• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Tôi Yêu Khoa Học

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • #31
    Maya - nền văn minh rực rỡ của nhân loại

    Nhiều người cho rằng "ngày tận thế" bắt nguồn từ lịch Maya, nhưng người Maya không chỉ có lịch mà còn có thành tựu văn minh huy hoàng trước khi bị diệt vong.

    Những kim tự tháp Maya vẫn còn nguyên vẹn.

    Trong sử sách, nền văn minh Maya đạt tới đỉnh cao của mọi lĩnh vực từ kiến trúc, toán học, thiên văn học, cho đến nghệ thuật. Tuy nhiên, sự biến mất của nó lại là một bí ẩn mà đến nay giới khoa học chưa khám phá hết.
    Nền văn minh Maya được xây dựng bởi người Maya, một bộ tộc thổ dân châu Mỹ. Nó hình thành trên vùng đất mang tên Cuello cách nay 4.000 năm. Từ mảnh đất này, người Maya phân chia thành nhiều nhánh, trong đó, nhánh lớn nhất tiến về vùng đất là vịnh Mexico ngày nay. Tại đây, các nhà khảo cổ vẫn tiếp tục khai quật hàng loạt đền thờ đá có niên đại lên tới 2.500 năm.
    Giới khảo cổ cho biết, nền văn minh Maya đã tạo ra hàng loạt thành phố lớn vào thời kỳ năm 800 đến 400 trước Công nguyên. Những thành phố nổi bật nhất là Nabke (thuộc Guatemala), Chichen Itza, Yaxchilian, Oxkintok, Palenque, Dos Pilas, Uaxactun, Altun Ha, Bonampak. Những khu đô thị của người Maya có sức chứa hàng vạn người. Chúng được xây dựng hoàn chỉnh, hiện đại.
    Người Maya có hệ thống lịch rất chính xác dựa vào chiêm tinh học. Tuy nhiên, họ lại tin tưởng vào chu kỳ tự nhiên của thời gian. Các nhà chiêm tinh thường phân tích các chu kỳ và tiên đoán các sự kiện trong tương lai. Sự kết thúc chu kỳ thời gian trong bộ lịch của người Maya khiến con người của thế giới hiện đại tưởng tượng ra sự diệt vong.
    Chữ viết của người Maya là một chuỗi các ký hiệu âm và dấu tốc ký. Hệ thống chữ viết gồm hơn 1.000 ký hiệu.
    Người Maya có nền nông nghiệp phát triển rực rỡ. Họ đã trồng trọt đủ các loại rau, củ, quả. Kỹ thuật trồng ngô của họ đạt đến đỉnh cao. Nghề chăn nuôi, hay các nghề như chế tác đá, trang sức, gốm, dệt vải, chế biến gỗ cũng phát triển mạnh.
    Trong thời kỳ đầu Công nguyên, hàng loạt nhà nước, quốc gia của người Maya thành lập và phát triển rực rỡ, đa dạng. Tuy nhiên, các quốc gia lần lượt bị diệt vong một cách bí ẩn và gần như biến mất hoàn toàn vào thế kỷ thứ 10. Chỉ duy nhất một quốc gia trên bán đảo Yucatan, Mexico tiếp tục tồn tại đến thế kỷ 16. Quốc gia cuối cùng của người Maya cũng biến mất bởi sự xâm chiếm của người Tây Ban Nha.
    Bộ lịch của người Maya.

    Các công trình xây dựng của người Maya có lẽ là dấu ấn rõ nét nhất còn sót đến ngày nay. Những nhà khảo cổ vẫn miệt mài khai quật những ngôi mộ khá đặc biệt trên các quả núi, trong rừng sâu. Những ngôi mộ khổng lồ xa xưa là tiền đề cho những kiến trúc kim tự tháp. Hàng trăm kim tự tháp vẫn còn tồn tại khá nguyên vẹn, rải rác trong các rừng sâu, nơi vốn là trung tâm quyền lực của các quốc gia Maya cổ. Số lượng khổng lồ tác phẩm, chữ viết, lịch khắc trên đá tiếp tục thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Đó chính là những bằng chứng khẳng định sự phát triển đỉnh cao của người Maya.
    Nhưng mười mấy triệu người Maya đi đâu? Các nhà khoa học tích cực giải mã được 80% lượng chữ viết khổng lồ của người Maya khắc trên các phiến đá và hiểu được phần nào nguyên nhân diệt vong của nền văn minh này.
    Chẳng dân tộc hay quốc gia nào khác giết dân tộc Maya, mà họ tự tìm tới bờ vực của sự diệt vong. Người Maya không yêu chuộng hòa bình, thiên nhiên như chúng ta nghĩ. Họ thực sự hiếu chiến và khát máu.
    Hàng loạt cuộc chiến tranh đã xảy ra trong nội bộ các quốc gia của người Maya. Trong thời kỳ chiến tranh, rất nhiều người Maya chết đói. Việc khai thác rừng quá mức cũng khiến môi trường thay đổi, lượng nước ngầm giảm dần. Hơn nữa, vùng đất của người Maya còn hứng chịu những thời kỳ hạn hán khốc liệt, kéo dài hàng trăm năm.
    Cuối thế kỷ thứ 9, các con kênh do người Maya đào không còn nước. Dù khoa học kỹ thuật thời kỳ đó phát triển mạnh, người Maya vẫn không thể đào sâu xuống lòng đất tới 150 m để lấy nước.
    Thiếu nước, nền nông nghiệp đình đốn, người Maya thiếu lương thực. Trong khi các cuộc xung đột đẫm máu vẫn xảy ra triền miên, khiến các nền văn minh này dần biến mất.
    Theo các nhà khoa học, hiện nay vài triệu người là hậu duệ của người Maya đang sống ở vùng Trung và Nam Mỹ. Nhưng thực dân Tây Ban Nha đồng hóa họ suốt mấy trăm năm nay, khiến mầm mống cuối cùng của văn minh Maya cổ xưa biến mất hoàn toàn.
    Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

    Comment


    • #32
      Phát hiện "hành tinh cô đơn" trong vũ trụ

      Các nhà khoa học Mỹ vừa phát hiện ra một hành tinh cô đơn trong vũ trụ, cách trái đất 80 năm ánh sáng, trôi nổi trong không gian mà không có ngôi sao chủ nào sưởi ấm cho nó.


      Theo hãng tin NBC, các chuyên gia Viện Thiên văn thuộc ĐH Hawaii khẳng định: “Chúng tôi chưa bao giờ tìm thấy một thiên thể trôi tự do trong không gian như vậy. Nó có mọi đặc điểm của một hành tinh trẻ xoay quanh một ngôi sao trẻ, nhưng lại trôi một mình”.

      Trong quá khứ, các nhà thiên văn học xác định những hành tinh cô đơn như vậy có thể tồn tại, nhưng giờ họ mới phát hiện ra bằng chứng đầu tiên. Hành tinh có tên PSO J318.5-22 lớn gấp sáu lần sao Mộc.

      Một số nhà thiên văn học tranh luận rằng định nghĩa của “hành tinh” là các thiên thể hình thành xung quanh các ngôi sao. Do đó, cần phải gọi PSO J318.5-22 là “thiên thể có khối lượng tương tự hành tinh” (planemos) chứ không phải là hành tinh.

      Nhóm chuyên gia Viện Thiên văn cho rằng có thể PSO J318.5-22 được hình thành xung quanh một trong nhóm sao trẻ Beta Pictoris, xuất hiện 12 triệu năm trước đây. Nhiễu động trọng lực có thể đã đẩy PSO J318.5-22 ra khỏi quỹ đạo sao chủ của nó ngay sau khi nó ra đời.

      Các nhà khoa học cho biết thông thường rất khó quan sát các hành tinh vì chúng ở bên cạnh sao chủ quá sáng. “PSO J318.5-22 không xoay quanh ngôi sao nào, do đó rất dễ nghiên cứu. Nó sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu các hành tinh khí lớn tương tự như sao Mộc” - chuyên gia Niall Deacon thuộc Viện Max Planck cho biết.
      Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

      Comment


      • #33
        Những thành phố trong truyền thuyết

        Đây là những thành phố, địa điểm hư hư thực thực, lại được thêm nhiều lời đồn thổi nữa nên độ kì bí của chúng càng cao

        Atlantis

        Triết gia Hi Lạp Plato là người đầu tiên mô tả thành phố đẹp nhưng xấu số này vào khoảng thế kỷ IV trước Công nguyên. Theo Plato, Atlantis là hòn đảo quê hương của thần biển Poseidon. Poseidon phải lòng một người trần là Cleito và xây thành phố Atlantis cho nàng.


        Thủ đô của Atlantis thực sự là một kỳ quan kiến trúc và công trình xây dựng kỳ vĩ bao gồm những bức tường thành và kênh đào hình tròn đồng tâm. Ở trung tâm thành phố là một quả đồi lớn, trên đỉnh đồi là nơi đặt đền thờ Poseidon. Bên trong đền chính là bức tượng Thần biển bằng vàng đang cưỡi ngựa thần sáu cánh.

        Và khoảng 9.000 năm trước thời của Plato, sau khi vương quốc Atlantis suy tàn, các vị thần quyết định phá huỷ lục địa này bằng một trận động đất khủng khiếp với những cơn sóng thần nhấn chìm toàn bộ những công trình và nền văn minh Atlantis xuống đáy biển.



        Từ đó trở di, các nhà sử học và những tay săn lùng kho báu ra sức tìm xem Atlantis nằm ở đâu và nó đã bị phá hủy như thế nào. Thế nhưng họ đều không đạt được mục đích.

        El Dorado

        Đây là một thành phố vàng huyền thoại được đồn đại nằm ở Nam Mỹ. Nó gắn với những câu chuyện về một ông vua thời cổ, cũng tên là "El dorado" (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Người Vàng"). Ông vua này trên mình phủ đầy vàng.


        Các nhà khoa học đã từng tuyên bố về việc phát hiện hơn 200 vết tích lớn của El Dorado tại khu vực lòng chảo Amazon, gần biên giới Brazil và Bolivia.

        Từ trên cao, trông các vết tích này như những đường kẻ địa lý được khắc vào mặt đất. Nhưng các nhà khoa học nói rằng những đường nét này là phần còn lại của các con đường, cây cầu, hào sâu, các đại lộ và quảng trường từng là nền tảng của một thành phố văn minh nằm trên một khu vực dài hơn 200km. Thành phố này có thể đã là nơi sinh sống của một cộng đồng dân cư khoảng 60.000 người và những tàn tích mới được phát hiện có niên đại từ năm 200 - 1283 sau Công nguyên.


        Những vết tích được cho là thuộc về El Dorado.

        Camelot


        Camelot là cung điện huyền thoại của vua Arthur. Có nhiều giả thuyết về những địa điểm có thể là Camelot ở Vương quốc Anh, nhưng vẫn chưa có bằng chứng vững chắc nào chứng minh rằng nó từng tồn tại.


        Thế kỉ thứ V, các quân đoàn La Mã chiếm đóng xứ sở Anh mãi rồi cũng rút đi, nhưng họ để lại một đất nước không có sức tự vệ, các bộ lạc German từ lục địa Châu Âu nhận thấy ngay cơ hội của họ.

        Người Anglo, người Saxon và người Jutes tiến về phía Tây, phá hủy các tu viện cùng với sách sử và học thuật lưu trữ ở đó. Vì việc phá hủy các sách vở, các bản chép tay chứa vô vàn kiến thức, mà thời kì này đc gọi là "thời đại tăm tối".

        Nhưng rồi chúng cũng bị đánh bại. Truyền thuyết nói đến một người có công ngăn chặn sự xâm lược của quân Anglo-Saxon, một ông vua vĩ đại đoàn kết được nhân dân đứng lên chống trả ngoại xâm và thắng hết trận này đến trận khác. Đó là Arthur, Vua của người Briton.

        Chiến thắng cuối cùng diễn ra tại núi Badon. Tại đây, hơn 900 quân Tây Saxon đã ngã gục dưới lưỡi kiếm Excalibur huyền thoại của Arthur.


        Vua Arthur.
        Arthur xây cho mình một pháo đài tên là Camelot. Ông cùng hoàng hậu cai trị đất nước sáng suốt trong nhiều năm. Nhưng con trai cả của ông, hoàng tử Modred, ghen tị với vua cha, hắn đã dấy lên làm phản. Mặc dù cuối cùng Arthur giết đc Modred, nhưng ông cũng bị tử thương. Khi Arthur qua đời, thì Camelot mau chóng biến thành một huyền thoại.

        Ogygia

        Ogygia là hòn đảo của nữ thần Calypso, một nhân vật trong thần thoại Hi Lạp. Hòn đảo này rất lạnh, đầy những khu rừng tối tăm và thú dữ đáng sợ. Calypso đã giữ anh hùng Odysseus ở đây trong nhiều năm. Tuy nhiên nhiều khả năng hòn đảo này cũng chỉ hoàn toàn nằm trong trí tưởng tượng bởi tính hiện thực của nó rất thấp.


        Tranh miêu tả Odysseus bị giam cầm trên đảo.
        Lyonesse

        Gắn với những câu chuyện nửa thực nửa hư về vua Arthur, Lyonesse từng được coi là một xứ sở nằm ngoài Mũi Cuối Đất ở Cornwall nước Anh. Huyền thoại nói rằng một cơn bão lớn đã kéo đến, và biển cả trùm lên đất liền. Tuy nhiên, khi vua Arthur trở về, thì Lyonesse lại nổi lên từ biển cả.



        MU

        Một thiên đường đã mất có tên là Mu từng được xem là Vườn Địa Đàng trong Kinh Thánh. Các chuyên gia tin rằng Mu đã bị phá hủy bởi thiên tai, chẳng hạn động đất hoặc đại hồng thủy. Có người còn khẳng định rằng các hòn đảo ở Thái Bình Dương đều là vết tích còn lại của Mu.


        Vương quốc của Prester John


        Vương quốc huyền thoại này do một ông vua - linh mục theo đạo Kito tên là Prester John trị vì. Vương quốc ấy nghe nói có cả suối nước trường sinh bất lão, và tất cả thần dân của John đều hạnh phúc, khỏe mạnh và thanh bình. Tuy nhiên, huyền thoại cũng nói rằng hầu như không thể tới được chốn thiên đường này.


        Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

        Comment


        • #34
          Giếng thần Thor kỳ lạ hút nước giữa biển

          Giếng thần Thor ở Oregon (Mỹ) còn được gọi là "cổng địa ngục", đủ lớn để nuốt chửng một con thuyền. Điểm tham quan này thu hút nhiều du khách nhờ hiện tượng hút nước độc đáo.

          Nước biển có vẻ như bị hút xuống hố sâu không đáy ở bờ biển Oregon, Mỹ. (Ảnh: Daily Mail).


          Điểm tham quan độc đáo này có tên là "Giếng thần Thor", đôi khi còn được gọi là "Cổng địa ngục". Thực chất, hố biển này chỉ sâu khoảng 6m. (Ảnh: Daily Mail).


          Khi thủy triều lên cao, sóng tràn vào và lấp đầy hố cho tới khi trào ra ngoài hoặc bắn lên tung tóe. Sau đó, nước lại rút ngược vào hố, khiến cho Giếng có vẻ như liên tục rút nước đi. (Ảnh: Reddit).


          Giếng thần Thor thu hút nhiều du khách và nhiếp ảnh gia trên thế giới nhờ hiện tượng độc đáo này. (Ảnh: Daily Mail).


          Nơi này thuộc khu vực mũi Perpetua, hạt Lincoln, bang Oregon, Mỹ. (Ảnh: Daily Mail).


          Nước thủy triều bắn ra khỏi giếng, tạo cảnh tượng hùng vĩ khiến du khách thích thú. (Ảnh: Leisure).


          Theo Gary Hayes của trang Traveloregon.com, Giếng thần Thor ban đầu có thể là một hang biển, sau đó một phần trần hang sụp xuống và bị nước biển xói mòn. Anh cũng khuyến cáo du khách không nên tới quá gần giếng để đảm bảo an toàn. (Ảnh: Reddit).


          Từ tháng 5/2016, 3 du khách đã bị sóng mạnh bất ngờ gần giếng quật ngã. May mắn là không ai rơi xuống hố hay bị thương nặng. (Ảnh: Brian Matiash/500px).
          Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

          Comment


          • #35
            Năng lượng từ trái tim: Trường điện từ kết nối cảm xúc và con người



            Viện nghiên cứu HeartMath (Institute of HeartMath – IHM) cho biết trái tim có thể tạo ra trường điện từ rất mạnh. Trường điện từ này thấm vào mọi tế bào và có thể hoạt động như một tín hiệu đồng bộ cho cơ thể, tương tự như thông tin mang bởi sóng vô tuyến. Đặc biệt, nghiên cứu cũng cho thấy năng lượng này không chỉ được truyền đến não bộ mà còn có thể được người khác phát hiện trong một phạm vi giao tiếp nhất định. Dữ liệu cũng cho thấy các tế bào được nghiên cứu trong ống nghiệm cũng phản ứng với trường điện từ sinh học của trái tim. (ảnh: iStock)
            Nghiên cứu của IMH cho thấy trái tim tạo ra trường điện từ lớn nhất trong cơ thể. Điện trường được đo bằng điện tâm đồ (ECG) có biên độ lớn hơn khoảng 60 lần so với sóng não được ghi lại trong điện não đồ (EEG). Thành phần từ trường của tim, mạnh hơn khoảng 5.000 lần so với bộ não tạo ra, không bị cản trở bởi các mô và có thể đo được ở cách cơ thể vài mét. Trái tim giữ vai trò quyết định cảm xúc chứ không phải não bộ


            Tại IHM, Tiến sỹ McCraty và cộng sự đã tích lũy các bằng chứng thuyết phục cho thấy nhịp điệu của tim (rhythms of the heart) – được định nghĩa là biến thiên nhịp tim (heart rate variability- HRV) – có rất nhiều tác dụng chứ không chỉ giữ cho máu lưu thông trong cơ thể. HRV có xu hướng không ổn định và rối loạn trong lúc con người cảm thấy căng thẳng, tạo ra sự truyền dẫn tín hiệu từ tim đến não làm ức chế khả năng suy nghĩ tỉnh táo và đưa ra quyết định hiệu quả của con người. Tuy nhiên, trong trạng thái cảm xúc tích cực, nhịp điệu của trái tim là một dạng sóng mượt mà và hài hòa (coherence patterns).

            Tiến sỹ Y khoa Karl Pribram, người được coi là cha đẻ của khoa học thần kinh nhận thức hiện đại, đã giới thiệu ý tưởng rằng bộ não người ở cấp độ chức năng chỉ là một hệ thống nhận biết và lưu trữ các mẫu trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm cảm xúc (cognitive and emotional experiences). Priham cho rằng, vì trái tim là nguồn gốc chính của mọi dạng sóng (patterns) có nhịp điệu (rhythmic) trong cơ thể, trái tim giữ vai trò chính trong trải nghiệm cảm xúc của mỗi chúng ta.

            Tin tưởng vào những phát hiện mang tính bước ngoặt của Karl Pribram, tiến sĩ McCraty phát biểu: “Lý thuyết vững chắc từ một nhà thần kinh học học hàng đầu thế giới cho thấy rằng trái tim không chỉ là một phép ẩn dụ trong trải nghiệm cảm xúc của chúng ta. Não bộ diễn giải các dạng sóng trong trái tim, và chúng tôi (tại IHM) đã chứng minh rằng những cảm xúc khác nhau được phản ánh trong các dạng sóng khác nhau trong nhịp điệu của tim (patterns of heart rhythm).”

            Một nhà thần kinh học hàng đầu cũng hỗ trợ cho lý thuyết này. Tiến sỹ Y khoa J. Andrew Armor, người có các bài viết trong các ấn phẩm học thuật cao cấp, nói rằng trái tim về cơ bản có bộ não nội tại của chính nó. Ủng hộ quan điểm trên, Tiến sỹ McCraty cho biết: “Hiện nay chúng ta biết rằng trái tim gửi nhiều thông tin đến não hơn so với bất kỳ thứ gì khác”.
            Trái tim giữ vai trò quan trọng trong các trải nghiệm cảm xúc, nó gửi thông tin đến não nhiều hơn chiều ngược lại (ảnh: mujeralquimia.com)
            Các nhà nghiên cứu tại IHM đã tiếp tục phát triển các kỹ thuật để chuyển các dạng sóng HRV không ổn định sang các dạng sóng hài hòa (coherence) dẫn đến trạng thái tích cực hơn. Họ đã chứng minh lâm sàng rằng các nhịp điệu hài hòa của tim sẽ cải thiện tổng thể các chức năng nhận thức, ra quyết định và ổn định tình cảm của con người.

            IHM cũng phát hiện rằng dạng sóng thể hiện sự biến thiên nhịp đập của tim sẽ biến đổi một cách rõ rệt khi một người trải nghiệm các cảm xúc khác nhau. Những thay đổi trong trường điện từ, áp suất âm thanh, huyết áp được tạo ra bởi sự biến đổi nhịp điệu của tim được cảm nhận bởi mọi tế bào trong cơ thể, tiếp tục hỗ trợ vai trò như một tín hiệu đồng bộ cơ thể của trái tim. Nhịp tim một cá nhân đang rối loạn chuyển sang dạng sóng điều hòa khi họ chuyển từ thất vọng sang trạng thái biết ơn (ảnh: heartmath.org) Trái tim là “Tổng đài” kết nối tất cả chúng ta?


            Nghiên cứu tiếp theo của IHM về trực giác và tim có thể nâng cao hơn nữa tình trạng của tim. “Những nghiên cứu này chỉ ra rằng tim đang phản ứng với mọi thứ ngay cả trước khi bộ não phản ứng”, tiến sĩ McCraty nói. Khái niệm trực giác của trái tim không chỉ là một lý thuyết “vớ vẩn”; nó được hỗ trợ tốt bởi các dữ liệu sinh lý được thu thập một cách nghiêm ngặt từ một phân tích lớn bao gồm 20 nghiên cứu.

            Tuy nhiên, ngay cả “khả năng” này của trái tim có thể cũng chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Lý thuyết cho rằng trái tim có thể giao tiếp với nhau và tập hợp sức mạnh của con người đang được quan tâm một cách nghiêm túc. “Trái tim không chỉ là một thực thể vật lý” Tiến sỹ McCraty cho biết. “Chúng ta cũng có trái tim tràn đầy năng lượng. Chúng tôi gợi ý rằng trái tim là một tổng đài thông tin cơ bản.” Con người thực sự có thể được kết nối với nhau theo cách tương tự như cách các điện thoại di động trao đổi thông tin với nhau. Con người có thể được kết nối với nhau “từ trái tim đến trái tim” (ảnh: IHM/Youtube)
            Đây là chủ đề nhận được nhà báo Ed Decker quan tâm đặc biệt do một trải nghiệm ông đã có nhiều năm trước. Ông từng cảm thấy một làn sóng lo lắng dâng lên vào chính xác thời điểm khi mẹ ông đột quỵ cách đó khoảng 4.000km. Tiến sỹ McCraty giải thích với Ed Decker rằng đó không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên mà đó là hiện tượng thu nhận tín hiệu: “Rất nhiều nghiên cứu cho thấy những gì chúng ta hòa hợp là những thứ chúng ta có liên kết hoặc kết nối, là những thứ liên quan hoặc quan trọng với chúng ta về mặt cảm xúc. Sự liên kết này điều chỉnh (tune) chúng ta đến một tần số cụ thể. Chúng ta tạo ra các tần số cộng hưởng để chọn ra những làn sóng.”

            Trong thực tế, kết nối này giữa con người hoạt động như một thiết bị phát vô tuyến và Wifi, và những tín hiệu này ở xung quanh chúng ta trong không gian vào mọi thời điểm. Với trường hợp Ed Decker, Tiến sỹ McCraty nói rằng, ông đã được điều chỉnh đặc biệt để hợp với tín hiệu của mẹ ông.
            Trường điện từ sinh học tạo ra bởi trái tim mỗi người có thể kết nỗi với nhau (ảnh: IHM)
            Tiến sỹ McCraty nói thêm rằng từ trường của Trái Đất có thể hỗ trợ sự truyền tín hiệu giữa mọi người. “Từ trường của trái đất là một làn sóng mang thông tin liên quan đến sinh học,” ông nói. “Đây là thứ kết nối tất cả chúng ta. Nó cũng là một phần của trực giác: làm thế nào một người mẹ biết con trai hay con gái của bà đang đau khổ ở phía bên kia hành tinh. Có thứ gì đã truyền đạt thông tin đó, điều này dường như thường xảy ra gần như ngay lập tức. Theo giả thuyết của tôi, đó chính xác là từ trường của trái đất, và có một số lượng lớn các bằng chứng ủng hộ điều này.”
            Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

            Comment


            • #36



              ]"]WordPress.com


              Cuộc thám hiểm kỳ thú trong khu rừng rậm xứ Nam Mỹ



              Năm 1974, một chiếc phi cơ bay lạc vào khu rừng rậm xứ Colombia, người phi công đã khám phá ra một công trình xây cất cổ xưa bằng đá có hình dạng kim tự tháp nhưng không giống kim tự tháp thường thấy ở Ai Cập hay Nam Mỹ.



              iều này đã thôi thúc rất nhiều nhà khoa học và khảo cổ tìm đến đây. Sau cùng, họ phát hiện ra sự tồn tại của bộ lạc Kogi, được cho là hậu duệ của một nền văn minh cổ xưa đã biến mất từ mấy nghìn năm trước.

              Các nhà khảo cổ đã nhiều lần cố gắng tiếp cận với bộ lạc này nhưng đều bị lảng tránh. Về sau, vì một lý do nào đó mà ký giả Alan Ereira đã được một người đại diện của bộ lạc Kogi tiếp xúc. Người này cho hay, đây là lần đầu tiên và có thể là duy nhất họ cho phép “con người hiện đại” viếng thăm.

              Đầu năm 1993, Alan Ereira đã lên đường cùng một ký giả, ba nhà quay phim và nhân viên y tế. Đồng thời, họ cũng tìm được một người của bộ lạc kế cận có thể nói được tiếng Kogi làm thông dịch.



              Những người Kogi.

              Theo những gì khảo sát được, tộc người Kogi có niên đại khoảng 7-8 nghìn năm. Kogi là một trong những bộ tộc kỳ lạ và đặc biệt nhất thế giới bởi họ sống tách biệt, không có bất cứ quan hệ hay liên lạc với thế giới. Duy chỉ có một bộ phận người dân có tiếp xúc với những bộ tộc khác, sống lân cận trong cùng dãy núi.

              Người Kogi có vóc dáng nhỏ nhắn giống người châu Á nhưng nước da ngăm đen và mái tóc xoăn tự nhiên. Theo phong tục truyền thống, cả nam và nữ đều để tóc dài, mặc quần áo giống nhau. Họ sống trong những ngôi nhà nhỏ làm bằng gỗ và lá cây, rất thoáng mát và sạch sẽ.



              Những ngôi nhà nhỏ làm bằng gỗ và lá cây của bộ tộc Kogi.

              Đặc biệt, tất cả mọi người trong bộ tộc đều ăn chay. Họ chủ yếu chỉ ăn hoa quả, rau củ và tuyệt đối không ăn thịt. Người Kogi tâm niệm: “Trái đất là nơi vạn vật sinh sống, tại sao phải sát sinh những loài động vật vô tội, khi mà chúng cũng như con người, đều biết đau”.

              Nhóm ký giả cho rằng, đây rất có thể là lý do tuổi thọ của người Kogi cao đến như vậy – trung bình hơn 100 tuổi. Khi nhân viên y tế trong phái đoàn “kiểm tra” sức khoẻ của những người trong bộ tộc, anh lần lượt dùng các dụng cụ y khoa đo huyết áp, khám phổi, khám răng, thử máu… và không tìm thấy một dấu hiệu nào về bệnh tật hay sức khoẻ suy kém, kể cả sâu răng. Tuy vậy, vị Trưởng Lão cho biết, vẫn có trường hợp người qua đời vì bệnh nhưng rất ít và thường xảy ra khi đứa bé mới lớn.

              Người Kogi gieo trồng một cách hết sức thô sơ và tự nhiên. Họ không bao giờ tích trữ lương thực, bởi theo họ, điều đó khiến con người trở nên ích kỷ và vô tình tạo nên sự ham muốn chiếm hữu nhiều hơn, đây chính là khởi nguồn của mâu thuẫn và chiến tranh.

              Khi thấy những người Kogi hay cầm một cái ống bằng gỗ đựng vôi, dùng cái que gỗ xoay vòng cho vôi tan thành bột và lâu lâu lại chấm vào lưỡi, ký giả Alan Ereira hỏi vị trưởng lão:

              – Thưa Trưởng Lão, người có thể giải thích cho chúng tôi biết rõ ý nghĩa của hành động đó được không?

              Vị trưởng lão đáp:

              – Hành động đó rất có ý nghĩa vì nhắc nhở mọi người trong chúng tôi luôn luôn ghi nhớ cần mài giũa Thân và Tâm để hiểu rõ đời sống một cách đúng đắn và vẹn toàn.

              Vị trưởng lão chia sẻ thêm rằng:

              – Theo quan niệm của chúng tôi thì sống thuận theo thiên nhiên không thể có bệnh. Bệnh tật chỉ là hậu quả của những gì trái với thiên nhiên. Sự tương giao giữa con người với thiên nhiên hết sức mật thiết và khi thiên nhiên bị phá hoại, chắc chắn con người cũng bị ảnh hưởng. Chính vì sống trái quy luật thiên nhiên mà có đủ thứ bệnh tật kỳ lạ xuất hiện.

              Bộ tộc Kogi không có trường học mà chỉ có cách dạy dỗ khẩu truyền từ ông bà, cha mẹ cho con cháu, và từ các bậc Trưởng Lão cho những thanh niên. Nhóm ký giả đã ghi lại được cách Trưởng Lão dạy dỗ một thanh niên cách ăn uống như sau: “Khi ăn phải nhai từ từ, thong thả, phải ý thức từng chút một và tuyệt đối chú tâm vào việc ăn chứ không được nghĩ gì khác”.

              Ngoài ra, khi được khoảng 20 tuổi, thanh niên được gửi đến học hỏi với các bậc Trưởng Lão trong những túp lều đơn sơ hoặc một hang đá. Tại đây, họ sẽ tập ngồi yên quay mặt vào vách tường trong 7 đến 9 năm liền. Họ chỉ được nhai một ít lá cây, uống một chút nước và chú tâm suy ngẫm về những điều được giảng dạy. Mỗi ngày, vào giờ giấc nhất định, các bậc Trưởng Lão có nhiệm vụ hướng dẫn sẽ bước vào và trao cho họ một đề tài để suy ngẫm.

              Ký giả Alan Ereira đánh giá:

              “Trong suốt 9 năm ngồi như vậy, người Kogi đã học được cách biết tôn trọng thiên nhiên. Họ biết ý thức về sự sống tràn đầy trong thiên nhiên, từ đỉnh núi cao xa to lớn cho đến những côn trùng bé nhỏ, từ những trận mưa đầu mùa đổ nước xuống các dòng suối tươi mát cho đến những hoa thơm cỏ lạ mọc trong các thung lũng… Tâm thức họ tràn đầy các hình ảnh tuyệt vời của thiên nhiên qua các điệu nhạc mà chim chóc hòa tấu, thưởng thức hương thơm của cỏ hoa, rung động với các thay đổi của thời tiết… Và khi trưởng thành, bước ra khỏi hang đá, con người đã có ý thức rất sâu xa về mình, về sự tương quan giữa mình và mọi vật. Khi đó họ mới được công nhận là đã trưởng thành, có thể lập gia đình; hoặc tiếp tục đi theo các bậc Trưởng Lão để học hỏi thêm nhiều năm và trở thành một trong những người này. Danh từ “Trưởng Lão” của người Kogi không hề có nghĩa là người chỉ huy mà chỉ có nghĩa là một người thông thái (wise man) mà thôi”.

              Một vị Trưởng Lão cho biết: “Vũ trụ là một tấm gương lớn, phản ánh tất cả mọi việc xảy ra trong đó. Nếu có thể giao cảm với với vũ trụ thì người ta không cần phải đi đâu xa mà cũng biết được những điều cần thiết. Việc ngồi 9 năm trong động đá không phải chỉ ngồi đó nhai vài lá cây, suy nghĩ vài câu nói, mà đòi hỏi người ta phải nỗ lực tìm hiểu về chính mình, tìm hiểu về các quy luật vũ trụ. Khi đã hiểu các quy luật một cách sâu xa thì con người sẽ không làm trái với nó. Sở dĩ con người làm việc sai trái vì họ không hiểu biết, chỉ sống hời hợt, quay cuồng và dựa trên những giá trị giả tạo. Sống như thế không thể gọi là sống. Đó là sống mà như chết, thân thể tuy sống mà đầu óc đã chết từ lâu rồi!”.

              Cũng bởi vậy, đối với người Kogi mà nói, việc chết cũng rất giản dị và tự nhiên. Khi cảm thấy đã đến lúc phải ra đi, một người già thường tìm một hang đá sâu và ngồi yên trong đó chờ chết. Họ không làm đám tang, gia đình cũng không than khóc bởi họ biết đó là một việc bình thường, là quy luật của tạo hóa.

              Sau khi đã tham quan bên trong bộ lạc và hiểu được phần nào cuộc sống nơi đây, ký giả Alan Ereira được gặp một vị “Trưởng Lão”. Nhìn hàm răng còn nguyên vẹn, mọi người trong đoàn đều nghĩ ông lão chỉ khoảng 60 tuổi nhưng về sau ký giả Ereira được biết vị Trưởng Lão này đã sống trên 100 năm rồi. Thực tế, vị Trưởng Lão nào cũng đều 100 tuổi trở lên, nhưng họ không có dấu vết già yếu, bệnh tật trên thân thể như vẫn thường thấy ở những người bình thường khác.

              Vị Trưởng Lão bắt đầu lên tiếng:

              “Chúng tôi đã thảo luận rất kỹ về điều chúng tôi muốn nói. Chúng tôi muốn gửi một thông điệp cho các em trong gia đình nhân loại. Chúng tôi nói bằng trái tim, những lời nói chân thành nhất của những người anh và mong các em hãy lắng nghe”.

              Tự nhận mình là anh cả của loài người, Trưởng Lão tiếp lời:

              “Thứ nhất, nhân loại cần biết rằng tất cả chúng ta đều là anh em một nhà. Dù chúng ta có màu da khác nhau, truyền thống khác nhau, quan niệm khác nhau, sống trong những điều kiện khác nhau nhưng tất cả chỉ là bề ngoài mà thôi, bên trong chúng ta không hề khác biệt. Khi đói chúng ta đều đói như nhau, lúc khát chúng ta đều khát như nhau, chúng ta đều có cảm giác vui buồn như nhau.

              Chúng ta đều là con cùng một Mẹ. Chúng tôi được sinh ra trước nên là anh, và làm anh thì cần phải chỉ bảo cho các em. Nhưng tiếc là các em đã quên mất nguồn gốc thiêng liêng của mình. Mẹ của chúng ta chính là tự nhiên. Đốt rừng, phá núi, đổ đồ ô uế xuống biển chính là chà đạp lên thân thể của Mẹ. Mẹ là nguồn sống chung và chúng ta không thể sống mà không có Mẹ.

              Các em đã làm trái với quy luật tự nhiên, gây tai họa không những cho Mẹ mà còn cho chính các em. Các em cứ mê mờ nghĩ rằng mình có khả năng cải tạo thiên nhiên, cải tạo cuộc sống – Con người ngày càng văn minh tiến bộ với những máy móc tuyệt hảo tinh vi – Nhưng ý tưởng đó quá sai lầm, vì dù thông minh tài giỏi tới đâu, các em vẫn không thể thay đổi quy luật tự nhiên cũng như chế ngự được cơn thịnh nộ của thiên nhiên – Con người không thể ngăn cản sóng thần, động đất, lũ lụt và nhất là dịch bệnh và cái chết, mà ngược lại còn là nhân tố phát sinh những biến động từ thiên nhiên. Nếu cứ tiếp tục như vậy, các em sẽ tự huỷ hoại chính mình.

              Khi cố gắng để đẩy lùi bệnh tật, con người vô hình trung đã làm phát sinh những loại vi trùng và những thứ bệnh mới khác.

              Khi con người sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng cho gia súc và hoa màu – chúng ngấm vào đất đai, biển cả, sông ngòi… Sau đó, con người lại hấp thụ vô số những chất độc hại đó từ nước và không khí.

              Nhưng điều tệ hại nhất là con người luôn tranh giành, thù hận và tàn sát lẫn nhau. Đây chính là sự ích kỷ và tham lam, và con người sẽ phải trả giá cho những điều đó. Bởi, quy luật tự nhiên là không chấp nhận những thứ xấu xa, tà ác.

              Loài người vẫn tự hào rằng mình văn minh mà không biết cái văn minh đó là con dao hai lưỡi sát hại toàn thể nhân loại. Ðã đến lúc loài người nên thức tỉnh. Ðây chính là lời kêu gọi thiết tha và cũng là trách nhiệm mà người anh chúng tôi nhắn gửi tới những người em của mình. Hãy gửi ngay thông điệp này đến thế giới càng sớm càng tốt”.

              Thực vậy, từ ngàn xưa, nhân loại đã có những nền văn minh lớn. Những nền văn minh đã tạo ra các kiến trúc vĩ đại như Kim Tự Tháp, Vườn treo Babylon, Vạn Lý Trường Thành… Tuy nhiên, dù phát triển đến đâu chăng nữa, nền văn minh nào cũng không thể thoát khỏi bị huỷ diệt nếu đạo đức con người đã trở nên hủ bại. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Vậy nên, cho đến ngày nay, không mấy ai biết rõ về những nền văn minh cổ xưa đã từng tồn tại, ngoại trừ những giai thoại rời rạc, không liên kết.

              Thông điệp mà người Kogi gửi đến cho chúng ta hẳn là có lý do. Thử hỏi, tại sao chỉ sống ở nơi núi cao rừng thẳm mà họ vẫn biết rõ về những gì đã và sẽ xảy ra trên thế giới như vậy? Chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, cho đến những thực trạng đang diễn ra ngoài xã hội – tất cả đều được tiên đoán chính xác và rõ ràng. Có thể câu trả lời là bởi họ có khả năng “giao cảm với vũ trụ”. Suốt 9 năm quay mặt vào vách đá để tu tập – họ đã khám phá ra sự liên kết, giao thoa, hợp nhất giữa trời đất, con người và thiên nhiên.
              Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

              Comment


              • #37
                Nghịch lý con tàu của Theseus

                Trong thần thoại Hy Lạp, Theseus là người hùng, vua sáng lập Athens. Có phiên bản nói rằng ông cũng chính là Poseidon. Sự tồn tại của nhân vật Theseus thực sự chưa được chứng minh, nhưng các học giả tin rằng ông sống trong thời kỳ Đồ Đồng muộn, có thể là một vị vua trong thế kỷ VIII hoặc IX TCN.
                Theseus sở hữu một con tàu mang tên mình, ông dùng nó trong cuộc hành trình từ đảo Crete đến Athens. Sau một trận chiến lớn, con tàu được giữ lại tại một bến cảng để bảo tồn. Năm tháng trôi đi, một số phần gỗ của nó được thay thế để nó luôn tươi mới. Hơn một thế kỷ sau hay lâu hơn không rõ, tất cả các bộ phận của con tàu đều được thay thế. Vậy thì con tàu của Theseus có còn thực sự là chính nó hay không? Hơn thế nữa, nếu tập hợp mọi bộ phận cũ của nó lại, với giả sử rằng chúng chỉ cũ chứ không bị mục rỗng hư nát, tạo nên một con tàu mới nhằm mục đích đem ra trưng bày cho dân chúng chẳng hạn thì bản chất của nó là gì? Nó có phải là chính con tàu ban đầu của Theseus hay là một con tàu khác hoàn toàn? Nói ngắn gọn, giữa con tàu thay thế và con tàu tái tạo, đâu mới thực sự là con tàu của Theseus, và đâu là con tàu mới hoàn toàn?
                Vấn đề về con tàu của Theseus là một nghịch lý, nghịch lý về sự thay đổi và nghịch lý về sự tồn tại. Nó đặt ra vấn đề bản chất của chủ thể. Nghịch lý được thảo luận giữa các triết gia cổ đại Heraclitus và Plato trong các tác phẩm của Plutarch, gần đây hơn của Thomas Hobbes và John Locke. Plutarch đặt ra câu hỏi thứ nhất: liệu con tàu thay thế có còn là con tàu ban đầu? Hàng thế kỷ sau, Thomas Hobbes nâng tầm vấn đề lên bằng câu hỏi thứ hai: giữa con tàu thay thế và con tàu tái tạo, đâu mới là con tàu thực sự của Theseus?
                ]"]Error 400 (Bad Request)!!1

                Nếu câu trả lời con tàu thay thế không phải là con tàu Theseus thì điều này được công nhận từ lúc nào? Từ khi bộ phận cuối cùng của nó bị thay thế? Hay chỉ cần một nửa thôi? Còn nếu nó là con tàu Theseus thì con tàu tái tạo mang danh tính gì đây? Vấn đề con tàu của Theseus được xem là nghịch lý bởi một mặt, bạn có thể tìm ra câu trả lời có vẻ hợp lý nhưng mặt khác, bạn lại tìm ra được một câu trả lời khác đầy mâu thuẫn.
                Kể từ khi ra đời cho đến nay, con tàu của Theseus chưa bao giờ và có thể nó sẽ không bao giờ có được một giải pháp cuối cùng, nó sẽ luôn tồn tại như một vấn đề bí ẩn hấp dẫn nhất trong những thắc mắc của con người giữa vũ trụ này.
                Vấn đề con tàu của Theseus còn đặt nặng bản chất đâu mới thực sự là chính chúng ta. Đâu mới là cái tôi, là bản thể cá nhân duy nhất? Linh hồn? Tính cách? Kí ức và những trải nghiệm? Nhưng ngay cả những điều ấy cũng luôn biến đổi liên tục trong dòng chảy của thời gian, một hình thái của sự thay thế. Tôi khi mới sinh ra và tôi hiện nay liệu có thực sự là một? Tôi ăn uống, sinh hoạt, vận động thể chất mỗi ngày, cộng thêm quá trình lớn lên và lão hoá, cơ thể tôi thay đổi qua năm tháng. Tôi học hỏi những điều mới mỗi ngày, trải nghiệm những cung bậc cảm xúc khác nhau, va chạm cuộc sống, tiếp xúc mọi người, tất cả khiến tôi có một cách nhìn nhận khác với hôm qua. Tôi đã thay đổi và tôi có còn là tôi? Với tình huống giả tưởng rằng tôi năm mươi tuổi già dặn lão làng gặp tôi hai mươi đầy nhiệt huyết bốc đồng, tôi có còn hiểu tôi khi ấy không? Quan trọng hơn, nếu tôi năm mươi và tôi hai mươi chỉ là một cái tôi duy nhất thì tôi hai mươi có thực sự nhận ra được chính mình nhưng là tôi năm mươi bởi hai bản thể chỉ là một? Nếu có thì tôi hai mươi căn cứ vào đâu? Diện mạo ư? Chắc không phải vậy.
                Vì mang đậm tính triết lý nhưng hấp dẫn, con tàu của Theseus luôn là nguồn cảm hứng trong văn học, điện ảnh, trò chơi điện tử. Cộng với sự phát triển của robot và trí thông minh nhân tạo AI, nghịch lý - triết lý về sự tồn tại được khai thác tối đa. Kịch bản chung của dạng này là công nghệ của thế giới tương lai phát triển đến tầm mức văn minh loại II, robot hoặc con người theo cơ chế cyborg sinh học là đối tượng chính của xã hội, mỗi một bộ phận cơ thể đều có thể thay đổi nâng cấp. Vậy thì đến một lúc nào đó, liệu mỗi người có còn là chính họ?
                Vô vàn các giải pháp đã và sẽ được đưa ra cho vấn đề nghịch lý con tàu của Theseus, vài quan điểm phổ biến gồm có:
                Mỗi bản thể ở một thời điểm là khác nhau. Thuyết này nói rằng cùng một bản thể ở những thời điểm khác nhau là khác nhau trong dòng chảy thời gian bất tận, một “sự kiện” duy nhất. Chúng ta hôm qua khác với chúng ta hôm nay. Một giây trước là một bản thể khác, một giây sau là một bản thể khác. Như thế, theo thuyết này, hai con tàu Theseus hoàn toàn độc lập, và chẳng có cái nào là phiên bản ban đầu của con tàu Theseus. Ngay cả khi giữ nguyên không thay thế các bộ phận, con tàu Theseus sau đó cũng không còn là chính nó nữa, nó đã là một con tàu khác rồi. Quan điểm này lần đầu được đề xuất bởi triết gia Hy Lạp Heraclitus với tuyên bố nổi tiếng “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” bởi chính người tắm và dòng sông ngay sau đó sẽ thay đổi, không còn là bản thể cũ nữa.
                Thuyết nguyên nhân của Aristotle. Theo hệ thống triết học của triết gia Aristotle và những môn đệ, có bốn nguyên nhân (hay yếu tố) để sự vật được hình thành, chúng có thể được phân tích để giải quyết nghịch lý. Nguyên nhân hình thức tạo nên vẻ ngoài sự vật, nguyên nhân vật chất quyết định chất liệu của nó, nguyên nhân tác động mô tả sự vật được tạo ra thế nào và bởi ai, nguyên nhân mục đích (còn gọi là nguyên nhân cuối) nói lên mục đích của sự vật. Hình thức và vật chất giữ vai trò quan trọng nhất nhưng Aristotle cho rằng hình thức quyết định hơn so với vật chất bởi nếu không có hình thức thì sự vật chỉ có khả năng thụ động chứ không hiện thực. Hình thức là thực chất của tồn tại, là bản chất tích cực của sự vật, chứa trong mình sự tác động và mục đích.
                Một cách cụ thể cho con tàu của Theseus, hai con tàu thay thế và con tàu tái tạo có cùng mục đích ban đầu là làm phương tiện di chuyển của Theseus, cách chúng được tạo ra không quan trọng. Như vậy, nguyên nhân mục đích và nguyên nhân tác động không liên hệ gì đến danh tính con tàu, chỉ còn hai nguyên nhân còn lại.
                Theo Aristotle, giả sử rằng nếu con tàu thay thế không chỉ được thay thế bộ phận mà còn thay đổi cả thiết kế thì đến một ngày, khi nó đã trở nên quá khác biệt, việc coi nó vẫn là con tàu ban đầu của Theseus có vẻ khó chấp nhận. Với con tàu tái tạo, vì được trưng bày triển lãm nên nó vẫn luôn đảm bảo một hình dạng, việc xem nó là con tàu của Theseus sẽ hợp lý hơn. Không quan trọng vật chất có thay đổi thế nào, hình hài của nó mới là cái xác định danh tính. Chung quy lại, con tàu nào giống với bản gốc ban đầu con tàu của Theseus nhất thì nó sẽ là con tàu của Theseus. Một cách tương tự, đối với Aristotle, con sông Heraclitus sẽ luôn là chính nó bởi hình thức của nó không hề thay đổi dù cho vật chất bên trong đó đã thay đổi, điều này cũng được áp dụng với người tắm sông.
                Nhưng sẽ ra sao nếu cả hai con tàu thay thế và con tàu tái tạo hoàn toàn như nhau về hình thức, giống nhau luôn cả về vật chất, cùng một đội ngũ làm tàu, và cùng một mục đích sử dụng luôn đó là được dùng làm tàu chiến của Theseus? Lúc này, thuyết của Aristotle không quyết định được đâu là con tàu của Theseus. Tuy nhiên, trong một trận chiến, một trong hai con tàu không may bị đánh chìm thì con tàu còn lại chính là con tàu của Theseus.
                Một bản thể - hai địa điểm. Trong thuyết này, cả hai con tàu thay thế và con tàu tái tạo đều là con tàu của Theseus, vì chúng có cùng một lịch sử lai lịch, có nghĩa là nếu đi ngược lại dòng thời gian, xem xét “tiểu sử”, cả hai đều sẽ dẫn đến cùng một con tàu ban đầu, nó chính là con tàu của Theseus, theo mối quan hệ chuyển tiếp: B là A, C là A nên B và C là như nhau. “Một” con tàu Theseus nhưng tồn tại ở hai địa điểm khác nhau.
                Hai bản thể giống nhau nhưng độc lập. Thuyết này ngược nhưng lại có vẻ giống với thuyết trên, cả hai con tàu thay thế và con tàu tái tạo là hai con tàu giống hệt nhau, hệt như bản gốc nhưng chúng độc lập. Thuyết này đòi hỏi chúng ta nhìn nhận quan hệ chuyển tiếp chỉ là tương đối, B là A, C cũng là A nhưng B và C không hẳn như nhau. Điều đó có nghĩa rằng, hai bản thể dù chia sẻ chung những đặc tính và giống nhau đến cỡ nào đi chăng nữa thì vẫn độc lập với tư cách định danh. Cả hai con tàu thay thế và con tàu tái tạo đều là con tàu của Theseus nhưng chúng lại không cùng là một.
                Thuyết phi logic nguyên tử. Luận thuyết logic nguyên tử do Bertrand Russell - tác giả nghịch lý cùng tên mà chúng ta đã tìm hiểu ở phần trước, sáng lập và phát triển. Thuyết này phát biểu rằng thế giới được hình thành từ các sự kiện logic nguyên tử không thể phân chia được, mọi chân lý đều phụ thuộc vào một lớp các sự kiện logic nguyên tử. Do đó, thuyết logic nguyên tử khẳng định ngôn ngữ phản chiếu thực tại.
                Một nguyên tắc cơ bản của thuyết nguyên tử logic là một sự kiện logic được hiểu độc lập với các sự kiện logic khác. Chỉ khi nào phủ nhận nguyên tắc này, tức là đi theo hướng lý thuyết phi logic nguyên tử, chúng ta mới có được nhận định rằng: nếu con tàu của Theseus cứ mãi liên tục được thay thế các bộ phận cũ mà không có một sự kiện nào khác dính dáng đến nó xảy ra, thì con tàu thay thế luôn là con tàu Theseus, tính liên tục của sự kiện cứ thế tiếp diễn. Cho đến khi con tàu tái tạo được ra đời, nó xác nhận tính liên tục tốt hơn, điều này làm thay đổi trạng thái của con tàu thay thế khiến nó không còn là con tàu của Theseus nữa.
                Sự mơ hồ của ngôn từ. Sở dĩ nghịch lý sinh ra là vì sự mơ hồ của từ vựng. Giống như trường hợp sự mơ hồ của từ “bất ngờ” trong nghịch lý ngày hành quyết bất ngờ và từ “toàn năng” trong nghịch lý đấng toàn năng, nghịch lý con tàu của Theseus sinh ra là vì sự mơ hồ của từ “như nhau”. Theo một nghĩa nào đó, “như nhau” được hiểu là sự giống nhau về chất theo cách có chúng một thuộc tính nào đó. Theo một nghĩa khác, “như nhau” lại được hiểu là giống nhau về lượng, đều là “một”. Thuyết này thực sự yếu bởi chính nó cũng đang vướng phải sự mơ hồ của ngôn từ.
                Mất dần bản sắc. Khi các bộ phận của con tàu được thay thế, danh tính (tư cách hay bản sắc) của con tàu dần thay đổi. Bởi vì “con tàu của Theseus” là một sự định danh về cái mà Theseus đã từng sử dụng và tiếp xúc vật lý. Lấy ví dụ, giả sử như người phụ trách bảo trì con tàu tái tạo thay thế một bộ phận nào đó của nó, chẳng hạn chiếc giường của Theseus, và nói với du khách rằng đây là chiếc giường mà vị anh hùng Theseus đã từng nằm, thì liệu câu nói đó có đúng không? Hiển nhiên là không rồi, nó là một chiếc giường xa lạ hoàn toàn mới, không phải là chiếc giường của Theseus. Cũng vậy, điều này sẽ đúng với mọi bộ phận khác của con tàu Theseus, con tàu thay thế không phải là con tàu của Theseus lúc đầu nữa mà là một con tàu hoàn toàn mới khác biệt, còn con tàu tái tạo mới đích thực là con tàu Theseus.
                Chẳng có con tàu nào cả. Thuyết khái niệm nói rằng “con tàu” chỉ là “nhãn dán” để chỉ một tập hợp vật chất và năng lượng nhất định trong không gian và thời gian. Con tàu của Theseus là một khái niệm trong tâm trí con người, con tàu lúc sau (con tàu thay thế) cũng vậy – một khái niệm khác nữa trong tâm trí con người. Đây là hai khái niệm khác nhau vì nếu không, tâm trí con người sẽ không thể so sánh chúng bởi chẳng có gì để so sánh cả. Do đó, con tàu lúc đầu và con tàu lúc sau là không thể là một vì tâm trí con người khi ấy có thể so sánh chúng được với nhau. Lập luận tương tự đối với con tàu tái tạo. Như vậy trong thuyết này, con tàu của Theseus, con tàu thay thế và con tàu tái tạo chẳng có cái nào là cái nào, tất cả đều độc lập.
                Nhận thức khoa học. Nghịch lý con tàu Theseus nảy sinh do chủ nghĩa ngoại tại cực đoan, nó giả định rằng những gì có thật trong tâm trí chúng ta là có thật trong thế giới thực. Đây là một giả định khó chấp nhận xét theo khoa học tự nhiên bởi vì trực giác của con người thường hay nhầm lẫn. Khoa học nhận thức sẽ xem nghịch lý này như một hiện tượng tinh thần diễn ra bên trong não bộ con người. Nghiên cứu sự bối rối về nghịch lý này có thể tiết lộ thêm nhiều cách thức hoạt động của não bộ nhưng không tiết lộ gì nhiều về bản chất thế giới thực.
                Về sự hiện diện trong cuộc sống xã hội, nghịch lý con tàu của Theseus len lỏi trên nhiều phương diện pháp lý. Chẳng hạn, một nhóm người thành lập công ty, đội thể thao hay ban nhạc trong quá trình hành động có thể thay đổi các thành viên, và nếu như mọi thành viên cũ đều đã được đổi thì khi tập hợp nhóm thành viên cũ này lập nên một tổ chức mới thì định danh của họ trong mắt mọi người sẽ là gì đây? Nhằm tránh đi sự tranh chấp giữa cái tên, mô hình hoạt động cũng như quyền sở hữu pháp lý, ký tên qua văn bản nên được nêu ra trước và phát biểu rằng các tổ chức, công ty, đội thể thao, ban nhạc sẽ là những thực thể độc lập với từng thành viên trong nó và không gắn liền, không thuộc quyền sở hữu riêng của bất cứ cá nhân nào. Steve Jobs dù là người đã sáng lập ra tập đoàn Apple nhưng khi ông mất đi, Apple vẫn còn đó. Bill Gates không còn là quản trị nhưng Microsoft vẫn tồn tại. Chester Bennington tuy ra đi nhưng ban nhạc Linkin Park không tan rã,...
                Trong công nghệ thông tin, một văn bản hoặc phần mềm máy tính liên tục được cập nhật, sửa đổi nhiều đến mức nó không còn một chi tiết cũ nào của bản gốc đặt ra vấn đề pháp lý quyền sở hữu trí tuệ đối với phiên bản cuối cùng. Để tránh trường hợp đau đầu này, tác giả cũng phải báo cáo cập nhật thường xuyên giấy phép sở hữu mỗi lần thay đổi chương trình, nói khác đi là một hình thức nhẹ của việc xin giấy chứng nhận quyền sở hữu mới.
                Trích từ "Toán học kỳ thú"
                Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

                Comment


                • #38
                  Trận mưa sao băng lớn và đẹp nhất năm mang tên Perseids sẽ xuất hiện trên bầu trời vào đêm 12 rạng sáng 13/8.



                  Năm 2021, mưa sao băng Perseids sẽ có khoảng 70-100 vệt mỗi giờ.

                  Theo Hội Thiên văn Việt Nam (VACA), đêm 12 rạng sáng 13/8 sẽ diễn ra trận mưa sao băng lớn và đẹp nhất năm mang tên Perseids. Nhiều năm qua, Perseids là hiện tượng đáng chú ý với người yêu thích quan sát bầu trời. Nó là 1 trong 2 mưa sao băng lớn nhất năm cùng với Geminids.

                  Mưa sao băng Perseids thường xuất hiện trên bầu trời mỗi năm 1 lần trong khoảng thời gian từ 23/7 tới 22/8 hằng năm. Thời gian mưa sao băng đạt cực điểm thường rơi vào đêm 12 rạng sáng 13/8.

                  Mưa sao băng Perseids được đặt tên theo Perseus - một vị anh hùng trong thần thoại của Hy Lạp. Perseus là chàng dũng sĩ với chiến công lớn nhất là giết quái vật tóc rắn Medusa, giải cứu công chúa Andromera.

                  Vào tháng 8 năm 2016, Perseids đã thực sự là một vụ bùng nổ sao băng với số lượng lên tới hơn 1.000 vệt mỗi giờ ở những khu vực có điều kiện quan sát tốt. Dự báo, năm 2021 sẽ không có vụ bùng nổ nào, số lượng sao băng chỉ ở khoảng 70-100 vệt mỗi giờ trong điều kiện thời tiết lý tưởng.

                  Tuy nhiên, với việc rơi vào đầu tuần trăng, cực điểm của Perseids có thể được theo dõi một cách hoàn toàn mà không bị ánh trăng cản trở. Mặt khác, việc giãn cách xã hội do dịch COVID-19 cũng khiến bầu trời ở các vùng đô thị trong lành hơn, giúp việc ngắm nhìn bầu trời một cách thoải mái hơn.

                  Thời gian phù hợp nhất để quan sát mưa sao băng Perseids là vào các đêm lân cận cực điểm của nó từ 12-14/8, trong đó rạng sáng ngày 13/8 sẽ là lúc gần cực điểm nhất. Người xem có thể quan sát hiện tượng này cả đêm nhưng thời gian lý tưởng nhất là từ 2h sáng trở đi vì lúc đó mặt trăng sắp lặn, còn chòm sao Perseus đã lên đủ cao.

                  Để quan sát được mưa sao băng, người xem hãy nhìn về bầu trời phía đông bắc và tìm chòm sao Perseus, hoặc đơn giản nhất là bạn chỉ cần nhìn lên bầu trời đông bắc với góc nhìn tính từ mặt đất từ 30 đến 50 độ.

                  Người xem cũng không cần sử dụng ống nhòm hay kính thiên văn, mà mắt thường chính là cách quan sát tốt nhất. Người xem cần kiên nhẫn vì mưa sao băng không liên tục như pháo hoa.

                  Trước thời điểm mưa sao băng diễn ra, người xem nên nhìn lên bầu trời phía Đông, Đông Bắc từ 2-3 phút để mắt quen với bóng tối.

                  Chọn một không gian thoáng đãng và vắng lặng, ít bị cây cối hay các tòa nhà cao tầng che khuất. Nếu trời nhiều mây hoặc có mưa thì không thể quan sát được mưa sao băng này.
                  Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

                  Comment

                  Working...
                  X
                  Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom