• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Điểm sách

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Điểm sách

    Điểm sách




    Tôi vẫn chưa bỏ được thói quen khi gặp sách hay và hợp với ý mình sẽ mua hai bản ,một để đọc ,và một để tặng người nào đó hoặc để phòng hờ khi có ai đó quên trả sách .Nhưng không phải lúc nào cũng được vậy .Một quyển sách ở V.N. số lượng in chỉ khoảng 1000 bản ,có khi mình biết trễ , có khi hình thức và nội dung sách không phù hợp nhau ,có khi sự quảng cáo cao hơn giá trị thực Tôi lại có tật chỉ chọn sách của những tác giả mình yêu thích vì tư tưởng và văn phong của họ mà không quan tâm xưa hoặc nay , Âu , Á hoặc ,Mỹ , Phi Thế thì sao đây ? Hãy dạo qua nội dung và đôi chút về tác giả trước khi đem sách về nhà . Với suy nghĩ này ,tôi mong được giới thiệu với các bạn mục "Điểm sách " (tôi mượn bên trang eVan và nơi khác...) để đem lại chút lợi ích cho người thích đọc sách vào một phút nào đó.

    Rất mong sự tham gia của các bạn
    Thanks !
    G.
    Last edited by GRANDET; 08-11-2010, 11:48 PM.
    Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

  • #2
    Số phận hẩm hiu của những cuốn sách kinh điển

    Rein, Lisa

    “Chuông nguyện hồn ai”của Hemingway, “Giết con chim nhại” của Harper Lee và hàng trăm tác phẩm văn học kinh điển khác sẽ có nguy cơ bị di dời khỏi hệ thống thư viện ở hạt Fairfax (Mỹ) khi một thống kê cho thấy, không độc giả nào sờ tới những đầu sách này trong ít nhất là 24 tháng qua.

    Bạn sẽ không tìm thấy Abraham Lincoln: His Speeches and Writings tại thư viện vùng Pohick, không thấy The Education of Henry Adams tại Sherwood. Còn nếu muốn thưởng thức tác phẩm Final Harvest của Emily ****inson thì đừng đến thư viện Kingstowne.
    Từ lâu, những đầu sách này đã trở nên cũ kỹ và không còn được ai đụng tới. Đây là nguyên nhân khiến chúng bị thư viện loại bỏ để nhường chỗ cho những đầu sách mới.

    Cũng như Borders và Barnes & Noble, Fairfax đang quyết liệt chạy theo thị hiếu của độc giả. Tính toán thiệt hơn rồi mới đầu tư vào từng cm khoảng trống trên các giá sách. Vì vậy những đầu sách được đọc nhiều sẽ rất dễ tìm, còn ngược lại, chúng sẽ bị loại bỏ thắng tay, bất chấp đó là những đầu sách kinh điển, vang bóng một thời.
    "Chúng tôi đã phải rất tàn nhẫn", Sam Clay, giám đốc hệ thống 21 thư viện, phát biểu. “Không cuốn sách nào hợp thời mãi mãi. Nếu bạn dành cả 12 m giá sách chỉ để trưng các ấn phẩm viết về hoa tulip, rồi bạn nhận ra, là chỉ có 1 trong số những cuốn sách đó được độc giả để mắt tới thì bạn sẽ hiểu cái giá của sự chọn lọc và loại bỏ”.




    Những đầu sách không còn được độc giả Mỹ quan tâm.


    Đó là thực tế mới đang diễn ra tại Fairfax cũng như các hiệu sách khác trên thế giới trong tương lai. Sách cũ không còn chen chân lại được với các đầu sách mới với muôn vàn dạng thái dự trữ như giấy in, băng từ, DVD, máy tính và các thiết bị số khác. Chính vì vậy, người quản lý các thư viện đã phải đưa ra một quyết định rất khó khăn: chạy theo thị hiếu độc giả, mạnh tay cắt bỏ những đầu sách kinh điển hay giữ chúng lại dù biết chắc nhu cầu tìm kiếm là hoàn toàn không đáng kể?

    Nhưng các quản lý thư viện cam kết, họ sẽ không bao giờ loại bỏ các vở kịch của Shakespeare, tiểu thuyết The Great Gatsby của F. Scott Fitzgerald và một số đầu sách vĩ đại khác. Những tác phẩm bị loại khỏi hệ thống thư viện Fairfax sẽ được chuyển đến các kho lưu trữ.
    Leslie Burger, chủ tịch Hiệp hội thư viện Mỹ và là giám đốc Thư viện Princeton, cho biết: “Chúng tôi phải làm như vậy, bởi điều đó tốt cho mọi người. Những tác phẩm giải trí bình dân thu hút đông đảo độc giả hơn”.

    Trước đây, việc loại bỏ các đầu sách hết thời diễn ra không thường xuyên, không đều đặn. Còn bây giờ, Clay và các đồng nghiệp của ông đã quyết định 2 năm một lần sàng lọc bớt các đầu sách để lấy không gian phục vụ độc giả thưởng thức chữ nghĩa. Ngày nay, không ai còn thích ngồi quanh những chiếc bàn lớn, giữa những người xa lạ để đọc sách hoặc nghiên cứu nữa. Họ muốn có một không gian riêng, muốn làm việc trong các phòng đọc cá nhân ngay tại thư viện. Vì thế, nhu cầu về chỗ trống ngày càng tăng lên. “Chúng tôi không muốn giữ lại những gì mà độc giả không còn cần đến nữa”, Clay nói.

    Mỗi một thư viện đều có con số thống kê hàng tháng. Vì vậy, nếu một cuốn sách không nhận được nhiều sự quan tâm của độc giả trong vòng 24 tháng, quản lý thư viện sẽ quyết định nên giữ hay không tác phẩm đó trong tủ sách của mình. Bà Julie Pringle, một nhà quản lý, cho biết: “Kết luận cuối cùng sẽ dựa vào những số liệu thực tế đã diễn ra”.


    Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway, Giết con chim nhại của Harper Lee là hai đầu sách hoàn toàn bị phủ bụi tại các thư viện trong hai năm qua. Nhưng các thủ thư đã quyết định giữ chúng lại.


    Nine Plays của Eugene O'Neill, Candide của Voltaire và Broke Heart Blues của Joyce Carol Oates đều là những tác phẩm mọc rễ trên các giá sách tại thư viện Woodrow Wilson. Nhưng Broke Heart Blues sẽ được giữ lại bởi Oates là một nhà văn có nhiều tác phẩm khác được độc giả yêu thích. Tác phẩm của nhà triết học Voltaire chắc chắn phải ra đi. Riêng Nine Plays là cuốn mà quản lý Linda Schlekau cân nhắc nhiều nhất. Cuối cùng, bà quyết định giữ nó lại.
    Thanh Huyền dịch


    (Nguồn: Washingtonpost)
    Last edited by GRANDET; 28-06-2009, 07:35 AM.
    Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

    Comment


    • #3
      Giết con chim nhại

      Xuất bản lần đầu năm 1960, giải Pulitzer năm 1961, dựng thành phim năm 1962, dịch hơn 40 thứ tiếng, bán ra hơn 30 triệu bản…, hành trình đến với độc giả của cuốn tiểu thuyết này vẫn đang tiếp diễn.

      Tên sách: Giết con chim nhại
      Tác giả: Harper Lee
      Dịch giả: Huỳnh Kim Oanh và Phạm Viêm Phương
      NXB Văn học và Công ty Nhã Nam tháng 9/2008

      Nào, hãy mở cuốn sách này ra. Bạn phải làm quen ngay với bố Atticus của hai anh em - Jem và Scout. Không phải vì anh là luật sư, một nghề được coi là danh giá ở hạt Maycomb này. Cũng chẳng phải anh là một thần tượng quá tuyệt vời trong mắt hai đứa trẻ. Gà trống nuôi con, Atticus coi Jem và Scout như người lớn, đối xử như những người bạn của mình. Rất tình cảm nhưng cũng đầy nghiêm khắc, Atticus có một cách riêng, để những đứa trẻ của mình cứng cáp và vững vàng hơn khi đón nhận những bức xúc không sao hiểu nổi trong cuộc sống.
      Bạn sẽ nhớ rất lâu người đàn ông thích trốn trong nhà Boo Radley. Mọi người nghĩ ông như một kẻ loạn trí vì không chịu tiếp xúc với bên ngoài, còn lũ trẻ con vừa sợ hãi vừa ước ao một lần được gặp con người kỳ quặc và đầy bí ẩn đó. Nhưng chính kẻ bị đám đông coi là lập dị này đã chọn một cách rất riêng để gửi những món quà nhỏ cho Jem và Scout. Và khi chúng lâm nguy, chính gã khùng ấy đã đột nhiên xuất hiện để che chở.


      Trang bìa bản tiếng Việt.


      Và tất nhiên, bạn không thể bỏ qua anh chàng Tom Robinson, kẻ bị kết án tử hình vì tội hãm hiếp một cô gái da trắng. Một con người thật tử tế và tốt bụng, sẵn lòng nhiệt tình giúp mọi người. Nhưng sự thật thà và suy nghĩ quá đỗi đơn giản của anh lại dẫn đến một cái kết hết sức đau lòng, chỉ vì lý do anh là một người da đen.
      … Cho dù được kể dưới góc nhìn của một cô bé, cuốn sách Giết con chim nhại không né tránh bất kỳ vấn đề nào, gai góc hay lớn lao, sâu xa hay phức tạp: nạn phân biệt chủng tộc, những định kiến khắt khe, sự trọng nam khinh nữ… Không một chi tiết, không một vấn đề nào bị lũ trẻ bỏ qua hay né tránh, điều đó tạo nên sức nặng cho cuốn sách. Các nhân vật xuất hiện không một chút màu mè, ngay cả với những người thân yêu nhất của Scout. Anh Jem nhiều khi tranh giành, đôi lúc khó hiểu và coi thường tụi con gái. Bố Atticus thật vụng về và đôi khi khiến những đứa con cảm thấy xấu hổ. Bà đầu bếp da đen Calpurnia thì quá ư nghiêm khắc. Còn bồi thẩm đoàn, những người đưa ra quyết định quan trọng cuối cùng đã quá vội vã… Điều đó, khiến người lớn không khỏi nghi ngờ về lý lẽ vô cùng xác đáng của lũ trẻ trước những vấn đề phức tạp của xã hội.

      Góc nhìn trẻ thơ là một dấu ấn đậm nét và cũng là đặc sắc trong Giết con chim nhại. Trong sáng, hồn nhiên và đầy cảm xúc, những câu chuyện tưởng như chẳng có gì to tát gieo vào người đọc hạt mầm yêu thương. Không chỉ tình cha con ấm áp với bố Atticus, những đứa trẻ có các bài học từ chính những người xung quanh mình, từ những đứa trẻ tới trường không bao giờ được ăn trưa như Walter Cunningham cho đến bà già Henry Lafayette Dubose hay chì chiết và châm chích bố của chúng.
      Từ điểm nhìn ấy, mọi thứ diễn ra một cách tự nhiên và được thanh lọc bằng cảm xúc. Với bà lão lắm lời Dubose, lũ trẻ được tiếp nhận bài học về sự can đảm, thay vì ý nghĩ thông thường “can đảm là người đàn ông với khẩu súng trong tay”, đó là việc người ta theo đuổi mọi chuyện tới cùng dù có chuyện gì xảy ra. Và bà lão khó tính ấy đã chấp nhận bệnh tật tới khi chết như một người can đảm nhất. Cả chi tiết “con chim nhại” cũng thế, dẫu những đứa trẻ này chưa thật hiểu lớp ý nghĩa sâu xa về hình ảnh con chim nhại với tiếng hót trong vắt, đáng yêu có ý nghĩa thế nào với cuộc đời, nhưng chắc chắn khi được trao khẩu súng săn trong tay, chúng sẽ không bao giờ bóp cò trước một con chim nhại.
      Gần 50 năm từ ngày đầu ra mắt, Giết con chim nhại, tác phẩm đầu tay và cũng là cuối cùng của nữ nhà văn Mỹ Harper Lee vẫn đầy sức hút với độc giả ở nhiều lứa tuổi. Thông điệp yêu thương trải khắp các chương sách là một trong những lý do khiến Giết con chim nhại giữ sức sống lâu bền của mình trong trái tim độc giả ở nhiều quốc gia, nhiều thế hệ. Những độc giả nhí tìm cho mình các trò nghịch ngợm và cách nhìn dí dỏm về thế giới xung quanh. Người lớn lại tìm ra điều thú vị sâu xa trong tình cha con nhà Atticus, và đặc biệt là tình người trong cuộc sống, như bé Scout quả quyết nói “em nghĩ chỉ có một hạng người. Đó là người”.
      Mỹ Khê


      Tải bản tiếng Việt (prc) tại: [url="http://conmotsach.com/books/giet_con_chim_nhai.prc"][COLOR=#c97e00]404 Not Found
      Tải bản tiếng Anh (prc) tại: [url="http://conmotsach.com/books/to_kill_a_mockingbird.prc"][COLOR=#c97e00]404 Not Found

      ********************************************





      Chuông gọi hồn ai
      Tác giả : Ernest Hemingway
      Nhà xuất bản : Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh

      "Chuông gọi hồn ai" hay "Chuông nguyện hồn ai" là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ernest Hemingway - tác giả của một loạt những tác phẩm nổi tiếng thế giới như: Ông già và biển cả; Hạnh phúc ngắn ngủi của Mắc Côm bơ ; Giã từ vũ khí ... Đằng sau cái vẻ xù xì mang bóng dáng của bạo lực, trong mỗi tác phẩm của ông luôn ẩn chứa tính nhân đạo sâu sắc và sự khẳng định: Con người phải luôn biết vượt qua mọi trở ngại, Cuộc sống dù khắc nghiệt tới đâu cũng không thể chiến thắng được con người...

      "Chuông gọi hồn ai" là tên cuốn sách được Nhà xuất bản văn nghệ Tp Hồ Chí Minh tái bản của tác giả Ernest Hemingway mà bạn đọc Việt Nam đã từng được biết tới từ nhiều năm trước với cái tên "Chuông nguyện hồn ai". Từ thực tiễn hết sức phong phú và tiến bộ của cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Ban Nha và của những chiến sĩ dân chủ thế giới, Hemingway đã viết nên tác phẩm này. Rất nhiều người đã cho rằng đây là tác phẩm hay nhất trong toàn bộ các tác phẩm của ông. Tác phẩm đó đã làm cho tất cả những người yêu chuộng tự do mến phục ông, làm cho tên phát xít Franco căm thù ông. "Chuông gọi hồn ai" được sáng tác trong máu và lửa của cuộc chiến đau thương, đầy máu và nước mắt của hàng triệu người con Tây Ban Nha là bài ca của những con người biết hy sinh cho lý tưởng cao đẹp trong cuộc sống.

      Đó là câu chuyện của một thanh niên Mỹ tên là Robert Jordan tình nguyện sang chiến đấu chống chế độ độc tài Franco trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha vào những năm 30. Anh được giao nhiệm vụ phá hủy một cây cầu, dưới sự trợ giúp của một tổ kháng chiến du kích. Câu chuyện diễn ra trong khoảng thời gian chỉ vài ngày trước thời khắc phá cầu... Ở đó ta luôn thấy một lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh của con người và một lòng thương yêu tha thiết con người.

      Xuyên suốt trong cuộc chiến là mối tình của Robert Jordan và Maria. Giữa lúc cuộc chiến gần kề, chuyện tình yêu của đôi tình nhân vẫn rất đẹp. Họ vẫn ngồi bên nhau với núi đá hùng vĩ để cùng ước mơ về một ngày được hạnh phúc, được sống, và được yêu. Bởi Robert Jordan dù bàn tay vẫn đang cầm súng vẫn luôn tự nghĩ rằng: “Thế giới này là một nơi tốt lành và nếu cần phải đánh nhau vì nó cũng được”.

      Hình ảnh của những du kích quân dũng cảm tham gia đánh cầu "Vì nền Cộng hòa", hoặc đoạn nhóm El Sordo dù bị bao vây quanh núi đá vẫn cười ngạo nghễ kẻ thù đã tôn vinh vẻ đẹp của người dân kháng chiến.

      Và lời kể của Pilar về những ngày nổi dậy đầy kích động; hay tâm sự của Maria về việc cô bị làm nhục, việc mẹ cô đã phải chết khi hô to "Muôn năm chồng tôi, một thị trưởng Cộng hòa!" đã chuyển tải phần nào không khí của cuộc chiến tương tàn của đất nước Tây Ban Nha những năm 30.

      Gấp những trang cuối của cuốn sách người đọc vẫn như đang thấy những ngọn núi đá phủ tuyết và bầu trời đêm lấp lánh vì sao, dưới bầu trời ấy có đôi tình nhân mơ chuyện ngày sau ...
      Việt Dũng
      Last edited by GRANDET; 08-11-2010, 11:44 PM.
      Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

      Comment


      • #4
        Ring - vòng tròn ác nghiệt


        Cho dù bạn đã xem phim, vẫn còn vô số những bất ngờ khiếp đảm dành cho bạn. Có thể tóc bạn sẽ dựng ngược lên, nhưng bạn không thể bỏ sách xuống. "Ring" được viết như bài sonnet, hàm chứa bất an sâu xa…

        Tên tác phẩm: Ring - vòng tròn ác nghiệt
        Tên tác giả: Suzuki Koji
        Dịch giả: Lương Việt Dzũng
        NXB Văn học

        Khi đến với Ring, độc giả sẽ cảm thấy nỗi sợ lạ lùng bủa vây xung quanh một cách từ từ và lặng lẽ. Không máu me, chém giết đầy thương tích - bốn án mạng xảy ra lúc ban đầu chỉ khiến người ta đôi chút rùng mình khi chứng kiến vẻ kinh hoàng trên nét mặt nạn nhân. Cảnh sát không vào cuộc, thậm chí gia đình người bị nạn cũng không nghi ngờ. Cho đến khi Asakawa Kazuyki, một nhà báo đang hăm hở tìm kiếm sự nổi tiếng xắn tay vào điều tra.
        Bản thân Asakawa là một người thần hồn nát thần tính. Có thể nhắm mắt và hình dung về anh phóng viên trẻ này như bất kỳ người bình thường nào khác, hám danh vọng, không bản lĩnh, đặc biệt yêu gia đình và cô con gái bé bỏng của mình. Thế nên những câu chuyện mà sau này Asakawa tham dự càng khoác thêm nỗi sợ lạ lùng. Khi anh cầm cuốn băng không nhãn mở ra xem, Asakawa không ý thức rằng từ giờ đó, phút đó, ngày đó - tính mạng anh bị treo lơ lửng như một cái án không tên. Và nhất là khi cả vợ và con gái vì tò mò mà trót xem nó nữa. Asakawa dường như tê liệt trong nỗi hoảng hồn khi nhìn thấy hạn chót của Thần Chết cứ lừng lững tiến lại gần với lời hẹn một tuần, sau khi xem cuộn băng.
        Trang bìa cuốn sách.
        Kể từ lúc độc giả lật giở những trang sách đầu tiên và khi gập lại trang cuối cùng, dù nỗi sợ hãi dần sẽ nguôi ngoai - nhưng sẽ rất nhiều người bị ám ảnh về người con gái có năng lực phi thường ấy. Có lẽ vì Sadako đẹp quá, vẻ đẹp quá hoàn hảo khiến gã bác sĩ Nagao ngày ấy đã không nén nổi lòng trước bộ ngực trắng căng tròn. Có lẽ vì Sadako quá đặc biệt trên cõi đời này khi bị phát hiện bị hội chứng tinh hoàn nữ hóa và vĩnh viễn không thể có con. Có lẽ vì Sadako quá bất lực trước cơn chấn động của bà mẹ, do dư luận quá nặng nề bà đã lặng lẽ tìm đến cái chết. Và năng lực kỳ bí của người con gái nhan sắc này đã lưu lại một oan hồn lạnh lùng, trong một cái giếng hoang chật hẹp có nước.
        Có nhiều người tìm đến Ring, vòng tròn ác nghiệt để tận hưởng cảm giác rợn tóc gáy khi cùng Asakawa truy tìm một hồn ma trong quá khứ. Nhưng thực ra trong đó đâu chỉ có nỗi kinh hoàng ngự trị. Thực ra trong cái ác đâu chỉ khoanh vùng sự đen tối của khát vọng trả thù. Trong hồn ma của Sadako chất chứa cái nhìn bi quan về cuộc sống, cả lời phê phán sự thờ ơ của dư luận khi đổ dồn trách nhiệm lên người mẹ của cô, cả khát khao được yêu như một cô gái bình thường, cả khát khao được làm mẹ… Sadako như hiện thân của một con người đơn độc cả về thể xác lẫn tâm hồn. Khi mọi ước muốn đều bất thành thì cái ác đương nhiên xuất hiện.
        Nhà văn Suzuki Koji được coi là một trong số ít gương mặt lớn nhất và tiên phong nhất trong thể loại kinh dị của văn học Nhật hiện đại. Sáng tác tiểu thuyết đầu tay Rakuen vào năm 1990 và giành giải thưởng Japan Fantasy Novel Award, Sau đó, bộ ba tác phẩm Ring (1991), Spiral (1996) và Loop (1998), đã đưa ông lên tới đỉnh cao của thể loại tiểu thuyết kinh dị và khoa học giả tưởng. Bộ ba tác phẩm này được dịch ra hơn 20 thứ tiếng trên thế giới.
        Ở Nhật, người ta coi Ring là đỉnh kim tự tháp của thể loại tiểu thuyết kinh dị và cuốn sách đã tạo nên cơn sốt tiểu thuyết kinh dị ở xứ Phù Tang. Tác phẩm này được những người làm phim trong nước chuyển thể thành phim truyền hình năm 1995 và phim truyện năm 1998, sau đó được hãng Dreamworks SKG của Mỹ dựng lại vào năm 2002.
        My Linh
        Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

        Comment


        • #5
          [COLOR=blue]'Đại gia Gatsby'
          "The Great Gatsby"

          - cuốn tiểu thuyết của nhà văn Mỹ lừng danh Francis Scott Key Fitzgerald (1896-1940) - vừa được ấn hành tại Việt Nam qua bản dịch của Trịnh Lữ với tên gọi "Đại gia Gatsby".

          Là bức chân dung của "Thời đại Jazz", Đại gia Gatsby nắm bắt sâu sắc tinh thần của thế hệ cùng thời ông: những nỗi ám ảnh thường trực về sự thành đạt, tiền bạc, sang trọng, dư dật, hào nhoáng; song đồng thời là nỗi lo âu trước thói sùng bái vật chất vô hạn độ và sự thiếu vắng đạo đức đang ngày một lên ngôi ở thời kỳ này. Phất lên nhanh chóng từ chỗ hàn vi, Gastby, nhân vật chính của câu chuyện, những tưởng sẽ có được tất cả - tiền bạc, quyền lực, và sau rốt là tình yêu - nhưng rồi cái ảo tưởng tình yêu đó tan vỡ thật đau đớn, theo sau là cái chết tức tưởi của Gatsby để rồi lập tức rơi vào sự quên lãng tức thì của người đời.
          Tác phẩm là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ và sâu xa trước cái gọi là "Giấc mơ Mỹ", trước ảo tưởng về khả năng mang lại hạnh phúc của một thứ xã hội tôn sùng vật chất mà coi nhẹ tinh thần.


          Trang bìa cuốn sách.

          Đại gia Gatsby (The Great Gatsby) được coi là kiệt tác, từ lâu đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông và đại học tại Mỹ cũng như nhiều nước trên thế giới. Cuốn tiểu thuyết "khác thường, tuyệt đẹp, cấu trúc phức tạp song trên hết là giản dị" (như lời chính nhà văn) từng được xếp thứ hai trong danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất thế kỷ 20 của Modern Library. Tạp chí Time thì đưa cuốn sách này vào danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất bằng tiếng Anh từ 1923 đến 2005.




          *****************************

          ConMotSach.com

          con mọt sách “chấm com” - cõi đi về của dân mê sách


          Gatsby Vĩ Đại (The Great Gatsby) - F. Scott Fitzgerald

          Người gửi: Trần Anh Khôi

          [COLOR=#000000]

          Khi Internet chưa phổ biến như hiện nay, việc chọn đọc cuốn sách gì chủ yếu là “truyền miệng” hoặc tin hay không vào lời giới thiệu đầu mỗi cuốn nếu có. Trong bối cảnh đó, tôi may mắn đã được một người bạn cho mượn cuốn Gatsby Vĩ Đại mà sau này tôi mới biết đó là tác phẩm kinh điển, được nhiều người say mê (trong đó có Bill Gates - một bộ óc lớn của thế kỷ này).
          Bản thân tôi chưa từng biết nhiều về “thời đại jazz” - mà nhà văn Scott Fitzgerald mô tả trong tác phẩm của ông - trước khi đọc Gatsby Vĩ Đại. Câu chuyện được kể qua giọng của một nhân vật trong truyện, Nick Carraway, một thanh niên từ nơi khác đến New York và thành hàng xóm của người giàu có và bí hiểm tên Jay Gatsby. Từ đó, những nhân vật khác được giới thiệu, những tình tiết được mở ra, phác họa một bức tranh về xã hội lúc bấy giờ (theo tôi cũng không rõ ràng lắm) và nhất là chân dung của một thế hệ cô đơn, lạc loài và bế tắc.
          Gatsby với tình yêu tuyệt vọng dành cho Daisy Fay Buchanan, với ý nghĩa mờ mịt của lý tưởng, đã tạo nên một cuộc sống ồn ào mà đơn côi. Nhân vật này chính là đại diện cho lớp thanh niên mất phương hướng trong một giai đoạn lịch sử như thế. Dù vậy, tình yêu luôn có chỗ đứng trong mọi hoàn cảnh. Có thể là hạnh phúc, cũng có thể là bất hạnh - nhưng tình yêu không dễ trôi qua mà không để lại vết tích của nó.
          Bản dịch tôi đọc đã lâu (lại là sách mượn) nên không nhớ tên dịch giả (có lẻ là Hoàng Cường - theo kết quả tìm của Google), chỉ tiếc là cuốn đó dùng kiểu phiên âm tên nước ngoài mà tôi vốn không ưa. Gần đây, tôi thấy có hai bản dịch khác nhau trên giá sách, trong đó có cuốn lấy tựa là “Đại Gia Gatsby” (gây ra một cuộc tranh luận trên Internet).
          Có thể viết nhiều hơn về tác giả cũng như kiệt tác The Great Gatsby, nhưng tôi vẫn cho rằng, một khi cuốn sách luôn có mặt trong những cuộc bình chọn tiểu thuyết hay nhất, hẳn phải có nhiều lý do. Và như vậy, việc tìm ra những lý do đó thuộc về người đọc.

          Tải bản tiếng Việt (prc) tại: [url="http://conmotsach.com/books/gatsby_vi_dai.prc"][COLOR=#c97e00]404 Not Found
          Xem bản tiếng Anh online tại: [url="http://conmotsach.com/books/The_Great_Gatsby/The_Great_Gatsby.html"]404 Not Found
          hoặc bản txt tại [url="http://conmotsach.com/books//the_great_gatsby.txt"]404 Not Found


          Last edited by GRANDET; 05-07-2009, 08:09 AM.
          Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

          Comment


          • #6
            Pháo đài số- cuộc truy sát nhân tính của công nghệ cao?

            (Quang Minh, VietnamNet)



            Pháo đài số là tác phẩm đầu tay của Dan Brown và nó đã chinh phục được độc giả của trên 40 nước bởi một lẽ giản dị: nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn mang tính giải trí cao.

            Cái tài của Dan Brown trong Pháo đài số là thông qua những tình huống phức tạp, tốc độ tư duy nhanh giống như phim hành động Mỹ, ông đã cố gắng tiếp cận những vấn đề tự do cá nhân của thời đại số hoá: Con người sẽ ra sao nếu tất cả mọi hành vi sống đều bị kiểm soát? Tương lai của nhân loại sẽ rất ảm đạm và nhanh chóng đi đến kết cục huỷ diệt nếu không còn gì được coi là riêng tư, bí ẩn nữa.

            Về thực chất, quan điểm nhân học này không có gì mới. Trong các tác phẩm bi kịch Hy Lạp cổ đại người ta đã nêu vấn đề thuộc phạm trù đạo đức: Nhân danh lợi ích quốc gia để hy sinh mạng sống cá nhân, tiêu diệt nhân tính cá thể có được coi là hợp lẽ không? Ngay từ thời cổ đại, câu trả lời đã là "không", mặc dù nó không thuyết phục được đám đông cũng như những nhà lập pháp.

            Dan Brown sử dụng thành thạo hệ ngôn ngữ biểu tượng trong hầu hết các tác phẩm của ông. Những biểu tượng có hấp lực lôi cuốn độc giả bởi tính không rõ ràng và đầy bí ẩn. Chính những biểu tượng đã tạo nên không khí nhuốm màu thần bí trong một thế giới công nghệ cao đang tràn khắp thế giới.

            Giống như Mật mã Dan Vinci, Pháo đài số được mở đầu bằng cái chết của Ensei Tankado, một trí tuệ siêu phàm trong lĩnh vực lập trình và giải mã. Ensei Tankado đã phát thệ trung thành với nền kỹ thuật số nhưng ảo tưởng về một tương lai tốt đẹp của thế giới kỹ trị đã tan theo mây khói khi anh ta phát hiện ra tất cả các bộ não ưu tú đều bị NSA lợi dụng để nhằm kiểm soát chặt email của tất cả mọi người:

            " Bộ phận do thám toàn cầu của NSA - nơi tập trung một con số không thể tưởng tượng nỏi các trạm thu thập thông tin về đối tượng, các vệ tinh, các điệp viên và các điểm nghe lén điện thoại có mặt khắp nơi trên thế giới. Hàng ngày có hàng nghìn tài liệu chính thức của các cơ quan và các cuộc đàm thoại bị thu trộm. Toàn bộ chúng được chuyển tới các các chuyên gia NSA giải mã. FBI, CIA và cả các cố vấn chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đều dựa rất nhiều vào hoạt động tình báo của NSA để đưa ra quyết định của mình." Điều này được "sếp" của anh ta, ngài Strathmore giải thích giống như bạo chúa thời cổ đại: " dân chúng cần một ai đó đứng ra bảo vệ họ; dân chúng NSA bẻ khoá mật mã nhằm duy trì hoà bình...".

            Mạch truyện xoay quanh số phận bấp bênh của hai nhân vật chính: Susan Fletcher, chuyên gia giải mã số 1 và David Becker, giảng viên đại học. Sống và tin theo nguyên lý Bergofsky: không có mã khoá nào không giải được, Susan Fletcher đã không thể giải mã được chính bản thân mình và những người xung quanh giống như cố máy giải mã tối tân nhất không thể giải mã được Pháo đài số. Bằng trí tuệ cá nhân, Tankado đã tạo ra Pháo đài số, một bí ẩn mà cỗ máy giải mã hiện đại nhất cũng không thể bẻ khoá được cũng tựa như lời tuyên bố, con người là một bí ẩn không thể giãi mã và không nên giải mã để chi phối nó nhân danh quyền lợi quốc gia, dân tộc.

            Chìa khoá Pháo đài số bị thất lạc do cái chết của Ensei Tankado, nguy cơ không kiểm soát được hành vi cá nhân trong xã hội đe doạ sự tồn vong của những kẻ nắm quyền lực cao nhất trong xã hội. Cả một bộ máy khổng lồ NSA vào cuộc nhằm truy tìm chiếc nhẫn khắc mã khoá Pháo đài số và rất nhiều con người vô tội, vô hại đã bị giết chết: những cuộc truy đuổi đầy bất ngờ, những cái chết phi lý rải dọc con đường truy tìm mật mã trên khắp thế giới rất giống phim hành động Mỹ!

            Trong các lời khen ngợi Pháo đài số, MacDonnell Ulsch, Giám đốc điều hành Viện An Ninh Quốc gia Hoa Kỳ có lý hơn cả: “Còn nhiều bí mật tình báo hơn cả Tom Clancy... Pháo đài số gần với thực tế hơn bất cứ sự tưởng tượng nào của chúng ta”.


            **********************



            Tiểu thuyết Mật mã Da Vinci kể về một vụ giết người bí ẩn. Người quản lý của Bảo tàng Louvre bị sát hại trong đêm khuya trong một phòng tranh gần nơi trưng bày những kiệt tác thời Phục hưng. Một cú điện thoại lập tức báo tin này đến Robert Langdon đang có chuyến công tác ở Paris. Bên xác chết của người quản lý, cảnh sát tìm được một bản mật mã bị giấy khóa mã và Langdon được mời đến giải mã.
            Song, lý do thực sự là bởi ông ta bị nghi là thủ phạm sát nhân. Viên quản lý trước khi chết đã kịp ghi một dòng lời dặn khó hiểu, trong đó có tên Robert Langdon. Nhưng cô cháu gái của viên quản lý, cô Sophie Neveu là một chuyên gia người Pháp về giải mã đã phát hiện ra ý nghĩa thực của lời dặn này mà viên thanh tra xóa đi trước khi mời Langdon đến hiện trường. Sophie bí mật báo cho Langdon biết, rồi hai người hợp sức trong cuộc truy tìm mật mã bí ẩn đồng thời tìm kẻ chủ mưu giấu mặt của vụ giết người. Sophie biết người ông quá cố của cô - viên quản lý của Bảo tàng Louvre là một hội viên bí mật của Hội Thầy Cả Do Thái. Hội này có những thành viên cực kỳ nổi tiếng như Sir Isaac Newton - nhà vật lý vĩ đại, danh họa Italy Botticell, danh họa Leonardo da Vinci, văn hào Pháp Victor Hugo...
            Bản thân sự tồn tại và hoạt động của Hội này đã đầy bí ẩn và được xem như một trong những tác nhân của lịch sử Tây phương. Viên quản lý Bảo tàng Louvre đã cống hiến cả đời mình để bảo vệ một trong những sự thật bí mật nhất mà Hội Thầy Cả Do Thái nắm giữ: đó là nơi tàng trữ một thánh tích tối quan trọng của lịch sử Thiên Chúa giáo, đã bị che giấu suốt hàng thế kỷ qua. Nếu Sophie và Langdon không giải mã cái câu đối bí hiểm rối rắm mà viên quản lý để lại, mà phải giải kịp thời đúng lúc, thì điều bí mật kia sẽ vĩnh viễn mất đi. Đó là bí mật về chiếc Chén Thánh - nếu được công bố tất yếu sẽ làm đảo lộn tòa nhà văn minh phương Tây gắn với truyền thống Kitô.

            Mật mã Da Vinci tuyên bố rằng nó đưa vào câu chuyện hư cấu này những sự thực lịch sử, những mô tả chính xác về những kiệt tác nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử nghệ thuật phương Tây: thân thế của danh họa Italy thời Phục Hưng Leonardo da Vinci, nhân vật huyền thoại trong Kinh Thánh tân Ước - bà thánh Mary Magdalene, các tổ chức nổi tiếng như Opus Dei (tức tu hội Công trình của Thiên Chúa), Priory of Sion (tức Hội Thầy Cả Do Thái), Knights Templat (tổ chức Hiệp sĩ Đền Thờ), các kiệt tác hội họa bức La Gioconda (hay Mona Lisa), bức Bữa tiệc ly (The Last Supper), bức Đức Trinh nữ bên Tảng đá (The Virgin of the Rocks)... đều là tác phẩm của Leonardo.

            Sức lôi cuốn của câu chuyện và cuốn tiểu thuyết này, ngoài cốt truyện trinh thám ly kỳ hồi hộp được thêu dệt một cách siêu hạng, bất ngờ cho đến trang cuối cùng, chính là nằm ở những nghi vấn lịch sử - tôn giáo - chính trị mà cuốn sách khơi lên. Đó là bản chất thực của Chén Thánh, tương truyền là cái chén đã hứng những giọt máu của Jesu Kitô khi Ngài bị đóng đinh trên thập giá ở Núi Sọ, bên ngoài thành cổ Jerusalem vào ngày Thứ Sáu, Tuần Thánh năm 33 sau CN.

            Bí mật này thuộc về một giai thoại đụng tới phần cốt lõi của truyền thống Thiên Chúa giáo: đó là truyền thuyết kể rằng Jesu Kitô đã lấy Mary Magdalene và đã để lại dòng dõi trước khi về Trời. Và, kinh động hơn, các bậc quyền thế của giáo hội, sau đó đã hủy diệt dòng dõi này. Như vậy, Chén Thánh đích thực là thánh nữ Mary Magdalene và dòng dõi của Chúa Cứu thế (nghĩa của chữ Kitô) có lẽ vẫn còn tồn tại khiếm diện trong cõi trần gian

            ******************************************

            Vài phân tích nội dung cuốn Mật mã Da Vinci

            Minh Bùi
            Tổng hợp

            Trong bốn năm qua, cuốn tiểu thuyết “The Da Vinci Code” (Mật mã của Da Vinci) của Dan Brown được coi là thuộc loại “best seller” trên thế giới và đã gây ra rất nhiều tranh luận. Tác phẩm này đã chứa đựng những gì mà gây nhiều phản ứng như vậy?

            Ý tưởng ban đầu




            Dan Brown cho biết ý tưởng viết một cuốn sách về Leonardo Da Vinci đã chớm nở trong ông khi ông đang theo học ngành lịch sử nghệ thuật tại đại học của thành phố Seville, Tây Ban Nha.
            Tại đây ông được học về những bí ẩn trong những hoạ phẩm của các đại danh họa. Một hôm, khi quan sát kiệt tác “The Last Supper” (Bữa tiệc cuối cùng hay Bữa tiệc ly) của danh họa Leonardo da Vinci vẽ năm 1498, mô tả cảnh Chúa Jesus đang ngồi dự tiệc với 12 môn đệ trong đêm trước ngày Ngài đi chịu tử nạn. Dan Brown phân tích nhiều bí ẩn trong bức ảnh này, nhất là hình ảnh của John, một môn đệ trẻ đẹp ngồi cạnh Chúa Jesus. Ông cho rằng hình ảnh người trẻ đó nhất định không phải là một người đàn ông, mà là một người đàn bà, và ông nghĩ rằng đó là bà Mary Magdalene trong thánh kinh. Từ ý nghĩ đó, ông quyết định viết một cuốn tiểu thuyết có nhan đề là “The Da Vinci Code”, tức Mật mã của Da Vinci, dựa trên sự khám phá đó!



            “Bữa tiệc cuối cùng” (The Last Supper) của Chúa Jesus và 12 môn đệ được nói đến trong Phúc âm Thánh John, chương 13, khái lược như sau:



            Trước lễ Vượt Qua, Chúa Jesus biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian về với Đức Chúa Cha, nên trong một bữa ăn tối với 12 môn đệ, Người đứng dậy, lấy khăn thắt lưng và bưng chậu nước đi rửa chân cho từng môn đệ để dạy họ về tinh thần phục vụ và biết thương yêu nhau, sau đó Ngài nói những lời nhắn nhủ rất quan trọng và rất cảm động. Người cũng báo trước “có một người trong anh em sẽ nộp Thầy” để ám chỉ Judas Iscariost. Mọi người đều xao xuyến. Trong số các môn đệ, có một người được Chúa Jesus thương mến (đó là John, người trẻ nhất), đang ngồi ăn đầu tựa vào lòng Chúa, nên Simon Peter liền ra dấu cho John hỏi Thầy muốn nói về ai. Chúa Jesus liền trả lời: “Thầy chấm bánh đưa cho ai thì chính là kẻ ấy.”

            Trong tranh, khi nhìn hình John ngồi bên phải Chúa Jesus, được Simon Peter lấy tay kéo nằm ngửa người ra để nói nhỏ nhờ hỏi Chúa Jesus ai là kẻ phản bội, chúng ta thấy John giống một người đàn bà đang lả lơi hơn là một người đàn ông, đúng theo Dan Brown đã nghĩ.

            Phúc âm của Thánh Luke là cuốn phúc âm nói về hình ảnh nhân vật Mary Magdalene rõ nhất như sau:
            Đoạn 7: Đoạn này dài, xin tóm lược như sau: Khi Chúa Jesus đang ăn cơm ở nhà một người Pharisees, bỗng có một người phụ nữ ở trong thành là người tội lỗi (sinner), đến đứng đàng sau Chúa mà khóc, nước mắt rớt ướt chân Người. Cô ấy lấy tóc mà lau, rồi lấy dầu thơm mà xức. Một người Pharisees tên là Simon nghĩ bụng: Nếu ông này là ngôn sứ chắc phải biết người đang đụng đến mình là thứ nào: một người tội lỗi! Chúa Jesus liền nói với người Pharisees đó: Tôi vào nhà ông, nước lã ông cũng không đổ lên chân tôi, còn cô ấy lấy nước mắt tưới lên chân tôi. Dầu ô-liu ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn cô ấy lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: “Tội chị ấy rất nhiều, nhưng đã được tha...” Rồi Chúa nói với người phụ nữ: “Tội của cô đã được tha rồi.” Bây giờ những người đồng bàn liền hỏi: “Ông này là ai mà lại tha được tội?” Nhưng Chúa Jesus đã nói với người phụ nữ: “Lòng tin của cô đã cứu cô. Cô hãy đi bình an.” (Luk. 7: 36-50)

            Đoạn 8: “Sau đó Đức Jesus rảo qua các thành phố, làng mạc và rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người có Nhóm 12 và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Mary gọi là Mary Magdalene, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Joanna, vợ ông Chuza quản lý của vua Herod, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp Đức Jesus và các môn đệ.” (Luk. 8: 1-3)


            Mary Magdalene

            Trên đây là hai nguồn cảm hứng mà Dan Brown đã dựa vào đó để xây dựng hư cấu cho cuốn tiểu thuyết The Da Vinci Code.

            Dựa trên những cảm hứng nói trên, Dan Brown muốn viết một câu truyện mô tả Chúa Jesus đã không bị đóng đinh trên thập giá, mà lại cưới bà Mary Magdalene và qua đời một cách bình thường. Chúa Jesus đã quyết định truyền ngôi cho bà. Chúa Giêsu thực sự là một nhân vật hoạt động cho nữ giới bình quyền, nhưng Giáo Hội đã che đậy đi tất cả những điều ấy bằng các thứ dối trá về thần tính của Người.
            Với những ý nghĩ như thế, tác giả đã cố gắng đi tìm các sử liệu có thể giúp xây dựng một kết cấu câu chuyện nghe cho nó có vẻ hợp lý. Dan Brown đã tự nghỉ việc để miệt mài ngồi viết. Vợ ông, bà Blythe Brown, đã giúp ông rất nhiều trong việc tra cứu các tài liệu.

            Dan Brown đã khôn khéo liên kết những nhân vật, những biến cố, những câu chuyện, những tổ chức... riêng rẻ có thật, lại thành tổng thể chặt chẽ, như thật.



            Cốt truyện của tiểu thuyết Mật mã Da Vinci

            Trong một chuyến công tác tại Paris, đang đêm giáo sư Robert Langdon, nhà biểu tượng học Mỹ thuộc đại học Harvard, đã nhận được một cú điện thoại cho biết: người giám đốc già của Viện Bảo Tàng Louvre ở Paris đã bị ám sát ngay trong Viện. Cảnh sát đã tìm thấy bên xác chết của ông có để lại một mảnh giấy không rõ ý nghĩa.
            Trong cuộc điều tra vụ án, giáo sư Langdon đã hết sức bàng hoàng khi khám phá ra những “mật mã” trong các tác phẩm được đại danh họa Leonardo da Vinci che dấu rất khéo léo. Giáo sư Langdon đã hợp tác với một chuyên viên mật mã người Pháp là bà Sophie Neveu. Bà chính là cháu gái của giám đốc Viện bảo tàng vừa bị giết.


            Trong khi điều tra, họ khám phá ra rằng người quản thủ viện bảo tàng đó có dính líu tới một hội kín phát sinh từ Tu Viện Kín Sion (The Priory of Sion) cổ xưa. Theo Dan Brown, khi đến chiếm đóng thánh địa Jerasalem vào năm 1099, một số hiệp sĩ của Tòa Thánh đã khám phá ra một số tài liệu lịch sư quan trọng liên quan sự sống còn của Giáo Hội. Biết được chuyện này, Giáo Hội đã tìm cách tiêu diệt họ. Họ đã phải thành lập một hội kín để bảo toàn các tài liệu này. Trong những tài liệu đó có cả sách Phúc âm của Mary và Phúc âm của Phillip đã được tìm thấy ở thư viện Nag Hammadi và những cuộn giấy tìm được ở Biển Chết (Dead Sea Scrolls). Dan Brown cho rằng đây là những sách Phúc âm mà lúc tiên khởi đã bị Toà Thánh Vatican cho là ngụy thư và loại khỏi Thánh Kinh. Qua thời gian, hội kín này đã quy tụ nhiều nhà bác học lừng danh như Leonard da Vinci, Victor Hugo, Isaac Newton, Botticelli... Leonard da Vinci đã mã hóa những bí mật khám phá được vào tác phẩm The Last Supper của mình.
            Giáo sư Langdon và Neveu đã thực hiện những cảnh truy lùng đầy kỳ thú và không biết sợ sệt, từ Paris qua London, để khám phá cho xong sự thật, vì sợ rằng nếu không khám phá được, sự thật lịch sử sẽ bị giấu kín mãi mãi.

            Khi truy lùng sự thật lịch sử, Robert Langdon và Sophie Neveu còn bị một nhóm bí mật bám sát để tìm cách thanh toán, đó là nhóm Opus Dei, một “giáo phái” được Tòa Thánh Vatican công nhận!



            Trong thực tế, Opus Dei (có nghĩa là “Kỳ công của Thiên Chúa”) là một tu hội công giáo được Giám mục Jose Maria Escriva de Balaguer y Albas thành lập tại Tây Ban Nha ngày 2.10.1928 và được Tòa Thánh phê chuẩn vào cuối năm 1950. Mục tiêu của tu hội này là quy tụ những giáo dân công giáo muốn thánh hóa đời sống của họ và dấn thân phục vụ tha nhân giữa dòng đời. Hiện nay tu hội có khoảng 77.000 hội viên và 1500 Linh mục linh hướng. Đây là một tổ chức thực hiện được nhiều công tác rất hữu ích và chẳng bao giờ làm những công việc như thế.
            Trên đường truy lùng, hai người cũng phát hiện ra rằng người ông của Sophie Neveu vừa bị giết là người cuối cùng giữ bí mật về Grail, vốn được coi là bí mật lớn nhất của văn minh Thiên Chúa Giáo. Hội kín nói trên đã thề bảo vệ Grail mãi mãi, mặc dầu Giáo Hội đã bác bỏ “sự thật” về Grail, còn một nhóm trong Vatican tìm cách tiêu diệt bí mật đó.



            Grail là gì? Grail - còn được gọi là Holy Grail - là cái chén thánh. Theo truyền thuyết Trung Cổ, chén này đã được Chúa Jesus dùng trong buổi tiệc cuối cùng (the Last Supper) và được ông Joseph Arimathé dùng để hứng những giọt máu cuối cùng của Chúa Jesus trên Thánh Giá, thường được hiểu là biểu tượng của tinh thần Kitô giáo tinh tuyền đã bị mất đi.

            Nhưng Dan Brown đã lấy ý từ “mật mã” trong tranh “The Last Supper” của đại danh họa Leonardo da Vinci, cho rằng Grail không phải là gì khác mà chính là bí mật về cuộc hôn nhân giữa Chúa Jesus và Nữ Thánh Mary Magdalene.

            Nhìn trang phục của Chúa Jesus và John mà Dan Brown cho là Mary Magdalene, Dan Brown thấy rằng trang phục của Jesus và Mary Magdalene đối xứng nhau về màu sắc: Chúa mặc áo trong màu đỏ, áo choàng màu xanh, còn Mary Magdalene mặc áo trong màu xanh, áo choàng đỏ. Hình dáng hai người ngồi kế nhau tạo thành một chữ M, tượng trưng cho Mary Magdalene. Dan Brown kết luận rằng Chúa Jesus và Mary Magdalene là một cặp vợ chồng.





            Theo Dan Brown, Magdalene đã trốn tránh đến tận xứ Gaule (thuộc Pháp) để bảo vệ huyết thống của Chúa Jesus. Giáo Hội từ khởi thuỷ đã dùng mọi thủ đoạn khám phá ra dòng dõi này để thủ tiêu, nhưng không thành công. Con trai của hai người đã đến Pháp và truyền lại dòng máu “Vương triều” đó cho một số người Châu Âu. Một số Giám mục trong tổ chức Opus Dei, đã tìm cách chiếm đoạt và che giấu những dấu tích của cặp Jesus và Mary Magdalene để lại.



            Với những lập luận này, tác giả cho rằng từ trước đến nay Tòa Thánh Vatican luôn nhấn mạnh đến quyền lực của phái nam và triệt hạ uy tín của phái nữ, phỉ báng Nữ Thánh Mary Magdalene, mặc dầu Chúa Jesus muốn truyền ngôi lại cho bà chứ không phải cho Peter. Tác giả gợi ý rằng đã đến lúc ngôi vị thiêng liêng này phải được trao lại cho nữ giới trong kỷ nguyên của Nữ đang đến.

            Cuốn truyện kết thúc với cảnh Robert Langdon và Sophie Neveu thoát mọi hiểm nguy và yêu nhau. Cô Sophie Neveu được mộ tả như là hậu duệ của Chúa Jesus và Thánh Mary Magdalene.



            Phản ứng đối về nội dung tiểu thuyết
            Tiểu tuyết của Dan Brown rất thành công khi được xuất bản năm 2003, cạnh tranh với cả bộ sách nổi tiếng Harry Potter. Có nhiều nhiều bài phê bình tán thành trong tờ The New York Times, Tạp chí People, và tờ The Washington Post. Nhiều người khen nó là một sách hay và làm cho người đọc phải suy nghĩ. Nó cũng làm nhiều người quan tâm lại về lịch sử Giáo hội Công giáo.

            Chỉ trích và tranh luận



            Mật mã Da Vinci đã gây ra nhiều chỉ trích khi nó được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2003. Phần nhiều chỉ trích việc suy đoán và xuyên tạc của những phần quan trọng nhất của Kitô giáo và lịch sử của Giáo hội Công giáo Rôma, cộng thêm những chỉ trích về các miêu tả sai về mỹ thuật, lịch sử, và kiến trúc Âu Châu. Cuốn sách nói chung nhận phải phản ứng phản đối từ các cộng đồng Công giáo và cộng đồng khác thuộc Kitô giáo, cũng như những nhà lịch sử. Họ cho rằng Brown gắn kết những truyền thuyết và nghi vấn đã có từ rất lâu và xuyên tạc – và trong một số trường hợp, bịa đặt – lịch sử. Có ít nhất 10 sách đã được xuất bản nhắm bác bỏ các luận điệu của ông.

            Hội nghị Giám mục Công giáo Hoa Kỳ mở cửa một website có địa chỉ là เจ้าแห่งวงการกีฬา ข่าวฟุตบอลทุกแง่มุม คาสิโนเกมสนุกๆ để bác các luận điệu chính của tiểu thuyết. Các giám mục đang lo lắng về các lỗi và câu sai quan trọng trong Mật mã Da Vinci.

            Mức độ ảnh hưởng



            Tờ USA Today số ra ngày 25.4.2006 cho biết theo cuộc thăm dò của tạp chí Catholic Digest, có 73% người công giáo nói rằng cuốn The Da Vinci Code không ảnh hưởng gì đến niềm tin của họ và có đến nhà thờ sau khi đọc cuốn sách này. Có 23% đã đọc toàn bộ hay một phần cuốn sách và 63% cho biết họ không đọc cuốn sách hoặc không thích đọc những cuốn sách giả tưởng (fiction) như thế. Và 91% cho rằng việc đọc một cuốn sách như thế chẳng có gì là sai cả.

            Đa số người Mỹ và người Âu châu nói chung, dù theo Thiên Chúa Giáo hay không theo, dù trẻ con hay người lớn, đều có một kiến thức khá cao, phân biệt được một cách dễ dàng đâu là sự thật (facts) và đâu là giả tưởng (fiction), họ lại đã biết nhiều về lịch sử Thiên Chúa Giáo, nên cuốn truyện và phim The Da Vinci Code khó ảnh hưởng đến suy nghĩ của họ. Sở dĩ họ tìm đọc hay xem là vì tính tò mò. Do đó, những nỗ lực giải thích của các giáo hội tại Hoa Kỳ như hiện nay có thể được coi là vừa đủ. Trái lại, cuốn sách và cuốn phim đó, nếu được phổ biến tại các dân tộc có trình độ văn hóa thấp, chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng đến suy nghĩ của người đọc hay xem ngay. Trong trường hợp này, những sự hướng dẫn rất cần thiết.




            (có thể xem tiếp tại :
            [url="http://www.chungta.com/Desktop.aspx/GiaiTri-ThuGian/Truyen-ngandai/Phan_tich_noi_dung_cuon_Mat_ma_Da_Vinci/"][COLOR=black]Error!..... )




            ************************************************



            Thiên thần và ác quỷ
            Dan Brown

            “Hấp dẫn như Umbetto Eco, duyên dáng như Tom Clancy, nhanh như Michael Crichton, và cạnh tranh ngang ngửa với Thomas Harris, cuốn sách mang lại cho Dan Brown vị trí xứng đáng trong số những nhà văn trinh thám hàng đầu”, nhà phê bình Pháp Joe Mauceri nhận xét.

            Tên sách: Thiên thần và Ác quỷ
            Tác giả: Dan Brown
            NXB Văn hóa Thông tin

            Người ta biết nhiều tới những gì mà Giáo hội từng làm với các nhà khoa học như Bruno, Galileo, Copecnic. Nhưng không ai biết, dưới sự áp bức của Giáo hội, các nhà khoa học cũng có một hội kín của mình. Để rồi, thế kỷ 21, hội kín ấy bất ngờ lộ diện trong dáng hình quỷ dữ...

            Thiên thần và Ác quỷ của Dan Brown bắt đầu như vậy. Một nhà khoa học tên tuổi bị sát hại dã man, Robert Langdon, giáo sư Đại học Harvard, đã được mời đến hiện trường để xác nhận biểu tượng đầy bí hiểm mà hung thủ đã khắc lên ngực của nạn nhân. Kết luận: Thủ phạm là Illuminati, một hội kín vốn đã ngừng hoạt động từ gần bốn trăm năm nay, giờ tái sinh để tiếp tục báo thù nhà thờ Thiên Chúa giáo, kẻ thù truyền kiếp của họ.



            Trang bìa cuốn sách.
            Tại Rome, Hồng y đoàn được triệu tập để bầu ra tân Giáo hoàng. Thế nhưng đâu đó giữa những bức tường của toà thánh Vatican, một quả bom hẹn giờ đang đếm những giây phút cuối cùng trước khi phô diễn sức mạnh huỷ diệt kinh thiên động địa của nó. Trong thời khắc căng thẳng tột độ đó, cùng với Vittoria Vetra - một nhà khoa học nữ người Italy vô cùng quyến rũ và bí hiểm, Langdon tìm cách giải mã những ký hiệu cổ đầy bí ẩn trải khắp thành Rome để tìm ra đại bản doanh của hội Illuminati - địa điểm gặp gỡ bí mật của họ, giờ là hy vọng duy nhất để giải cứu cho Thành phố Vatican.

            Rồi, từ bóng tối, thủ lĩnh của Illuminati chậm chờn ẩn hiện. Bốn Hồng y giáo chủ Illuminati tuyên bố mỗi giờ đồng hồ sẽ hành hình một Hồng y tại những địa điểm bí mật. Và tới giờ thứ năm, thứ vũ khí kinh khủng bị đánh cắp sẽ nổ tung dưới nền móng của Vatican.

            Bốn lần, Langdon đều đã tìm ra những địa điểm bí mật dựa trên việc giải mã ký hiệu riêng từ các tác phẩm nghệ thuật. Nhưng cũng bốn lần, anh đều đến chậm hơn Illuminati chỉ một bước chân. Bởi, cục diện cho thấy Illuminati đã cài được nội gián vào những cấp cao nhất của tòa thánh. Định mệnh đang đến gần, khi chỉ còn ít phút nữa là thứ vũ khí bí mật sẽ phát nổ. Cả thế giới nghẹt thở nhìn về Vatican - khi mà Illuminati đã khéo léo mớm thông tin cho các hãng truyền thông nhập cuộc.
            Nhưng càng tiến đến gần sự thật, Langdon và Vittoria càng phải đối mặt với những biến cố bất ngờ và kịch tính, để rồi phải quay cuồng trong vòng kiềm toả của một thế lực thù địch vô cùng hiểm ác...

            Tài tình trong xây dựng cốt truyện, đặc biệt sắc sảo trong phân tích tâm lý, Dan Brown còn thu hút người đọc bởi hàng loạt kiến thức uyên bác về tôn giáo, nghệ thuật và cả những lĩnh vực khoa học công nghệ cao… Hồi hộp, háo hức, căng thẳng và khiếp sợ, độc giả sẽ được dẫn dắt vào một mê cung của những tâm trạng khác nhau theo từng trang tiểu thuyết.
            Last edited by GRANDET; 30-06-2009, 02:13 AM.
            Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

            Comment


            • #7
              Tự thú của một tín đồ shopping
              Sophie Kinsella

              Đào sâu một thói quen khó bỏ của phụ nữ để thấy yêu họ hơn. Khám phá một thói quen tưởng như xấu để thấy nó không hoàn toàn là chuyện vô bổ.

              Tên sách: Tự thú của một tín đồ shopping
              Tên tác giả: Sophie Kinsella
              Dịch giả: Nguyễn Quỳnh Trang
              NXB Hội nhà văn tháng 9/2008

              Đó là một cô gái hai mươi lăm tuổi rất đặc biệt. Rebecca đã tốt nghiệp đại học, đang là phóng viên tài chính của tờ Successful Saving. Cô từng hẹn hò với James, một chàng trai dễ thương. Nhưng do cô cư xử có phần hơi quá đà trong một tình thế nhạy cảm khiến anh chàng lẳng lặng rời xa. Một chút bối rối, nhưng hình như chẳng có thứ gì khiến Rebecca phiền muộn cả. Cô ấy có một tủ đầy ắp những bộ quần áo yêu thích, có nhiều đôi bốt thời trang và vô thiên lủng những thứ đồ lặt vặt mua trước cho… nửa năm sau.


              Trẻ trung, hiện đại và rất nữ tính - đó là những gì bạn đọc cảm nhận về nữ phóng viên này. Cô ấy có những người bạn để thủ thỉ bên tai trong các cuộc họp báo tẻ ngắt, có người bạn gái cùng nhà hợp tính, luôn có hai hệ thống giá cả khi khai báo với mẹ. Và tất nhiên, chẳng thể nào bỏ qua cái thói quen rất đáng yêu của cô ấy là mua sắm.
              Đâu thể vội vàng quy kết mua sắm là một tật xấu, nếu không độc giả đã cố tình phớt lờ vô số niềm vui trong đôi mắt lấp lánh của Rebecca. Chỉ đơn giản là cô ấy thấy chúng “thật đáng thèm muốn”, “cực kỳ cần thiết”, “thực sự tuyệt vời”, “ai cũng phải ngưỡng mộ”, “đáng giá từng xu”, “thứ đẹp nhất mà tôi từng thấy”… Riêng khoản này, người phụ nữ nào chẳng tìm thấy ít nhiều điểm chung với cô ấy. Hơn thế nữa, Rebecca chẳng phải loại người vô trách nhiệm, cô luôn cân nhắc trong mọi tình huống, luôn thấp thoáng trong đầu khoản nợ mấy nghìn bảng kia đang đe dọa cô. Chỉ có điều, mỗi khi tập cắt giảm chi tiêu thất bại, hoặc kế hoạch kiếm thêm tiền bất thành, cô ấy chỉ có mỗi cách an ủi duy nhất là mua thêm cho mình một thứ gì đó. Và, hãy tưởng tượng bạn sẽ như thế nào nếu hàng ngày phải nghĩ ra đủ các lý do oái oăm như gãy chân, viêm bạch cầu, bà cô chết… để trốn tránh trước hàng lô lá thư đòi nợ khẩn cấp từ ngân hàng, trong khi mình vẫn không cưỡng nổi trước cám dỗ được mua sắm?
              Cứ thế, độc giả dần dà có chút cảm tình với cô gái hậu đậu, kém may mắn, thất tình và đang lâm cảnh nợ nần chồng chất. Cả cái cách mà cô ấy tự tháo gỡ mới thật vụng về và lạc quan làm sao. Chúng khiến cho cảm giác thương mến át đi cái cau mày trách móc. Chỉ đơn giản, cô ấy có cách bào chữa hợp lý cho tất cả vướng mắc đang lướt qua mình, nhất là khi thói quen mua sắm đã trở thành phần quan trọng trong… kỹ năng sống. Từ một điểm yếu, nó không những được xoay chiều mà còn trở thành khiếu thẩm mỹ.
              Cứng đầu, thực dụng và hay lý sự (đôi lúc hơi…cùn), Rebecca xem ra chẳng có duyên lắm với cánh đàn ông và cô đâu dư dả thời gian để thở dài than thân sướt mướt. Cho dù bị bỏ rơi bởi James, một anh chàng quá bảo thủ hay bị gã nhà giàu Luke Branda chơi cho một vố đắng lòng trong một dịp đi mua sắm… chẳng gì có thể đọng lại lâu trong cô ấy. Kể cả khi tài chính của mình gặp cơn khủng hoảng be bét và bản thân có nguy cơ dính líu tới pháp luật, Rebecca vẫn là chính mình khi từ chối một tấm séc năm nghìn bảng của Tarquin, một kẻ si tình giàu có. Liệu cô gái cứng đầu và nhiều mơ mộng này có chạm tới một tình yêu đích thực trong đời không? Và bạn nghĩ thế nào về một câu chuyện tình sẽ bắt đầu từ những cuộc gặp gỡ đầy khó chịu?
              Với giọng văn giãi bày tưng tửng, như thể độc giả được “nhòm” vào dòng tâm sự của cô nàng Rebecca Bloomwood, nhân vật nữ phóng viên được xây dựng hết sức bình dân, gần gũi và thân thiện, như chân dung một người trẻ hiện đại cùng những âu lo, đã tự mình tìm cách bứt khỏi mọi rắc rối. Điều này khiến Tự thú của một tín đồ shopping tăng thêm độ thuyết phục tới độc giả với góc nhìn hiện đại và rất… phụ nữ. Những lời lẽ lý giải hơi dài dòng của người kể chuyện được biến hóa thành chất liệu hài hước, sinh động - tạo nên sức hút riêng cho cuốn sách của Sophie Kinsella.
              Nữ nhà văn người Anh này tên thật là Madeleine Wickham, sinh ra tại London. Một điểm khá thú vị, trong những nghề đã trải qua, Sophie Kinsella từng là một phóng viên tài chính như Rebecca Bloonwood. Cô từng viết khá nhiều tiểu thuyết dưới tên thật của mình, tuy nhiên, phải đến khi loạt truyện về “Tín đồ Shopping” được xuất bản, tên tuổi của Sophie Kinsella mới lọt vào danh sách các tác giả có sách bán chạy hàng đầu thế giới. Series này gồm các cuốn: Tự thú của một tín đồ shopping (2000), Tín đồ shopping oanh tạc Manhattan (2001), Shopaholic Ties the Knot (2002), Tín đồ Shopping và chị gái (2004) và Shopaholic and Baby (2007). Bộ phim đầu tiên dựa trên series “Tín đồ shopping” dự kiến sẽ ra mắt vào năm 2009. Hiện Sophie Kinsella sống tại London cùng chồng và ba con.

              Mi Li

              *******************************

              Tín đồ shopping oanh tạc Manhattan
              Sophie Kinsella

              Cuốn sách đem lại mọi cảm xúc cho người đọc; những đối thoại đầy bất ngờ, nhịp điệu vui vẻ, nhưng cũng đủ buồn để gợi nên sự cảm thông.

              Tên sách: Tín đồ shopping oanh tạc Manhattan
              Tác giả: Sophie Kinsella
              Dịch giả: Lưu Thùy Hương
              NXB Hội nhà văn tháng 12/2008

              Rebecca Bloomwood trở lại cùng những khó khăn trong tiền bạc. Chia tay với vụ rắc rối lớn mới có vài tháng, cô nàng có vẻ hoàn toàn bẵng quên chuyện cũ. Cho dù Suze, cô bạn thân cùng phòng ra sức quản lý việc chi tiêu, lại có thêm anh chàng Luke, chủ tập đoàn Brandon Communications thỉnh thoảng không quên nhắc nhở - Rebecca đời nào chịu rũ bỏ hoàn toàn niềm yêu thích đặc biệt của mình. Và còn hơn cả thế, mỗi khi phát hiện một đồ vật gì ít được mua sắm, cô ấy sẽ ra sức bù đắp những “năm tháng thiệt thòi” đó.


              Bìa cuốn sách.

              Một lần nữa, Rebecca lại rơi vào ma trận, với những bộ trang phục để mặc trong… dự định, sáu cái quần đen để phòng khi béo lên, trang phục đi trượt tuyết sẽ sử dụng lỡ có ai mời, cuộn 50 m giấy thiếc để cuộn gà tây cho món gà nướng mà chẳng bao giờ động tới, bộ thiết bị văn phòng không mấy cần thiết, cơ số quần áo mới; thậm chí, cô ấy còn mua cho mình cả mặt nạ đấu kiếm và một thanh kiếm! Rebecca không thể ngừng mua sắm. Rebecca không thể ngồi yên một chỗ, nhất là khi đang ở New York.
              Chi tiết là một điểm nổi bật trong Tín đồ shopping oanh tạc Manhattan. Nữ tác giả Sophie Sinsella đầy năng lượng khi rải khắp nơi hàng núi những chi tiết liên quan tới cô nàng Rebecca cuồng nhiệt này. Nó khiến người đọc có cảm giác thú vị khi lạc vào thế giới của đồ hiệu, của niềm đam mê được mua sắm và thiết kế những linh kiện sẽ đi cùng trong một bộ trang phục. Nhân vật trở nên mới mẻ, sinh động và tràn ngập sức sống từ những chuyển động này: một cô gái hiện đại của thế kỷ 21.

              Tín đồ shopping oanh tạc Manhattan như một ly cốc-tai với vô số gia vị của cảm xúc. Những tâm trạng trái ngược đã làm nên màu sắc riêng cho cuốn tiểu thuyết vui nhộn này. Bản thân Rebecca cũng được xây dựng từ những hình ảnh tưởng như rất trái ngược: một cô gái hay tính toán nhưng thật ngốc nghếch khi lập tức tìm ra ngay lý do để lấp liếm nó; một người thực tế nhưng hết sức tốt bụng và tình cảm, một người càng bị rơi vào nợ nần lại càng ra sức mua sắm không giới hạn; một người ra sức kiếm tiền để trả nợ nhưng chẳng thể tập trung cho cuốn sách có nhan đề “Quản lý tiền của bạn”… Dường như lúc nào cô nàng thời thượng này cũng chênh vênh giữa hai mặt đối lập ấy. Nhưng vào lúc khó khăn nhất, thời điểm Rebecca buộc phải đối đầu với rắc rối, sẽ là lúc “cái tôi” khác cô ấy bật lên. Và chính thời khắc khó xử ấy đã lôi tuột cô gái tới gần hơn với độc giả, trong một góc nhìn gần gũi, cảm thông và đầy chia sẻ.
              Sau cuốn thứ hai của loạt truyện về tín đồ shopping, độc giả Việt Nam sẽ đón đọc cuốn tiếp theo - Tín đồ shopping và chị gái - của Sophie Sinsella trong thời gian tới. Bộ phim đầu tiên dựa trên series này dự kiến ra mắt vào năm 2009.
              Hải Hà

              ***********************


              Tín đồ shopping và chị gái
              Sophie Kinsella

              Niềm yêu thích mua sắm đã trở về trong Becky Bloomwood - lúc này đã trở thành bà Rebecca Brandon.

              Tên sách: Tín đồ shopping và chị gái
              Tác giả: Sophie Kinsella
              Dịch giả: Phong Linh
              NXB Hội nhà văn năm 2009

              Suýt soát gần một năm trời trăng mật đủ cho thói quen bất trị ngày nào đang âm thầm quay lại, bất chấp sự canh chừng cũng như mọi lời cảnh báo của người chồng trẻ. Luôn cảm thấy cần thiết, nhất thiết, thiết tha phải mua cho được món đồ nhìn thấy với hàng tá lý do chẳng có căn cứ… Becky giờ đây đã không còn hãm phanh nổi chính bản thân mình. Tệ hại nhất, cô nàng hoàn toàn giấu nhẹm điều này và lén lút tận hưởng niềm hân hoan ấy một mình. Cho tới khi Luke quyết định hai vợ chồng quay lại đời thường, trở về nước Anh… Cho tới khi có tới hai chiếc xe tải hạng nặng xuất hiện trước nhà cùng một núi đồ chất ngất trong phòng…


              Bìa cuốn sách.

              So với các cuốn tiểu thuyết trước đó - Tự thú của tín đồ shopping, Tín đồ shopping oanh tạc Manhattan - ở tác phẩm thứ ba này, Becky rơi vào nhiều rắc rối hơn bao giờ hết. Không những cô nàng cần phải giải thích với chồng đủ lý do để tha lôi cả thế giới về căn hộ mình, phải lo thu dọn bãi chiến trường khổng lồ khiến ngôi nhà vốn rộng lớn không còn cả lối đi - Becky hụt hẫng khi chứng kiến Suze, cô bạn thân thiết nhất giờ đã có người bạn thân mới thế chỗ mình. Thay vì cố gắng để gây dựng lại mối quan hệ thắm thiết thuở trước, Becky chỉ đổ thêm dầu vào lửa khi gây ra những kết quả tệ hại trong việc chơi cùng những đứa trẻ của Suze. Chưa hết, một người chị gái, là con riêng của bố bỗng dưng ở đâu xuất hiện.

              Đầy những rắc rối nhưng luôn được đan xen bằng những tình huống hài hước, khiến cuốn tiểu thuyết trở nên vui nhộn.
              Những ai từng đọc các cuốn sách về “tín đồ shopping” đều hết sức hào hứng khi lật giở những trang sách mới, để cảm nhận những tình huống trớ trêu, dở khóc dở cười của cô nàng mê mua sắm này. So với các cuốn tiểu thuyết trước, ở tác phẩm thứ ba Becky gây “khó chịu” hơn hẳn. Nếu như trước đó, người ta dễ cảm thông với một cô nàng bốc đồng xa lạ, thì lúc này, khó lòng mà người đọc chấp nhận tính mua bán quá quắt của Becky. Thậm chí, cô đang làm đảo lộn cuộc sống của chính mình mà vẫn ngốc nghếch tự bào chữa bằng những lời an ủi rỗng tuếch, nhằm đánh lạc hướng chính bản thân. Cuốn sách tiếp theo về đề tài tín đồ shopping có nhan đề Tín đồ shopping có baby sẽ được giới thiệu trong thời gian tới. Ngoài ra, bộ phim đầu tiên dựa trên series này dự kiến sẽ ra mắt trong năm 2009.
              Phúc Yên
              Last edited by GRANDET; 28-06-2009, 03:26 AM.
              Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

              Comment


              • #8
                Nhật ký bí mật của Chúa
                Raymond Khoury

                Cuốn tiểu thuyết ly kỳ có nhịp điệu nhanh đến chóng mặt, mỗi trang đều như sẵn sàng một bước ngoặt khiến người đọc phải nín thở, sững sờ…
                Tên sách: Nhật ký bí mật của Chúa
                Tác giả: Raymond Khoury
                Dịch giả: Lê Trọng Nghĩa
                NXB Văn hóa Sài Gòn tháng 12/2008

                Với những độc giả yêu thích truyện trinh thám, cuốn sách này hoàn toàn đáp ứng niềm mong đợi của bạn. 500 trang sách khổ lớn được viết với nhịp điệu nhanh đến chóng mặt, thậm chí, đôi khi chúng khiến bạn muốn ghìm tốc độ lại để nắm rõ hơn những điểm thắt nút trong câu chuyện.
                Mở đầu là một vụ án hình sự với những đầu mối quá lạ lùng, giữa trung tâm thành phố New York. Bốn kỵ sĩ cưỡi ngựa với trang phục thập giá đỏ trên áo choàng trắng đã đột nhập vào Viện Bảo tàng Metropolitan. Năm xác chết, ba cảnh sát, một bảo vệ và một thường dân, trong đó có người bị chặt đầu lìa khỏi cổ. Vụ án gây chấn động không chỉ đối với cảnh sát, FBI, CIA, mà còn ảnh hưởng đến cả những người đứng đầu Vatican. Bởi phía sau vụ án hình sự này liên quan đến một bí mật vô cùng trọng đại, mà mắt xích là cái máy mã hóa trục quay đa hộp số bị lấy cắp.

                Cuộc truy đuổi dấu vết của những tên tội phạm diễn ra đầy căng thẳng với các dự đoán táo bạo, chính xác của cảnh sát kèm theo một thế lực bí mật luôn đi trước một bước, sẵn sàng ra tay lạnh lùng để bịt đầu mối. Nhưng điều khiến độc giả say sưa đắm mình trong những chương sách còn do chiều sâu hiếm gặp đối với một tác phẩm trinh thám đơn thuần. Đó là những nghiên cứu về tôn giáo - lịch sử dưới một câu chuyện cổ kính, bí ẩn về chiếc tráp nhỏ cùng các hiệp sĩ Đền Thánh từ thế kỷ mười ba.

                Trang bìa cuốn sách.

                Cuốn sách chạm đến những vấn đề sâu xa mà hẳn không ít người từng đối thoại với chính bản thân. Sự thật là gì và cần phải làm gì để thay đổi mọi thứ? Vance, một giáo sư đại học đã trở thành Hiệp sĩ thế kỷ 21 đưa ra cách lý giải: “Hàng nghìn năm trước, con người thời bộ lạc sơ khai luôn sợ hãi, họ cần đến tôn giáo để cố hiểu được những bí ẩn của cuộc sống và cái chết, để chấp nhận và đối mặt với sự thất thường của bệnh tật, thời tiết, những vụ mùa bấp bênh và thiên tai… Chúng ta có thể cầm di động lên, nói chuyện với ai đó ở phía bên kia hành tinh. Chúng ta có thể đặt một chiếc xe điều khiển từ xa lên Sao Hỏa. Chúng ta có thể tạo ra sự sống trong ống nghiệm… Chúng ta đã trở thành cái mà con người của thời cách đây vài trăm năm từng xem là Thượng đế”. Chính điểm xuất phát rối loạn do cái chết của vợ cùng cô con gái đã khiến Vance muốn xoay chuyển sức mạnh của tôn giáo. Đó là lý do khiến Vance trở thành một tên cướp của, một kẻ giết người không run tay, một người với quyết tâm sắt đá lần theo bí mật của Chúa để chứng minh huyền thoại về Chúa là không có thực.

                Với những tri thức khoa học mới nhất, Nhật ký bí mật của Chúa hé lật những tấm màn bí mật khi mở ra những ý tưởng mới mẻ về tôn giáo. Không chỉ có Vance mà ngay cả Tess, nhà khảo cổ học cũng ôm mộng khát khao về “một thế giới mà mọi người không bị lừa gạt bởi bất kỳ trò dối trá nào trong lịch sử”. Chính vì thế, không ít lần cô đã bỏ ngoài tai những dặn dò của đặc vụ Reilly, thậm chí còn bỏ rơi anh một thân một mình trong hoàn cảnh nguy hiểm với bộ đồ lặn trên người. Trong cái nhìn phản biện quá khứ ấy, con người ta đứng trước sự lựa chọn, giống nhân vật Tess: nên nhìn giáo hội theo những mặt trái của lịch sử đẫm máu, lòng tham, những giáo điều hủ lậu, tính không khoan dung…. hay nhìn vào những gì giáo hội thực hiện được: tình thương, lòng trắc ẩn và sự độ lượng mà nó khơi gợi nên? Và khi đó, Bí mật của Chúa, một cuốn nhật ký được viết từ một con người, có thật hay bị làm giả có trở thành điều quan trọng?

                Tác phẩm với những vấn đề thời sự nóng bỏng này là tiểu thuyết đầu tay của Raymond Khoury. Khoury là người gốc Libăng, theo gia đình chuyển sang sinh sống tại New York, Mỹ từ năm 1975. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông trở về Libăng sinh sống. Ông từng theo học ngành kiến trúc tại Mỹ. Sau một thời gian làm kiến trúc sư ở đây, ông sang Pháp giành được học bổng MBA của Học viện quản trị Kinh doanh Châu Âu. Sau khi tốt nghiệp, ông sang London và làm trong ngành ngân hàng. Raymond Khoury chính thức đến với nghiệp viết lách từ năm 1996, bằng cách viết kịch bản phim. Cuốn tiểu thuyết đầu tay Nhật ký bí mật của Chúa được hình thành dựa trên kịch bản phim cùng tên. Tác phẩm được phát hành đầu tiên ở Anh năm 2005 rồi nhanh chóng trở thành best-seller trên tờ New York Times suốt 11 tuần liên tiếp.
                Vân Khánh
                Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                Comment


                • #9


                  Tình yêu thời thổ tả

                  Tác giả: Gabriel Garcia Marquez.
                  Nhà xuất bản: Nxb văn học

                  Tình yêu thời thổ tả là một trong 10 cuốn tiểu thuyết hay nhất trong thập kỷ 80 vừa qua (theo đánh giá của báo chí Mỹ) đã đem lại niềm vinh quang mới cho nhà văn được giải Nôbel Văn học năm 1982 người Côlômbia, Gabrien Gacxia Mackêt, tác giả của Trăm năm cô đơn, Ngài đại tá chờ thư, Tướng quân giữa mê hồn trận đã được dịch ra tiếng Việt và nhà xuất bản chúng tôi ấn hành, được đông đảo bạn đọc hâm mộ. Ông là người bạn lớn của chúng ta.

                  Tình yêu thời thổ tả là câu chuyện tình say đắm giữa một người đàn ông (Phlorênhtinô Arixa, con một bà bán hàng vặt) với một người đàn bà (Phecmina Đaxa, con một nhà buôn hãnh tiến, giàu có mới phất nhờ ăn cắp và gian lận). Khi mới lớn lên, họ yêu nhau nồng nàn nhưng không lấy được nhau vì họ quá trẻ, không có kinh nghiệm sống cũng như nghị lực lớn để chiến thắng quan niệm môn đăng hộ đối trong hôn nhân. Hơn năm mươi năm họ sống xa mặt nhưng không cách lòng với bao sóng gió cuộc đời. Phecmina Đaxa nhẫn nhục sống làm vợ - một thứ đồ trang sức và một thứ nàng hầu - của bác sĩ Ucbino Đê la Cadê, một thân hào đầy thế lực của giới thượng lưu. Phlorênhtinô Arixa vì thất tình nên một mặt lao vào làm giàu bằng mọi thủ đoạn, cả tốt lẫn tàn nhẫn, để trở thành chủ hãng tàu thủy như điều ông ta mong ước và mặt khác để thỏa mãn nhục dục ông ta lao vào chơi gái đủ mọi hạng: gái chưa chồng, gái muộn chồng, gái chê chồng và chồng chê, gái nạ dòng và cả gái tơ, nhưng không lúc nào không mơ tới Phecmina Đaxa và chỉ chờ ngày Đê la Cadê chết để nối lại quan hệ với nàng. Dịp ấy đã đến khi cả ông lẫn bà đã ngoài bảy mươi tuổi. Bằng sự từng trải của mình, bằng địa vị xã hội đã đạt được, cả hai nối lại tình yêu và yêu nhau đắm đuối. Nhưng vì quá già nên hai người đã không đủ sức thắng nổi những định kiến, thành kiến của xã hội hủ lậu từng bóp chết mối tình đầu của họ. Và thế là họ trốn lên tàu thủy và chỉ hai người sống với nhau trên chiếc tàu treo lá cờ vàng - dấu hiệu có người bị bệnh thổ tả - chạy ngược rồi chạy xuôi trên dòng sông Măcgơđalêna - dòng sông của Đêmôcrit.

                  Có thể nói Tình yêu thời thổ tả là một lời cáo trạng đanh thép đối với một xã hội hủ lậu dựa trên sự đánh giá con người không bằng phẩm giá người mà bằng số của cải anh ta có được, do đó nó đã bóp chết bao mối tình trong sáng và tươi đẹp. Muốn có tình yêu và hạnh phúc tình yêu, con người nhất thiết phải được giải phóng khỏi xã hội đó. Nhưng tác giả đã không dừng lại ở chỉ một thông điệp này, ông còn đi xa hơn nữa khi nói rằng Tình yêu thời thổ tả là sự suy nghĩ về tình yêu của con người ở mọi lứa tuổi. Con người không chỉ yêu nhau khi đang độ thanh xuân, khi đang ở tuổi tráng niên mà còn yêu nhau khi đã tóc bạc răng long và chính ở tuổi này họ yêu nhau chân thực hơn và vì thế cũng da diết hơn, si mê hơn. Vậy tình yêu là chiếc chìa khóa vàng giúp con người mở tâm hồn mình để hòa đồng với nhau, đi đến với nhau trong cuộc đấu tranh chống nỗi cô đơn muôn thuở. Đồng thời, với nụ cười hóm hỉnh, dường như tác giả cảnh tỉnh những ai đang đùa bỡn với ái tình, đang lợi dụng tình yêu để thỏa mãn nhục dục của mình. Những người đó hãy coi chừng với nỗi cô đơn vì sớm muộn gì thì nó cũng nuốt chửng bọn họ sau khi nhục dục đã được thỏa. Thiết nghĩ đó là lời cảnh tỉnh mang tính thời đại trong đó bên cạnh những thành tựu vẻ vang chưa từng có mà nhân loại hôm nay đã giành được trên phương diện văn minh vật chất thì chính nó đã thụt lùi so với cha ông mình trên phương diện văn minh tinh thần, chí ít là ở hai điểm hiển nhiên: tinh thần lãng mạn và nỗi thảng thốt trong mối tình đầu.


                  >>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>....










                  Có bạn nào từng xem qua No country for old menLove in the time of cholera có nhận ra hai nhân vật nam :tên sát thủ Alan Chigurh và ông lão Phlorênhtinô Arixa chỉ là một Javier Bardem không ?




                  ***********************************



                  Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi
                  Gabriel García Márquez


                  Tên sách: Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (Memories of My Melancholy Whores)
                  Tác giả: Gabriel García Márquez
                  Dịch giả: Lê Xuân Quỳnh
                  NXB Tổng hợp TP HCM kết hợp với công ty First News,
                  .


                  Mọi người biết đến Gabriel García Márquez - nhà văn vĩ đại người Colombia qua những tác phẩm nổi tiếng như: Ngài đại tá chờ thư, Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận, Trăm năm cô đơn (tác phẩm đoạt giải Nobel Văn học năm 1982), và gần đây là tác phẩm Sống để kể lại… Ông không chỉ là một nhà văn nổi tiếng mà còn là một phóng viên chiến trường kỳ cựu với những ký sự nổi tiếng thập niên 70, 80, 90 của thế kỷ trước. Các tác phẩm của ông đều mang đậm bản sắc châu Mỹ Latin, toát lên sự giản dị của tâm hồn hay sự nhạy cảm của nội tâm. Ông như sống với trăn trở của từng nhân vật, từng số phận trong tác phẩm của mình; chính vì vậy bạn đọc luôn đón nhận tác phẩm của ông với sự trân trọng.

                  Với tư duy nghệ thuật độc đáo, Márquez đã thể hiện trong các tác phẩm của mình một tình yêu vừa thơ ngây vừa sâu sắc, mãnh liệt đối với con người, với cuộc đời. Ông từng nói: “Trên thực tế, mỗi nhà văn chỉ viết một cuốn sách. Cuốn sách mà tôi đang viết là cuốn sách về “cái cô đơn”.
                  Quả thực, sau hơn 50 năm cầm bút, Márquez vẫn viết về cái cô đơn trong một câu chuyện khác, tác phẩm Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi.

                  Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi là câu chuyện của một nhà báo già. Sinh ra trong một gia đình trung lưu, ông sớm mồ côi cha mẹ. Trong căn nhà cũ kỹ, ông đã sống một cuộc sống hoàn toàn cô độc, không vợ con, không bạn bè. Ông từng dạy ngữ pháp tiếng La tinh và Tây Ban Nha. Sau đó, ông biên tập tin tức và viết bình luận âm nhạc cho một tờ báo địa phương đến năm 90 tuổi. Và chính trong buổi sáng kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của mình, ông bỗng ao ước có một đêm tình ái nồng say với một thiếu nữ còn trinh nguyên.

                  Cái ý muốn kỳ lạ đó thôi thúc tâm trí ông đến độ ông phải tìm cách liên hệ với một người đàn bà mối lái mà ông quen từ ngày còn trẻ, nhờ bà ta giúp đỡ bất chấp nỗi xấu hổ. Ông đã đến nơi hẹn với một cô bé đang ngủ say. Khi ra về, ông đặt lên trán cô nụ hôn vĩnh biệt và lời cầu Chúa giữ hộ trinh tiết cho cô. Thế nhưng, chính sự cô đơn của tuổi già đã khiến ông nhiều lần nữa đến gặp cô bé. Mỗi lần, ông lại thêm yêu thương cô. Ông đem những bức tranh, những bó hoa, những cuốn sách… bày trong căn phòng để sớm mai, khi thức dậy, cô bé cảm thấy ấm cúng. Ông hát ru cô bé về Delgadina - cô công chúa út được vua cha yêu quý. Ông gọi cô là Delgadina. Ông nhận thấy sự hiện diện vô hình của cô trong căn nhà vắng lặng của mình. Cuộc sống nhàn tẻ, nghèo cực của ông như có một ý nghĩa, đó là niềm yêu thương, lo lắng cho tương lai của cô bé. Lần đầu tiên, ông nhận ra: “Niềm thích thú thực sự khi được ngắm nhìn thân thể người phụ nữ ngủ say mà không bị áp lực của dục vọng hay bối rối vì ngượng ngùng”.

                  Tác phẩm Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi của G.G. Márquez khiến người đọc nhớ đến: Người đẹp say ngủ của nhà văn Kawabata (Nhật Bản). Những ông già - nhân vật trong tác phẩm của hai nhà văn, trong cố gắng tuyệt vọng để tìm lại tuổi trẻ đã tìm thấy một tình cảm khác. Đó là niềm thương xót với thân phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ. Nhân vật của Kawabata khi đến ngủ bên người phụ nữ đã có ý nghĩ: “Đến đấy ngủ giống như ngủ với Đức Phật nấp kín đâu đây vậy”. Trong một cách hành xử khác, một cách diễn đạt khác, nhân vật của G.G. Márquez cũng đạt được tình cảm thanh khiết đó.

                  G.G. Márquez viết về “cái cô đơn” của một con người, một dòng họ, một đất nước chính là để “sáng tạo ra một huyền thoại khác hẳn, một huyền thoại mới, hấp dẫn của cuộc sống, nơi không ai bị kẻ khác định đoạt số phận mình, ngay cả trong cách thức chết, nơi Tình yêu có lối thoát và Hạnh phúc là cái có khả năng thật sự và nơi những dòng họ bị kết án Trăm năm cô đơn sẽ có vận may để tái sinh trên mặt đất này”.

                  Tin cuốn sách này sắp xuất bản lập tức thu hút hàng triệu người hâm mộ Márquez trên thế giới. Mọi người đã mong chờ sự kiện này rất lâu, và đây là tác phẩm đặc biệt thuộc thể loại truyện ngắn dưới dạng hồi ức mới nhất của Márquez. Chỉ sau tuần lễ đầu tiên phát hành, cuốn sách đã được bán với số lượng lớn và hiện đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới.

                  (Nguồn: Xem sách)


                  ************************************************** *

                  ConMotSach.com

                  con mọt sách “chấm com” - cõi đi về của dân mê sách

                  Trăm năm cô đơn (Cien Años de Soledad/100 Years of Solitude) - Gabriel Garcia Marquez

                  Người gửi: Trần Anh Khôi



                  Cũng giống như những tựa đề “Dracula”, “Kỵ sỹ không đầu”,… tên sách “Trăm năm cô đơn” hẳn ai cũng từng nghe, còn thật sự đọc cuốn tiểu thuyết này thì chưa chắc. Tôi tình cờ đọc cuốn này khi còn đi học, và không thấm hết được, nhưng nhờ vậy, sau này tôi mới đọc lại (chắc vẫn chưa thấm hết được) và thấy quả thật đây là tác phẩm kinh điển và đồ sộ.
                  Khi in cuốn sách này, nhà xuất bản nào cũng phải cẩn thận kèm theo một bản sơ đồ phả hệ của các nhân vật, vốn trùng tên và rối rắm, để người đọc có thể theo dõi được. Các đời tiếp nối nhau của một dòng họ, với những biến cố riêng của từng thế hệ, đã tạo nên cốt truyện. Nhưng đó không phải là tất cả. Trăm năm cô đơn không phải là câu chuyện buồn thảm về một dòng họ; mà là một phần bức tranh xã hội với những bất hạnh khiến con người trở nên cô đơn hơn bao giờ hết, khiến những gia
                  đình tự cô lập mình với bên ngoài hơn bao giờ hết

                  .

                  Tôi chọn đọc tác phẩm này vì tò mò: nó đạt giải Nobel Văn chương năm 1982. Không thể phủ nhận đây là một cuốn sách hay, nhiều giá trị. Nhưng quả thật, cái không khí của nó đôi chỗ làm tôi hơi ngột ngạt, nặng nề. Không phải là một tiểu thuyết để đọc giải trí, không thể là tác phẩm để độc giả giết thời gian. Nói cách khác, đây là một tiểu thuyết xuất sắc, nhưng đọc nó sẽ khá mệt. Khi có thời gian để nghiền ngẫm và tư lự, nhưng không phải lúc đang chán chường hay… thất tình, hãy đọc Trăm năm cô đơn.

                  conmotsach.com

                  Tải bản tiếng Việt (prc) tại: 404 Not Found

                  Tải bản tiếng Anh (prc) tại: [url="http://conmotsach.com/books/one_hundred_years_of_solitude.prc"][COLOR=#c97e00]404 Not Found
                  Last edited by GRANDET; 05-07-2009, 08:11 AM.
                  Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                  Comment


                  • #10
                    Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai
                    Cuốn tiểu thuyết được Tracy Chevalier viết dựa trên một nhân vật có thật, họa sĩ Johannes Vermmer (1632-1675) với kiệt tác "Chân dung thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai" hiện được trưng bày ở bảo tàng Mauritshuis, Hà Lan.

                    Tên sách: Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai
                    Tên tác giả: Tracy Chevalier
                    Dịch giả: Đặng Tuyết Anh
                    Nhà xuất bản Văn học và Công ty Nhã Nam

                    Thành Delft, giữa thế kỷ 17, ở Hà Lan, Griet buộc phải xa nhà để trở thành hầu gái trong gia đình họa sĩ Johannes Vermmer. Cô gái bé nhỏ tất tả lo hàng đống công việc giặt giũ, đi chợ, trông trẻ và dọn dẹp đồ trong xưởng vẽ… rốt cuộc lại là người gây nhiều phiền phức nhất. Không chỉ lôi cuốn sự chú ý của con trai người bán thịt lợn ngoài chợ, cô hầu mắt to còn khiến người bảo hộ của Vermmer sôi sục để ý và nhất là, mối tình thầm nén của chính ông chủ, họa sĩ Johannes Vermmer.
                    Cuốn tiểu thuyết như nén chặt lại cảm xúc trong những câu văn ngắn và văn phong trong sáng. Chỉ có thể cảm nhận rõ bầu không khí ở thành Delft với dòng chảy hội họa nổi tiếng khắp thế giới mãi sau này. Với những phiên chợ hoạt náo, với những gia đình nghèo cùng những số phận lay lắt, với những nhà thờ mênh mang lời cầu nguyện của con chiên, với bệnh dịch hạch hoành hành dữ dội…
                    Trang bìa cuốn sách.

                    Và một cô hầu gái bé nhỏ trong đó đã khơi dậy một mối tình kỳ diệu nhưng đầy ám ảnh. Không phải vì đơn phương, bởi bản thân Griet cũng có chung cảm nhận thấm gợi ấy. Nhưng tình yêu không lời và thậm chí không có chỗ cho dục vọng hé lộ. Trong căn phòng nhỏ áp mái ấy, với những việc mua bán vật liêu vẽ cho ông chủ, với những lúc cô hí húi trộn màu, với những cảm nhận tinh khiết về hội họa… tình yêu tìm đến khe khẽ, bằng một cái cầm tay vô tình, bằng những cái nhìn giữa họa sĩ và người mẫu, bằng việc ông chủ nhìn thấy mái tóc dài luôn được Griet giấu kín trong mũ.

                    Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai có riêng một dòng chảy kỳ diệu đến với độc giả. Không cần nhiều lời, như ông chủ có khi nào thổ lộ, như Griet bị dồn nén đến mức tự tìm cách giải tỏa từ Pieter, chàng bán thịt có gương mặt thật đẹp trai. Nhất là lúc cô chủ động tìm anh để dâng hiến như tìm một khoảng tự do cho riêng mình, tại một ngõ nhỏ cạnh quán rượu. Sự dồn nén cảm xúc được xử lý tinh tế. Hai nhân vật chính - cô hầu gái và họa sĩ - chỉ lặng lẽ cảm nhận. Mặc dù nhà đông người, mặc dù trong xưởng vẽ chỉ có hai người, mặc dù nơi Griet ngủ được chính tay bà chủ khóa trái và mở ra vào buổi sáng - thì tình yêu vẫn có không gian riêng của nó, giữa đam mê, phẫn nộ và thấu suốt…

                    Nhà văn Tracy Chevalier (sinh năm 1962) là một tiểu thuyết gia ăn khách về đề tài lịch sử. Tác phẩm đầu tay của bà là Sắc lam trinh khiết giành giải thưởng Tài năng trẻ WH Smith năm 2007. Tiểu thuyết Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai là best-seller năm 1999, được đề cử giải Orange 2000. Bộ phim cùng tên mà Chevalier là đồng tác giả kịch bản đã được đề cử 3 giải Oscar năm 2004. Hiện bà sống ở London và tiếp tục sáng tác. Tác phẩm mới xuất bản trong năm 2007 là Cháy rực, nói về hai đứa trẻ tới sống cạnh nhà thi sĩ William Blake ở London năm 1792.
                    Phúc Yên
                    Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                    Comment


                    • #11
                      Đỗ Quyên đỏ
                      Anchee Min

                      Lu độc ác nhưng đơn độc; Nghiêm dịu dàng đầy ẩn ức, còn "tôi" nỏng bỏng tình yêu mà bất lực... Không một nhân vật nào trong "Đỗ Quyên đỏ" không khiến người đọc phải xót xa, đau đáu cho số phận con người.

                      Tên sách: Đỗ Quyên đỏ
                      Tác giả: Anchee Min
                      Dịch giả: Nguyễn Bản
                      Nhà xuất bản Công An Nhân Dân

                      Hàng triệu trí thức thanh niên thành phố bị lùa về nông thôn để xây dựng chủ nghĩa cộng sản trong cuộc Đại cách mạng Văn hóa. Cuốn tiểu thuyết gom lại một nhúm người trong Nông trường Lửa đỏ - nơi ngút ngát lau sậy, nơi u ám, chán chường như một bãi lầy, mà khi sa chân vào đó, người ta không có lối nào vượt thoát, chỉ nhọc nhằn giãy giụa rồi dần dà tụt hẳn vào hố sâu thăm thẳm bi kịch của đời người. Ám ảnh, bức bối và ngột ngạt, cuốn tiểu thuyết của Anchee Min rành rọt vẽ lên từng gương mặt người - nạn nhân của lịch sử.

                      Lu, đại đội phó, phó bí thư Đảng là một cô gái nghiện quyền lực như nghiện ma túy. Lu như cái bóng hắc ám rình rập sai lầm của người khác, để tóm lấy, dìm người ta xuống, nâng mình lên. Lu sung sướng nhấm nháp nỗi sợ hãi, sự khuất phục của kẻ khác. Lính sợ Lu như chuột sợ mèo. Nhưng Lu cô đơn. Kẻ ác thường cô đơn. Đêm đêm, cô áp mặt vào chiếc sọ người để ngủ; ngày ngày, cô nói chuyện với con chó 409 dữ dằn và ngang ngược. 25 tuổi, vết nhăn đã lũ lượt bò lên mặt Lu. "Những người đàn ông trong đại đội đều sợ Lu. Bóng Lu xuất hiện đã xua đàn ông đi mất rồi. Họ coi Lu như một tấm áp phích trên tường". Là một thiếu nữ chưa chồng, như bao nhiêu cô gái khác ở nông trường, Lu cũng mang một đôi mắt khát. Không chỉ là khát quyền lực.


                      Trang bìa cuốn sách.


                      Đối đầu với Lu là đại đội trưởng Nghiêm, cô gái mang cái mặt lạnh nhằm che giấu trái tim nhân hậu và bỏng cháy yêu thương. Nghiêm gần như bị Lu ép chỉ huy cuộc vây bắt buổi tình tự giữa cô gái xinh đẹp Tiểu Lục và chàng thanh niên mọt sách. Chàng trai bị án tử hình, còn Tiểu Lục hóa điên mà chết đuối. Nghiêm mang ám ảnh tội lỗi đến hết cuộc đời. Mặt nạ trong cô dần lột vỏ. Cô âm thầm đi bắt 100 con rắn độc với mong ước mơ hồ sẽ chữa khỏi bệnh cho Tiểu Lục; cô dạn dĩ thú nhận tình yêu của mình với chàng trai ở một đại đội khác. Quyết liệt hơn cả, cô biến mình thành kẻ ác, lập mưu hại Lu, hủy diệt cả sự nghiệp của mình để giải thoát nhân vật "tôi" khỏi nông trường Lửa đỏ.

                      Giữa hai người phụ nữ quyết liệt như được lịch sử sinh ra ấy, "tôi" xuất hiện như là nhân vật mang những khát vọng người bị kìm nén. Tôi dè chừng Lu nhưng nhanh chóng nhận ra tâm hồn thánh thiện và những khát vọng run rẩy trong con người Nghiêm. Hai cô gái ấy đến với nhau, lắng nghe tâm hồn nhau và vuốt ve cái cơ thể tuổi thanh xuân đang nổi loạn của nhau. Liệu đó có phải là một tình yêu đồng tính không khi đêm đêm "em phải giả làm một người đàn ông cho chị"; em chung đụng với đàn ông nhưng chỉ cảm thấy đó là da thịt chị; em tình nguyện làm kẻ canh cửa cho cuộc mây mưa vụng trộm giữa chị và người khác nhưng không thể dằn lòng, đã nhòm qua lỗ khóa để rồi đau đớn đến tức tưởi? Đó là nhập thân hay vào vai; tình yêu hay giả tình yêu? Phải chăng tạo hóa đã tạo nên những con người chuẩn mực, nhưng họ bị hoàn cảnh và môi trường xô lệch cho biến dạng.

                      Non nửa cuốn tiểu thuyết của Anchee Min diễn ra ở một bối cảnh khác, nơi diễn ra cuộc đua giành vai Đỗ Quyên đỏ khốc liệt. Nhưng cái ám ảnh nặng nề của Nông trường Lửa đỏ dường như không bao giờ gột rửa hết. Và có đi đến đâu, "tôi" cũng gặp những con người như Lu.

                      Truyện khiến người đọc phẫn uất bởi những kiếp người bị đọa đày đến biến dạng. Họ bị nhốt chung vào một cái chuồng, bí bức nên đã buộc phải quay ra cắn xé nhau.
                      Cuốn sách, xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1996, từng được tạp chí Vogue nhận xét: "Không một người Trung Quốc nào, càng hiếm phụ nữ Trung Quốc hơn viết chân thực và cảm động như Min về cái sa mạc của sự cô đơn và sự tha hóa nhân tính". Vì Đỗ Quyên đỏ là một phần máu thịt của Anchee Min; là một phần cuộc đời của chị.

                      Anchee Min, sinh năm 1957, là nhà văn gốc Trung Quốc, hiện sống ở Mỹ. Đỗ Quyên đỏ là cuốn tiểu thuyết giàu chất hồi ký của nhà văn.
                      Mai Quỳnh

                      *******************************



                      Sơn Táp tên thật là Diêm Ni, sinh tháng 10 năm 1972, trong một gia đình trí thức cao cấp ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Năm 1990, cô sang du học rồi định cư tại Pháp. Bắt đầu từ năm 1997, Sơn Táp từng bước chiếm lĩnh văn đàn Paris: tiểu thuyết Thiên An Môn đoạt giải Goncourt Pháp dành cho tác phẩm đầu tay, tiểu thuyết Bốn cuộc đời của cây liễu đoạt giải Cazes-Brasserie Lipp. Đặc biệt, cuốn Thiếu nữ đánh cờ vây đoạt giải thưởng Goncourt dành cho giới trẻ và là một trong những tiểu thuyết bán chạy nhất tại Pháp.





                      Tác phẩm lấy bối cảnh những năm 30 của thế kỉ XX, khi quân Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc Trung Quốc. Tại đó, một cô gái Trung Hoa và một sĩ quan Nhật Bản, tình cờ gặp nhau trên bàn cờ tại quảng trường Thiên Phong. Mải mê dính mắc vào những ván cờ vây kì ảo, họ dần rơi vào ván cờ lớn lao của chính cuộc đời mình.

                      Nét mới lạ của cuốn tiểu thuyết chính là những trận cờ vây được Sơn Táp miêu tả sống động và đầy kịch tính. “Trên một bàn cờ vây, các quân cờ chiến đấu trên 361 ô vuông kẻ bằng 19 vạch ngang và dọc tạo nên. Hai đối thủ chia xẻ mảnh đất trống này và đến cuối trận so lại xem ai chiếm được nhiều đất hơn. Tôi thích cờ vây hơn cờ tướng vì nó thoáng hơn, tự do hơn.
                      Trong ván cờ tướng, hai vương quốc với các chiến binh mặc giáp trụ, đối đầu nhau. Còn các kỵ sĩ cờ vây có thể khéo léo xoay ngang xoay dọc, bẫy nhau trong các vòng xoáy ốc: sự táo bạo và trí tưởng tượng là những đức tính đưa đến chiến thắng”.

                      Để có được những trang viết nhuần nhuyễn và tự tin như thế, nữ nhà văn Sơn Táp đã giành rất nhiều thời gian để tìm hiểu cờ vây, thậm chí còn đến hỏi ý kiến các chuyên gia ở Viện cờ vây Trung Quốc. Trong tác phẩm này, cờ vây chính là mật mã tượng trưng cho văn hoá và hoà bình. “Sơn Táp đã biến cái kì đạo kì lý của cờ vây thành một cuộc thực nghiệm văn thể của tiểu thuyết, từ từ nhấm nháp chúng quả là kì thú vô cùng. Nhân vật trong tiểu thuyết như thể các quân cờ vừa đối lập lại vừa nương tựa vào nhau, chỉ thấy sự di động vô thanh đầy giảo hoạt trên bàn cờ, mà người chơi vẫn cảm nhận được, mới hay tình yêu đâu phải dùng lời” (Trương Kháng Kháng - Theo Bắc Kinh thanh niên báo).

                      Thiếu nữ đánh cờ vây còn cuốn hút độc giả bởi tình huống truyện éo le: trong bối cảnh chiến tranh, hai con người ở hai đầu chiến tuyến vướng mắc vào mê cung tình yêu. Độc giả có thể tìm thấy những trang viết sống động nhất, day dứt nhất miêu tả tâm trạng của chàng trai si tình. “Cô gái chơi cờ mãi không quay lại. Chiếc áo dài xanh lá của em, lúc nãy nhìn có vẻ buồn thảm, nay bỗng toát lên sức sống khi hoà lẫn trong màu cây xanh quanh em. Phải chăng đó là hình ảnh nước Trung Hoa của tôi, niềm say mê và mối căm thù của tôi? Khi gần em, nỗi khốn khổ của em khiến tôi thất vọng. Đứng xa em, nét duyên dáng của em ám ảnh tôi”.

                      Lần duy nhất họ có cơ hội ở bên nhau thật gần, chàng trai vừa hạnh phúc vừa đau đớn. “Tôi chết đi được vì thèm khát được ôm em vào lòng! Nếu như không được vòng tay quanh vai em, kéo đầu em ngả xuống ngực mình, tôi cũng sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc nếu được chạm vào các ngón tay em…Váy em phủ kín tận mắt cá chân. Lá khô rơi trên thân em biến tấm vải màu xanh tím, nhàu đi theo nét cong của cơ thể em, thành một tấm khăn choàng lộng lẫy, với các nếp nhăn, các vũng sâu, các đường lượn sóng. Liệu em có ngồi dậy và múa trên chiếc khay đó để dâng lên thần linh và những kẻ mộng mơ hay không?”.

                      Đáng tiếc, mối tình mãnh liệt đó mãi mãi không được thốt thành lời. Dù họ bất chấp hoàn cảnh, vượt lên chủng tộc, giai cấp và chính trị thì chiến tranh cũng không buông tha họ. Một kết thúc có hậu, nếu có thể gọi như thế, dành cho cả hai, khi họ được chết bên nhau. Để tránh cho nàng thiếu nữ bị binh lính Nhật làm nhục, chàng sĩ quan Nhật Bản đã bắn chết nàng và sau đó tự sát.

                      Bạn cho rằng đó là kết thúc tiêu cực và không có gì mới lạ? Hay bạn bật khóc khi đọc đến những dòng cuối cùng này? Đến với tác phẩm, mỗi độc giả sẽ có những ấn tượng riêng, tìm được cách phán xét riêng.

                      Thiếu nữ đánh cờ vây còn đặt ra rất nhiều vấn đề khiến chúng ta suy ngẫm: Sự thức tỉnh về mặt tình dục của người thiếu nữ; Cuộc tình ngắn ngủi ám ảnh của chàng sinh viên tên Mẫn; Sự khốc liệt của chiến tranh và sự hy sinh bi tráng của những thanh niên kháng chiến… Đó chính là thành công của Sơn Táp.

                      Theo Lam Kiều





                      Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà
                      Quách Hiền

                      Không hiểu sao đọc Anchee Min, nhất là "Nữ hoàng Phong lan" (Lan Hoa nữ hoàng), tôi lại nghĩ ngay đến Sơn Táp. Họ giống nhau ở chỗ: được nuôi dưỡng bằng nền văn hóa Trung Hoa, họ rời bỏ nó, rồi lại tìm về nó như một cứu cánh cho sự tồn tại tự thân.


                      Nhà văn Anchee Min. Ảnh: Sina.

                      Anchee Min là phiên âm từ tên thật của tác giả Mẫn An Kỳ. Trong Đỗ Quyên đỏ, tác giả từng lý giải cái tên của mình: An Kỳ (Anchee) nghĩa là Viên ngọc bình yên. (Chữ “Kỳ” trong tiếng Hán có nghĩa là ngọc kỳ, cũng còn có ý nghĩa là báu vật).

                      Báo chí Trung Quốc đề cập rất ít đến Anchee Min, và có đề cập đến thì dường như “bối rối”, không biết phải đánh giá như thế nào về nữ tác giả ra đi từ Trung Quốc và thành danh ở Mỹ bằng những tác phẩm viết về lịch sử Trung Quốc này. Nhận định thông thường nhất là họ cho rằng Anchee Min đã kể lại lịch sử Trung Quốc cho phương Tây nghe, là một người giải thích cho phương Tây hiểu thế nào là lịch sử, là nền văn hóa và con người Trung Quốc sâu xa thần bí.

                      Không hiểu sao đọc Anchee Min, nhất là Nữ hoàng Phong lan (Lan Hoa nữ hoàng), tôi lại nghĩ ngay đến Sơn Táp. Họ giống nhau ở chỗ: họ được nuôi dưỡng bằng nền văn hóa Trung Hoa, họ rời bỏ nó, rồi họ lại tìm về nó như một cứu cánh cho sự tồn tại tự thân.
                      Tuy nhiên Anchee Min và Sơn Táp cũng có sự khác biệt lớn. Sơn Táp là thế hệ trí thức trẻ rời bỏ đất bước từ rất sớm còn Anchee Min đã trải qua những thăng trầm cùng với lịch sử đất nước. Cô đã đi qua cuộc cách mạng văn hóa, từng phải lao động ở nông thôn, đã nếm trải sự đày ải quyền con người đến tận cùng, vì thế sự rời bỏ của cô giống như một sự giải thoát nhẹ nhõm. Nhưng khác biệt lớn nhất giữa hai người, không phải vì độ chênh lệch tuổi tác, sự từng trải về kinh nghiệm sống hay mục đích từ bỏ đất nước mà bởi họ khác nhau từ trong cách thức kể câu chuyện về những người đàn bà.

                      Trong cả hai cuốn tiểu thuyết được dịch sang tiếng Việt của Anchee Min là Đỗ quyên đỏNữ hoàng phong lan, điều không khó để nhận thấy đó là xu hướng tính nữ rõ nét trong tác phẩm. Nói đến tính nữ không phải chỉ vì trong Đỗ quyên đỏ, Anchee Min đã đề cập đến tình yêu đồng tính giữa hai người đàn bà. Rõ ràng đọc tiểu thuyết của Anchee Min cũng đồng nghĩa là ta đang xâm nhập vào thế giới của những người phụ nữ phi thường tìm cách khẳng định số phận của mình.
                      Trong số rất nhiều tác phẩm có nhắc đến về thời kỳ cách mạng văn hóa Trung Quốc đã được dịch sang tiếng Việt mà tôi đã đọc như tập truyện ngắn Đất dày của Lý Nhuệ, tiểu thuyết Những người đàn bà tắm của Thiết Ngưng… họ đề cập đến nhiều vấn đề về quyền sống của con người, sự đày ải của lương tri và nhân cách nhưng chưa có tác giả nào đề cập một cách tập trung nhất về số phận những người phụ nữ trong giai đoạn lịch sử đó như với Đỗ Quyên đỏ. Cùng với Đỗ Quyên đỏNữ hoàng Phong Lan, Anchee Min đã dựng nên một xã hội của những người phụ nữ. Trong xã hội thu nhỏ đó, những người đàn bà ứng xử với nhau bằng tình yêu, dục vọng, và những âm mưu chiếm đoạt lật đổ.
                      Trong Đỗ Quyên đỏ, từ nông trường Lửa Đỏ cho đến xưởng phim, ở đâu nhân vật “tôi” cũng sống trong một môi trường toàn nữ, phải đối diện và đấu tranh với chính những người đàn bà, những người cùng giới với mình.
                      Nữ hoàng Phong Lan cũng vậy, đây là một cuốn tiểu thuyết về Từ Hy Thái Hậu, nữ hoàng vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa sau Võ Tắc Thiên. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện kể về một phụ nữ tìm đường đến với số phận và học cách thích nghi với số phận của mình. Đương nhiên cùng với nó, không tránh khỏi là cuộc chiến hậu cung giữa những người đàn bà tranh giành ân sủng từ một người đàn ông. Tình yêu của những người phụ nữ trong Đỗ Quyên đỏNữ hoàng phong lan là thứ tình yêu bất toàn, một tình yêu luôn trộn lẫn giữa yêu thương và tội lỗi, giữa yêu thương, sợ hãi và những toan tính. Đó là tình yêu của những người phụ nữ đoán chắc được kết cục của những cuộc tình.



                      Bìa cuốn "Nữ hoàng Phong lan".

                      Nói như thế không có nghĩa là trong tiểu thuyết của Anchee Min không có bóng dáng của nhân vật nam. Có, nhưng đó cũng là những nhân vật nam mang “tính nữ”. Trong Đỗ quyên đỏ là vị Giám sát ủy viên còn trong Nữ hoàng Phong lan, hoàng đế Hàm Phong chỉ là nhân vật nam thứ chính. Những nhân vật nam chính trong cuộc đời của hoàng hậu Từ Hy lại chính là những thái giám. Họ yêu bà, phụng sự bà, trung thành và sẵn sàng chết vì bà. Điều này tạo nên sự khác biệt lớn giữa Anchee Min và Sơn Táp.
                      Trong những tiểu thuyết của Sơn Táp như Thiếu nữ đánh cờ vây, Nữ hoàng, Mưu phản nhân vật nam chính rất mạnh mẽ, đầy nam tính, đam mê mãnh liệt và cũng đầy quyết liệt trong giải quyết ranh giới giữa tình yêu và thù hận, giữa tình yêu và âm mưu. Trong Sơn Táp, những người phụ nữ luôn bị giằng xé giữa những sự lựa chọn, còn người phụ nữ của Anchee Min luôn chỉ có một cách lựa chọn duy nhất: tiến lên phía trước bằng tất cả sức lực của mình.

                      Tại sao lại là phụ nữ? Tôi luôn luôn tự hỏi như thế khi đọc Anchee Min. Nền văn hóa Trung Hoa với sự thống trị lâu dài của hệ tư tưởng Nho giáo, trong lịch sử Trung Hoa, tất cả đều bị khuất lấp dưới “sự thật” của những người đàn ông, những người được phép chép sử, được phép phán xét còn đàn bà thì im lặng. Có lẽ đó chính là lý do để Anchee Min nói lên sự thật từ phía những người đàn bà, từ chính những người mà nền văn hóa của họ không cho phép họ được thanh minh hay nói về mình.
                      Trong Đỗ Quyên đỏ có một phần nhắc đến Giang Thanh, không phải như cách mà chúng ta đã biết về bà, một kẻ tham vọng đã giết chết đất nước Trung Quốc, mà như một người từ vị trí bị bỏ rơi, bị lãng quên đã dũng cảm vượt lên mọi rào cản để đón nhận số phận của chính mình. Đó cũng là cách thức mà Anchee Min đã làm khi cô viết về Từ Hy Thái Hậu. Đến tận bây giờ Từ Hy vẫn bị xem là một nữ hoàng dâm dục và bạo tàn.
                      Anchee Min, trong quá trình viết cuốn tiểu thuyết Nữ hoàng Phong lan đã muốn tiếp cận với những cứ liệu lịch sử gốc, những cứ liệu lịch sử mà vì nhiều lý do nó không được nhìn nhận đúng mức. Anchee Min từ thế giới quan đàn bà của mình, hé mở cho phương Tây thấy được lịch sử của Trung Quốc, lịch sử của những người phụ nữ như cô. Để kết thúc, tôi chỉ băn khoăn, cũng là cách thức tự giải phóng, nhưng những tác giả nữ đương đại của Trung Quốc thường tìm cách thể hiện bản thân thông qua sự giải thoát con người bản năng, tính dục…
                      Nhưng những tác giả đã rời khỏi Trung Hoa như Sơn Táp, Anchee Min lại bám rễ vào lịch sử Trung Hoa, lý giải mọi chuyện từ góc độ lịch sử, tìm kiếm sự thật về bản thân giới mình từ chính cội rễ văn hóa của nó. Nỗi niềm tha hương hay chính bởi khi bứt khỏi góc rễ của chính mình, ta mới chợt nhận ra rằng cái cội rễ đó nó đang nảy mầm ngay trong chính nơi chúng ta vừa cắt đứt.
                      Last edited by GRANDET; 29-06-2009, 05:10 AM.
                      Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                      Comment


                      • #12
                        Lụa
                        Alessandro Baricco

                        Một chuyện tình làm tan nát cõi lòng được kể dưới hình thức ngụ ngôn cổ điển. Một tấn kịch thấu suốt và mạnh mẽ dường bao về những dục vọng sâu sắc nhất của con người.

                        Tên sách: Lụa
                        Tác giả: Alessandro Baricco
                        Dịch giả: Tố Châu
                        NXB Văn học


                        Không một lời nói nào thốt ra giữa người buôn tằm trẻ tuổi đến từ châu Âu và người thiếp của một lãnh chúa nước Nhật. Chỉ có ánh mắt không mang vẻ phương Đông của cô gái ấy đã tìm đến Herve Joncour ngay trong lần gặp đầu, thách thức cả Hara Kei, chủ của những gì phát sinh trên đảo.


                        Chàng là người lái buôn giàu có, nặng bên mình tình yêu đằm thắm của cô vợ có giọng nói vô cùng dễ chịu. Nhưng người đàn bà có gương mặt của một thiếu nữ và ánh mắt không mang vẻ phương Đông này có sự mê hoặc khó tả. Có nỗi lòng nào đã khiến chàng đi đến nơi được coi là tận cùng thế giới, chỉ để đón nhận hình bóng nàng?

                        Một người chẳng màng độ xa cách muôn trùng. Một người can đảm bung ra khỏi ràng buộc. Lại chính nàng viết thư nhắn gọi. Lại chính nàng thay người hầu đến tắm cho chàng. Lại chính nàng cầm lấy tay chàng đặt vào tay mình. Lại chính nàng xuất hiện trong một buổi tối mê đắm mà họ chỉ có thể cảm nhận vẻ đẹp của thân hình nhau, bàn tay của nhau...

                        Sẽ rất sượng sùng nếu gọi đó là cuộc tình tay ba, cho dù thực có là thế. Giữa Herve Joncour, và vợ anh – Helene, và nàng. Thậm chí cả tình cảm cũng không hé lộ ra ngoài, và ai cũng tỏ ra cao thượng. Tất cả được dồn nén vào bên trong, và ở nơi sâu xa ấy vấn vít những dây tơ hồng khát khao mà khó hiểu. Chàng đã phải thốt lên với người bạn vong niên vốn rất hiểu lòng mình: "Nỗi đau thật lạ lùng. Chết vì nỗi nhớ, một điều gì đó mà tôi chưa từng được biết tới bao giờ!".

                        Lụa, đẹp như cái tên, có những sắc màu thật rực rỡ của cuộc sống bị dồn nén. Những chương sách gọn nhẹ như một bài thơ. Những câu văn giản dị mà lóng lánh vẻ đẹp bên trong, chỉ có thể cảm nhận. Những hình ảnh mang tính biểu tượng như chiếc lồng chim khổng lồ với "hàng trăm hàng trăm" chú chim bên trong khiến Herve Joncour bị dày vò. Thoại ít, dường như ngôn ngữ nhân vật được tiết chế hết mức có thể. Không cần ngôn từ, vẫn nảy nở tình yêu. Không cần đối thoại, người vợ thấu hiểu lòng chồng. Không có đối thoại, vẫn đọng lại nỗi u hoài day dứt suốt mấy chục năm, sau khi Helene mất vì bạo bệnh... Lụa được thể hiện bằng hương vị của ngôn ngữ với một cốt truyện được đẽo gọt tinh tế. Bản dịch xuất sắc của Tú Châu đã góp phần không nhỏ trong việc nâng niu vẻ đẹp ấy.

                        Có ý kiến cho rằng Lụa gợi tình một cách sống động. Điều này chẳng có gì quá đột ngột, lại càng không thô thiển, bởi sau một không gian bị dồn nén, ngôn từ bị che kín, thì tình yêu phải tìm tới một lối đi riêng. Nàng chủ động dâng hiến. Chàng ngợp trong những nỗi niềm day vò. Và, người thứ ba nữa, người vợ tay kề của chàng, dù chẳng thốt ra một dòng tâm sự nào, đã thầm ước mong được là nàng. Bức thư trên bảy trang lụa, dưới vỏ bọc của người khác, đã giúp Helene biểu lộ những dồn nén của riêng mình. Để được yêu, dù chỉ một lần, dù chỉ trong hình dung. Lá thư mỏng tang và sóng sánh ái tình này mang một vẻ đẹp tao nhã sau những hình ảnh có thể gây sửng sốt với nhiều độc giả phương Đông.

                        Lụa là một viên ngọc văn chương có sức mạnh mê đắm. Cuốn sách đã đưa tên tuổi của Alessandro Baricco trở nên lừng lẫy trên văn đàn quốc tế. Xuất bản năm 1996 tại Pháp, 1997 tại Italy, Lụa đã nhanh chóng chinh phục cả châu Âu và trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất của châu lục này.
                        Huỳnh Mai Liên

                        ( Các bạn xem phim này chưa? )
                        Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                        Comment


                        • #13
                          Quỷ dữ và nàng Prym
                          Coelho, Paulo

                          Cuốn tiểu thuyết ám ảnh và đầy day dứt trước câu hỏi, con người là đồng minh của cái thiện hay công cụ của cái ác.

                          Tên sách: Quỷ dữ và nàng Prym
                          Tên tác giả: Paulo Ceolho
                          Dịch giả: Ngọc Phương Trang
                          NXB Phụ Nữ và công ty Cổ phần sách Bách Việt


                          “Người không có rắc rối gì cả là người đã bị loại khỏi trò chơi cuộc sống”.
                          Một trong những phong cách đặc biệt của nhà văn Brazil nổi tiếng Paulo Coelho, tác giả của loạt sách best seller Nhà giả kim, Nỗi ám ảnh, là sử dụng phương thức huyền thoại hóa và motif cổ để xây dựng truyền thuyết về thời hiện đại.
                          Nhưng trong Quỷ dữ và nàng Prym có sự khác biệt căn bản: Kẻ thử thách và phán xét không đến từ thế giới thần thánh mà là chính con người. Hắn bị tước đi sức mạnh toàn năng để điều khiển thế giới. Trải nghiệm cả hạnh phúc tột cùng lẫn vực thẳm bất hạnh, trải nghiệm cả đỉnh cao quyền lực lẫn sự bất lực, bé nhỏ, vô vọng, hắn khát khao thấu hiểu bản chất con người. Câu hỏi, con người là đồng minh của cái thiện hay công cụ của cái ác trở nên một ám ảnh, một tự vấn đầy day dứt toàn bộ tiểu thuyết.



                          Trang bìa cuốn sách.


                          Những người dân Viscos nhận được lời thách thức kỳ lạ: Họ sẽ nhận được một số vàng lớn, đủ để thay đổi cuộc sống bằng phẳng, nhạt nhẽo của 281 thành viên, đủ để biến đổi hoàn toàn bộ mặt thị trấn già nua, cũ kỹ của họ. Điều kiện của sự trao đổi này là: họ phải phạm vào một trong số những điều răn đã duy trì trật tự và bình yên trong cuộc sống họ - điều răn không giết người. Trong thời hạn một tuần, nếu người vô tội nào ở Viscos bị giết, thì người khách lạ - kẻ thách thức - sẽ trao số vàng để hiện thực hóa giấc mơ suốt đời họ.

                          Sự kiện chính trong Quỷ dữ và nàng Prym xoay quanh những hồi đáp của thị trấn trước lời thách thức đó. Sự lựa chọn của họ, sự biện minh của họ, những toan tính gắn với bao lý do sâu xa trong đời… Trong thâm tâm, họ hiểu rằng khi trẻ con không còn xuất hiện ở thị trấn, họ trở thành thế hệ cuối cùng và thị trấn của họ đang đi tới bờ hủy diệt. Bên ngoài, dân Viscos tự hào về lối sống lành mạnh và lương thiện của họ, nhưng bên trong, họ lại tự trách mình hèn nhát, không dám đối diện với sự đổi thay. Liệu số vàng như “từ trên trời rơi xuống” ấy là một cơ hội hay một cạm bẫy?

                          Motif “thử thách” vốn xuất hiện rất nhiều trong văn chương. Một đại diện của thế giới thần thánh hóa thân trong bộ dạng của một kẻ bất hạnh cầu xin sự cứu giúp rồi phán xét. Kết thúc quen thuộc của thế giới kỳ ảo là người tốt được ban thưởng và kẻ xấu bị trừng trị, sự phân chia thiện ác bao giờ cũng rạch ròi, phán xét chung cuộc bao giờ cũng công bằng. Bài học trong truyện thực chất là một phương thức gìn giữ trật tự đạo đức. Chân lý của truyền thuyết cổ: con người là đồng minh của cái thiện để chống lại cái ác, rằng nguyên thủy của con người là đẹp đẽ lý tưởng.

                          Khi bất cứ cái gì tồn tại, cái đó có lý (ví dụ như: vũ khí vừa là vật bảo vệ người vừa là phương tiện hủy diệt con người), thế giới trở nên nhập nhằng đáng sợ. Bản chất con người biến dạng thế nào? Tổng thể các hành động, suy nghĩ hồi đáp lời thách thức của dân thị trấn Viscos là một câu trả lời mà tác giả đưa ra. Tất nhiên, câu trả lời cũng tương đối như bản chất của tiểu thuyết, cũng nước đôi như chính thế giới sinh ra nó. Mỗi người dân trị trấn có vô số nguyên cớ gắn với bao thăng trầm trong kiếp nhân sinh khi họ quyết định. Phơi tỏ thế giới sâu kín trước mỗi chọn lựa của con người, cái làm cho con người trở nên dễ dàng bị cám dỗ, dễ trở thành công cụ của cái ác, phải chăng đó mới chính là điều Paulo Coelho thực sự trăn trở?

                          Paulo Coelho hướng chúng ta tới những suy tư muôn thuở về con người. Ông hầu như lảng tránh những chủ đề luôn thu hút: tình ái hầu như biến mất trên trang viết. Truyện của ông như thách thức với thói quen nhập vai và đắm đuối vào thế giới nhân vật bi kịch của chúng ta. Tình tiết của truyện chỉ xoay quanh những cám dỗ, những cạm bẫy, mà trước nó, bản chất con người bộc lộ rõ hơn bao giờ hết.

                          Vậy điều gì đã khiến Paulo Coelho thành công, ông được mệnh danh là “ông thầy phù thủy của Brazil đã làm sách biến mất khỏi quầy sách”? Nhờ bản lĩnh bậc thầy trong xây dựng tình huống hấp dẫn và lôi cuốn? Mỗi câu chuyện kể trong đó đều là một bất ngờ thú vị, sự kết nối giữa chúng đem đến cho độc giả những hiểu biết vừa hệ thống vừa sâu sắc về các truyền thuyết của bốn phương? Chất trí tuệ, sự tinh tế và quyến rũ của câu văn khiến ta luôn phải ngạc nhiên và khâm phục?

                          Hơn hết, bản thân truyện Quỷ dữ và nàng Prym sẽ đưa ra một câu trả lời sáng rõ.
                          Minh Huyền


                          ****************************************


                          O Zahir - Nỗi ám ảnh
                          Coelho, Paulo

                          Cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn nổi tiếng Paulo Coelho - một câu chuyện về cuộc truy tìm hạnh phúc, truy tìm ý nghĩa tình yêu đích thực của con người

                          Tên sách: O Zahir - Nỗi ám ảnh
                          Tác giả: Paulo Coelho
                          Dịch giả: Lê Xuân Quỳnh
                          NXB Văn học & Alphabooks, 2006



                          Trang bìa cuốn sách.
                          Esther là một phóng viên chiến trường, vợ một nhà văn nổi tiếng. Sau hơn 10 năm chung sống hạnh phúc với chồng, đột nhiên cô biến mất, không một vết dấu, không một lời nhắn gửi. Sự biến mất của người vợ đã để lại cho nhân vật "tôi" - người chồng - một khoảng trống với rất nhiều băn khoăn, lo lắng. Không giải thích nổi nguyên nhân sự ra đi của người vợ, khoảng trống đó lớn dần lên, trở thành một nỗi ám ảnh, buộc nhà văn nổi tiếng phải từ bỏ cuộc sống xa hoa, tiện nghi của mình, lên đường đi tìm lời giải đáp.

                          "Tôi" gặp Mikhail - một chàng trai người Kazakhstan mà vợ ông đã gặp gỡ và làm quen trong một chuyến công tác đến vùng đất Trung Á này. Mikhail là người đã giới thiệu với Esther về tengri - một thứ tín ngưỡng của người dân địa phương về đời sống tâm linh của con người. Chính tengri và tầm nhìn mang màu sắc tiên tri của Mikhail đã khiến Esther và sau đó là nhân vật tôi nhận thức đầy đủ hơn về giá trị đích thực của tình yêu và hạnh phúc.
                          Với Esther, sự ra đi này là một hành động rũ bỏ cuộc sống vợ chồng đang đứng trước nguy cơ trở nên nhàm chán, tìm kiếm sự cân bằng và nhóm lại ngọn lửa tình yêu. Còn với nhân vật nhà văn, sự vắng bóng người vợ trong cuộc sống gia đình là một cơ hội cho ông ngoái lại thành công, danh vọng của chính mình và khám phá thêm những hình ảnh mới ở người bạn đời đã gắn bó bao năm qua.
                          Trong đoạn cuối của cuộc đuổi bắt này, Coelho viết: "Mặc dù đã lấy vợ từ lâu rồi, nhưng chưa bao giờ tôi hiểu rõ về vợ mình: tôi đã tạo ra một câu chuyện tình yêu giống như những chuyện mà mình đã xem trên phim, đọc trong sách, trên các tạp chí hoặc xem trên chương trình vô tuyến truyền hình... Nhưng mọi việc phức tạp hơn nhiều so với những gì mà tôi nghĩ".

                          Với lối viết uyên bác, sắc sảo, mang nhiều màu sắc triết học, tiểu thuyết của Paulo Coelho còn là một tác phẩm mang tính chất tự truyện, hé lộ nhiều chi tiết có thật trong cuộc sống riêng tư và chuyện bếp núc sáng tác của nhà văn. Nhân vật tôi từng trần tình về nghề nghiệp của mình: "Viết là một trong những hoạt động cô đơn nhất trần gian. Hai năm một lần tôi ngồi trước máy tính, nhìn vào biển cả xa lạ của tâm hồn mình và thấy một số hòn đảo - những ý tưởng đang phát triển và sẵn sàng cho việc khai thác. Thế là tôi túm lấy con thuyền của mình - được gọi là những từ ngữ - và quyết định vượt biển đến nơi gần nhất".

                          Trong một cuộc trò chuyện với báo giới, Paulo Coelho tâm sự: "Cuốn tiểu thuyết ẩn chứa rất nhiều câu chuyện của chính tôi. Tuy nhiên, tôi và Christina Oiticica (vợ ông) sống hoàn toàn hạnh phúc suốt 26 năm nay. Nhân vật chính trong tác phẩm là một người ý thức sâu sắc về cái tôi. Tôi cũng là người nhận thức rất rõ về cái tôi của chính mình nhưng với một cách thức hoàn toàn khác với nhân vật. Nhân vật nhà văn đó là một người thành công, anh ta có mọi thứ, nhưng vợ anh ta cũng bỏ anh mà đi. Giá trị quan trọng nhất trong cuộc đời là tình yêu thì lại tuột khỏi tay anh. Vậy điều gì đã xảy ra với cái gọi là "hôn nhân", với cái gọi là "cuộc truy tìm hạnh phúc"?".


                          Cuốn tiểu thuyết có tựa đề gốc là O Zahir, theo giải thích của Coelho là "một ý nghĩ, một tư tưởng đã trở thành sự ám ảnh". Nỗi ám ảnh của "tôi" chính là Esther và ý nghĩa đích thực của tình yêu và hạnh phúc trong đời.
                          Hà Linh
                          Last edited by GRANDET; 28-06-2009, 08:23 AM.
                          Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                          Comment


                          • #14
                            Xạ thủ nằm bắn
                            Manchette, J.M.

                            Đây là một trong những tác phẩm đỉnh cao của tiểu thuyết trinh thám mới của Pháp, với những cảnh đẫm chất xi nê và những chi tiết hài hước quyến rũ.

                            Tên sách: Xạ thủ nằm bắn
                            Tác giả: J.M. Manchette
                            Dịch giả: Thuận
                            NXB Văn học

                            Martin Terrier là ai? Cho dù ngay từ trang đầu tiên, tác giả đã đưa ra những chi tiết thật cụ thể, từ tuổi tác tới nét mặt già dặn hơn so với tuổi xấp xỉ 30, từ mái tóc nâu, đôi mắt xanh cho đến bộ quần áo đang mặc trên người - song độc giả hầu như không thể "chạm" vào tên giết người chuyên nghiệp này. Đó là cách kể chuyện đầy lôi cuốn của J.M. Manchette.

                            Bìa cuốn sách.

                            Martin Terrier khiến độc giả hồi hộp dõi theo những hành động của mình, bởi hắn ít nghĩ. Những câu đối thoại của Terrier luôn ngắn ngủn, kể cả trong quá khứ lẫn hiện tại, kể cả lúc nói lời chia tay vĩnh viễn với cô bồ hay giải thích với xừ Cox về việc bỏ cuộc của mình. Thậm chí, chẳng hiểu hắn cố tình hay hữu ý, một thời gian hắn không chịu mở miệng, trở thành một thằng câm đần độn. Muốn tìm hiểu trong đầu hắn nghĩ gì, chỉ có cách lẳng lặng theo bám Terrier.

                            Khổ nỗi, Terrier, một tên giết người không ghê tay, một sát thủ luôn lạnh lùng chĩa nòng súng vào sọ, tim của người khác - lại bị lôi cuốn bởi một ước mơ giản dị và có phần mơ mộng: quay về với người yêu, dù bất kể điều gì xảy ra, với một lời hẹn có phần hơi ngớ ngẩn của 10 năm trước.
                            Phải thông cảm với Terrier thôi. Hắn sinh ra đâu phải để thành một xạ thủ chuyên nghiệp, làm bạn với những khẩu súng Ortgies, HK, Valmet... Nếu bố hắn không phải là một người nát rượu và chết trong hơi men, nếu hắn không mượn được chiếc xe gắn máy để trở thành nhân vật nổi đình đám trong trường trung học, nếu hắn không đem lòng si mê một cô gái con nhà giàu... có lẽ cuộc đời Terrier đã rẽ sang một ngả khác.

                            Bi kịch luôn đeo bám Terrier giữa cuộc sống lạnh lùng cả trong những hợp đồng giết người lẫn bồ bịch. Hắn không chịu phục tùng hoàn toàn sự lựa chọn ấy, mà coi như một việc để giết thời gian đợi đến thời điểm hẹn hò 10 năm trước. Hắn không hề biết tiếng gọi (giống như là) tình yêu ấy hóa ra cũng tẻ nhạt và vô vị. Terrier là người ít nghĩ thực sự, hoặc nói một cách khác, hắn đơn giản đến mức thiển cận trong logic sống què quặt của mình.

                            Những trang sách ngắn gọn cuối cùng xé toạc thế giới bên trong của Terrier. Hắn, qua hơn 30 án mạng, phần lớn nạn nhân chết tươi ngay tại chỗ, cuối cùng đã chạm tới miền đất hứa lâu nay đã ám ảnh mình. Cái giá phải trả không nhỏ (bao gồm cả núi tiền hắn ki cóp lẫn việc trong người có 2 viên đạn nằm vĩnh viễn bên trong) nhưng có hề hấn gì quá quan trọng, bởi người tình trong mộng giờ vẫn ở bên. Một số trục trặc đã xảy ra, và Terrier trở về với con người nguyên bản của mình...

                            Cuốn tiểu thuyết Xạ thủ nằm bắn ngắn gọn với hơn 200 trang song ăm ắp những chi tiết, về thế giới của những tên mafia coi tính mạng con người nằm trong các vụ hợp đồng béo bở. Quan điểm của người kể chuyện được thể hiện dưới góc nhìn trung tính, không quá sa đà vào bất cứ tình tiết nào; không phê phán mà cũng chẳng rườm rà phân tích lý lẽ - song chính góc hài hước, những chi tiết dí dỏm được đan cài đã giúp độc giả tự cảm nhận về chân dung một tên giết người chuyên nghiệp. Hơn cả thế, đó là một cái nhìn sâu xa về cuộc sống và sự ngột ngạt của xã hội.

                            Jen-Patrick Manchette (1942-1995) được coi là tác giả trinh thám tiếng Pháp kinh điển đầu tiên xuất hiện, sau khi Georges Simenon mất đi. Tên tuổi của ông gắn liền với 3 thứ: Série Noire (tủ sách trinh thám huyền thoại), néopolar (trinh thám mới) và điện ảnh (7/10 tiểu thuyết của ông được dựng thành phim). 10 tác phẩm của ông là những dấu ấn quan trọng, trong đó nổi tiếng hơn cả là Nada (1972), Morgue pleine -Đầy nhà xác (1973), Ba gã cần khử (1977) và Xạ thủ nằm bắn (1982).
                            Tác phẩm của Manchette mang nhiều dấu ấn chính trị, thiên tả, phê phán xã hội và được xây dựng chủ yếu theo kết cấu của điện ảnh, với những scène hòan chỉnh. Sau cuốn Xạ thủ nằm bắn, công ty Nhã Nam sẽ xuất bản Ba gã cần khử trong thời gian tới đây.
                            My Linh
                            Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                            Comment


                            • #15
                              Biên niên ký chim vặn dây cót
                              Haruki Murakami

                              Haruki Murakami đã khắc hoạ những cung bậc tinh tế biến ảo tới mức siêu thực của đời sống nội tâm và những giấc mơ, đã vượt qua những thủ pháp kể chuyện có phần duy lý của phương Tây, bộc lộ một cái nhìn tràn đầy vẻ đẹp của Thiền và triết lý phương Đông trong một tinh thần nhân đạo mạnh mẽ.


                              Tên sách: Biên niên ký chim vặn dây cót
                              Tác giả: Haruki Murakami
                              Dịch giả: Trần Tiễn Cao Đăng
                              Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Nhã Nam ấn hành.





                              Tiếng hót của con chim vặn giây cót chỉ vang lên vào những thời khắc quyết định, khi con người tỉnh thức những tiếng lòng thầm kín, hay khoảnh khắc thấu suốt cảm giác về Định mệnh; tiếng chim tiên báo những thảm hoạ khốc liệt khơi nguồn từ chính con người, cũng là tiếng thúc giục âm thầm của khát vọng đi tìm chân lý.
                              Tiếng hót của chim vặn giây cót trở thành biểu tượng sự thức tỉnh những xúc cảm mãnh liệt và sự trưởng thành về bản ngã của con người trong đời sống hiện đại. Đó chính là ý nghĩa của hình tượng chim giây cót xuyên suốt cuốn tiểu thuyết lớn của Haruki Murakami

                              Nếu như Rừng Nauy vừa được trao giải thưởng Franz Kafka năm 2006 của Viện hàn lâm nghệ thuật CH Czech, thì Biên niên ký chim vặn dây cót là tiểu thuyết chính thức làm nên tên tuổi Haruki Murakami ở phương Tây và nhiều nước khác trên thế giới. Đến độ trên bìa các cuốn sách khác của Murakami, người ta thường đọc thấy dòng quảng cáo “Được viết bởi tác giả của Biên niên ký chim vặn dây cót”.

                              Câu chuyện đưa ta đến nước Nhật thời hiện đại, với những thân phận con người bé nhỏ, lạ lùng. Những cô bé 15 tuổi, như Kasahara May, ngồi sau xe môtô phóng với tốc độ kinh hoàng, vươn tay bịt mắt bạn trai phía trước. Sau tai nạn, bạn trai qua đời, chỉ còn lại mình cô với nỗi day dứt khôn nguôi: “Chính vì có cái chết, người ta mới phải băn khoăn nhiều đến thế về sự sống.”
                              Những thiếu nữ, như Kano Kreta, tự kết liễu đời mình để giải thoát những cơn đau triền miên có thể gặp phải bất cứ lúc nào, vì bất cứ điều gì nhưng không thành. Phải trả nợ một khoản tiền lớn cho hãng bảo hiểm, không do dự, cô đi làm gái điếm. Những Dân biểu nghị viên như Wataya Noburu, leo cao trong danh vọng nhờ tài lừa dối đám đông và khả năng khơi dậy những bản năng sa đoạ ở người khác…
                              Trong thế giới ấy, nhân vật chính của Biên niên ký chim vặn giây cót, Okada Toru, chàng trai giản dị và chân thành, phải đối mặt với biến cố lạ lùng: Kumiko, người vợ yêu dấu của anh bỗng nhiên biến mất không một lời nhắn gửi. Sự kiện phi lý này khơi nguồn cho sự thức tỉnh trong Okada, thúc đẩy anh ngắm nhìn, chứng nghiệm lại thế giới tràn đầy cái phi lý chung quanh mình, bằng con mắt bản thể.
                              Với Murakami, thế giới đầy những điều bất thường, phi lý trở thành động lực để con người lên đường trở lại với bản thể chính mình.Cũng tại thời điểm này, Toru Okada nghe thấy tiếng hót của con chim vặn giây cót, như tiếng vọng của bản ngã chính anh. Watanabe bắt đầu cuộc hành trình nhận thức, cuộc hành trình tràn đầy những xúc cảm mãnh liệt khám phá lại cuộc sống và tình yêu đã qua, cuộc sống đang diễn ra, của chính mình và những người xung quanh. Với Okada, từ đây cũng mở ra một thế giới siêu thực với những giấc mơ đầy ám ảnh tính dục, những căn phòng tối đen ngào ngạt phấn hoa cất giấu bí mật về sự lệ thuộc và nô dịch, bóng tối thẳm sâu của bản ngã và xa rời bản ngã, Thiền, và những năng lực tâm linh siêu hình. Trong những mối quan hệ đầy cảm thông và gần gũi với những phụ nữ khác, Kasahara May, mẹ con nhà tạo mẫu Akasaka Nhục đậu khấu, hay Kano Kreta…, Okada dần dần hiểu ra bản chất của cuộc sống con người, không phải một mắt xích của thế giới vật chất cơ giới từ bên ngoài, mà chính là những năng lực tưởng tượng sáng tạo của nội giới, những ám ảnh tinh thần truyền từ người nọ sang người kia, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

                              Okada cũng nối lại trong mình sợi dây liên kết bí ẩn mà mạch lạc với quá khứ xa xăm, nhờ những câu chuyện của các chiến binh xưa và nhân chứng sống như Akasaka. Một thế giới khác, giấc mộng bá chủ không thành của quân đội Thiên hoàng trên cao nguyên Nội Mông, trận Normohan, Trân Châu Cảng, những cuộc tàn sát man rợ trong và sau Thế chiến 2, khi con người từng rơi vào vực thẳm bởi chính sự tàn ác và lầm lạc của chính mình. Okada đã giác ngộ, không còn cách nào khác, chỉ có cương quyết diệt trừ cái ác, bắt đầu từ trong chính những - giấc - mơ của con người, đấu tranh chống lại nó trong chính thực tại hôm nay. Đó cũng là con đường để giải thoát cho người vợ thân yêu của anh đang bị giam cầm trong vết thương tinh thần như một ác mộng khủng khiếp về con quỷ Râu xanh, do chính người anh vợ, chính khách Wataya Noburu gây nên.

                              Okada và Watanabe của Rừng Nauy, là loại nhân vật quen thuộc của Murakami. Chân thành và giản dị, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ khuôn mẫu xã hội nào, sống và yêu thương với bản tính tự nhiên và hiện sinh, đồng thời lắng nghe, cảm thông, kết nối con người với nhau - các nhân vật thể hiện trọn vẹn và sâu sắc tinh thần nhân đạo của Murakami.

                              Bạo lực và tình dục, những yếu tố thịnh hành của thể loại tiểu thuyết đen phổ biến trên thế giới, xuất hiện trong tác phẩm của Murakami chỉ như một trong những phương diện miêu tả và khám phá đời sống. Vẻ đẹp tràn đầy tác phẩm là sự tinh tế và mãnh liệt của tinh thần và bản ngã con người, đủ để đưa Murakami đứng vào hàng các tác gia vĩ đại trên thế giới.

                              So với bản dịch Rừng Nauy ngọt ngào của Trịnh Lữ, Biên niên ký chim vặn dây cót đến với người đọc Việt Nam qua bàn tay của dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng với một phong cách nổi bật bởi sự chân xác, thấu suốt. Người ta không còn có cảm giác đây là một tác phẩm dịch nữa, để có thể tin cậy đắm mình vào sự dẫn dắt kỳ tài của một câu chuyện lớn.


                              **************************************


                              Rừng Nauy
                              Haruki Murakami

                              Nơi Murakami phá vỡ địa hạt cấm cuối cùng, để cho cái nhìn phóng khoáng và tự nhiên về xác thân của phương Tây tràn ngập trong văn ông.

                              Tên sách: Rừng Nauy
                              Tác giả: Haruki Murakami
                              Dịch giả: Trịnh Lữ
                              NXB Hội nhà văn và Công ty Văn hoá & Truyền thông Nhã Nam 2006


                              Trang bìa cuốn tiểu thuyết.

                              Có thể, bạn sẽ thấy lòng mình chạnh buồn khi cùng bước về thời tuổi trẻ của Watanabe, trước những câu chuyện về tình bạn, tình yêu, giữa con người - con người ở đây được trải ra trong một nhịp điệu tinh tế và trầm lắng. Bạn khó lòng dứt ra nửa chừng ở thế giới đó, nơi nỗi buồn đã vây kín những bước chân, khi tất cả các nhân vật đều thành thật trở về thế giới riêng tư của mình. Họ cô đơn tới mức không giấu giếm thân phận, nỗi niềm, những cật vấn cá nhân. Và ở đó, bạn gặp những câu chuyện chân xác, không màu mè, để tự mình vén lên bức màn quanh những nhân vật mang tính cách có phần lạ lùng: Toru, Naoko, và Midori.

                              Bất chợt lắng nghe bài hát của Beatle: Rừng Nauy, Toru nhớ lại mối tình đầu ngọt ngào và đau đớn của hai mươi năm trước. Nàng là Naoko, với vẻ đẹp mong manh và yểu mệnh trước cuộc đời, khi những cuộc đi lang thang vô định của hai người trong thành phố đã khởi nguồn cho tình yêu của chàng trai mới lớn. Không có được sự thăng bằng về tâm lý, Naoko rời bỏ tất cả tới sống trong một dưỡng đường, trong khi Toru ở lại gắng sống cuộc đời cô độc trong trường đại học. Điều gì gắn hai người với nhau, đó là cảm thức về cái chết sau vụ tự sát buồn thảm của người bạn thân nhất của cả hai: Kizuki. Họ bỗng nhận ra, sự nhẹ bỗng của tồn tại và sự mong manh của sợi dây tình cảm giữa người với người để rồi xích lại gần nhau trong nỗi chông chênh. Và mối tình ngọt ngào u uẩn chớm nở đó cũng không làm mờ phai những nghi vấn muôn đời của tuổi trẻ: Tại sao ta cô đơn, nền tảng cuộc đời là gì, cái gì có thể khỏa lấp nỗi trống trải trong một xã hội tham vọng và xa lạ, mang lại ý nghĩa cho cuộc hiện sinh ngắn ngủi. Đối diện cuộc đời, Naoko đã lựa chọn cái chết, còn Toru, chàng trai đó đã chọn sự sống, khi bắt đầu tình yêu mới với Midori ....

                              Rừng Nauy là như thế! Cuốn sách đã đưa Haruki Murakami lên vị trí một thần tượng văn hóa thế giới, đã gói trong mình hương vị của một Nhật Bản hôm qua và hôm nay. Có thể gọi đó là gì, khi thiên nhiên Nhật và con người Nhật mẫn cảm thì vẫn thế, trong nỗi trống vắng siêu hình, trong sự duy mỹ, trong tâm trạng bi thương về hai lẽ sống chết. Sự đầy rẫy những nhân vật tự tử vẫn là một dòng chảy chưa bao giờ cạn kiệt trong văn chương xứ sở này, đến Murakami cũng vậy. Ông là một nhà văn Nhật bản trong ý nghĩa đầy đủ nhất của từ này, khi đã cùng lúc gìn giữ những lý tưởng tinh thần và thái độ thẩm mỹ Nhật, đặc biệt là sự thấm đẫm cảm giác thiền của một người phương Đông.




                              Nhưng Nhật Bản của hôm nay, phải chăng là nơi người ta chứng kiến nỗi cô đơn của con người trong một xã hội hiện đại hãnh tiến và đầy ắp những giá trị vật chất, đã khiến các nhân vật của ông phải đi tìm nền tảng cuộc đời trong tình yêu và sự sống tự do, bình dị của cá nhân. Cá nhân và sự giải phóng của xác thân, như là công cụ cuối cùng, thông qua tình dục. Như một cái giỏ để những con người tuổi trẻ trút bỏ những bất lực của một đời sống buồn chán và mất phương hướng, tình dục cũng lại như một hình thức hướng thượng, thiêng liêng nhất của nhân tính, là biểu hiện gợi cảm của sự hòa hợp toàn vẹn, hòng mang lại cho đời ta hạnh phúc và ý nghĩa. Với những trang viết không kiêng dè, sex và chất thơ của sex, Murakami đã phá vỡ địa hạt cấm cuối cùng, để cho cái nhìn phóng khoáng và tự nhiên về xác thân của phương Tây tràn ngập trong văn ông. Và cùng với Rừng Nauy, bắt đầu thổi sinh khí cho nền văn chương ưa thuần túy tinh thần của Nhật Bản.
                              Phương Anh





                              **************************************

                              Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời
                              Haruki Murakami

                              Đó là câu chuyện đau đớn, khuấy động một cách ám ảnh. Một cuốn sách đẹp, gần như là mịn màng về những tầng sâu không thể dò đến của chúng ta.

                              Tên sách: Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời
                              Tác giả: Haruki Murakami
                              Dịch giả: Cao Việt Dũng
                              Nhà xuất bản Hội nhà văn và công ty Nhã Nam

                              Ngay từ nhỏ, cậu bé Hajime đã nhận thức sự bối rối và mặc cảm thân phận "con một", chẳng giống những đứa bạn cùng trang lứa. Và sau này, người bạn gái thân nhất của Hajime, Shimamoto-san cũng thuộc diện "con một" hiếm hoi. Đến người con gái mà Hajime lao vào với niềm đam mê khoái lạc không thể kiểm soát được, cũng là "con một"... Khuấy động ngay từ đầu câu chuyện là một chàng trai quá nhạy cảm với xung quanh như thế.

                              Năm 37 tuổi, Hajime đã có một cơ ngơi đáng để anh mỉm cười hài lòng, một công việc vừa kiếm ra tiền, vừa thỏa mãn sở thích cá nhân, một người vợ xinh đẹp mà anh hết lòng yêu mến, hai đứa con thơ lúc nào cũng quấn quít chân bố. Cũng như nhiều đàn ông khác ở lứa tuổi này, Hajime cũng có tình nhân, nhưng chỉ là thoáng qua mà không đọng lại chút dư vị nào.



                              Trang bìa cuốn Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời.

                              Hajime được yêu và cảm thấy sự may mắn và hạnh phúc. Nhưng trong cái vòng quay đều đặn mỗi ngày ấy, có cái gì nhói sâu âm thầm giục giã, mà đến một lúc nào đó, anh nhận ra mình chưa đủ. Cái người đánh thức niềm sâu thẳm ấy trong Hajime là một cô bạn học từ hồi cấp I, Shimamoto-san. Những bản nhạc, những ly cocktail mang hương vị đặc biệt của quán bar Robinet's, quá khứ tuổi thơ vấn vít... đã lôi kéo Hajime ra khỏi vòng quay thường nhật để tìm ý nghĩa của cuộc đời mình.


                              Và Hajime đã yêu, yêu một người chỉ duy nhất có cái tên và tình bạn thời quá khứ hơn 20 năm. Khó mà lý giải điều gì đã khiến một người đàn ông đầy chuẩn mực với gia đình và công việc như Hajime đã lần lượt cởi trói những gì đang bó buộc mình. Phải chăng đó là sự mong manh giữa một người phụ nữ quá mơ hồ đến cùng những lời hẹn "có lẽ", "có thể", "một khoảng thời gian nữa"? Phải chăng anh yêu cô như muốn tìm lại quá khứ của chính mình? Phải chăng anh đang muốn kiếm tìm lời lý giải về ranh giới giữa thực và hư?

                              Rốt cuộc thì bao sốt ruột chờ trông mong mỏi của Hajime cũng được đền bù thoả đáng khi họ cùng trốn gia đình để đến với nhau, bất chấp chuyện gì xảy ra. Rốt cuộc thì cả hai lần đầu tiên được yêu nhau như người đàn ông yêu một người đàn bà. Rốt cuộc thì cả hai đã tìm ra sự hòa hợp hoàn hảo của cơ thể... Nhưng ngay cả ở chốn tưởng như đã là tận cùng đó, họ vẫn không thể đến được với nhau.

                              Không phải Hajime mà tất cả những người phụ nữ trong cuốn sách này đều bọc mình trong lớp màn bí ẩn. Đằng sau tình yêu trong veo của cô gái Izumi là một mối hận khiến cô trở thành vô cảm. Đằng sau cô vợ Yukiko ngọt ngào và xinh đẹp là một lần tự tử hụt cùng những nỗi đau dẳng dai bên mình. Còn đằng sau Shimamoto-san là một thứ gì mà không ai có thể chạm tới được...

                              Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời là cuốn tiểu thuyết chứa đụng nhiều nhất con người thật của Haruki Murakami, và là câu chuyện đơn giản nhất mà Murakami từng kể. Tuy vậy, đơn giản không có nghĩa là dễ hiểu, và một lối kể chuyện giản dị không loại bỏ những nỗ lực kín đáo trong việc thoát ra khỏi những lối đi văn chương đã cũ mòn. "Sự kết nối" dễ thấy giữa Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời và những tác phẩm khác của Murakami có lẽ là năng lực đặc biệt của nhà văn Nhật Bản đối với cách tạo ra và xử lý cái bí ẩn. Không có mật độ dày đặc như trong Biên niên ký chim vặn dây cót hay Kafka bên bờ biển, cái bí ẩn ở đây giống như những đoạn nhạc jazz biến tấu ngẫu hứng trên nền của những bản nhạc cũ, và chính là cái để lại dư vị lâu nhất cho người đọc.
                              Như Hà

                              ************************************************


                              Kafka bên bờ biển (海辺のカフカ /Kafka on the Shore) - 村上春樹 (Haruki Murakami)

                              Người đăng: Trần Anh Khôi



                              Tôi đọc Haruki Murakami một mạch hai cuốn, đầu tiên là Biên niên ký chim vặn giây cót mà tôi đã giới thiệu, tiếp theo chính là Kafka bên bờ biển, bản dịch của Dương Tường.

                              Cũng như cảm giác khi đọc cuốn trước, lần này tôi cũng… không thích lắm, với cùng một lý do: yếu tố siêu hình hơi nhiều. Nhưng đây là tác phẩm đạt giải thưởng văn học Franz Kafka, và được khen ngợi ở nhiều nước, nên có lẽ bạn đọc sẽ không thất vọng với nó. Bản thân tôi vẫn tự cho rằng Rừng Nauy xuất sắc hơn.

                              Cuốn sách có hai tuyến truyện khác nhau, lần lượt đan xen cho đến gần cuối truyện thì có sự giao thoa. Một tuyến là chuyện kể của cậu bé 15 tuổi Kafka Tamura, ám ảnh bởi sự lìa xa của mẹ và chị gái, bởi lời nguyền của người cha (giống hệt “mặc cảm Oedipus” - mày sẽ giết cha và ngủ với mẹ), đã bỏ nhà đi. Tuyến thứ hai kể về ông già kỳ lạ Satoru Nakata, biết nói chuyện với mèo, không biết đọc và có thể tạo ra những chuyện lạ lùng như cơn mưa cá…

                              Những nhân vật khác, có vẻ “hiện thực” hơn, là Miss Saeki và Oshima làm việc ở thư viện, hay Sakura - cô gái giúp đỡ Kafka, tạo nên những mắc xích khác khiến câu chuyện “dường như” đi dần vào quỹ đạo của lời nguyền. Nói “dường như” là vì tác giả không tạo ra khẳng dịnh nào cả, chỉ là những giả định của nhân vật hoặc người đọc. Bên cạnh đó, còn có những nhân vật huyền bí như Johnnie Walker (giống tên loại rượu), Colonel Sanders (giống tên người sáng lập chuỗi KFC), và những con mèo Goma, Mimi, Okawa,.. tạo cho câu chuyện những tình huống phi lý, huyễn hoặc.
                              Tôi thích truyện khoa học giả tưởng như của J.Verne hay A.Belyaev, thích truyện tưởng tượng như Harry Potter; nhưng vẫn chưa mê được loại siêu thực của Haruki Murakami. Hay có lẽ cần thêm tuổi đời và trải nghiệm, cũng như thêm kinh nghiệm đọc sách?



                              Sẽ khó mà tóm tắt cốt truyện của Kafka bên bờ biển, bởi cái nổi bật của tác phẩm là diễn biến nội tâm của nhân vật, của những thông điệp chìm ẩn trong các biến cố kỳ dị và lạ thường. Bản ngã con người, được nhà văn thể hiện thông qua nhiều phương cách. Dù vậy, tôi có cảm giác hình như tác giả cũng chưa có ý đưa ra một thông điệp giải quyết vấn đề gì, mà chỉ nêu ra những tồn tại trong tâm hồn & tiềm thức của những con người sống trong xã hội hiện đại với vòng xoáy kinh khủng của nền công nghiệp.
                              Điều lớn mà tôi nhận thấy qua tác phẩm này chính là sự cô đơn, bế tắc của con người trong con đường đi tìm bản chất của mình. Điều này cũng có trong Rừng Nauy, nhưng ở đó là cô đơn của lớp trẻ; còn ở đây, là sự cô đơn toàn diện, cô đơn ngay cả trong gia đình, hàng xóm, cô đơn với quá khứ và tương lai.
                              Một câu hỏi thêm, phải chăng những tác phẩm lớn hầu như đều bi kịch? Và, những cuốn sách ấy, chúng ta càng thấm nhiều hơn khi đọc lại?

                              Tải bản tiếng Việt tại: [url="http://conmotsach.com/books/kafka_ben_bo_bien.prc"][COLOR=#c97e00]404 Not Found
                              Tải bản tiếng Anh tại: [url="http://conmotsach.com/books/kafka_on_the_shore.pdf"][COLOR=#c97e00]404 Not Found
                              Last edited by GRANDET; 05-07-2009, 08:03 AM.
                              Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

                              Comment

                              Working...
                              X
                              Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom