• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Cổ Thi - Đường Thi

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • M Mít Đặc
    replied
    Lạc hoa tương dữ hận. Đáo địa nhất vô thanh

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Xuân Cảnh Trần Nhân Tông - Đại Việt Cổ Thi



    春 景 - 陳 仁 宗

    楊 柳 花 深 鳥 語 遲
    畫 堂 檐 影 暮 雲 飛
    客 來 不 問 人 間 事
    共 倚 欄 杆 看 翠 微

    XUÂN CẢNH - Trần Nhân Tông

    Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
    Họa đường thiền mẫn mộ vân phi
    Khách lai bất vấn nhân gian sự
    Cộng ỷ lan can khán thúy vi

    CẢNH XUÂN

    Trong hàng dương liễu chim hót ca
    Chiều tà mây dải bóng lầu hoa
    Khách đến việc đời xin gác bỏ
    Tựa cửa mơ màng ngắm núi xa

    Badmonk - Tâm Nhiên
    .



    Trong khóm hoa dương liễu rậm, chim hót
    Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm khắc, mây chiều bay.
    Khách đến chơi không hỏi việc đời,
    Cùng đứng tựa lan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời.

    Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm (陳昑) là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông) trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điếu ngự. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ngày 22 tháng Mười âm lịch năm Mậu Dần (tức 8 tháng 11 năm 1278), ông được vua cha là Trần Thánh Tông nhường ngôi, tức vua Trần Nhân Tông. Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

    Bấy giờ nhà Nguyên sai sứ sang hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có nhiều việc bối rối. Nhưng nhờ có Thượng hoàng Thánh Tông còn coi mọi việc và các quan trong triều nhiều người có tài trí, Nhân Tông lại là một vị vua thông minh và quả quyết, mà trong nước từ vua quan đến dân chúng đều một lòng cả, nên từ năm 1285 đến 1287, Nguyên Mông hai lần sang đánh Đại Việt nhưng bị đập tan. Ngoài ra, quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới, bởi vậy năm 1290 nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp.

    Nhà vua từng nói: ‎" Các người chớ quên , chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ , trái đạo . Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo . Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu . Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải . Các việc trên , khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn . Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước . Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp . Không thôn tính được ta , thì gậm nhấm ta . Họ gậm nhấm đất đai của ta , lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích . Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn : " Một tấc đất của Tiền nhân để lại , cũng không được để lọt vào tay kẻ khác " . Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu "

    Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà). Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này. Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” nhờ những việc này. Ông qua đời ngày 3 tháng Một âm lịch năm Mậu Thân (tức 16 tháng 12 năm 1308), được an táng ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế.

    Tác phẩm của Trần Nhân Tông có:Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền)Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng)Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá) Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược. Các phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 25 bài thơ chép trong Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục - Theo Wikipedia

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Bán nguyệt - Hwang Jin Yi (Hoàng Chân Y)



    Bán nguyệt - Hwang Jin Yi (Hoàng Chân Y)

    Thùy đoạn Côn Lôn ngọc,
    Tài thành Chức Nữ sơ .
    Khiên Ngưu nhất khứ hậu,
    Sầu trịch bích không hư .

    Half Moon

    Who cut the pure jade from Gonryunsan
    And finely formed jingyeo's handsome comb
    Yet once Gyeonu took leave
    Sorrowfully cast it into the emty night sky

    Nữa Vừng Trăng

    Ai làm lược ngọc Côn Luân,
    Để nàng Chức Nữ bâng khuâng chải đầu .
    Ngưu Lang giờ biệt nơi đâu ?
    Khuya cài nữa mảnh giữa bầu tương tư ...


    Badmonk - Tâm Nhiên



    Hwang Jin Yi : [nomedia="http://www.youtube.com/watch?v=6ScX4oa72S8"]YouTube[/nomedia]

    Hoàng Chân Y – Wikipedia tiếng Việt

    Leave a comment:


  • Uất Kim Hương
    replied
    Vẫn còn tâm ẩn trong thơ cổ?
    Múa những đường đao rớt rơi vần?
    Gươm mài, võ luyện trong đêm trắng?
    Sao còn mãi nhặt những bâng khuâng?

    UKH

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Vãn hứng - Nguyễn Trãi




    晚 興 - 阮 廌

    窮 巷 幽 居 苦 寂 寥
    烏 巾 竹 杖 晚 逍 遙
    荒 村 日 落 霞 棲 樹
    野 徑 人 稀 水 沒 橋
    今 古 無 窮 江 漠 漠
    英 雄 有 恨 葉 蕭 蕭
    歸 來 獨 凭 欄 杆 坐
    一 片 冰 蟾 掛 碧 霄

    Vãn hứng - Nguyễn Trãi

    Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
    Ô cân trúc trượng vãn tiêu dao.
    Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ.
    Dã kính nhân hi, thủy một kiều.
    Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
    Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
    Quy lai độc bẵng lan can tọa,
    Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu

    CHIỀU CẢM HỨNG

    Ngõ vắng đường quanh lặng chơi vơi,
    Khăn thâm nhàn chống gậy trúc chơi.
    Bóng chiều bãng lãng xuyên tàn lá,
    Đê vắng cầu nghiêng nước ngập rồi.
    Mịt mùng sóng lẫn sầu kim cổ,
    Anh hùng hận gửi lá vàng rơi.
    Về ngồi tựa cửa lan can ngắm,
    Một mảnh trăng treo lạnh giữa trời.

    Badmonk - Tâm Nhiên

    Trong ngõ cùng, ở nơi vắng vẻ, buồn nỗi quạnh hiu,
    Khăn đen, gậy trúc đi dạo chơi buổi chiều.
    Nơi thôn vắng, mặt trời xế, ráng đậu trên cây,
    Con đường ngoài nội ít ngườiqua lại, nước ngập cầu.
    Xưa nay thời gian không cùng như sông chảy xuôi mờ mịt,
    Anh hùng mang hận như tiếng gió thổi cây lá nghe vu vu.
    Trở về một mình ngồi tựa lan can,
    Một mảnh trăng sáng lạnh như băng treo trên nền trời biếc.
    Last edited by M Mít Đặc; 19-09-2012, 11:16 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Bạch Ðằng giang Trần Minh Tông




    白 藤 江 - 陳 明 宗

    挽 雲 劍 戟 碧 巑 岏,
    海 唇 吞 潮 捲 雪 瀾。
    綴 地 花 鈿 春 雨 霽,
    撼 天 松 籟 晚 霜 寒。
    山 河 今 古 雙 開 眼,
    胡 越 贏 輸 一 倚 欄。
    江 水 渟 涵 斜 日 影,
    錯 疑 戰 血 未 曾 乾。

    Bạch Ðằng giang - Trần Minh Tông

    Vãn vân kiếm kích bích toàn ngoan,
    Hải thẩn thôn triều quyển tuyết lan.
    Xuyết địa hoa điền xuân vũ tễ,
    Hám thiên tùng lại vãn sương hàn.
    Sơn hà kim cổ song khai nhãn,
    Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.
    Giang thuỷ đình hàm tà nhật ảnh,
    Thác nghi chiến huyết vị tằng can.

    SÔNG BẠCH ĐẰNG

    Núi dựng như gươm chạm mây thành,
    Triều dâng sóng bạc phủ mờ xanh .
    Mưa ướt hoa vàng phô mặt đất,
    Rung chuyển thông chiều sương quẩn quanh .
    Non sông gấm vóc hai lần rạng,
    Thắng thua Hồ-Việt giờ thoãng nhanh .
    Sông chiều ráng đỏ như màu máu,
    Ngỡ xác quân thù vẫn còn tanh .


    Badmonk - Tâm Nhiên


    Núi biếc cao vút, tua tủa như gươm giáo kéo lấy tầng mây,
    Hải thẩn nuốt thuỷ triều cuộn làn sóng bạc.
    Hoa vàng điểm tô mặt đất lúc mưa xuân vừa tạnh,
    Tiếng sáo thông rung chuyển trời khi sương chiều lạnh lẽo.
    non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt,
    Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoàng qua như một lúc dựa vào lan can.
    Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối,
    Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Sơn phòng mạn hứng - Trần Nhân Tông




    山 房 漫 兴 - 陳 仁 宗

    是 非 念 逐 朝 花 落,
    名 利 心 隨 夜 雨 寒,
    花 盡 雨 晴 山 寂 寂,
    一 聲 啼 鳥 又 春 殘,

    Sơn phòng mạn hứng - Trần Nhân Tông

    Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
    Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
    Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
    Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.

    CẢM HỨNG Ở AM NÚI

    Thị phi rụng cùng hoa buổi sáng,
    Lợi danh lòng lạnh tựa mưa đêm .
    Hoa tàn mưa tạnh rừng u tịch,
    Một tiếng chin kêu xuân vội tan .

    Badmonk - Tâm Nhiên



    Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm,
    Lòng danh lợi lạnh theo trận mưa đêm.
    Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch,
    Một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn.


    Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm (陳昑) là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông) trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điếu ngự. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ngày 22 tháng Mười âm lịch năm Mậu Dần (tức 8 tháng 11 năm 1278), ông được vua cha là Trần Thánh Tông nhường ngôi, tức vua Trần Nhân Tông. Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

    Bấy giờ nhà Nguyên sai sứ sang hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có nhiều việc bối rối. Nhưng nhờ có Thượng hoàng Thánh Tông còn coi mọi việc và các quan trong triều nhiều người có tài trí, Nhân Tông lại là một vị vua thông minh và quả quyết, mà trong nước từ vua quan đến dân chúng đều một lòng cả, nên từ năm 1285 đến 1287, Nguyên Mông hai lần sang đánh Đại Việt nhưng bị đập tan. Ngoài ra, quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới, bởi vậy năm 1290 nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp.

    Nhà vua từng nói: ‎" Các người chớ quên , chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ , trái đạo . Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo . Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu . Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải . Các việc trên , khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn . Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước . Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp . Không thôn tính được ta , thì gậm nhấm ta . Họ gậm nhấm đất đai của ta , lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích . Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn : " Một tấc đất của Tiền nhân để lại , cũng không được để lọt vào tay kẻ khác " . Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu "

    Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà). Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này. Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” nhờ những việc này. Ông qua đời ngày 3 tháng Một âm lịch năm Mậu Thân (tức 16 tháng 12 năm 1308), được an táng ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế.

    Tác phẩm của Trần Nhân Tông có:Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền)Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng)Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá) Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược. Các phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 25 bài thơ chép trong Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục - Theo Wikipedia

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Túc Hoa Âm tự Nguyễn Trung Ngạn




    宿 花 陰 寺 - 阮 忠 彥

    偶 徬 招 提 宿,
    僧 留 半 榻 分。
    石 泉 朝 汲 水,
    紙 帳 夜 眠 雲。
    松 子 臨 窗 墜,
    猿 聲 隔 岸 聞。
    粥 魚 敲 夢 醒,
    花 雨 落 繽 紛。

    Túc Hoa Âm tự - Nguyễn Trung Ngạn

    Ngẫu bạng chiêu đề túc,
    Tăng lưu bán tháp phân.
    Thạch tuyền triêu cấp thuỷ,
    Chỉ trướng dạ miên vân.
    Tùng tử lâm song truỵ,
    Viên thanh cách ngạn văn.
    Chúc ngư sao mộng tỉnh,
    Hoa vũ lạc tân phân.

    Ở TRỌ ĐÊM TẠI CHUA HOA ÂM

    Gặp chùa ghé trọ giữa khuya
    Đời trần quán tạm sư chia nửa giường
    Sáng ra suối đá tầm hương
    Đêm về ngủ dưới bốn phương mây lồng
    Lặng yên thông rụng ngoài song
    Tiếng con vượn hú bên sông gọi đàn
    Chày kình khuya động giấc vàng
    Hoa đâu bổng rụng từng hàng như mưa

    Badmonk - Tâm Nhiên


    Trọ tại chùa Hoa Âm

    Ngẫu nhiên vào ngủ đêm trong ngôi chùa,
    Sư dành cho nửa giường.
    Sáng đi múc nước ở suối đá,
    Đêm ngủ với mây trong trướng giấy.
    Quả thông rụng trước cửa sổ,
    Tiếng vượn nghe bên kia sông.
    Mõ chùa khua tỉnh giấc mộng,
    Mưa hoa rơi xuống tơi bời.


    Nguyễn Trung Ngạn (1289–1370), tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi), tỉnh Hưng Yên. Ông là một nhà chính trị, một đại thần có tài, được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần" . Cùng với Nguyễn Trung Ngạn là Trần Quang Khải, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, Trần Thì Kiến, Phạm Tông Mại, Trần Nguyên Đán.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Xuân nhật tức sự - Huyền Quang



    春 日 即 事 - 玄 光

    二 八 佳 人 刺 繡 持,
    紫 荊 花 下 轉 黃 鸝。
    可 憐 無 限 傷 春 意,
    盡 在 停 針 不 語 時。

    Xuân nhật tức sự - Huyền Quang

    Nhị bát giai nhân thích tú trì,
    Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
    Khả liên vô hạn thương xuân ý,
    Tận tại đình châm bất ngữ thì

    TÂM SỰ NGÀY XUÂN

    Chầm chậm tay thêu gái xuân thì,
    Tử kinh hoa nở luyến hoàng ly.
    Yêu lúc xuân lòng ôm tâm sự,
    Nàng chợt ngừng tay chẳng nói chi.

    Ngồi thêu cô gái xuân thì
    Tử kinh hoa rợp hoàng ly chuyền cành
    Yêu sao giấc mộng xuân lành
    Ngừng tay nàng lặng mắt nhìn xa xăm...

    Badmonk - Tâm Nhiên


    Người con gái đẹp tuổi đôi tám chầm chậm thêu,
    Dưới bóng hoa tử kinh, chim hoàng ly nhảy nhót,
    Đáng yêu là cái ý thương xuân vô hạn,
    Đọng lại tất cả ở lúc dừng kim, không nói năng



    Huyền Quang (玄光), 1254-1334, tên thật là Lý Đạo Tái (李道載), người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang. Nay là làng Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Học giỏi, đỗ cả thi hương, thi hội. Ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ (trạng nguyên) khoa thi năm 1272 ? hay 1274?[2] và được bổ làm việc trong Viện Nội Hàn của triều đình, tiếp sư Bắc triều, nổi tiếng văn thơ. Sau này từ chức đi tu, theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm. Là một Thiền sư Việt Nam, tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Ông là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và Pháp Loa, ông được xem là một Đại thiền sư của Việt Nam và người ta xem ông và hai vị nêu trên ngang hàng với sáu vị tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị tổ của Thiền Ấn Độ.

    Theo Tam tổ thực lục (三祖實錄), mẹ của Huyền Quang là Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì tuổi đã 30 mà chưa có con. Đầu năm Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy "các toà trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông đúc. Đức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà bảo: 'Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông Độ và phải nhớ lại duyên xưa.'" Năm ấy Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên Sư dung mạo dị thường, làm quan đến chức Hàn Lâm.

    Một hôm, Sư cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhãn, nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, liền nhớ lại "duyên xưa", xin xuất gia thụ giáo (có tài liệu nói Sư thụ giáo với Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh). Sư được cử làm thị giả của Trúc Lâm Đầu Đà và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.

    Sau, Sư theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Tử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lí nên tăng chúng đua nhau đến học.

    Niên hiệu Đại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ. Sau khi Pháp Loa tịch (1330), Sư kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đã cao nên Sư giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm.

    Sư đến trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn Sơn giáo hoá. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334), Sư viên tịch, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.


    Theo Wikipedia

    Leave a comment:


  • Visaolaithe
    replied
    Rêverie



    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied


    ĐÊM HOA TRĂNG TRÊN SÔNG XUÂN

    Đêm xuân trăng thủy triều dâng mặt biển,
    Trăng lồng trong lớp lớp sóng vỡ tràn .
    Ngàn ánh bạc tiếp đuôi vờn lấp loáng,
    Sông xuân ơi đâu chẳng ánh trăng vàng.

    Sông như lụa uốn mình theo dải cát ,
    Rắc lên hoa trăng phủ ánh phấn ngà.
    Sương khói mõng là đà bay lãng đãng,
    Cát trắng nằm nên chẳng nhận ra,

    Trăng đơn chiếc giữa trời xanh biêng biếc,
    Bụi lắng yên trời nước lẫn một màu.
    Ai bên sông ngày đầu trăng chiếu ?
    Trăng ngày đầu chiếu xuống nỗi lòng ai?

    Dòng đời đó chuyển kiếp người ghê rợn,
    Trăng trên sông năm tháng vẫn còn nguyên ,
    Nên chẳng biết vì ai mà trăng sáng ?
    Để dòng sông thao thức chở trăng vàng?

    Hồn mây bạc trôi về đâu viễn phố ,
    Rừng phong già gió lặng đợi suy tư .
    Đêm thanh vắng khách dong con thuyền nhỏ,
    Ai trên lầu trăng sáng tương tư...

    Nhớ nhau lắm một thủa nào trăng sáng,
    Thương cho người khóc hận buổi chia ly.
    Rèm ngọc cuốn trăng vào ra lãng đãng,
    Áo trao rồi trăng day dứt chẳng chịu đi.

    Vì hai đứa xa cách nhau vời vợi,
    Nhờ ánh trăng gởi gấm giấc mộng dài.
    Hồng nhạn chở nỗi lòng nơi sẻ tới,
    Ngư long xin quẫy sóng động hồn ai.

    Đêm qua nằm mộng mơ hoa rơi,
    Thương nữa chừng xuân thương cuộc đời .
    Sông cứ chảy như lời thở nhẹ,
    Trăng về tây trăng đã rụng rồi.

    Trăng xám lạnh lẫn màn sương của biển,
    Đâu Tiêu Tương, Kiệt Thạch, nào cố hương.
    Ai lữ thứ theo trăng thôi dừng gót,
    Tình đơn phương mà vung vãi khắp nẽo đường.

    Trăng lặn rồi hàng cây bên sông còn lay động mối tình ...



    Badmonk - Tâm Nhiên

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Xuân giang hoa nguyệt dạ - Trương Nhược Hư

    Xuân giang hoa nguyệt dạ - Trương Nhược Hư

    Xuân giang triều thủy liên hải bình,
    Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.
    Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,
    Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh.

    Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,
    Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển.
    Không lý lưu sương bất giác phi,
    Đính thượng bạch sa khan bất kiến.

    Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,
    Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.
    Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt ?
    Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?

    Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
    Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.
    Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
    Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.

    Bạch vân nhất phiến khứ du du,
    Thanh phong giang thượng bất thăng sầu.
    Thùy gia kim dạ biên chu tử,
    Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?

    Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,
    Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.
    Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,
    Đảo y châm thượng phất hoàn lai.

    Thử thời tương vọng bất tương văn,
    Nguyệt trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.
    Hồng nhạn trường phi quang bất độ,
    Ngư long tiềm dược thủy thành văn.

    Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,
    Khả liên xuân bán bất hoàn gia.
    Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,
    Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

    Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,
    Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.
    Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui,
    Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.


    ĐÊM HOA TRĂNG TRÊN SÔNG XUÂN

    Thủy triều lên, mặt sông xuân ngang mặt bể,
    Trên bể, trăng sáng cùng lên với thủy triều.
    Lấp loáng theo sóng trôi muôn ngàn dặm,
    Có nơi nào trên sông xuân là không sáng trăng?

    Dòng sông lượn vòng khu cồn hương thơm,
    Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết.
    Trên sông sương trôi tưởng như không bay
    Bãi sông cát trắng, nhìn chẳng nhận ra

    Sông và trời, một màu không mảy bụi,
    Ngời sáng trong không, vầng trăng trơ trọi
    Người bên sông,ai kẻ đầu tiên thấy trăng?
    Trăng trên sông, năm nào đầu tiên rọi xuống người?

    Người sinh đời đời không bao giờ ngừng
    Trăng trên sông năm năm ngắm vẵn y nguyên
    Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai
    Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy

    Mây trắng một dải, vẩn vơ bay
    Cây phong biếc xanh trên bờ buồn khôn xiết
    Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ
    Người nơi nao trên lầu trăng sáng đương tương tư?

    Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi
    Phải chiếu sáng đài gương người biệt ly
    Rèm nhà ngọc cuốn lên rồi, trăng vẫn không đi
    Phiến đá đập áo lau đi rồi, trăng vẫn cứ lại

    Giờ đây cùng ngắm trăng mà không cùng nghe tiếng nhau
    Nguyện theo ánh đẹp vầng trăng trôi tới chiếu sáng bên người
    Chim hồng nhạn bay dài không thể mang trăng đi
    Cá rồng lặn nhảy, chỉ khiến làn nước gợn sóng

    Đêm qua thanh vắng, mơ thấy hoa rơi,
    Đáng thương cho người đã nửa mùa xuân chưa về nhà
    Nước sông trôi xuôi, xuân đi sắp hết
    Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây

    Trăng xế chìm dần lẩn trong sương mù mặt bể
    Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng
    Chẳng biết nhân ánh trăng đã mấy người về
    Trăng lặn, rung rinh mối tình, những cây đầy sông

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Xuân Từ - Lưu Vũ Tích




    春 詞 - 劉 禹 錫

    新 妝 宜 面 下 朱 樓, 深 鎖 春 光 一 院 愁。
    行 到 中 庭 數 花 朵, 蜻 蜓 飛 上 玉 搔 頭。

    Xuân Từ - Lưu Vũ Tích

    Tân trang nghi diện hạ châu lâu,
    Thâm tỏa xuân quang nhất điện sầu.
    Hành đáo trung đình sổ hoa đóa,
    Tình đình phi thướng ngọc tao đầu.

    LỜI CỦA MÙA XUÂN

    Ngày xuân trang điểm xuống lầu,
    Viện buồn phong kín xuân sầu vòng tay .
    Đếm hoa gót nhẹ dấu giầy,
    Chuồn chuồn bay đậu lên cây trâm cài .

    Badmonk - Tâm nhiên


    Trang điểm xong nàng bước xuống lầu son.
    Cảnh xuân bị khóa kín trong điện quạnh hiu buồn lạnh
    Nàng đi nhẹ và đếm những bông hoa
    Chuồn chuồn bay đậu lên trên chiếc trâm ngọc cài đầu

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Xuân sơn nguyệt dạ - Vu Lương Sử



    春 山 夜 月 - 于良史
    春 山 多 勝 事,
    賞 翫 夜 忘 歸 。
    掬 水 月 在 手,
    弄 花 香 滿 衣 。
    興 來 無 遠 近,
    欲 去 惜 芳 菲 。
    南 望 鐘 鳴 處,
    樓 臺 深 翠 微 。

    Xuân sơn nguyệt dạ - Vu Lương Sử

    Xuân sơn đa thắng sự,
    Thưởng ngoạn dạ vong quy.
    Cúc thuỷ nguyệt tại thủ,
    Lộng hoa hương mãn y.
    Hứng lai vô viễn cận,
    Dục khứ tích phương phi.
    Nam vọng chung minh xứ,
    Lâu đài thâm thuý vi.

    ĐÊM TRĂNG TRÊN NÚI MÙA XUÂN

    Lau trắng cùng mây quyện núi xanh
    Mãi vui quên lối chiều qua nhanh
    Vốc nước trăng vàng tay sóng sánh
    Áo vướng hương hoa tỏ ngọn ngành
    Rẻ đá đạp mây chân bước nhẹ
    Hồn gởi vào đây chẳng muốn về
    Chuông chiều vọng phía nơi trần thế
    Lầu đài bóng núi lẫn đê mê ...

    Badmonk - Tâm Nhiên
    Last edited by M Mít Đặc; 28-02-2012, 09:54 PM.

    Leave a comment:


  • M Mít Đặc
    replied
    Anh Vũ châu - Lý Bạch




    鸚 鵡 洲 - 李 白

    鸚 鵡 來 過 吳 江 水。
    江 上 洲 傳 鸚 鵡 名。
    鸚 鵡 西 飛 隴 山 去。
    芳 洲 之 樹 何 青 青。
    煙 開 蘭 葉 香 風 暖。
    岸 夾 桃 花 錦 浪 生。
    遷 客 此 時 徒 極 目。
    長 洲 孤 月 向 誰 明。

    Anh Vũ châu - Lý Bạch

    Anh Vũ lai quá Ngô giang thuỷ,
    Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh
    Anh Vũ tây phi Lũng sơn khứ
    Phương châu chi thụ hà thanh thanh
    Yên khai lan diệp hương phong khởi,
    Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh
    Thiên khách thử thời đồ cực mục
    Trường châu cô nguyệt hướng thuỳ minh


    BẾN SÔNG ANH VŨ

    Vẹt đàn bay vượt sông Ngô,
    Gọi tên Anh Vũ hư vô bãi này .
    Bay về núi Lũng trời tây,
    Để sông cát trắng cỏ cây xanh rờn .
    Là đà sương quyện lan thơm,
    Đào rơi sóng cuốn dập dờn trôi qua .
    Quê hương khuất nẽo dương tà,
    Vì ai trăng chiếu mình ta với sầu ...

    Badmonk - Tâm Nhiên



    Chim Anh vũ xưa thường bay đến sông Ngô
    Bãi trên sông mới truyền lại gọi tên là Anh Vũ
    Chim anh vũ đã bay về Tây qua núi Lũng
    Bãi thơm cây xanh biếc làm sao!
    Khói toả ra từ lá cây lan làm gió thơm nổi dậy
    Bờ liền với hoa đào, sóng gấm sinh chảy nhấp nhô
    Lúc ấy người đi đày trong bóng chiều trông hoài cõi xa về quê hương
    Trên bãi sông dài mảnh trăng cô đơn còn soi sáng cho ai.

    Chim Anh Vũ tức là con Vẹt . Vào khoảng năm 760, Lý Bạch vào tuổi 56 bị lưu đày đi huyện Dạ Lang tỉnh Quý Châu. Khi chờ đò ngang để qua sông Trường Giang trên bến Anh Vũ ông làm bài này

    Leave a comment:

Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom