• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Không có thì giờ - Đỗ Hồng Ngọc

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Không có thì giờ - Đỗ Hồng Ngọc

    Không có thì giờ !
    Đỗ Hồng Ngọc
    Người ta phỏng vấn một bà gìa gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống như thế nào?
    - “Nếu được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa- bà già nói- thì tôi sẽ dám…phạm nhiều sai lầm hơn. Tôi sẽ ngờ nghệch hơn là tôi đã ngờ nghệch trong cuộc đời này. Tôi sẽ thảnh thơi hơn, linh hoạt hơn. Tôi sẽ coi ít thứ nghiêm chỉnh hơn. Tôi sẽ trèo núi lội đèo nhiều hơn, bơi lội nhiều hơn…Tôi sẽ ăn nhiều…kem hơn. Dĩ nhiên tôi sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nhưng tôi sẽ thực tế hơn là chỉ mơ mộng. Tôi sẽ bớt…lành mạnh hơn. Ôi, tôi đã có những khoảnh khắc của đời mình và tôi muốn có nhiều hơn những khảnh khắc đó, cái nọ nối cái kia, cái nọ tiếp cái kia thay vì tôi cứ sống để chờ đợi…Nếu tôi được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa tôi sẽ đi chân không nhiều hơn, sẽ bớt mang theo dù và dầu nóng, bình thủy các thứ…Tôi sẽ hái nhiều hoa cúc hơn…”.
    Thỉnh thoảng có lẽ ta cũng nên tự hỏi mình một câu như vậy. Có phải ta cũng thường sống trong nhớ tiếc hoặc đợi chờ, mà quên đi cái quà tặng quý báu của cuộc sống chính là sự hiện diện của ngày hôm nay, của giây phút này, của ở đây và bây giờ. Tiếng Anh có một từ khá tuyệt: present, vừa có nghĩa là hiện tại, sự hiện diện, có mặt, lại vừa có nghĩa là món quà. Ta nghe nơi này nơi khác người ta luôn nói, không có thì giờ, không có thì giờ. Đến nỗi một nhà thơ phải kêu lên:…Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết! (Nguyên Sa). Tiếng chim và khế ngọt vẫn có đó, ánh nắng và sóng biển vẫn có đó, đèo cao và suối mát vẫn có đó, nhưng…hãy đợi đấy, còn phải dành thì giờ để nhớ nắng hôm qua, mưa năm nọ, tiếng chim ngày cũ, rồi còn dành thì giờ để mong ngóng tương lai, sống trong tương lai như cô nàng Perrette mang bình sữa ra chợ! Ta chờ… lớn. Chờ thi đậu. Chờ thành đạt. Chờ có tiền. Chờ cưới vợ. Chờ đẻ con. Chờ con lớn…Chờ con thi đậu. Cứ thế. Cho đến một hôm thảng thốt: “Rồi tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ, một ngày đầu thu… “ (TCS). Mùa xuân sao không đi hái lộc, mùa hạ sao không dẫn bầy em nhỏ đi tắm sông? “Hạnh phúc rất đơn sơ” vậy mà Khổng Tử suốt đời quần quật chỉ mong được thế đôi lần! Quả thật chúng ta thường sống với dĩ vãng, một thời đã qua hoặc sống với tương lai, một thời chưa tới. Còn hiện tại thì tối tăm mặt mũi; không có thì giờ! Không kịp ăn sáng, không kịp tắm (không kịp thay đồ?). Hộc tốc. Luôn luôn hộc tốc. Nhai ngoàm ngoằm. Đi vội vàng. Thở hào hễn. Và hùng hục. Lâm Ngữ Đường hơn nửa thế kỷ trước đã chê người Mỹ có ba cái tật xấu là luôn muốn tăng hiệu năng, muốn đúng giờ và muốn thành công. Ông nói: “ Họ luôn cau có và quạu quọ vì ba cái tật đó đã cướp đi của họ sự thư nhàn, lại còn làm cho họ luôn bị căng thẳng thần kinh vì luôn cầu toàn trách bị! Viên chủ bút Mỹ lo bạc đầu vì muốn không có một lỗi in nào trong tạp chí của ông ta, còn viên chủ bút Trung Hoa (dĩ nhiên, cách đây hơn nửa thế kỷ!) khôn hơn, để cho độc giả có cái thú tìm ra được ít nhiều lỗi trên báo! Đời sống bây giờ biến người ta thành cái…đồng hồ. Người Mỹ sống như một học sinh tiểu học, giờ nào việc đó, từng giờ từng phút “. Rồi ông kêu lên: Đời sống mà như vậy thì còn giá trị gì nữa (Sống đẹp, LNĐ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê). Ngày nay thì các “tật xấu” đó đã toàn cầu hoá, đã trở thành bệnh của thời đại, đến nỗi bây giờ người ta bị cao huyết áp, bị tim mạch, bị trĩ, bị bón….cũng vì không có thì giờ! Nguyễn Công Trứ nói: “So lao tâm lao lực cũng một đàn/ Người trần thế muốn nhàn sao được?” Ý ông là chỉ có tiên mới sướng. Nhưng bây giờ ta cũng có tiền rồi, mà có tiền thì mua tiên cũng được quá đi chứ. Tiện nghi ngày càng cải thiện. Đằng vân giá võ, thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ, thần giao cách cảm không thiếu thứ gì! Bấm cái nút gặp ngay người trong mộng. Trò chuyện với người cách xa nửa vòng trái đất như đang ngồi trước mặt…Thế mà vì sao ta không được “sướng như tiên”? Có lẽ là do cái nhu cầu giả tạo cứ ngày càng dày đặc thêm, cứ nhồi nhét mãi rồi thì đến một lúc tưởng là nhu cầu thật. Đẻ con thì phải đẻ mổ, chọn giờ để mong sau này con được làm vua. Ai cũng làm vua cả thì ai sẽ là thường dân cho vua trị vì? Nhưng vua đâu chẳng thấy chỉ thấy nhiều trẻ thiếu oxy não, liệt thần kinh, bị tâm thần… Các thứ sữa dành cho trẻ con bây giờ thì phải có chất tạo… thông minh. Làm như xưa nay không có các sản phẩm đó thì thế giới chỉ toàn người ngu dốt!
    Cho nên Tô Đông Pha mới buông thuyền sông Xích Bích, Bạch Cư Dị mới xuống ngựa dừng chèo ở bến Tầm Dương, và Nguyễn Công Trứ mới… mơ ước:
    Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch
    Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn
    Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn
    Đồ thích chí chất đầy trong một túi…
    (Kẻ sĩ)
    Bây giờ “đồ thích chí” ta còn có thể chất đầy “trong một xe” đời mới, chỉ “không có thì giờ!” thôi vậy!

    __________________
  • #2

    Nghĩ từ trái tim

    Nghĩ từ trái tim

    Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

    12:36' PM - Thứ bảy, 23/02/2008

    Lời ngỏ của tác giả
    Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được. Thời đại của chúng ta, con người dùng khối óc nhiều quá, nhiều đến nỗi người ta luôn ở trong tình trạng muốn "điên cái đầu". Và thực vậy, bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử, ma túy, stress… ngày càng gia tăng trong một xã hội mà người ta luôn bị quay cuồng, luôn phải chạy đua với tốc độ, tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt…
    Có lẽ đã đến lúc thử nghe tiếng nói của trái tim. Một hôm, có chàng thi sĩ đi ngang qua vườn rào kia, giật mình thấy một bông bụp đỏ ở bờ giậu, cái bông bụp rất tầm thường như hàng ngày chàng vẫn thấy khi qua lại chốn này, bỗng nhiên như nở một nụ cười mầu nhiệm, rồi không chỉ cười, nó hát, và chàng thi sĩ chỉ còn biết sụp lạy, cúi đầu. Vâng, chàng đã nghe. Nghe không phải từ bông hoa kia mà từ trong trái tim mình. Và chàng sửng sốt. Mọi thứ như khác hẳn. Đã thoát ra, đã vượt ra, vượt qua… Người ta có thể nghĩ chàng thi sĩ chắc điên, có điều chàng biết rất rõ chàng đã nghe, đã thấy một điều kỳ lạ. Một thứ mật ngữ. Như anh chàng chèo đò của Herman Hesse, ngày ngày vẫn chèo đò đưa người qua sông, cho đến một hôm bong nghe được tiếng nói của dòng sông và từ đó chàng đã tự đưa mình qua sông, và đã vượt ra, vượt qua.
    Chúng ta bây giờ hình như có quá ít thì giờ để nghe tiếng nói của trái tim mình, dù chỉ cần nhấp con chuột trên vi tính thì đã nối trọn vòng trái đất, vậy mà người ta có ve ngày càng xa nhau hơn, xa với người và xa cà với mình. Một thi sĩ đã phải kêu lên: “…Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà học những ai thơ tôi sắp viết?...”. Tôi cũng không có thì giờ. Quần quật. Tối tăm mặt mũi vì “trăm công ngàn việc”. Cho đến một hôm, hình như, có lẽ, một lần kia có một lúc hình như tôi cũng chợt nghe. Hình như thôi không chắc không dám. Ngẫm nghĩ ra cho khói quên, đế lâu lâu còn coi lại một mình. Ba năm nghiền ngẫm, sáu tháng viết và hơn hai năm ngại ngần, thỉnh thoảng đọc và sửa, nhờ vài bạn thâm giao chỉ thêm cho, rồi tìm tòi, tham khảo, loay hoay…
    Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên đi khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chưa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điêu tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà không có dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ mà đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru?
    Sài Gòn 2003

    Comment

    • #3

      Văn hoá "tán" -Lê Thị Liên Hoan

      Văn hóa “tán”

      Lê Thị Liên Hoan
      Tạp chí ĐẹpCó lẽ trên đời này không có gì quan trọng mà lại mờ ảo như văn hóa. Ngay cả định nghĩa thế nào là văn hóa cũng mông lung. Văn học, điện ảnh, sân khấu, ca nhạc… là văn hóa đã đành. Thời trang, ẩm thực, du lịch… là văn hóa cũng đành, đến đi bộ, ngủ, uống trà, xỉa răng đôi khi cũng là văn hóa nốt!
      Thôi cũng chả sao. Suy cho cùng, bất cứ món gì, có văn hóa cũng hơn là không có. Ngay đến hắt xì hơi hay ngáp, người văn hóa cũng thực hiện sang trọng, lịch sự và dễ thương hơn kẻ tầm thường. Nhưng cũng chả biết có phải do “quán triệt” điều đó một cách sâu sâu quá hay không nhiều ông hay nhiều bà, không phải loại tầm thường đâu nhé, có tên có tuổi và có địa chỉ hẳn hoi, tán về văn hóa, hay nói cách khác gọi là văn hóa đủ thứ trên đời. Gọi là đủ thứ bởi tôi tin rằng, dù văn hóa có phong phú và mở rộng tới đâu thì cũng chả thể nào bất cứ cái gì cũng gọi tên thành văn hóa được. Văn hóa phải có học hành, có tuyển chọn, có chắt lọc và phải giúp ích cho đời.
      Nhưng các vị học giả vĩ đại và.. tỉ mẩn kia không khi nào lại tin như thế. Họ có biệt tài và có khả năng nhìn thấy văn hóa ở khắp nơi, ở chỗ họ ăn, họ làm việc, chỗ họ đi lại, ngồi hoặc… nằm!
      Chả tin thì các bạn cứ thử giở mọi tờ báo xuân những dịp đầu năm. Báo xuân, đấy là cơ hội, là thời điểm, là dịp tuyệt vời để các nhà phát minh văn hóa bộc lộ khả năng mãnh liệt của mình.
      Cứ theo các nhà học giả báo xuân, thì vộ địch về văn hóa là phở. Đấy là món ăn chả biết bao nhiêu lần được các nhà học giả lẫn học thuật tán dương. Đã có “bánh chưng” là vụ Nguyễn Tuân, phở đương nhiên trở thành hoàng đế của văn hóa ẩm thực.
      Sau đó tới… người vạn thứ trên đời, các nhà học giả cứ như phù thủy, chạm tay hay chạm bát vào món nào, món đó biến thành văn hóa ngay tắp lự.
      Ông thì kêu mùi hoa sữa là tâm hồn Hà Nội, ông lại quả quyết hoa sấu mới đúng. Bà thì viết về cái lạnh se lòng, bác thì miêu tả tiếng leng keng của… xe xích lô. Chú thì xúc động về tiếng ve sầu, em lại say sưa với mảng tường rêu. Thậm chí đến những hàng nước chè vừa chật chội, vừa đáng ngờ về vệ sinh bày ngổn ngang trên vỉa hè cũng được các vị kêu rằng đặc trưng, nứt riêng đầy văn hóa.
      Tóm lại, vào dịp đầu năm, mở báo ra ai cũng phải giật mình sao lại may mắn thế, hạnh phúc thế vì chung quanh đầy văn hóa từ trong ngõ đến tận trong nhà, chỉ tiếc rằng mình không phát hiện ra.
      Ôi, tôi thì tôi ngờ lắm. Tôi nghi lắm. Tôi cảm giác nhiều thứ, nhiều món các vị “tán” trên báo nếu không phải văn hóa thì cũng chưa phải, chẳng qua là các vị cứ gọi thế cho sang.
      Văn hóa gì một mảng tường rêu? Văn hóa gì các chị ngồi xổm bên hàng nước chè chén ở đầu thế kỷ XXI, bàn đủ thứ chuyện bằng mồm.
      Không có món nào mà các nhà phát minh văn hóa để xổng. Nhất là những gì dân dã, chân quê. Một nhánh hoa mùi, một giọt nước mái tranh, một tiếng cú kêu, một mùi khói bếp… đều bị các vị tóm lấy, nhào nặn và gọi bằng đủ thứ tên âu yếm.
      Lạ nhỉ, sao văn hóa dày đặc như thế mà cuộc sống vẫn cơ bản, nhọc nhằn, ứng xử với nhau vẫn chưa cao. Sao đâu cũng là nét đặc trưng, nét riêng biệt mà khách du lịch đến ta vẫn không bằng đến chỗ khác?
      Văn hóa chắc chắn phải rèn luyện, phải học hành và phải tuyển chọn chứ không thể trở nên đủ mọi thứ vớ vẩn hoặc nửa vớ vẩn mà các vị chuyên gia “tán” cứ liên tiếp phát minh.
      Tôi tin một cách ngây ngô, dại khờ như thế đấy. Chắc tôi văn hóa loại xoàng!
      Theo Tạp chí Đẹp

      Comment

      Working...
      X