cơm quán, Tâm lâu nay sống một mình, thế cho tiện. Nấu nướng lích kích. Thăm dò giờ tàu xe, đêm 23h có chuyến Sài Gòn - Kiên Giang. Duyệt
Lại mưa, xe vắng người nên mỗi anh em một băng lăn lóc ngủ. Gần 6 giờ đã tới Kiên Giang. Kiếm quán ăn sáng. Chúng tôi dò hỏi đường đến Sở TBXH và BCH quân sự Kiên Giang. Cũng gần đây, hai anh em thả bộ, vừa ngắm phố phường. Gần đến giờ làm việc, đường phố tấp nập. Tôi có cảm giác Kiên Giang nhỏ hơn Cần Thơ .
Tại hai cơ quan này. Tra cứu hồ sơ, hầu như không có vết tích gì về sự có mặt của D10. E 46 hoạt động những năm đánh Mỹ, Toàn lớp cán bộ trẻ sau này. Tâm nói chuyện với họ, biết gặp thứ thiệt đã từng lăn lộn một thời ở vùng này với những điạ danh, mật danh máu lửa mà họ được đọc đâu đó trong hồ sơ lưu. Nhiệt tình, chu đáo..Các anh chị hướng dẫn khi chúng tôi bày tỏ muốn đi Hà Tiên.
Quay về bến chúng tôi mua vé đi Hà Tiên. Tuyến này cứ nữa giờ xe lại xuất bến, toàn xe 14 – 16 chỗ đời mới. Đã thiệt.
Lộ tráng nhựa, cũng ít xe chạy. Trời vần vũ lúc nắng , khi mưa. Dọc theo lộ là vuông tôm rộng. Nghe Tâm nói xưa toàn chàm đước mênh mông. Vùng ruộng sình phèn mà đâu đó nhô lên vài khối núi đá to. Xi măng Hà Tiên, dăm năm nữa trái núi này chắc không còn. Dưới kia là Hòn đất - Kiên Luơng, Có mộ chị ba Sứ. Hồi đi học tôi nghĩ chỉ là một hư cấu văn học của Anh Đức. Giá mà có điều kiện ghé qua thắp một nén nhang, nghiêng mình trước các anh chị, những người con xứ Hòn.
Tâm nhắc lái xe cho xuống địa danh Núi Cọp ven đường. Đây thuộc Ấp So ảo, xã Thuận Yên, Hà Tiên. Những năm ắc liệt. Bộ đội mình thường chặn đánh ở khúc này, một địa thế độc đạo, bên núi đá lởm chởm, bên biển. Chỉ một đường độc đạo xuống Hà Tiên. Hỏi thăm dân địa phương đường vào miếu ông Bổn, chúng tôi lội bộ vì trên đường không thấy có phương tiện gì qua lại, trời lại mưa Tâm nhớ lại :
-Từ lộ vô đó khoảng một đoạn, hồi đó nổ mìn xong tụi tui chạy nhoáng một cái là về đến chỗ trú. Tụi nó đóng trên núi, mình ở triền rừng dọc đây, dưới kia là đồng chàm nước ngập. Cả rẻo đây chỉ một hai hố nước ngọt ăn uống được, còn toàn ruộng phèn sình. Tụi nó biết vậy mà đâu dám xuống. Đường mòn lắt léo vừa bước chân, dây leo gai góc nhằng nhịt, nhất là mìn bố phòng dày đặc, cả ta và địch cùng gài, lớp nọ chồng lên lớp kia. Loạng quoạng là banh xác liền. Lâu lâu tụi nó càn có cả xe lội nước, phi pháo yểm trợ nhưng đâu có làm mẹ gì được.
Hồi đó chạy nhoáng một cái, giờ hai anh em lội hơn tiếng đồng hồ, mồ hôi ư ướt đẩm. Thế mới thấy sức trai ngày ấy, tuổi già hôm nay. Dân ở thưa thớt, đỗi mới có một hai nóc nhà xen trong rẫy mỳ. Đường đất đỏ ôtô chạy được, đã thấy kéo điện và ống nước chạy dọc theo lộ. Không thấy hàng quán gì
Đồi 105 đây, xưa tụi nó ở trển, tụi tui dưới này. Cứ điểm Chùa bốn mặt nằm chếch hướng Tây, nó ở đầy trên đó, kích cối ra khu vực xung quanh. Đây là miếu ông Bổn. Một căn nhà cấp bốn chừng 4m vuông hơn là miếu. Cửa mở vì đâu có thấy cánh. Một bệ cimen rộng, những gì bày trên đó có thể cho biết cuộc sống dân đây vất vả thế nào; Vài cái ly chén sứt, cáu bẩn. Đèn không bóng, nền sạt, vài vết nứt ngoằn nghèo trên tường…chắc lâu chưa được quét dọn thắp nhang, mạng nhện giăng ngang. Cảm thấy chưa tin lắm ,Tâm hỏi nhà dân trước miếu. Nhà ông Ba Lèn .Đúng miếu ông Bổn, leo lên sườn sau miếu bắt gặp : một miếng tôn cũ úp lên mấy tảng đá núi.., Những gì còn lại của miếu Ông xưa.
Tâm thắp nhang. Tôi lấy chai nước lọc mang theo, không kiếm được cái ly nào sạch sẽ đành lấy nắp bình vậy. Lính mà, hết đời vẫn còn gian khổ. Bày ảnh của Châu, của tiểu đội Châu ngày còn huấn luyện trên Yên Tử - Quảng ninh.Mười hai anh em, ba mươi lăm năm qua. Ai còn ai mất ??...Đã có ai ngoài Hải Phòng lặn lội vô đây với các em chưa ??. Ôi ! những đứa em thương yêu không bao giờ gặp lại. Những đứa con máu mủ mẹ dứt ruột mang nặng đẻ đau. Châu ơi ! Hiếu ơi ! Trực ơi !...Các em có linh thiêng nghe lời thỉnh cầu. Hãy về đây thấu hiểu nỗi đau đớn tột cùng này : Mẹ mất con. Anh mất em. Vợ mất chồng. Con mất cha….Ngần ấy thời gian trôi mà sao nỗi đau thương này vẫn không thôi giằng xé tâm can; Để người thân hôm nay vẫn gập ghềnh muôn nẻo đường chiến tranh đi qua tìm kiếm. Một cuộc tiềm kiếm mà có lúc tưởng chừng như vô vọng, kiệt sức.
Trận đó Tâm không làm tử sĩ nên không biết chính xác chỗ chôn. Chỉ nhớ đây là trận địa xưa. Ngày ấy cây lúp súp ngang ngực, Cưa làm hầm kèo chỉ cỡ bắp chân, bắp tay, Giờ gốc nào gốc ấy người ôm. Mùa mưa, rừng ẩm ướt, giây leo nhằng nhịt, một vạt rừng này biết chỗ nào bới tìm đây ? Mà giả dụ may mắn bới được cũng đâu biết ai là Châu, ai là Hiếu….Trăm năm xưa mở cõi cha ông ta còn biết dùng thẻ tre khắc tên, quê quán… Người lính trấn ải Hoàng Sa, lỡ khi vì nước vong thân nằm xuống bó chiếu thả biển may mắn dạt vô bờ không thất lạc. Sao ta không làm được vậy ? ? Không ai phổ biến, huấn luyện… Hình như nói ra sợ ảnh hưởng tư tưởng… Nhớ lần đầu tiên được phân công chôn anh Đọn, đồng đội bị pháo chụp trận đánh ấp Xuân Vinh - Nghĩa Hành. Quảng Ngãi năm 71. Súng vẫn nổ, HU 1B quan sát phành phạch trên đầu. Tôi và Hương , lính cũ gói anh trong tăng cá nhân. bó chặt bằng dây võng. Cái gì còn tốt , sài được như dép, dây nịt… anh em ai cần thì lấy ( khi sống chúng tôi quy ước với nhau vậy; Còn tốt chôn phí ) Tài sản quý cá nhân như nhẫn, đồng hồ…gói giao ban chính sách gửi về Hậu phương. Lính chiến có cái gì đáng giá đâu ? Mạng còn để lại nữa là…Lấp đất xong Hương bảo tôi leo lên dận khỏa bằng, không để lại dấu vết gì. Thực lòng tôi làm không được, chần chừ không nỡ. Nó gắt lên giải thích: Mai mình đi. Phía bên kia chiếm lại, phát hiện có tử sĩ; Hoặc ai đó thấy báo, nó bới lên phơi xác tuyên truyền chiến thắng, còn đau lòng gấp mấy .Tôi chỉ dám dận vòng quanh. nghĩ bụng : Đừng bắt tội em nghe anh Đọn.Thế đấy, đêm đội công tác dẫn vô ấp. Tối mò, chỉ biết ấp Xuân Vinh, đường xá ngang dọc mù tịt, cắm cổ đào hầm pháo, tuyến bộ binh… Một ngày bom đạn ngút trời. Đêm chuyển trận địa. Anh nằm lại cô quạnh, không bia mộ, nhang khói, một sơ đồ mộ chí sơ sài. Chỉ vậy !… Ai sao tôi không biết! Hồi đó, không bao giờ trong thâm tâm suy nghĩ sẽ có ngày quay lại tìm kiếm anh em. Biết đâu mai chẳng đến là mình?….Tôi đã thấy nhiều anh em, tội lắm. Mấy đêm Mỹ phục giữ không cho lấy xác mà kiến, mối ăn hết cả vành tai, my mắt… Chúng còn gài lựu đạn dưới xác. Quân súc sinh, bẩn thỉu, phải nối dây cột kéo cho lựu đạn nổ. Gom xác thịt lại lấy đá vây xung quanh, lấp đất. Vài tháng mưa nguồn, lũ suối, thú rừng… Cát bụi lại về với cát bụi.
Sực nhớ tôi mở máy liên lạc với một nhà ngoại cảm có tiếng trong Nam, kể lại hoàn cảnh và xin trợ giúp. Ổng âý nói : Đây là một công việc hết sức mong manh, thực lòng và thành tâm. Ít hy vọng. Nếu quyết thì chờ đúng Ngọ, thắp bảy nén nhang vái chư thần thổ địa tứ phương phù hộ độ trì. Miếu ông gì đó.. giúp tôi là… Tìm hương hồn ls là….. Khấn xong cắm nhang trên bàn thờ, trang thiên trước cửa. Sẽ có con bướm màu xanh bay tới, nó đậu xuống đâu đào tìm ở đó… May mắn, vài phút nữa đúng Ngọ. Tôi và Tâm lật đật chuẩn bị…Làm đúng những gì nhà ngoại cảm dặn. Có gì sai…Tôi không biết, không thành tâm mà anh em tôi lặn lội vô đây ư ? ? Cứ mỗi lần thắp nhang cho em là tôi lại không cầm được nước mắt. Ba mươi lăm năm, hình ảnh gặp em lần cuối lúc chúng tôi hành quân về ga Hỗ - Hải Phòng, lên tàu vào Nam vẫn như mới đây… Em hiện hữu, gần lắm, ngay trước mặt. Dáng mảnh khảnh, gầy yếu, bộ quân phục nhàu nát, lấm lem bùn đất… Trời bừng nắng, từng bờ cây, bụi cỏ như rực rỡ non xanh hơn. Bướm đâu sao ra nhiều thế ? ? Nhỡn nhơ bay như trêu ngươi, không thấy bướm xanh, không con nào đậu ! ! Không hy vọng gì
Trưa chúng tôi nghỉ lại nhà ông Ba Lèn, đối diện với miếu. Gọi là ông chứ cũng chỉ hơn chúng tôi vài tuổi. Nhà tôn nhưng thoáng cao, rộng rãi. Cũng mới dọn về sau giải phóng, hồi ác liệt gia đình chạy tuốt vô Tri Tôn. Ông cho biết : Từ đó đến giờ chưa thấy quy tập ls vùng này. Ngoài kia, phía bìa gần rừng chàm thì có, dân làm ruộng tôm phát hiện….Hy vọng em còn nằm đâu đây, xong làm cách nào tìm được thì chịu. Chiều nhờ ông Ba Lèn kêu hộ hai xe thồ, không quên để lại số điện thoại, địa chỉ để tiện liên lạc. Ghé miếu ông Bổn, hốt nắm đất nhỏ cho vào hộp mang theo từ nhà. Em tôi - mấy đứa tụi nó là giờ là đây sao ? Đau xót, nghẹn ngào. Đốt nén nhang chia tay, thầm hứa sẽ còn trở lại thăm em !
Chúng tôi vào Hà Tiên. Tâm kể hồi huấn luyện ngoài Bắc, không biết từ đâu bài : Hà Tiên mến yêu được anh em truyền miệng hát. Ai dè sau vô đây thiệt. Hà Tiên tĩnh lặng , không ồn ào náo nhiệt, cuộc sống trôi trôi yên ả. Không tiếng xe tải ầm ĩ, còi như thét vào tai, giữa đô thị mà cát bụi mù mịt, ra đường mặt mũi kín bưng, thấy gật chào đi một đỗi không đoán ra nữa ?? Phòng chính sách TBXH đóng trong căn biệt thự cũ. Chị cán bộ phụ trách coi rất kỹ giấy tờ tôi mang theo rồi cho phép tôi tiếp cận hồ sơ. Không một vết tích gì sự hoạt động của D6 – KB; Đang túi bụi lo thủ tục hỗ trợ cho hai gia đình Ls ngoài Nghệ An vào xin chuyển hài cốt Ls về quê nhưng chị cũng cho chúng tôi biết thêm một địa chỉ tin cậy có thể giúp chúng tôi. Anh Ngô minh Chánh, phụ trách đội quy tập K92 Kiên Giang, người ấp Thạch động, Mỹ đức, Hà Tiên. Ảnh là “ thổ địa ” vùng này có thể giúp các anh. Liên lạc qua số điện thoại chị cho thì biết anh đang ở An Giang. Vậy là bó tay. Kế hoạch ra Nghĩa trang Ls Hà Tiên cũng không kịp. Mai vậy.
Lấy phòng trọ, tắm táp xong xuôi hai anh em thả bộ xuống thị xã. Chiều bình yên nơi cửa biển. Tịnh xá Tô Châu đồ sộ, nguy nga ẩn hiện trong bóng núi. Bến Hà Tiên thuyền về tấp nập. Chỗ đó xưa là cầu phao, giờ thay thế bằng cây cầu cimen đồ sộ. Quê hương thay đổi từng ngày. Đêm mưa lớn, hai anh em chìm vào giấc ngủ. Mệt nhọc.
Nghĩa trang liệt sĩ Hà Tiên nằm trên triền đồi hướng ra biển. Gió vi vu hàng phi lao hát. Đẹp thật, dù ngoài khơi xa xám mùa biển động. Thắp nhang cho đồng đội, cho Châu, biết đâu em cũng có trong những người lính vô danh may mắn nằm đây. Tượng đài sừng sững, hình hài người lính súng chắc tay ngày đêm dõi khơi xa
Anh về đây ! Về với cuộc sống đời thường bao lo toan, bề bộn. Sẽ còn trở lại thăm em, một khi chắc chắn đã biết em đang ở Hà Tiên.
Mịt mù cơn giông
Lô nhô đất đá,
Cỏ cây nghiêng ngả
Gai móc , dây giằng
.
Ba lăm năm tìm,
đến được đây !
Ấp Soảo - Thuận Yên ,
mưa Hà Tiên tháng bảy.
Trận địa đây !
Sao yên lặng vậy ???
Hiếu ơi ..Hoài Châu ơi ….!!!!
Các em ở đâu ???
Bom trúng hầm
Phút giây - Bất tử.
Máu sương hoà .
Đất .Nước – Non sông
Hồn bay về
bên mẹ mỏi trông
Thắp nhang gọi tên .
Lòng đau như cắt
Kìm tiếng nấc oà
Nén trong sâu thẳm
Nhớ các em .
Cuộc đời chiến sĩ.
Mãi nụ cười,
ngày ra đi.
Đi mãi chưa về ./.
7.2009
Vĩ thanh.
Công tác chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi tìm mộ Ls. Như một người lính hành quân ra trận năm xưa : áo mưa, thuốc cấp cứu, võng …Tùy theo đặc điểm vùng miền mình sẽ đến. Nhớ xin Giấy giới thiệu của Phòng chính sách TP; của Phòng chính sách BCH Quân sự Tỉnh . Đến đâu nhớ liên hệ với bộ phận chính sách Quân, Dân chính tại địa phương…Để được giúp đỡ, chi viện, may mắn tìm được Ls, được hỗ trợ kinh phí chuyến đi bốc dỡ hài cốt, …và nhất là Ls sẽ được nằm ở vị trí suy tôn trang trọng… bõ những ngày các anh vùi thân nơi bờ bụi…
Không phải là tất cả. Nên chăng hãy chọn những người có kinh nghiệm; Có trách nhiệm; Có lòng thương yêu. Hiểu công việc mình được giao làm Chính sách - Một công việc nhậy cảm…Để đừng bao giờ có những thái độ, hành động vô cảm… Hãy cùng chung tay làm vơi dịu nỗi đau, bớt đi những giọt lệ, tưởng chừng đã khô cạn còn lăn trên gò má nhăn nheo của mẹ
Xin được tri ân tất cả. Những người làm công tác chính sách địa phương, những đồng đội CCB, anh xe thồ, anh Tư thương binh, cô bé bán nước ven đường, gia đình ông Ba Lèn…Đã sớt chia, xẻ gánh nặng dặm đường đi tìm mộ Ls của chúng tôi….Dù chưa đưa được em về - Chỉ là nắm đất nhỏ nhoi nơi đợt bom ác liệt ấy nổ, cũng nặng vai tôi đường về. Thâm tâm an ủi, Trong đó có máu sương em tôi, có Hiếu, có Trực…có vạn vạn người con yêu dấu của Mẹ vĩnh hằng cho Ấm no. Hạnh phúc hôm nay . /.
07.2009
Mấy chục năm đã qua gia đình vẫn băn khoăn một điều ? Hài cốt em nếu còn liệu đã được đem về một nghĩa trang liệt sĩ nào ? Mà có còn không ?
Nắm sương tàn của em giờ đang nằm đâu ở cái nơi gọi là Ấp So ảo. xã Thuận Yên Hà Tiên Kiên Giang ấy
Câu hỏi ấy tận đến bây giờ vẫn cứ đau đáu với gia đình mình và chắc cũng như vậy với bao gia đình các liệt sĩ vô danh khác trên mảnh đất Việt Nam nhiều đau thương này
Ở đâu trên đất nước này . Cái nghĩa trang mặt trận phía Nam ấy ??
Mỗi lần chợt nhớ đến em Má lại thắp nhang trên trang thờ , lầm rầm nói chuyện với tấm hình em chụp – mãi với nụ cười ngày ra đi ấy.
Năm nào cũng vậy cả nhà vẫn quây quần trong bửa cơm
xum họp gia đình chiều 27 cuối năm .Trong tâm trí gia đình nhớ mãi… Em suốt đêm băng rừng, vượt dốc từ Yên Tử về Hải Phòng đúng chiều 27tết .Sáng mùng 2 . Đơn vị em tập trung nhận quân trang, vũ khí tại ga Dụ Nghĩa - Hải phòng lên đường vào Nam chiến đấu…Gần bốn mươi cái tết gia đình ta sống thiếu vắng em.
Mấy năm nay khi mà kinh tế ...khá hơn .Tên em đã có trên tấm biaTổ Quốc Ghi Công của địa phương và …. Sáng mùng một tết hàng năm gia đình lại đến đây thắp hương cho các Anh hùng Liệt sĩ, cho Châu .
Trong cái nắng sớm xuân bình yên, từng vòng khói nhang thong thả bay lên, khuôn mặt người thân lại nhạt nhoà nước mắt .
Tổ Quốc. Gia đình đời đời ghi nhớ những đứa con máu thịt của mình đã ngã xuống cho mãi mùa xuân đất nước hôm nay .
10.02.2010
Em tôi, Liệt sĩ Nguyễn Hoài Châu – hy sinh ngày 22.7.1972. Gia đình nhận được giấy báo tử Ls vào một ngày cuối năm 1974. Tôi còn nhớ như in ngày ấy - ngày 25.12.1974, ngày mà Tổ chức, chính quyền ở địa phương làm lễ báo tử, truy điệu em tôi ngay tại gia đình. Một ngày đông giá rét mưa lạnh, có lẽ đây là mùa đông lạnh giá nhất mà gia đình tôi đón nhận khi còn sống trên đất Bắc. Vậy mà gần 30 năm sau gia đình tôi mới có điều kiện tìm kiếm Ls - em tôi.
Tháng 7.2000
Những thông tin mà gia đình ngày ấy nhận được từ đồng đội của em, Ls hy sinh do bom vùi, không lấy được xác trong một trận đánh ở khu vực Bảy núi – An Giang và theo chỉ dẫn của một nhà ngoại cảm thì hài cốt em tôi đã được quy tập về nghĩa trang Liệt sĩ Cần Thơ. Mộ vô danh thứ 3, hàng thứ 3, dãy sau cùng phía bên trái tính từ dưới lên.
Vào thành phố HCM, tôi đi CầnThơ ngay. Đến BCH quân sự tỉnh. Các anh ở phòng chính sách đón tiếp ân cần và được trực tiếp phụ tra cứu hồ sơ liệt sỹ. Lật tìm những trang hồ sơ ố vàng, chắc đã không ít lần qua tay những người tìm kiếm như tôi hôm nay. Không có tên Ls, các anh giới thiệu tôi qua phòng chính sách QK 9. Đã chiều tối, hết giờ làm việc tôi được bố trí nghỉ đêm ở trạm đón tiếp. Rất may cho tôi, đ/c cán bộ phòng chính sách QK 9 vợ con còn ở dưới quê. Ảnh ở lại đơn vị, lâu lâu mới về thăm nhà. Bữa chiều cùng tắm giặt ở bể nước, sau khi nghe tôi tâm sự, ảnh hứa tối nay sẽ dẫn tôi lên phòng cùng tra cứu hồ sơ.
Bữa cơm lính tươm tất, có lẽ cơm khách. Đã mấy mươi năm rồi lại ăn một bữa cơm lính, ngủ nhà lính. Vẫn biết đời lính là gian khổ, nhưng những gì bây giờ người lính có được so với năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt của chiến trường QK 5 nói riêng, miền Nam nói chung mà chúng tôi đã từng sống và chiến đấu thật không thể nào so sánh được.
Gần hai giờ tra cứu danh sách Ls các thời kỳ có tại Ban chính sách QK 9, buồn đến não lòng vì không có tên Ls em tôi, cũng như một chút gì tung tích Tiểu đoàn 553. E 5. F 350 vào chiến trường tháng 2.1972, hay D6-KB mật danh đơn vị lúc em tôi hy sinh. Ghi trong giấy báo tử .
Mật danh ! ôi mật danh. Ba mươi năm sau cuộc chiến mà cái mật danh quái quỷ kia vẫn không được một cơ quan chức năng nào có một lời trách nhiệm giải thích, hướng dẫn. Mặc cho hàng triệu gia đình thân nhân liệt sỹ chúng tôi phải đau đáu xoay xở, tự tiềm kiếm, dò hỏi . Bí mật quốc gia ư ?
Sao mà lạnh lung vô cảm đến thế ? ? “ Nghĩa trang mặt trận phía Nam ” – KT ?KB ? KN ?... Là ở đâu nơi trời Nam mênh mang ấy ? Tại sao lại bí mật quốc gia trên nỗi đau của gia đình Liệt sĩ ?
Vâng. Xin đừng vô cảm với những người đã ngã xuống cho Tổ Quốc, cho hạnh phúc no ấm chúng ta đang hưởng hôm nay. Hãy cảm chia nỗi đau mất mát, khắc khoải vất vả, gian khó chặng đường đi tìm nắm xương cốt nhục Ls của gia đình chúng tôi đã và đang trải
Mọi sự lý giải : ….chúng tôi là thế hệ sau nên chịu…chỉ là ngụy biện, là vô trách nhiệm
… “ Ngày con lên đường phiếu xanh, bìa đỏ
Mái phố nghèo ấm áp tiễn con đi
Giấy gọi con vào trường đại học Y
Mẹ xếp phẳng đợi con về đi học.
Bốn năm sau nhận tin con mất,
Nơi chiến trường xa lắc, xa lơ
Mẹ điên dại sống quanh quẩn bàn thờ.
Lúc nhắm mắt ôm con về với đất.
…..Tờ lịch thời gian quên ngày chiến trận
Mẹ mất rồi ai nhớ giỗ con đây ?
Mười tám, đôi mươi lấp lánh ánh sao
Cánh rừng xanh bạc phai màu ký ức…”
Mưa lạnh, lạ nhà và muỗi như sáo.Thật khó ngủ, mong trời mau sáng. Cùng ở lại trạm đêm ấy có hai chú cháu gia đình Ls từ Thái Bình vào. Cháu khoảng 20 tuổi, đi tìm mộ bố hi sinh trong chiến tranh biên giới Tây nam, Cháu tâm sự chỉ nhìn thấy bố trong ảnh và cũng rất nhiều lần còn được gặp trong mơ nữa. Trước khi xây dựng gia đình muốn làm một cuộc hành hương đi tìm bố. Chặng đường hai chú cháu đi là từ quê vào thẳng An Giang, nhưng chưa tìm được, giờ quay lại Cần Thơ. Cùng hoàn cảnh đi tìm Ls nên chúng tôi dễ hòa nhập thân quen. Cuộc hành trình của hai chú cháu qua lời họ kể đã giúp ích rất nhiều cho tôi trong cuộc hành trình sắp tới
Sáng hôm sau, theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm, tôi đến Nghĩa trang - Đài tưởng niệm Ls ở Thành phố Cần Thơ, Khi đến đúng ngôi mộ trên thì cái nào cũng giống cái nào. Vuông thành, sắc cạnh, một ngôi sao đỏ trên bia mộ và dòng chữ nhói đau : Liệt sĩ vô danh. Sắp đến ngày TBLS 27-7 nên các mộ đều được sửa sang, nhổ cỏ, quét vôi mới… Chưa đủ thông tin chắc chắn nên tôi không dám nhận ngôi mộ ấy mà chỉ thắp nhang chung trên đài tưởng niệm và dành phút lâu mặc niệm bên ngôi mộ ấy. Em - hay đồng đội nào nằm dưới đó hãy thông cảm cho nỗi niềm khó sử của tôi.
Theo gợi ý của hai chú cháu tại trạm đón tiếp QK 9 đêm ấy và đ/c cán bộ ở phòng chính sách. Tôi quyết định đi Châu Đốc, nghĩa trang dốc Bà Đắc…một vệt dài quanh vùng căn cứ bảy núi An Giang – nơi mà lúc đó trong thâm tâm nghĩ. Ls em tôi đã từng sống, chiến đấu ..và nằm lại đâu đó nơi ấy.
Chia tay Cần Thơ, bắt xe đò tôi đi Châu Đốc, sau khi đã được gia đình Ls ở trạm đêm trước chỉ dẫn cặn kẽ hướng đi, giá cả…Khoảng 10h đã có mặt ở Châu Đốc, tranh thủ tôi hỏi đường vào phòng chính sách địa phương, dù đã sắp hết giờ làm việc nhưng các đ/c ở phòng đã nhiệt tình giúp tôi tiếp cận hs lưu trữ tra tìm tên Ls. Cũng không nhiều nhặn gì, chỉ vài cuốn hồ sơ. Đã có kinh nghiệm lần tra cứu tại tỉnh đội Cần Thơ, tôi lật đi lật lại những trang liệt sĩ có tên Châu… Trời nắng lại sắp giông, không khí ngột ngạt oi nồng, mồ hôi thấm xuống mắt cay xè ..và một lần nữa tôi không khỏi thất vọng vì không có một thông tin nào liên quan đến em tôi.
Cảm ơn các anh ở phòng chính sách Châu Đốc, tôi bắt xe thồ thẳng hướng nghĩa trang dốc Bà Đắc -Tri Tôn vì theo tôi được biết ở đó có nhiều bia Ls quê Hải phòng. Vâng chúng tôi là những hs miền Nam tập kết ra Bắc. Phần lớn tuôỉ học sinh chúng tôi sống và học tập tại Hải Phòng, đất Cảng trung dũng kiên cường có mùa hè rợp trời hoa phượng đỏ. Sau khi tốt nghiệp lớp 10 - ngang với hs PTTH hiện nay, chúng tôi lại cùng bao con em đồng bào miền Bắc trở về giải phóng miền Nam. Ngày ấy số hs miền Nam như chúng tôi trong một Tiểu đoàn huấn luyện đi B ở Trung đoàn 5. Sư đoàn 350 thường đếm chưa đếm hết trên đầu ngón một bàn tay, và một khi ngẵ xuống đâu đó như bao thanh niên con em đồng bào miền Bắc khác. Giấy báo tử về gia đình – các cơ quan chính sách hồi đó thường ghi : Đã được mai táng tại khu vực nghĩa trang mặt trận phía nam ! Vâng nằm ở đâu cái “ nghĩa trang mặt trận ” nơi cõi trời Nam mênh mang ấy ??
Bắt xe thồ nhằm hướng Tri Tôn, trời chiều vần vũ kéo mây và cơn giông chợt tới. Trú mưa tại một quán lá ven đường. Theo hướng tay anh xe thồ chỉ, xa xa là núi Bà Đen sừng sững in đậm giữa vùng đồng nước mênh mông, theo lời anh xe thồ. Những năm ác liệt bộ đội miền Bắc hy sinh quanh khu vực núi Bà nhiều lắm. Mưa ào tới rồi cũng mau tạnh. Trời lại trong veo, nắng không còn gay gắt nữa. Chúng tôi hối hả lên đường như mong bù lại khoảng thời gian đã mất. Đến cơ quan chính sách huyện Tri Tôn các anh chị đang họp nhưng khi nghe tôi trình bày xin gặp các anh chị đã tận tình hướng dẫn. Tra danh sách hầu như chẳng có gì vì theo các anh chị : Danh sách các Ls đã được quy tập thì ở Ban quản lý nghĩa trang đầy đủ hơn cả vì hầu như tháng nào cũng có anh em mình được quy tập về do bà con mình làm rẫy, trẻ chận trâu bò trên núi …phát hiện báo cho đội quy tập.Cán bộ dân chính đảng, bộ đội địa phương…hy sinh những năm trước 75 ở một khu do anh Minh, người Tịnh Biên – An Giang phụ trách; Một khu khác gần đó hầu hết là anh em miền Bắc hy sinh sau 75, nhiều nhất là Ls của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1979.
Tôi quyết định tìm đến khu do anh Minh phụ trách, hồi ngoài Bắc có thông tin em tôi khi hành quân vào chiến trường sốt rét nằm lại đường dây, sau bổ sung vào bộ đội địa phương.
Bảy núi âm u khi trời đã về chiều và nghĩa trang càng tĩnh lặng, gọi là anh vì từng là người lính với nhau chứ thực ra tôi phải xưng cháu và gọi anh bằng chú mới phải. Đón tôi trong căn nhà chòi đơn sơ anh Minh cho biết :
- Nghĩa trang mới có kinh phí sữa chữa xây mới, nhà cửa vôi vữa bề bộn lắm. Ít bữa nữa xong anh em mình nơi chốn khang trang, gia đình lên thăm viếng có chỗ đón tiếp chu đáo là Qua mừng rồi.
Cầm tấm ảnh Ls tôi đưa, anh nghẹn ngào lặng đi.
- Tội chú em hy sinh trẻ quá
Ngày ấy chúng tôi ra trận đều vừa mười tám, đôi mươi. Tuổi mơ ước, hứa hẹn, ấp ủ…. Em tôi đậu cơ điện Bách khoa Hà Nội năm ấy, nhưng giấy báo nhập ngũ đến trước. Ước mơ, hoài bão ai mà chẳng có, xong đành xếp lại. Có một câu nhà thơ Tố Hữu đã viết những năm tháng ấy .
….Mỹ hại trăm nhà lo diệt trước
Rắn mình em chịu có sao đâu !
Tuân lời hiệu triệu của Bác Hồ : Tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Là con em Miền Nam trở về giải phóng quê hương, tiếng gọi thiêng liêng ấy đã giúp chúng tôi vượt qua bao gian khổ hy sinh ác liệt ngày ấy
Tra tìm tới lui không có tên Ls. Anh Minh nói :
- Ơ đây phần lớn là cán bộ, bộ đội địa phương hy sinh thời chống Mỹ… do vậy họ biết rõ quê quán, hoàn cảnh, địa điểm chôn cất … Khi quy tập, bia mộ dễ dàng thuận tiện hơn. Chắc chú em không về bộ đội miền, có khả năng nó nằm bển - khu chủ lực miền Bắc vào. Em qua đó coi, may phước có.
Chia tay anh Minh. Qua tới nghĩa trang dốc Bà Đắc trời vừa sập tối. Bầy gà táo tác về chuồng. Vùng này hồi ấy chưa có điện, mấy anh quản trang đang lo đóng cửa, thắp nhang trên nhà tưởng niệm. Tôi theo vào, một nén nhang cho anh em đồng đội; Thương nhớ em tôi. Kệ sau trang thờ vẫn còn ba bộ cốt Ls bọc trong tấm nhựa. Các anh cho biết :
- Cốt anh em mình mới tìm thấy, chưa kịp làm lễ hạ huyệt nên còn để tạm đây.
Bật hộp quẹt xem kỹ bọc hài cốt, tôi không thấy có ghi tên tuổi, ký hiệu gì… Mai này nghĩa trang thêm hàng mộ mới với dòng chữ nhói lòng mà ta thường thấy : Liệt sĩ chưa biết tên.
Mâm cơm chiều đạm bạc, có ngọn đậu, lang luộc chấm nước mắm, canh bí đỏ nấu đậu phộng, con cá tràu trui lửa..và thêm can 5 lít đế. Các anh nói tôi cùng ngồi ăn. Tứ hải huynh đệ mà, vả lại ở đây biết chạy đâu? Chén rượu xoay tua. Lần đầu tiên tôi mới thấy cách uống một nữa, nhổ một nữa rượu như mấy anh đây. Lạ mà không dám hỏi; Sau này mới biết ở đây quen uống vậy. Mới hai ba tua quanh chiếu đã ướt mèm. Kiểu này chắc tốn rượu lắm đây, được cái rượu lạt !
Qua trò chuyện, các anh cho biết : Nghĩa trang này mới xây dựng, chủ yếu quy tập số anh em mình hy sinh trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Nằm đây hầu như đủ mặt các tỉnh thành phía Bắc như… Hải phòng, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Nam Hà.… Được quy tập thành từng tỉnh riêng. Hải phòng đâu có vài chục mộ, đều hy sinh sau 79. Không có Ls năm 72.
Buồn nghẹn lòng. Châu ơi ! em ở đâu ? Có linh thiêng cho gia đình biết nơi em nằm. Chân trời góc biển nào, khó mấy cũng gắng đưa em về. Má ngày càng già yếu, đưa được em về má mới yên lòng nhắm mắt, nỗi đau này mới có thể nguôi ngoai. Giờ còn sức tìm kiếm, mai kia già yếu, lấy ai đưa em về đây ??? Năm tháng vật đổi, con người, sự kiện, hình hài …dần trong quên lãng. Mấy ai có còn nhớ ! Biết hỏi ai đây ???
Đêm ngàn sao. Râm ran côn trùng giữa rừng già thăm thẳm mông lung. Tôi nằm đây, với các anh như giữa bãi khách binh trạm Trường Sơn năm nào, đu đưa cánh võng bài ca ra trận. Thắp nén nhang cầu cho các anh vĩnh hằng cùng non nước. Dù sao cũng là may mắn. Bao anh em đồng đội mình máu xương giờ thành tro bụi, hóa thân vào đất nước, non sông.
Anh Tư quản trang, nhà gần đây cho biết ở vùng này có một lính Hải Phòng thời đánh Mỹ, hết chiến tranh ở lại trong này lấy vợ Miên. Nếu cần mai sớm anh chở tôi đi tìm, may có tin gì, tiện ghé phòng chính sách Tịnh Biên luôn, anh có công chuyện ở đó.
Sáng sớm anh Tư lấy xe chở tôi đi. Đường sớm rất vắng, vì là vùng ven biên giới, thỉnh thoảng mới có Honđa chạy, không có xe lớn . Con lộ đá với lằn xe máy nhẵn thín chạy dọc hai mép đường. Ruộng xấu, săm sắp nước do mưa, mùa này không thấy gieo cấy gì, dân đang lo thu rẫy. Thấp thoáng một lọại cây mới thấy lần đầu nhưng tôi đoán ra ngay là cây Thốt nốt. Bảy núi sừng sững cặp theo phía Tây lộ. Có đi mới thấy sự hùng vĩ, to lớn của nó, nối với Tây Trưòng Sơn kéo gần hết An Giang. Quanh đó biết bao nhiêu cái “ Nghĩa trang mặt trận ” đúng nghĩa hồi ấy. Gặp toàn người quen anh Tư ở phòng chính sách, công việc tìm kiếm mau qua. Lại không có tin tức gì. Anh Tư dẫn tôi ghé nghĩa trang liệt sỹ huyện Tịch Biên.
Nghĩa trang hoàn toàn vắng lặng trong nắng sớm bình yên, vài con bò thảnh thơi gặm cỏ. Gần bốn trăm Ls được chôn cất nơi đây mà chưa đến ba mươi bia Liệt sỹ có tên. Trong số ấy có một mộ mà theo lời anh Tư là Ls miền Bắc; Trên bia ghi : Ls Lương tuấn Ngọc. Tân Yên – Hà Bắc. Một mộ chỉ ghi : Ls Châu, xã Lương phi – Tri Tôn….
Thắp bó nhang trên đài tưởng niệm. Không nén kìm được nỗi đau, tôi òa khóc.
- Ls địa phương sao lại không có họ ? Có phải em nằm đó không Châu ơi ? ?
- Châu ơi ! Em ở đâu ? Anh biết đi đâu ? Phải đến đâu nữa để tìm được em ? ?
- Ai ? Ai ? Trả lời tôi ; Ai có thể giúp tôi ? ?….
Gặp gió, bó nhang bùng cháy thành lửa ngọn. Vâng, chỉ có các anh – Hương hồn những người đồng đội cảm thông được nỗi niềm đau sót này !
Anh Tư đưa tôi đến nhà người lính Hải Phòng. Nếu không giới thiệu trước, tin chắc tôi sẽ lầm tưởng ổng là người Khơme. Gầy đen, đầu quấn khăn rằn, không một chút gì chất giọng Hải Phòng mà tôi rất quen thuộc.
Nhà tình nghĩa nhưng ngoài mái ngói và mấy cái cột ra; Không phên vách, không tủ bàn, giường không chiếu.…Thế mới thấm thía câu trong một tác phẩm văn được học hồi phổ thông : …Nghèo vào nhà khó . Gió vào nhà trống…
Qua câu chuyện biết anh vào An Giang từ những năm 70, thuộc lữ 101…Sốt rét, thất lạc đơn vị ….rồi giải phóng, ở lại trong này luôn. Anh ấy không biết thông tin nào về Tiểu đoàn 553 Hải Phòng vào chiến trường năm 1972 cả. Cũng là lẽ thường tình những năm tháng chiến trường ngày ấy.
Trưa đó tôi nghỉ lại nhà anh Tư. Căn nhà xây cấp bốn, mái tôn, nền láng cimen. Cũng chưa dư dã gì vì anh chị có đến năm đứa con, xong cũng nuôi được heo, gà. Có vườn, rẫy và nhất là năm đứa đều đang đi học. Năm cái “ hạm ” như Anh, chị nói vui. Rau cháo đấy nhưng ấm cúng, nghĩa tình. Gắng nuôi tụi nó ăn học, mai sau may nhờ.
Chiều anh chở tôi ra lộ đón xe về Sài Gòn. Chia tay bịn rịn . Dúi mãi vào tay anh mới chịu nhận mấy chục ngàn đổ xăng. Ghi nhận tấm lòng anh thương binh nghèo miền Tây biên giới. Biết khi nào gặp lại ?
Trời lại giăng mưa, Qua những vùng đất chỉ nghe tên giờ mới gặp; Những Cái Dầu, Thủ dầu Một, Nhà Bàng…Mùa mưa, nước lên mấp mé lộ. Nhiều nghĩa trang ven đường nước ngập trắng, thấp thoáng đài tưởng niệm nhô khỏi mặt nước. Anh em mình chết rồi mà vẫn cực. Biết làm sao được ? ?
Có mấy câu, gọi là thơ - Chuyến đi nhiều kỷ niệm ấy.
Nơi em nằm, mặt trận phía Nam .
Ở đâu hỡi đất trời mênh mang quá
Anh đi tìm em, mưa nguồn nước nổi
Thốt nốt . Ô môn. Châu Đốc, Cái Dầu.
Trắng nghĩa trang, im lìm một màu
Lớp lớp hàng dọc ngang đội ngũ
Chỉ ngôi sao sáng trên đầu mộ.
Và nén nhang đỏ mắt quê nhà
Dựa Bảy núi những ngày ở cứ.
Đêm vượt đường nổ súng phía đông,
Lương Phi – Tri Tôn những ngày đỏ lửa.
Năm tháng xưa, bom đạn dội mưa.
Ba mươi năm, vẫn đau xa vắng
Sống cùng nhau - Chết cũng bên nhau
Em nằm lại kề bên đồng đội.
Những Anh hùng - Liệt sỹ không tên.
7.2000
Lần thứ 2 : Đi tìm KB
Tình cờ đọc bài : Tìm mộ Liệt sĩ qua thư như thế nào ? Của Ông Đoàn Văn Líu trên báo Thanh niên nhân ngày TBLS 27.7.2002 có ghi….
Ví dụ : “ D8 – KN thì tôi hiểu là Tiểu đoàn 8 – Quân khu 5 tại thành phố Đà Nẵng; Hay D3 – KB, thì tôi hiểu đấy là Tiểu đoàn 3. Quân khu 7. Phòng chính sách QK 7 tại Quận Phú Nhuận, TP HCM ”
Mừng hơn bắt được vàng , cứ theo như gợi ý trong thư của Ông Líu (đã có kiểm chứng ) thì mật danh “ D6 – KB ” ghi trong giấy báo tử Ls em tôi có thể là Tiểu đoàn 6 -
QK 7 . Đi Tp – HCM thì thuận tiện hơn rất nhiều so với hồi tháng 7.2000
Cảm ơn ông Đoàn văn Líu – Năm ấy đã ngoài 70 tuổi, giúp cho gần 700 gia đình tìm được mộ người thân bằng cách lặng lẽ ghi lại các thông tin về mộ trên báo đài rồi gửi thư đến các gia đình. Thời điểm đó, Ông đã viết tới hơn 56 000 bức thư như thế với một tấm lòng vô tư tuyệt đối. Năm nay, nếu còn sống, ( trong thâm tâm tôi thầm mong như vậy ) ông đã sấp sĩ tuổi 80. Cầu xin các Anh hùng - Liệt sĩ hãy phù hộ cho ông mắt sáng tinh anh, đầu óc minh mẫn, tay bút không run…Để ngàn vạn gia đình liệt sĩ trên mảnh đất này vẫn nhận được những lá thư chỉ dẫn của ông, giúp cuộc vạn lý tìm mộ Ls chúng tôi bớt gian truân, nhọc nhằn, vất vả. Ngày gặp thêm gần lại .
Một cuộc sống đáng sống. Một tấm lòng đáng kính phục. Xin hãy nhận từ tôi, từ gia đình tôi. Không từ chúng tôi lời Tri ân vì những gì Ông đã góp nhặt cho đời.
Khẩn trương thu xếp. Một ngày tháng 5. 2002 tôi vào Tp – HCM. Đến BCH – QK 7
Sau khi kiểm tra mọi giấy tờ. Vệ binh nói tôi chờ ở phòng đón tiếp - Vọng gác. Khoảng 20 phút sau vệ binh đưa tôi ống nghe nói chuyện với người của Phòng chính sách QK. Giọng nữ ở đầu dây bên kia hỏi :
- Anh cần tìm trường hợp Ls nào ? Ai chỉ anh tìm đến đây ?
Tôi trả lời : - Tôi biết mật danh KB là QK 7 qua một bài trên báo Thanh niên mới đây . Em tôi là Ls Nguyễn hoài Châu, hy sinh 22.7.1972; Đơn vị khi hy sinh trên giấy báo tử ghi D6 – KB nên tôi tìm đến đây.
- Ai nói với anh như vậy? Có phải Ông….không ? D6 – KB thuộc sư 1. Chủ lực Bộ, hoạt động ở miền Tây những năm đánh Mỹ, chứ không phải QK 7. Năm 79 sư 1 hành quân ra Bắc, do có nhiều liệt sĩ mai táng ở trong này nên bàn giao hồ sơ lại cho QK 7. Theo giấy tờ lưu. Ls em anh hy sinh ở Kiên Lương – Kiên Giang; Trong này ghi : Bị bom vào căn cứ không lấy được thi hài…
Tai tôi ù đi không còn nghe rõ. Một luồng điện lạnh toát chạy dọc theo sống lưng. Phải tựa vào bàn cho khỏi khụy xuống, trước mắt như hiện lên hàng chữ xiên xiên viết bắng bút Bic ngày ấy, trang hồ sơ nhuốm bụi chiến tranh, ố vàng thời gian…
Ba mươi năm vất vả tìm kiếm. Hôm nay gia đình đã có được thông tin dù muộn màng nhưng vô vàn quý giá, đáng tin cậy về : Đơn vị; Trường hợp; Và giờ nơi em hy sinh… Gần đúng như những gì mà gia đình thu lượm được bấy lâu nhưng còn bán tín,bán nghi.
Trở lại với đồng đội ? Một cuộc làm việc ? Nửa giờ giao dịch ?….Là cái gì đó tôi không định nghĩa được !
Không giáp mặt; Không bắt tay; Không hớp nước…
Từng là người lính - Ngày ấy chúng tôi, với nhau đâu có tệ như vậy ! Thậm chí dám xả thân che đạn để đồng đội sống!
Ngày ấy – Bây giờ. Tình đồng đội ? Cách đối xử với gia đình đồng đội - Với gia đình Ls ? Là vậy sao?
Câu hỏi ấy cứ xoáy mãi trong tôi. Chặng đường về như dài thêm !
Lần 3 : Đi Hà Tiên
Tháng 4 (2007) Má tôi nhận được một lá thư gửi từ Tp HCM, nội dung :
Kgửi Bà Hường . Đầu thư tôi xin chúc sức khỏe gi/ đình. Sau nữa chia buồn cùng gi/đình cho đến nay vẫn mong chờ tin của A Châu.
Qua thông tin ở mục Tìm đồng đội ở VTV2 phát tối thứ 5 ngày 12/4/07 . Tôi xin hỏi thêm g/đình một vài thông tin sau đây nếu đúng thì liên lạc với tôi còn nếu khôg đúng mong g/đình thông cảm và cũng khôg cần phải liên lạc lại.
Anh Châu…..Nhà ở trước đây nếu tôi không nhớ lầm theo lý lịch trích ngang là số 35 Điện biên Phủ - Hải Phòng, vài chi tiết như vậy g/đình xem có đúng không ?
Còn tôi tên : Nguyễn Đức Tâm, quê Mộ Đức, nhập ngũ cùng ngày, ở Trung đội 4 cùng đại đội ngoài Bắc và cùng đại đội chiến đấu trong này C10. K6. E46 Công trường 1,
còn theo phiên hiệu mà giấy báo tử D6 – KB thì chúng tôi hòa toàn không biết.
Vài dòng ngắn ngủi gửi tới g/đình nếu đúng thì hãy liên lạc với tôi theo địa chỉ.
Nguyễn văn Tâm
185 Đường 3/2. F11. Q10 . Tp HCM DĐ : 0913.......
TB : Chào g/đình, mong g/đình dồi dào sức khỏe để vượt qua nỗi đau mất mát.( Từ trước đến giờ có bao giờ nhà đi xuống Hà tiên chưa ?
Các thông tin trong thư, trừ số nhà a Tâm nhớ lộn số 32 thành 35 - Điện Biên Phủ, còn hầu như đều đúng cả. Năm 2002 sau chuyến đi QK7 về, g/đình tôi có gửi đăng tin trên mục : Nhắn tìm đồng đội – VTV. Có lúc theo dõi được, có lúc không, nên Má tôi cứ cằn nhằn :
- Mãi sao hổng nghe thấy nhắn nhe gì hết ? ?
Vậy là trách oan cho Đài rồi. Liên lạc với a Tâm qua lại; Một tháng 7 nữa ; Ngày 27 sắp tới ; Trời nam đang mùa dông bão… nhưng nóng như trong lòng có lửa đốt, khớp kế hoạch cả hai phía. Chúng tôi thống nhất tháng 7/ 2007 này sẽ đi Hà Tiên; Tâm từ đó đến giờ, cũng chưa có dịp nào về nơi một thời máu lửa ấy.
Quen với những chuyến đi, không nhiều nhặn gì, vẫn những thứ giấy tờ, vật dụng cần thiết …đã được tôi sắp xếp chu đáo, nhanh chóng.
Như đã hẹn trước, xuống ga Sài Gòn tôi điện choTâm ra đón . Cũng dễ thôi, thời buổi thông tin hiện đại, hai người đàn ông lạ ngơ ngác tìm nhau. Chào hỏi, bắt tay…Tâm chở tôi về nhà.
Tâm gầy và cao; Trước là CNV nhà nước, hiện nghỉ giờ chạy xe thồ, có mối ruột đưa đón mấy đứa nhỏ đi học, tháng này hè nên rãnh…Vợ, con theo phía ngoại định cư ở nước ngoài. Không gì cả… trọn vẹn cả nghĩa đen, nghiã bóng. Sống trong khu tập thể nhà nước xưa : Một cầu thang xoắn chóng mặt lên từng năm; một sàn chờ rẽ vô từng căn hộ ; dàn máy bơm và… một trời ống dẫn nước rối mắt.
Trưa đó, sẵn có mực khô mang từ Nha Trang vô, hai anh em lai rai. Tâm kể :
Tối đó tình cờ bật Tivi đúng lúc VTV2 phát mục nhắn tìm đồng đội, loáng thoáng nghe Châu. Nguyễn hoài Châu mới giật mình để ý chứ nếu Châu nào là cho qua rồi. Vì tên, chữ đệm ấy hơi đặc biệt. Hình nữa, không trật vào đâu dù. ..đã ba mươi năm qua lẻ. Châu cùng đại đội ngoài Bắc, cả tiểu đoàn có vài đứa quê trong này, cùng Quãng Ngãi nữa. Tuy không thân nhưng biết nhau, rồi vượt bưng xuống Hà Tiên, cùng đại đội. Châu -Tịnh Sơn - Quảng Ngãi nhưng sao lại nhắn cho mẹ ở Nha Trang nhỉ ? Hôm sau tôi phải nối máy chờ VTV 2 phát lại, thu cho chắc. Rồi thư cho má anh.
Châu bị bom vùi khi thằng AD6 bổ nhào cắt loạt bom thứ hai, lúc đó cũng gần trưa, dứt bom anh em lao tới bới, đất vẫn còn bốc khói. Châu nguyên vẹn, nằm như đang ngủ, máu tươi rỉ ra nơi khóe miệng. Hai đồng đội cùng hầm không toàn vẹn. Đây là trận đầu tiên Châu tham dự. Lúc đó tôi làm liên lạc ở hầm đại đội, Châu ở hầm cối. Vào chiến trường mới có năm tháng, tăng võng còn đầy đủ nên việc khâm liệm, chôn cất… chu đáo. Trực tiếp Hòa - tiếu đội phó hồi còn ngoài Bắc và anh Giới khẩu đội trưởng chôn mấy đứa.
Nghe Tâm kể mà ứa nước mắt. Châu hồi nhỏ sức khỏe yếu, nghe nói lúc khám tuyển chỉ đạt B2, cán bộ tuyển quân động viên, g/đình phân vân nhưng Châu nói với gia đình :
- Để con đi Má ạ !
Thế là em lên đường - Đi mãi.
Có một sự trùng hợp. Trận đầu nổ súng năm 71 khi vào chiến trường Nghĩa Hành - Quảng Ngãi tôi cũng bị bom vùi suýt chết. Tôi ở cối. Đại đội cối 82 Trung đoàn 21. QK5. Tôi lúc đó là số đạn, vào trận thường nằm tuyến bộ binh bảo vệ hầm pháo phía sau. Hôm đó chúng tôi đánh càn. Sáng sớm súng đã nổ ran khắp tuyến bộ binh. Bên cao xạ 12,8 bắn rớt một trực thăng trinh sát, thường gọi với là “ Tàu rọ ” vì toàn khung kim lọai, kính meca trông xa như cái rọ bắt heo, Thằng giặc lái Mỹ trèo lên cánh quạt ném trái khói kêu đồng bọ xuống cứu.
Sau một hồi quần thảo, thằng “ gọng bừa ” OV 10 điểm trái khói ngay gần hầm tôi đào. Trúng rồi! Dù là trận đầu nhưng với những bài học từ cựu binh, tôi lặng lẽ mở b bòng vải cất bớt băng đạn, xé giẻ nút nòng khẩu AK. Gài chặt quai mũ cối, khuy tay áo…. chuẩn bị. Cũng là AD 6 bổ nhào, tiếng bom xé gió như khoan vào đầu.
Ầm ! Tối sầm mặt mũi. Mở mắt ra thì hầm đã sập, đất đá ngổn ngang, khói bom đắng nghét, đất vùi nén tức nghẹn đến cổ. Cố hết sức mà không tài nào đứng lên được. Mũ cối gài chặt vậy mà văng đâu mất. Gắng ngọ ngậy hai bàn tay còn tự do đẩy gạt bớt đất ở trước mặt cho dễ thở, có lẽ khả năng sinh tồn nên lúc mũ bị giật bay tôi đã kịp hai tay ôm lấy đầu. Tự động viên, ráng lên không loạt nữa chắc nó chôn ngồi mình luôn. Máy bay bổ nhào đợt 2.
Ầm ! Tôi không còn biết gì nữa. Sau nghe anh em kể lại :
Dứt loạt bom thứ 2; Khẩu đội cử Tào Mạc, người Thanh Hóa - pháo thủ số 1 chạy ra coi thử. Bụi tre chỗ tôi đào hầm đêm qua bật gốc, đất đá tơi tả không còn nhận ra địa hình. Mạc chạy vào báo :
- Thằng Sơn dính rồi ! Mấy số pháo nói với nhau : Mất một thằng tích cực. Hồi đó tuy là tân binh mới nhưng tôi đã là đảng viên dự bị, kết nạp trên đường vào chiến trường.
Anh Du, trung đội phó cho anh em ra làm tử sĩ : Trưa nắng nó sình.
Thấy tôi còn ngoi lên được cái đầu, thoi thóp, anh em súm khiêng vô địa đạo. Y tá Hải tiêm cho mũi trợ lực; Tôi tỉnh. Nền điạ đạo mát lạnh tôi thiếp đi. Tỉnh dậy đã chiều tối; Anh nuôi mang cơm ra. Tôi uống hết ca sữa do Y tá pha, làm hết vắt cơm nóng hổi. Vừa ăn vừa nghĩ :
- Hốt quá, định kiếm cớ lánh vài trận. Giờ sơi hết vắt cơm, ca sữa nữa. Mai không đi có mà đeo mo vào mặt.
Đêm di chuyển trận địa, lại đào hầm, đánh tiếp. Dạn dần
Chiều ra cơm quán, Tâm lâu nay sống một mình, thế cho tiện. Nấu nướng lích kích. Thăm dò giờ tàu xe, đêm 23h có chuyến Sài Gòn - Kiên Giang. Duyệt
Lại mưa, xe vắng người nên mỗi anh em một băng lăn lóc ngủ. Gần 6 giờ đã tới Kiên Giang. Kiếm quán ăn sáng. Chúng tôi dò hỏi đường đến Sở TBXH và BCH quân sự Kiên Giang. Cũng gần đây, hai anh em thả bộ, vừa ngắm phố phường. Gần đến giờ làm việc, đường phố tấp nập. Tôi có cảm giác Kiên Giang nhỏ hơn Cần Thơ .
Tại hai cơ quan này. Tra cứu hồ sơ, hầu như không có vết tích gì về sự có mặt của D10. E 46 hoạt động những năm đánh Mỹ, Toàn lớp cán bộ trẻ sau này. Tâm nói chuyện với họ, biết gặp thứ thiệt đã từng lăn lộn một thời ở vùng này với những điạ danh, mật danh máu lửa mà họ được đọc đâu đó trong hồ sơ lưu. Nhiệt tình, chu đáo..Các anh chị hướng dẫn khi chúng tôi bày tỏ muốn đi Hà Tiên.
Quay về bến chúng tôi mua vé đi Hà Tiên. Tuyến này cứ nữa giờ xe lại xuất bến, toàn xe 14 – 16 chỗ đời mới. Đã thiệt.
Lộ tráng nhựa, cũng ít xe chạy. Trời vần vũ lúc nắng , khi mưa. Dọc theo lộ là vuông tôm rộng. Nghe Tâm nói xưa toàn chàm đước mênh mông. Vùng ruộng sình phèn mà đâu đó nhô lên vài khối núi đá to. Xi măng Hà Tiên, dăm năm nữa trái núi này chắc không còn. Dưới kia là Hòn đất - Kiên Luơng, Có mộ chị ba Sứ. Hồi đi học tôi nghĩ chỉ là một hư cấu văn học của Anh Đức. Giá mà có điều kiện ghé qua thắp một nén nhang, nghiêng mình trước các anh chị, những người con xứ Hòn.
Tâm nhắc lái xe cho xuống địa danh Núi Cọp ven đường. Đây thuộc Ấp So ảo, xã Thuận Yên, Hà Tiên. Những năm ắc liệt. Bộ đội mình thường chặn đánh ở khúc này, một địa thế độc đạo, bên núi đá lởm chởm, bên biển. Chỉ một đường độc đạo xuống Hà Tiên. Hỏi thăm dân địa phương đường vào miếu ông Bổn, chúng tôi lội bộ vì trên đường không thấy có phương tiện gì qua lại, trời lại mưa Tâm nhớ lại :
-Từ lộ vô đó khoảng một đoạn, hồi đó nổ mìn xong tụi tui chạy nhoáng một cái là về đến chỗ trú. Tụi nó đóng trên núi, mình ở triền rừng dọc đây, dưới kia là đồng chàm nước ngập. Cả rẻo đây chỉ một hai hố nước ngọt ăn uống được, còn toàn ruộng phèn sình. Tụi nó biết vậy mà đâu dám xuống. Đường mòn lắt léo vừa bước chân, dây leo gai góc nhằng nhịt, nhất là mìn bố phòng dày đặc, cả ta và địch cùng gài, lớp nọ chồng lên lớp kia. Loạng quoạng là banh xác liền. Lâu lâu tụi nó càn có cả xe lội nước, phi pháo yểm trợ nhưng đâu có làm mẹ gì được.
Hồi đó chạy nhoáng một cái, giờ hai anh em lội hơn tiếng đồng hồ, mồ hôi ư ướt đẩm. Thế mới thấy sức trai ngày ấy, tuổi già hôm nay. Dân ở thưa thớt, đỗi mới có một hai nóc nhà xen trong rẫy mỳ. Đường đất đỏ ôtô chạy được, đã thấy kéo điện và ống nước chạy dọc theo lộ. Không thấy hàng quán gì
Đồi 105 đây, xưa tụi nó ở trển, tụi tui dưới này. Cứ điểm Chùa bốn mặt nằm chếch hướng Tây, nó ở đầy trên đó, kích cối ra khu vực xung quanh. Đây là miếu ông Bổn. Một căn nhà cấp bốn chừng 4m vuông hơn là miếu. Cửa mở vì đâu có thấy cánh. Một bệ cimen rộng, những gì bày trên đó có thể cho biết cuộc sống dân đây vất vả thế nào; Vài cái ly chén sứt, cáu bẩn. Đèn không bóng, nền sạt, vài vết nứt ngoằn nghèo trên tường…chắc lâu chưa được quét dọn thắp nhang, mạng nhện giăng ngang. Cảm thấy chưa tin lắm ,Tâm hỏi nhà dân trước miếu. Nhà ông Ba Lèn .Đúng miếu ông Bổn, leo lên sườn sau miếu bắt gặp : một miếng tôn cũ úp lên mấy tảng đá núi.., Những gì còn lại của miếu Ông xưa.
Tâm thắp nhang. Tôi lấy chai nước lọc mang theo, không kiếm được cái ly nào sạch sẽ đành lấy nắp bình vậy. Lính mà, hết đời vẫn còn gian khổ. Bày ảnh của Châu, của tiểu đội Châu ngày còn huấn luyện trên Yên Tử - Quảng ninh.Mười hai anh em, ba mươi lăm năm qua. Ai còn ai mất ??...Đã có ai ngoài Hải Phòng lặn lội vô đây với các em chưa ??. Ôi ! những đứa em thương yêu không bao giờ gặp lại. Những đứa con máu mủ mẹ dứt ruột mang nặng đẻ đau. Châu ơi ! Hiếu ơi ! Trực ơi !...Các em có linh thiêng nghe lời thỉnh cầu. Hãy về đây thấu hiểu nỗi đau đớn tột cùng này : Mẹ mất con. Anh mất em. Vợ mất chồng. Con mất cha….Ngần ấy thời gian trôi mà sao nỗi đau thương này vẫn không thôi giằng xé tâm can; Để người thân hôm nay vẫn gập ghềnh muôn nẻo đường chiến tranh đi qua tìm kiếm. Một cuộc tiềm kiếm mà có lúc tưởng chừng như vô vọng, kiệt sức.
Trận đó Tâm không làm tử sĩ nên không biết chính xác chỗ chôn. Chỉ nhớ đây là trận địa xưa. Ngày ấy cây lúp súp ngang ngực, Cưa làm hầm kèo chỉ cỡ bắp chân, bắp tay, Giờ gốc nào gốc ấy người ôm. Mùa mưa, rừng ẩm ướt, giây leo nhằng nhịt, một vạt rừng này biết chỗ nào bới tìm đây ? Mà giả dụ may mắn bới được cũng đâu biết ai là Châu, ai là Hiếu….Trăm năm xưa mở cõi cha ông ta còn biết dùng thẻ tre khắc tên, quê quán… Người lính trấn ải Hoàng Sa, lỡ khi vì nước vong thân nằm xuống bó chiếu thả biển may mắn dạt vô bờ không thất lạc. Sao ta không làm được vậy ? ? Không ai phổ biến, huấn luyện… Hình như nói ra sợ ảnh hưởng tư tưởng… Nhớ lần đầu tiên được phân công chôn anh Đọn, đồng đội bị pháo chụp trận đánh ấp Xuân Vinh - Nghĩa Hành. Quảng Ngãi năm 71. Súng vẫn nổ, HU 1B quan sát phành phạch trên đầu. Tôi và Hương , lính cũ gói anh trong tăng cá nhân. bó chặt bằng dây võng. Cái gì còn tốt , sài được như dép, dây nịt… anh em ai cần thì lấy ( khi sống chúng tôi quy ước với nhau vậy; Còn tốt chôn phí ) Tài sản quý cá nhân như nhẫn, đồng hồ…gói giao ban chính sách gửi về Hậu phương. Lính chiến có cái gì đáng giá đâu ? Mạng còn để lại nữa là…Lấp đất xong Hương bảo tôi leo lên dận khỏa bằng, không để lại dấu vết gì. Thực lòng tôi làm không được, chần chừ không nỡ. Nó gắt lên giải thích: Mai mình đi. Phía bên kia chiếm lại, phát hiện có tử sĩ; Hoặc ai đó thấy báo, nó bới lên phơi xác tuyên truyền chiến thắng, còn đau lòng gấp mấy .Tôi chỉ dám dận vòng quanh. nghĩ bụng : Đừng bắt tội em nghe anh Đọn.Thế đấy, đêm đội công tác dẫn vô ấp. Tối mò, chỉ biết ấp Xuân Vinh, đường xá ngang dọc mù tịt, cắm cổ đào hầm pháo, tuyến bộ binh… Một ngày bom đạn ngút trời. Đêm chuyển trận địa. Anh nằm lại cô quạnh, không bia mộ, nhang khói, một sơ đồ mộ chí sơ sài. Chỉ vậy !… Ai sao tôi không biết! Hồi đó, không bao giờ trong thâm tâm suy nghĩ sẽ có ngày quay lại tìm kiếm anh em. Biết đâu mai chẳng đến là mình?….Tôi đã thấy nhiều anh em, tội lắm. Mấy đêm Mỹ phục giữ không cho lấy xác mà kiến, mối ăn hết cả vành tai, my mắt… Chúng còn gài lựu đạn dưới xác. Quân súc sinh, bẩn thỉu, phải nối dây cột kéo cho lựu đạn nổ. Gom xác thịt lại lấy đá vây xung quanh, lấp đất. Vài tháng mưa nguồn, lũ suối, thú rừng… Cát bụi lại về với cát bụi.
Sực nhớ tôi mở máy liên lạc với một nhà ngoại cảm có tiếng trong Nam, kể lại hoàn cảnh và xin trợ giúp. Ổng âý nói : Đây là một công việc hết sức mong manh, thực lòng và thành tâm. Ít hy vọng. Nếu quyết thì chờ đúng Ngọ, thắp bảy nén nhang vái chư thần thổ địa tứ phương phù hộ độ trì. Miếu ông gì đó.. giúp tôi là… Tìm hương hồn ls là….. Khấn xong cắm nhang trên bàn thờ, trang thiên trước cửa. Sẽ có con bướm màu xanh bay tới, nó đậu xuống đâu đào tìm ở đó… May mắn, vài phút nữa đúng Ngọ. Tôi và Tâm lật đật chuẩn bị…Làm đúng những gì nhà ngoại cảm dặn. Có gì sai…Tôi không biết, không thành tâm mà anh em tôi lặn lội vô đây ư ? ? Cứ mỗi lần thắp nhang cho em là tôi lại không cầm được nước mắt. Ba mươi lăm năm, hình ảnh gặp em lần cuối lúc chúng tôi hành quân về ga Hỗ - Hải Phòng, lên tàu vào Nam vẫn như mới đây… Em hiện hữu, gần lắm, ngay trước mặt. Dáng mảnh khảnh, gầy yếu, bộ quân phục nhàu nát, lấm lem bùn đất… Trời bừng nắng, từng bờ cây, bụi cỏ như rực rỡ non xanh hơn. Bướm đâu sao ra nhiều thế ? ? Nhỡn nhơ bay như trêu ngươi, không thấy bướm xanh, không con nào đậu ! ! Không hy vọng gì
Trưa chúng tôi nghỉ lại nhà ông Ba Lèn, đối diện với miếu. Gọi là ông chứ cũng chỉ hơn chúng tôi vài tuổi. Nhà tôn nhưng thoáng cao, rộng rãi. Cũng mới dọn về sau giải phóng, hồi ác liệt gia đình chạy tuốt vô Tri Tôn. Ông cho biết : Từ đó đến giờ chưa thấy quy tập ls vùng này. Ngoài kia, phía bìa gần rừng chàm thì có, dân làm ruộng tôm phát hiện….Hy vọng em còn nằm đâu đây, xong làm cách nào tìm được thì chịu. Chiều nhờ ông Ba Lèn kêu hộ hai xe thồ, không quên để lại số điện thoại, địa chỉ để tiện liên lạc. Ghé miếu ông Bổn, hốt nắm đất nhỏ cho vào hộp mang theo từ nhà. Em tôi - mấy đứa tụi nó là giờ là đây sao ? Đau xót, nghẹn ngào. Đốt nén nhang chia tay, thầm hứa sẽ còn trở lại thăm em !
Chúng tôi vào Hà Tiên. Tâm kể hồi huấn luyện ngoài Bắc, không biết từ đâu bài : Hà Tiên mến yêu được anh em truyền miệng hát. Ai dè sau vô đây thiệt. Hà Tiên tĩnh lặng , không ồn ào náo nhiệt, cuộc sống trôi trôi yên ả. Không tiếng xe tải ầm ĩ, còi như thét vào tai, giữa đô thị mà cát bụi mù mịt, ra đường mặt mũi kín bưng, thấy gật chào đi một đỗi không đoán ra nữa ?? Phòng chính sách TBXH đóng trong căn biệt thự cũ. Chị cán bộ phụ trách coi rất kỹ giấy tờ tôi mang theo rồi cho phép tôi tiếp cận hồ sơ. Không một vết tích gì sự hoạt động của D6 – KB; Đang túi bụi lo thủ tục hỗ trợ cho hai gia đình Ls ngoài Nghệ An vào xin chuyển hài cốt Ls về quê nhưng chị cũng cho chúng tôi biết thêm một địa chỉ tin cậy có thể giúp chúng tôi. Anh Ngô minh Chánh, phụ trách đội quy tập K92 Kiên Giang, người ấp Thạch động, Mỹ đức, Hà Tiên. Ảnh là “ thổ địa ” vùng này có thể giúp các anh. Liên lạc qua số điện thoại chị cho thì biết anh đang ở An Giang. Vậy là bó tay. Kế hoạch ra Nghĩa trang Ls Hà Tiên cũng không kịp. Mai vậy.
Lấy phòng trọ, tắm táp xong xuôi hai anh em thả bộ xuống thị xã. Chiều bình yên nơi cửa biển. Tịnh xá Tô Châu đồ sộ, nguy nga ẩn hiện trong bóng núi. Bến Hà Tiên thuyền về tấp nập. Chỗ đó xưa là cầu phao, giờ thay thế bằng cây cầu cimen đồ sộ. Quê hương thay đổi từng ngày. Đêm mưa lớn, hai anh em chìm vào giấc ngủ. Mệt nhọc.
Nghĩa trang liệt sĩ Hà Tiên nằm trên triền đồi hướng ra biển. Gió vi vu hàng phi lao hát. Đẹp thật, dù ngoài khơi xa xám mùa biển động. Thắp nhang cho đồng đội, cho Châu, biết đâu em cũng có trong những người lính vô danh may mắn nằm đây. Tượng đài sừng sững, hình hài người lính súng chắc tay ngày đêm dõi khơi xa
Anh về đây ! Về với cuộc sống đời thường bao lo toan, bề bộn. Sẽ còn trở lại thăm em, một khi chắc chắn đã biết em đang ở Hà Tiên.
Mịt mù cơn giông
Lô nhô đất đá,
Cỏ cây nghiêng ngả
Gai móc , dây giằng
.
Ba lăm năm tìm,
đến được đây !
Ấp Soảo - Thuận Yên ,
mưa Hà Tiên tháng bảy.
Trận địa đây !
Sao yên lặng vậy ???
Hiếu ơi ..Hoài Châu ơi ….!!!!
Các em ở đâu ???
Bom trúng hầm
Phút giây - Bất tử.
Máu sương hoà .
Đất .Nước – Non sông
Hồn bay về
bên mẹ mỏi trông
Thắp nhang gọi tên .
Lòng đau như cắt
Kìm tiếng nấc oà
Nén trong sâu thẳm
Nhớ các em .
Cuộc đời chiến sĩ.
Mãi nụ cười,
ngày ra đi.
Đi mãi chưa về ./.
7.2009
Vĩ thanh.
Công tác chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi tìm mộ Ls. Như một người lính hành quân ra trận năm xưa : áo mưa, thuốc cấp cứu, võng …Tùy theo đặc điểm vùng miền mình sẽ đến. Nhớ xin Giấy giới thiệu của Phòng chính sách TP; của Phòng chính sách BCH Quân sự Tỉnh . Đến đâu nhớ liên hệ với bộ phận chính sách Quân, Dân chính tại địa phương…Để được giúp đỡ, chi viện, may mắn tìm được Ls, được hỗ trợ kinh phí chuyến đi bốc dỡ hài cốt, …và nhất là Ls sẽ được nằm ở vị trí suy tôn trang trọng… bõ những ngày các anh vùi thân nơi bờ bụi…
Không phải là tất cả. Nên chăng hãy chọn những người có kinh nghiệm; Có trách nhiệm; Có lòng thương yêu. Hiểu công việc mình được giao làm Chính sách - Một công việc nhậy cảm…Để đừng bao giờ có những thái độ, hành động vô cảm… Hãy cùng chung tay làm vơi dịu nỗi đau, bớt đi những giọt lệ, tưởng chừng đã khô cạn còn lăn trên gò má nhăn nheo của mẹ
Xin được tri ân tất cả. Những người làm công tác chính sách địa phương, những đồng đội CCB, anh xe thồ, anh Tư thương binh, cô bé bán nước ven đường, gia đình ông Ba Lèn…Đã sớt chia, xẻ gánh nặng dặm đường đi tìm mộ Ls của chúng tôi….Dù chưa đưa được em về - Chỉ là nắm đất nhỏ nhoi nơi đợt bom ác liệt ấy nổ, cũng nặng vai tôi đường về. Thâm tâm an ủi, Trong đó có máu sương em tôi, có Hiếu, có Trực…có vạn vạn người con yêu dấu của Mẹ vĩnh hằng cho Ấm no. Hạnh phúc hôm nay . /.
07.2009
Mấy chục năm đã qua gia đình vẫn băn khoăn một điều ? Hài cốt em nếu còn liệu đã được đem về một nghĩa trang liệt sĩ nào ? Mà có còn không ?
Nắm sương tàn của em giờ đang nằm đâu ở cái nơi gọi là Ấp So ảo. xã Thuận Yên Hà Tiên Kiên Giang ấy
Câu hỏi ấy tận đến bây giờ vẫn cứ đau đáu với gia đình mình và chắc cũng như vậy với bao gia đình các liệt sĩ vô danh khác trên mảnh đất Việt Nam nhiều đau thương này
Ở đâu trên đất nước này . Cái nghĩa trang mặt trận phía Nam ấy ??
Mỗi lần chợt nhớ đến em Má lại thắp nhang trên trang thờ , lầm rầm nói chuyện với tấm hình em chụp – mãi với nụ cười ngày ra đi ấy.
Năm nào cũng vậy cả nhà vẫn quây quần trong bửa cơm
xum họp gia đình chiều 27 cuối năm .Trong tâm trí gia đình nhớ mãi… Em suốt đêm băng rừng, vượt dốc từ Yên Tử về Hải Phòng đúng chiều 27tết .Sáng mùng 2 . Đơn vị em tập trung nhận quân trang, vũ khí tại ga Dụ Nghĩa - Hải phòng lên đường vào Nam chiến đấu…Gần bốn mươi cái tết gia đình ta sống thiếu vắng em.
Mấy năm nay khi mà kinh tế ...khá hơn .Tên em đã có trên tấm biaTổ Quốc Ghi Công của địa phương và …. Sáng mùng một tết hàng năm gia đình lại đến đây thắp hương cho các Anh hùng Liệt sĩ, cho Châu .
Trong cái nắng sớm xuân bình yên, từng vòng khói nhang thong thả bay lên, khuôn mặt người thân lại nhạt nhoà nước mắt .
Tổ Quốc. Gia đình đời đời ghi nhớ những đứa con máu thịt của mình đã ngã xuống cho mãi mùa xuân đất nước hôm nay .
10.02.2010



