• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Những câu chuyện của tôi

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • #46
    Lớp người đổi mới khác xưa

    Thế giới quanh ta luôn biến động và xoay vần. Mỗi một năm qua đi, thời thế đổi thay, con người đổi thay. Còn nhớ nhạc sĩ Đoàn Chuẩn viết: “Lớp người đổi mới khác xưa”, chính là như thế. Bản thân chúng ta cũng thay đổi, già đi, nhiều kinh nghiệm hơn và nhiều suy nghĩ hơn. Nhưng ít ai biết được rằng tất cả những biến đổi ấy chỉ là bên ngoài, và bởi thế con người biến đổi theo dòng chảy thời gian.

    Với những kẻ chạy đuổi theo dòng thời gian, họ không đủ thảnh thơi để nhận ra rằng có những điều không bao giờ biến đổi. Thể xác con người có thể già đi, kinh nghiệm có thể nhiều lên, suy nghĩ có thể đa dạng và phức tạp hơn, nhưng đó chỉ là những thay đổi bề ngoài. Ta có thể chạy theo chuỗi biến động ấy để có cả giác rằng ta đang vận động, nhưng sự vận động ấy chỉ đưa ta đến tro bụi. Nhà thơ T.S Eliot viết:

    “Đâu là cuộc sống bị thất lạc trong sự sinh tồn?

    Đâu là sự thông thái thất lạc trong kiến thức?

    Đâu là kiến thức thất lạc trong thông tin?

    Vòng quay Thiên Đường trong 20 thế kỷ

    Đưa chúng ta rời xa Chúa và tiến gần đến với Cát Bụi”

    Điều này có nghĩa là, cách chúng ta chạy đuổi theo sự sinh tồn, chạy đuổi theo các mảnh vụn tâm trí vương vãi chỉ dẫn ta đến sự hủy diệt như cái kết cuối cùng. Đó có phải cuộc đời các bạn muốn theo đuổi? Trở nên có vẻ sâu sắc? Trở nên có vẻ thành đạt? Trở nên có vẻ thức thời? Sau tất cả, bạn sẽ còn lại gì? Không gì ngoài một nắm tro tàn…

    Một mùa xuân mới đang đến trước cửa với những tiếng xôn xao, với những gương mặt người khắc khổ nhưng vẫn gượng cười vui vẻ để thực hiện các nghi lễ. Xuân năm nào cũng tới, những gương mặt người năm nào cũng tái hiện, nhưng đó cũng không phải sự bất biến. Họ chỉ biến động trong một vòng quay. Trong sự biến động tuần hoàn ấy, họ cảm thấy có ích, họ cảm thấy đang được sinh tồn. Bạn muốn sinh tồn theo cách ấy ư? Để rồi tất cả cũng rơi vào thùng rác vĩ đại của vũ trụ, và đi đến ngày tàn…

    Một nghịch lý ít người nhận ra: Những người chạy theo dòng thời gian, đến một lúc nào đó, luôn giật mình nhìn lại và nhận ra thời gian trôi quá nhanh, ta đã già rồi và chưa làm được gì đáng kể. Thời gian đang trêu đùa con người đấy ư? Không! Bởi con người bị thôi miên theo vòng xoáy ấy, mà chỉ đôi lúc họ mới chợt tỉnh rồi sau đó lại lịm đi, rơi lại, để bị xoáy sâu hơn.

    Ừ… thời gian đang trôi… những vòng tuần hoàn đang thay nhau… , thì sao? Thời thế thay đổi, thì sao?

    Khoảnh khắc này, một bông hoa mai đang nở và bạn đắm chìm trong vẻ đẹp tinh khiết của nó, tức là bạn đang sống mà không phải sinh tồn.

    Khoảnh khắc này, ở bên người yêu, bạn đắm đuối yêu đương bất kể người đời lao xao, bận rộn, tức là bạn đang sống mà không phải sinh tồn.

    Khoảnh khắc này, tâm trí bạn phiêu lãng theo một vần thơ đẹp và điều gì đó đẹp đẽ đang nảy nở trong tâm trí bạn, tức là bạn đang sống mà không phải sinh tồn.

    Khoảnh khắc này, những đối thoại nội tâm để chiêm nghiệm về điều gì đó mênh mang của các thực tại cũng khiến bạn sống mà không phải sinh tồn.

    Khoảnh khắc này, bạn im lặng và cảm nhận cả vũ trụ đang ở bên trong mình, đó là lúc bạn hiểu thấu được sự bất biến.

    Điều này chỉ đến khi bạn nắm bắt từng khoảnh khắc trong cuộc sống và mặc cho ngoài kia vật đổi sao dời. Điều ấy có nghĩa là, ngay cả đứng trước sự hủy diệt thành tro bụi, bạn vẫn thấy khoảnh khắc ấy tuyệt đẹp. Mọi biến động có thể tác động đến bạn, nhưng bạn vẫn có đó, không biến mất cùng vạn vật, bạn trở nên bất biến.
    Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

    Comment


    • #47
      Ba Hoa Tiên Sinh ( Trích từ sách Trầm Tưởng )

      Tôi ngán ngẩm những kẻ ba hoa ; linh hồn tôi kinh tởm họ.

      Buổi sáng , khi thức dậy để đọc kỹ thư từ và báo chí đặt sẵn bên giường , tôi thấy chúng đầy dẫy ba hoa; tôi thấy toàn những chuyện lòng thòng vô nghĩa , thừa mứa đạo đức giả.

      Khi tôi ngồi bên cửa sổ để giũ sạch chiếc mạng buồn ngủ khỏi hai con mắt mình và nhấp ly cafe đen pha theo lối Thổ Nhĩ Kỳ, Ba hoa tiên sinh xuất hiện trước mặt tôi , chân nhảy lò cò , miệng hết la hét lại lẩm bẩm lầm bầm.

      Khi tôi đi làm hắn đi theo, thì thầm bên tai tôi và kích thích trí não nhạy bén của tôi. Khi tôi ra sức buông bỏ hắn , hắn cười khúc khích , rồi chẳng bao lâu lại tìm cách chen vào như nước lũ tràn tới bằng những chuyện trò vớ vẩn .

      Khi tôi ra chợ , nơi ngưỡng cửa các gian hàng đều có hắn đứng , phê bình phán xét người qua kẻ lại. Thậm chí tôi còn thấy hắn trên những bộ mặt im lặng vì hắn cũng tháp tùng họ. Họ không nhận ra sự có mặt của hắn tuy hắn đang quấy rầy họ.

      Nếu tôi ngồi với một người bạn , hắn làm kẻ thứ ba không mời mà đến.Nếu tôi lảng tránh hắn , hắn tìm cách cố xích lại thật gần để cho âm vang tiếng nói của hắn kích thích tôi , làm dạ dày tôi lộn lạo như ăn phải thịt ôi.

      Khi ghé thăm các cung đình và viện học thuật, tôi thấy Ba hoa tiên sinh cùng cha mẹ của hắn khoác áo Dối trá bên trong y phục lụa là và Đạo đức giả bên trong áo choàng lộng lẫy với khăn quấn đầu xinh đẹp.

      Đến thăm các văn phòng , cơ quan , tôi cũng kinh ngạc khi thấy ở đó có mặt Ba hoa tiên sinh đứng giữa mẹ hắn , dì hắn , ông nội hắn , đang trò chuyện , nhóp nhép đôi môi dày cộm của mình. Và các thân nhân đó vỗ tay tán trợ hắn , chế giễu tôi.

      Trong chuyến tôi viếng thăm đền đài cùng những chốn thờ phượng khác , lại thấy có Ba hoa tiên sinh ở đó, ngồi trên ngai , đầu đội mũ miện , trong tay cầm quyền trượng lấp lánh.

      Quay về nhà lúc chiều tà, tôi thấy hắn ở đó . Hắn treo mình lơ lửng trên trần nhà như con rắn , hoặc trườn trong bốn góc nhà như con trăn.

      Tóm lại , có thể tìm thấy Ba hoa tiên sinh ở khắp nơi mọi chốn, bên trong và bên kia các tầng trời, trên mặt đất và trong lòng đất, trên đôi cánh thinh không và đầu ngọn sóng biển , trong rừng sâu, dưới hang động và trên đỉnh núi.

      Liệu người yêu thích thinh lặng và tĩnh mịch có thể tìm được nơi nào không có hắn để nghỉ ngơi?Liệu Thượng đế có bao giờ thương xót linh hồn tôi và ban cho tôi ơn được câm nín để tôi có thể ở yên trong vườn địa đàng Im lặng?

      Liệu trong vũ trụ này có xó xỉnh nào cho tôi đi tới đó để được sống trong hạnh phúc?

      Liệu có nơi nào không là nơi buôn những chuyện trống rỗng?

      Liệu có nơi nào trong quả đất này người ta không nói lời sùng bái bản thân , thao thao bất tuyệt?

      Liệu có người nào trong tất cả mọi người mà miệng của hắn không là nơi ẩn núp của Ba hoa tiên sinh tinh quái và đểu cáng?

      Nếu chỉ một loại ba hoa thôi , tôi sẽ nhẫn nhục cam chịu. Nhưng Ba hoa tiên sinh nhiều vô số kể. Có thể chia chúng thành các dòng họ và các bộ tộc.

      Có những kẻ sống trong đầm lầy suốt ngày nhưng khi đêm đến , chúng lội vào bờ , trồi đầu lên khỏi mặt nước hay mặt bùn loảng , và chúng khiến cho đêm thanh vắng ngập tràn những tiếng kêu ồm ộp khủng khiếp làm nổ tung màng nhĩ.

      Có những kẻ thuộc dòng họ muỗi mắt .Chúng bay lượn quanh đầu chúng ta , tạo thành những âm thanh cực kỳ nhỏ nhưng ghê gớm và đáng ghét.

      Có những dòng họ gồm các thành viên nốc ừng ực bia rượu và đứng nơi góc đường , làm thinh không tràn ngập những tiếng lè xè đục quánh hơn bãi trâu đầm.

      Chúng ta cũng thấy một bộ tộc kỳ cục gồm những kẻ sống cho qua thời gian nơi nấm mộ của Cuộc đời, bằng cách cải biến im lặng thành một loại than thở nghe thảm thiết hơn tiếng rúc của chim cú.

      Rồi có các bang hội gồm những Ba hoa tiên sinh , tưởng tượng cuộc đời như khúc gỗ để từ cái đó chúng cố sức đẽo gọt ra một cái gì đó cho chính chúng nhằm tâng bốc chúng.Và tiếng đẽo gọt của chúng nghe ken két gớm ghiếc hơn tiếng đinh tai nhức óc của máy cưa.

      Đi theo bang hội ấy là một môn phái gồm những sinh vật tự nện mình bằng chày gỗ , làm phát ra những tiếng kêu rỗng tuếch và kinh hoàng hơn cả tiếng trống long tong của người rừng rú hoang dã.

      Hỗ trợ các sinh vật ấy là một chi phái gồm các thành viên chẳng làm gì cả , chỉ ngồi xuống những nơi kê sẵn ghế và nhai nuốt lời nói thay vì thốt ra chúng.

      Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp một buổi liên hoan của những kẻ ba hoa, thêu dệt hết kiểu này cách nọ nhưng vẫn chẳng ra quần ra áo.

      Nhiều khi chúng ta tình cờ đi ngang một hội đoàn độc đáo của những kẻ ba hoa với các đại biểu của chúng y hệt chim sáo mà cứ tưởng mình là đại bàng khi chúng bay vút lên theo dòng chuyển động của những lời chúng phát biểu.

      Và thế nào về những Ba hoa tiên sinh thích kéo chuông gọi người đi nhà thờ nhưng chúng không bao giờ đặt chân vào giáo đường.

      Vẫn còn nhiều bộ tộc và nhiều dòng họ của Ba hoa tiên sinh nhưng chúng nhiều quá đếm không xuể. Theo ý kiến tôi, lạ lùng nhất là một môn phái gồm những thành viên gây rối vũ trụ , từ thời này sang thời khác, với tiếng ngáy và tự làm mình thức giấc khi họ nói, "Chúng tôi uyên bác biết bao!

      Sau khi bộc lộ sự ghê tởm của tôi đối với Ba hoa tiên sinh và những kẻ cùng chung chí hướng với hắn , tôi thấy mình như một bác sĩ không thể tự chữa trị , hoặc giống như kẻ bị kết án đang giảng dạy các bạn tù. Tôi đã và đang châm biếm Ba hoa tiên sinh cùng các bạn bè ba hoa của hắn bằng hành động ba hoa của chính tôi.Tôi chạy trốn những kẻ ba hoa nhưng tôi cũng là một tên trong bọn chúng.

      Liệu Thượng đế có tha thứ các tội lỗi của tôi trước khi ngài ban ân phúc cho tôi và đặt tôi trong thế giới của Tư tưởng , Chân lý và Thương cảm , nơi không có mặt những kẻ ba hoa?
      Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

      Comment


      • #48
        Truyện Cổ Tích
        Đám cưới chị Cáo
        Ngày xửa ngày xưa, có con cáo già có chín đuôi, nó nghĩ, mình phải thử xem vợ mình có chung thủy không? Nó nằm sóng xoài dưới gầm ghế dài, nom như đã chết từ đời thuở nào ấy. Vợ cáo buồn rầu đóng cửa buồng mình lại, ở buồng ngoài chỉ còn chị mèo người ở đang đứng bên bếp nấu ăn.
        Chuyện cáo già chín đuôi chết đã lan tin khắp nơi.
        Một hôm, nghe tiếng gõ cửa, mèo ra mở cửa, thấy mèo, chàng cáo liền nói:
        – À, chào chị mèo. Bà chủ ở nhà, Bà ngủ hay thức?
        Mèo đáp:
        – Bà có ngủ đâu, tôi đang mải nấu. Ông từ đâu tới, tới có việc chi?
        Chàng cáo nói:
        – Cám ơn chị mèo. Xin chị cho biết, Bà cáo làm chi?
        Mèo đáp:
        – Ông cáo về trời, để nơi trần gian một mình bà chủ ủ rũ trong phòng.
        – Này chị mèo ơi, xin chị giúp với tôi tới nơi đây, kết bầy, kết bạn.
        – Thế cũng được thôi, để tôi vào hỏi.
        Mèo chạy tung tăng, lăng xăng gõ hỏi:
        – Bà cáo, bà ơi, có người tới chơi.
        – Trời ơi, gì đó? Có khách tới nhà?
        – Có người tới đây,
        Kết bầy, kết bạn.
        – Này mèo thân mến,
        Người đến nom sao?
        Có hao hao giống,
        Ông cáo chín đuôi?
        Mèo đáp:
        – Ông khách nhà mình. Hình như mỗi “một.”
        – Thế thì thôi nhé, để ông đi.
        Khách này vừa mới đi khỏi, lại có khách khác tới gõ cửa. Chàng cáo này có hai đuôi, nhưng hai đuôi thì ít quá, rồi lại có chàng ba đuôi, bốn đuôi… tám đuôi tới, nhưng tất cả đều thất vọng ra đi. Chàng cáo cuối cùng cũng có chín đuôi như cáo già. Quả phụ nghe thế, reo vui bảo mèo:
        Mở ngay cửa nhà,
        tống cáo già ra!
        Đúng lúc đám cưới bắt đầu cử hành thì cáo già vùng dậy, vung gậy đập tứ tung, đuổi đánh, tống khứ tất cả ra ngoài đường.
        Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

        Comment


        • #49

          Mùa Xuân Tuổi Ngọc


          Trích : Tạp Chí Sông Hương Xuân Nhâm Thìn

          ĐÔNG HƯƠNG

          Trí nhớ tôi tự dưng quay trở về với tuổi thơ, tuổi ba mẹ vừa cho đi học. Ờ! Lâu quá rồi, cái Tết đối với tôi không còn ý nghĩa gì nữa, trí nhớ lơ mơ trở lại khoảng đời thơ ấu, có lẽ đẹp nhất trong đời của mỗi con người của chúng ta.


          Đó là khoảng vào năm tôi lên sáu tuổi, cuối những năm bốn mươi thế kỷ trước.

          Từ tháng 11, Huế bắt đầu mưa phùn, cái thứ mưa nho nhỏ hạt nhưng thấm lạnh vào tận xương tủy, tuy thế vẫn thấy mùa xuân lãng đãng đâu đó đang về với những chậu mai vàng, chậu bạch đào, lê, mận, táo… đang đầy nụ sắp hé môi cười chào Tết.

          Tết! Tôi nghe mệ nói chữ này thường xuyên, nhưng ở tuổi ô mai còn nhảy dây, lò cò, thả khăn, thì tôi chưa hiểu ý nghĩa của chữ Tết.

          Chỉ biết bắt đầu tháng Chạp ta, trong nhà rộn hẳn, cô, dì, chú, bác, mệ lăng xăng, mỗi người có phận sự riêng.

          Nhà nội rộng ở Bàu Vá, cả chục phòng, thêm vào một dãy nhà ngang bên cạnh. Ôn nuôi một bầy cháu nội có, ngoại có, gần cả hai chục người, trong nhà lúc nào cũng nghe rộn rã tiếng cười từ chập sáng đến tối.

          Năm nớ nghe mẹ, con dâu trưởng bàn bạc với các cô nhà sẽ ăn Tết như thế nào, làm chi. Mấy ngày sau, mẹ và các cô dẫn em Joe, em trai tôi và tôi đi chợ Tết sắm quần áo, giày. Lần đầu tiên trong năm mẹ cho phép tôi chọn hàng, chọn màu để may áo, em Joe còn nhỏ, nó cứ đòi mua đồ chơi.

          Chợ Tết ở Huế vui chi lạ, đông người. Những gian hàng bán hoa bày đầy luôn lên vỉa hè và trên đường trước cửa chợ Đông Ba, hoa khoe muôn màu sắc từ mai vàng, đào hồng và trắng, mẫu đơn, thược dược, hoa cúc đủ màu. Nói đến hoa cúc, ở Việt Nam là hoa tượng trưng ít nhiều cho Tết, còn nước Pháp tôi đang ở lại là hoa mà ngày lễ Chư thánh (1/11) người ta mua đem vào nghĩa địa đặt trên mộ người thân. Cũng như ngày xưa khi còn ở Đà Lạt, tôi rất ghét hoa Hortensia vì hoa này người ta mua đi viếng mộ, mà ở đây là loại hoa mùa hè và thu.

          Trong chợ, những núi dưa hấu cao gần 3 lần tôi. Thấy mẹ và cô lựa mãi, tôi hỏi tại răng? Cô nói phải lựa được trái nào thật nặng nước và cơm thật đỏ thì nguyên năm sẽ thịnh vượng và hạnh phúc. Lại thêm một bài học mới mẹ nhét vào trí nhớ bé tí của tôi.

          Vui thật! Tôi chỉ chờ có tháng này để đòi chi được nớ.

          Xong thấy mẹ và cô mua thêm đủ thứ nào carotte, bắp su, củ cải trắng, dưa chuột, hành, thịt heo, nếp, đậu xanh cà, riềng, tỏi, củ kiệu tươi, lá chuối, lá đung… Lá chuối để gói bánh tét, lá đung gói bánh chưng, và thêm những củ hành là lạ không giống với hành làm bếp… Tôi hỏi cô tôi mua hành ni làm chi? Cô nói đây là những củ thủy tiên, một loại hoa (!). Rồi nào gừng tươi, bí đao, hạt dưa đỏ, dừa, hạt sen tươi, đường…

          Sau đó chú Lang và chú Tân đánh xe cho mọi người về nhà.

          Bắt đầu hôm sau, ngủ dậy, thấy mọi người lăng xăng dưới bếp, người cắt carotte, bí đao thành từng miếng dài như ngón tay, người xắt dừa lát mỏng, tôi đòi uống nước dừa trong trái vừa đập bể, cô không cho nói là hôi dầu, mặc kệ, cứ uống đại, hơi hăng hăng chút nhưng vẫn ngon. Ôi! tuổi nớ ăn chi, uống chi mà không ngon!

          Mấy ông anh họ, cuối tuần là biến mất, khi nhà có việc cần, vẫn trốn đi chơi. Thấy cô tôi ngồi lột hạt sen, tôi sà lại xin giúp; kết quả không ra gì, trái lại còn để ít máu đỏ trên rá, cô biểu thôi đi chơi đi! Tôi sà lại gần mẹ, mẹ đang lột vỏ củ thủy tiên, hỏi mẹ làm gì? Mẹ nói là tỉa cho hoa có hình dạng theo ý thích của mình.

          Trong bếp, đã ngửi thấy mùi đường thơm phức trong mỗi chảo riêng cho những miếng bí, dừa, hạt sen, gừng… Phải quậy luôn tay cho khỏi khét, đó là những chảo mứt. Rứa còn carotte, dưa chuột, củ kiệu, bắp su?… Cô tôi đang ngồi thái từng khoanh mỏng chung quanh có khứa cho đẹp. Cắt các thứ xong rồi đem sấy cho khô, mới bỏ vào thẩu đổ có chứa nước mắm đường. Chờ cho thấm vài ngày, gọi là dưa món. Cải bẹ xanh ngâm nước muối cho chua để ăn với thịt kho tàu. Còn riềng thái mỏng để làm tré. Tré ở Huế, đặc biệt là ở thành Mang Cá, rất nổi tiếng (nhắc tới mà phát thèm luôn!). Tôi lí lắc, cái chi cũng ưa hỏi. Phần nhiều người chịu trả lời tôi là Mệ, bà nội thứ hai, vợ sau của ôn. Mệ rất dễ thương, sống dung hòa với bà nội, không ai ganh ai, vì bà có giang sơn riêng của bà. Mệ sống một cõi riêng ở Nguyệt Biều.

          Mẹ có phận sự tỉa hoa thủy tiên, củ cải trắng thành những hoa ngọc lan, carotte thành những cành hoa anh trảo (còn có tên y lăng hay hoàng lan). Mẹ rất khéo tay, từ nội trợ đến thêu thùa may vá, hội họa, thơ phú, gần như công dung ngôn hạnh hoàn hảo, mà cũng phải vì bà ngoại tôi rất khó.

          Xong mấy chuyện đó, mọi người nghỉ khỏe vài hôm. Cô tôi ra chợ mua hoa, lựa từng cành mai đang còn nụ và làm sao để nở đúng ngày Tết, từng chậu cúc đủ màu; mai vàng đem về chưng trong mấy lọ sứ Tàu của ôn.

          Cũng mấy ngày ni, mẹ bắt đầu cắt vải may áo cho tôi.

          Các anh và em trai tôi thì bà và mẹ sắm đồ may sẵn. Mẹ may cho tôi chiếc áo đầm trắng có kết ren chung quanh.

          Đến còn cỡ mười ngày chót của tháng, trong nhà trở lại rộn rịp; sáng ngủ dậy nghe tiếng heo ụt ịt ngoài vườn, hai con heo lông đen thui đang bị trói trong rọ.

          Tôi theo các anh đi học, chiều về, thấy hai chú heo trắng nõn nằm trên bàn dưới bếp.

          Chú Tân biết ý, đã dành lại hai bong bóng còn gân đo đỏ; mấy anh giành nhau để làm bóng đá. Tôi không đụng tới vì thấy dơ. Joe nhỏ nhất, các anh cho nó một cái. Tôi quên nói là Joe rất lo sợ khi nghe bà biểu chú Tân làm thịt hai con heo vì mẹ có nuôi cho nó một con heo nhỏ hơn, nó sợ nhà làm thịt con heo của nó. Thêm vào đó, nó còn có con gà cồ, lúc gà con nhỏ, gà mẹ ghét bỏ, cứ theo cắn đuổi đi. Mẹ tôi thấy tội, bắt vào nuôi, đêm nó ngủ với em Joe trong nôi. Giờ Joe là “vương”, có hai tên “lính hầu” luôn luôn lẽo đẽo theo sau (một heo và một gà).

          Nói đến Joe, giờ nghĩ lại thấy thương, tuy giờ này nó cũng già đầu như tôi. Joe luôn luôn bị chị Vân con dì Ba và tôi ăn hiếp. Mỗi năm, mẹ cho mỗi đứa một con heo đất, hễ ai lì xì tiền thì bỏ vào đó, đến cuối năm có quyền đập ra lấy tiền đó muốn mua chi thì mua. Tôi rất khôn, tiền ai cho, lấy ăn hàng gần hết, đến còn hai tháng cuối, tôi nói với Joe là heo mình bị bể, xin hắn cho để tiền chung. Đến Tết, đập heo ra, tôi bắt nó phải chia đôi tiền! (bây giờ mỗi khi tôi kể chuyện xưa, Joe cười nói nó biết nhưng vì thương chị nên để tôi ăn hiếp).

          Ngày 23 Tết, thấy có mâm cơm cúng trong bếp, tôi hỏi dì Ba cúng ai rứa? Dì nói để đưa ông Táo đi chầu Trời, rồi cắt nghĩa cho nghe; rứa mà ngu còn hỏi lại:

          – Ủa răng cả năm có thấy ai trong bếp mô nờ? Dì nghe hỏi, cười ngất.

          Các cô, dì bắt đầu vút nếp, nấu đậu xanh cà, chặt thịt heo thành từng miếng bằng hai ngón tay, và bắt đầu đem lá chuối, lá đung ra gói bánh, bánh dài là bánh tét, bánh vuông là bánh chưng. Mệ tôi cắt nghĩa tại răng có bánh chưng bánh tét, tượng trưng cho đất và trời. Trong bếp còn có nồi thịt kho tàu thơm lựng.

          Còn hai ngày chót, mệ gọi mấy anh em đem lư, chân đèn bằng đồng trên bàn thờ ra chùi cho bóng loáng. Nói đến đây, tôi còn ngửi thấy mùi thuốc chùi đồng trong mũi. Xong lau chùi bàn thờ cho thật sạch.

          Đến trưa 29 Tết, bánh gói xong, được bỏ vào trong cái nồi thật lớn, để lên bếp làm bằng 3 cục gạch ngoài vườn ngay sau bếp, nấu bằng củi. Nồi bánh nấu rất lâu chín, nên phải có người canh củi lửa, đó cũng là phận sự của mấy anh em.

          Trời Tết tuy lạnh, nhưng ngồi cạnh lửa cũng ấm. Mấy anh kể đủ thứ chuyện, từ mê gái đến bơi lội, đàn mandoline. Hồi đó tôi chỉ thấy có đàn mandoline trong nhà chứ không biết gì hơn ngoài piano ba bắt tôi học. Anh Vang có tài thổi sáo, anh đem ra thổi những bản nhạc tiền chiến Thu vàng, Lá thư, Tà áo xanh…Còn mấy anh khác kháo nhau chuyện theo gái, anh Bích mê chị nào đó, gửi thư tình bị trả lại, buồn xo… Trời bắt đầu tối, mệ gọi vào ăn cơm nhanh để còn canh nồi bánh tiếp.

          Ăn xong, trở ra, trời tối mịt. Tôi đã bắt đầu sợ ma, chui vô ngồi giữa mấy anh, sau đó chú Lang cũng theo ra ngồi hút thuốc, kháo chuyện. Mấy anh nhao nhao đòi chú kể chuyện ma, chú biết rất nhiều, từ ma rà, ma trơi, ma hời, ma cà rồng… Lúc đầu ai cũng loi nhoi, sau dần dần nín thinh, im bặt và ngồi sát lại nhau. Mắt người nào cũng dòm chừng sau lưng mình.

          Qua chiều 30 Tết, tôi lại thấy có mâm cỗ khác với nhiều món ăn hơn. Đây là mâm cơm cúng ông bà và rước thần Táo mới về nhà.

          Mẹ bưng lên đặt trên mấy bàn thờ nào bánh trái, hoa quả, dưa hấu, mứt, dưa món. Bàn thờ được chưng mai, thủy tiên, cúc… thật khéo. Tôi đã nhận ra mấy chậu thủy tiên mẹ tỉa cách mấy tuần trước thật công phu. Tuy tuổi nhỏ, nhưng vẫn thấy cái đẹp của những giò thủy tiên. Sau đó mệ bắt mấy anh em lên lạy trước từng bàn thờ, Joe và tôi không hiểu chi nhưng cũng bắt chước lạy theo.

          Cúng xong, cỗ được bưng xuống, gia đình bắt đầu dùng cơm, bữa cơm này gọi là bữa cơm tất niên.

          Xong cả đám được thả đi chơi, đi ra ngoài vườn đốt pháo, đến 12h đêm pháo nổ đì đùng làm mấy chú chó hoảng hồn sủa vang từ đầu xóm đến cuối xóm. Tôi rất sợ pháo, cứ lấy tay bịt tai. Đến đây, lại nhớ chú Đát. Ở nhà hồi nớ ôn có nuôi một con lừa, tối nớ chơi ác, chú cột một viên pháo tống vô đuôi nó, đốt nổ ầm như tiếng đại bác, con lừa lăn ra giẫy chết. Chú bị ôn đánh cho một trận ngay ngày mồng một Tết. Ở nhà, ôn rất nghiêm và khó, con cháu ai cũng sợ, lén gọi ôn là B52, lúc nớ tôi không hiểu. Sau này, mới hiểu ra, đó là bom B 52 của Mỹ.

          Trở lại chuyện Tết Huế xưa. Qua sáng mồng một, mọi người dậy, mặc quần áo mới để đi mừng tuổi ôn bà, mệ. Tôi được diện áo đầm mẹ may, mang vớ mỏng trắng và giày màu đen, các anh và Joe bận sơ mi mới, quần đen lên mừng tuổi ôn bà, mỗi đứa được lì xì một phong bao đỏ có viết ba chữ Phước – Lộc – Thọ bằng chữ Tàu. Xong cả bầy lại đi qua mừng tuổi ba mẹ, chú, cô, dì… lại được từ mỗi người một phong bao khác; mở ra toàn giấy tiền mới toanh!

          Mọi người chờ nhau xem ai đi xông đất nhà ai trước, phần nhiều là ôn đi trước vì ôn là người quan trọng trong xóm.

          Người ta rất kỵ bị xông đất những người đang có tang, hay mấy bà sắp có con, sợ “rông” cả năm.

          Mấy ngày liên tiếp, cả bọn xúm lại đổ xăm hường, không biết bài này chỉ có ở Huế hay các nơi cũng có? Bộ bài gồm có những thẻ được vót bằng tre: nhứt, nhị, tam, tứ hường, trạng anh, trạng em… (tôi không nhớ rõ lắm) và đổ bằng mấy con đê.

          Lúc đó, ở nhà mẹ có nuôi người con nuôi tên Hiếu, anh rất mê chơi bài này. Sáng mồng một mẹ gọi Hiếu ơi Hiếu hỡi cũng chả thấy đâu. Mệ đi tìm, nghe ở dãy nhà ngang có tiếng đê lẻng xẻng trong đọi, mẹ trờ tới (ở nhà, ôn và bà có để sẵn hai quan tài sơn son thiếp vàng đợi ngày về với đất), anh đang chui trốn nằm trong đó đổ xăm hường một mình. Mẹ lôi anh ra, thấy mặt anh xanh vì sợ bị đòn, mẹ cười xòa, không mắng vì tội nghiệp anh, sợ anh xui cả năm.

          Trời! Mấy lát bánh tét mềm, vừa dẻo vừa bùi ngon làm sao! Có thể ăn kèm với thịt kho tàu, dưa món hay với mật mía, hoặc chiên giòn. Năm tôi lên mười, bà nói mẹ may cho tôi bộ áo dài để bà dẫn tôi vào mừng tuổi Đức Nam Phương Hoàng Hậu. Sở dĩ bà nội vô Tử Cấm Thành mừng tuổi Hoàng Hậu là bởi ôn nội tôi trước là Thượng Thư Bộ Lễ rồi Thượng Thư Bộ Công Tôn Thất Quảng, từng nhiều khi đứng ra tổ chức Lễ tế Đàn Nam Giao.

          Đó là chiếc áo dài đầu tiên may bằng gấm đỏ, quần xa tanh trắng, đầu chải găm hai chiếc kẹp bằng bạc hình con bướm, mang đôi guốc sơn đen có vẽ hình nhành mai và lá xanh, quai nhung đen.

          Lần đầu tiên trong đời, bận mấy thứ luộm thuộm đó, tôi lọng cọng, mang guốc không quen, đi trợt lên, trợt xuống, tay cứ xoắn lấy vạt áo bị mẹ la sợ nhăn, coi thất lễ. Rồi bà lại còn dạy cách đi đứng, ăn nói, trả lời với Hoàng hậu.

          Hoàng hậu đẹp chi lạ, ăn nói từ tốn, dịu dàng, ân cần hỏi tôi nên tôi cũng bớt sợ, còn cười duyên với Hoàng hậu. Hoàng hậu lại lì xì cho tôi phong bao đỏ đầy giấy tiền.

          Sau này nghĩ lại mới biết đó là một ân huệ được đi mừng tuổi bà Hoàng, vì dễ gì mấy ai đã có diễm phúc đó!

          ]"]WordPress.com

          Bao nhiêu năm xa nhà, xa quê, ngay từ lúc ba mẹ đổi vào Nam, tôi mới vừa mười ba tuổi, nhưng Tết đến, tôi không còn vui như ngày ở Huế, có thể Sài Gòn quá rộng chăng, thành ra không khí Tết bị loãng đi, tuy chợ hoa Nguyễn Huệ thật lớn, lớn hơn chợ hoa Huế nhiều.

          Có lẽ không còn mảnh vườn tuổi thơ, ngôi nhà tuổi thơ, ôn, bà, các anh ra đại học, mỗi người một ngả… Giờ trên mảnh đất xa trời quê hương, tôi sống ở một tỉnh nhỏ thuộc Pháp không người Việt, tôi quên dần mùa xuân, quên dần tục lệ. Hơn nữa, từ ngày mẹ qua đời, không còn ai cúng quảy, tôi quên luôn ngày đưa ông Táo, ngày rước ông bà, đi chùa hái lộc mừng tuổi Phật…

          Đã không có Tết, không có mùa xuân, chỉ nghe tiếng: on est au printemps, nhưng chẳng thấy chim én biểu hiệu cho mùa xuân vì trời lạnh quá. Đã không có mùa xuân thì làm chi có mai vàng; làm gì có cúc, có thược dược; làm chi có bánh tét, bánh chưng, bánh tổ… Có thể chỉ thấy trong giấc mơ.

          Hôm nay đọc được“mùa xuân bên ấy”, kỷ niệm cứ theo về như nước lũ, và lần đầu tiên tôi cảm thấy trong tim mình đang có lại mùa xuân.
          Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

          Comment


          • #50
            Thần Giếng

            Dân gian vẫn thờ các vị thần rất đỗi thân thương quen thuộc với mọi nhà,đó là thần giữ cửa,thần nhà,thần giếng,ông táo, và ông địa.Giếng gần gũi với đời sống sinh hoạt con người vì mọi người chủ yếu lấy nước mát lạnh từ giếng.Thần giếng thuộc thần nhà.Không có đền hay điện thờ nào cụ thể dành cho vị thần giếng, người ta cũng không tạc tượng ngài.Người ta thờ thần ở hốc tường gần cái giếng

            Quyển sách may mắn của tôi, văn hoá China luôn đầy rẫy những vị thần linh

            .a/6a013486d6ac7d970c0263e974e2ba200b-pi]"]minh's blog


            .a/6a013486d6ac7d970c026bdea23afd200c-pi]"]minh's blog


            Thần Giường

            Trong triều đại Minh và Thanh có truyền thống là cô dâu chú rể dâng lễ vật cho thần giường trong phòng hoa chúc.Lễ vật có thể là kẹo và rượu.Phong tục này thực sự phổ biến từ đầu nhà Tống.Có hai vị thần giường, một nam một nữ.Truyền thuyết kể rằng vua Văn nhà Chu và hoàng hậu có tới 100 người con và được nam thần nữ thần giường phù hộ.

            Sử sách ghi chép rằng, nữ thần giường thích uống rượu và nam thần thích uống trà, vì thế,cả hai được đặt trên giường hôn nhân để chúc phúc.Theo phong tục cũ, giường tân hôn sẽ được đặt trong phòng hoa chúc vài ngày trước đám cưới.Vị trí của giường và ngày đặt giường phải hợp với giờ sinh của đôi vợ chồng trẻ.Lễ vật cũng được dâng trong ngày này.
            Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

            Comment


            • #51
              Truyền kỳ mạn lục ( Truyện thần dị, lạ kỳ trong Văn học cổ Việt Nam )

              Khi tôi còn nhỏ tôi say mê truyện cổ tích và mẹ tôi cũng kể chuyện cổ tích hoặc truyện ngụ ngôn cho tôi nghe. Gia đình chúng tôi ở nhà một người bác họ và ông bác thỉnh thoảng vào phòng chúng tôi nói chuyện. Thời ấy thiếu thốn nên trong tuần có những ngày cúp điện thường xuyên và họ cúp điện cả buối tối . Cúp điện buộc chúng tôi phải sử dụng đèn dầu thắp sáng. Một tối kia ông bác lại vào phòng chúng tôi nói chuyện dưới ánh đèn dầu le lét , ông bác nhìn những cái bóng trên tường và kể câu chuyện …Có bà mẹ kia chỉ những cái bóng ở trên tường rồi nói với đứa con rằng: đó là bố mày đó …

              Tôi chỉ nghe loáng thoáng được như thế thôi nhưng chuyện của ông bác khiến cho tôi một cô bé rất sợ ma lại càng sợ thêm. Sau này tôi hỏi lại mẹ câu chuyện của ông bác kể hôm ấy nhưng mẹ tôi cũng chẳng thể làm tôi hết sợ được.

              Đến bây giờ tôi mới tìm ra gốc tích của câu chuyện ấy : Truyện nằm trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có tên truyện Người Con Gái Nam Xương.

              Truyện kể về nàng Vũ Thị Thiết

              Nàng Vũ xinh đẹp nết na lấy anh chồng họ Trương .Hai vợ chồng thương yêu nhau rất mực nhưng chăn đệm chưa ấm chỗ thì chàng bỗng phải đăng lính đi đánh giặc phương xa để lại cho nàng một giọt máu.Thằng cu Đản ra đời, nàng thay chồng tần tảo sớm hôm nuôi già dạy trẻ.Rồi mẹ chồng mất , nàng ma chay chu đáo làng nước ai cũng khen ngợi.Ba năm sau, chàng Trương được giải ngũ về quê đứa bé bắt đầu biết nói. Chàng giơ tay bế con nhưng thằng bé còn lạ không theo với một lý do” Đây không phải là bốbố đến tối mới đến nhà kia.Bố đến lúc nào cũng theo mẹ, mẹ đứng bố cũng đứng ,mẹ nằm bố cũng nằm” Câu nói của trẻ ngây thơ như một gáo nước lạnh dội vào người , làm cho chàng tin chắc vợ ngoại tình đánh đập chửi bới vợ thậm tệ không tin lời phân trần nào của nàng. Phẫn uất tủi hổ quá , nàng chỉ biết ngồi ôm con , nước mắt dàn dụa nghẹn ngào chẳng nói nên lời. Trời tối , nàng ra bờ sông Hoàng Giang , gieo mình xuống dòng nước tự tử.Đêm ấy đứa con không thấy mẹ về khóc mãi. Chàng Trương thắp đèn dỗ con.Thấy ánh đèn in bóng chàng trên vách , thằng bé chỉ vào bóng nói bi bô:”Bố kia kìa”.Chàng Trương sững người . Hoá ra trong những ngày xa chồng , người vợ tối tối thường chỉ vào bóng mình trên vách nói đùa con “Bố đấy” để đỡ nhớ.Hiểu ra thì quá muộn màng.Chàng hoảng hốt tìm vợ khắp nơi nhưng nào thấy .Biết vợ đã gieo mình xuống sông chàng thuê người mò xác nhưng biệt tăm hơi.Khâm phục cho sự sạch trong , xót thương cho nỗi oan khuất của nàng dân làng dựng miếu thờ bên sông , gọi là “Miếu vợ chàng Trương”

              ]"]WordPress.com — 404 Error

              Lê Thánh Tông làm bài thơ sau đây

              Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương

              Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

              Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ

              Cung nước chi cho luỵ đến nàng

              Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt

              Giải oan chi lọ mấy đàn tràng

              Qua đây bàn bạc mà chơi vậy

              Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng

              Truyền kỳ là một loại hình văn học, thường được gọi là văn ngôn đoản thiên tiểu thuyết, hoặc đoản thiên tiểu thuyết, cổ điển tiểu thuyết, xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối triều Tùy (581-618). Đến đời Đường (618-907), văn chương truyền kỳ phát triển mạnh mẽ. Truyện truyền kỳ có đặc điểm là nhiều tình tiết mang tính thần dị, lạ kỳ, bắt nguồn từ loại truyện chí quái thời Lục triều. Loại hình truyền kỳ có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc.

              Trong Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, tất cả đều thể hiện thật rõ ràng thái độ nhân sinh, ý tưởng đạo đức, quan điểm chính trị của tác giả. Ở cuối mỗi truyện, ông đều có một lời bình. Mỗi lời bình hầu như là một sự tổng kết mang ý nghĩa triết lý do tác giả đúc rút từ những suy ngẫm của ông về truyện đời, về tất cả buồn, vui, sướng, khổ của con người.

              Đặc biệt truyện Từ Thức gặp tiên nằm trong tác phẩm này , vậy mà tôi cứ ngỡ nó là truyện cổ tích Việt Nam.
              Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

              Comment


              • #52
                Thanh tao như trà
                Không biết từ khi nào, có lẽ từ lâu lắm rồi, trà là một trong những thứ không thể thiếu trong các gia đình của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng.

                Uống trà là thú vui tao nhã, thanh cao - Ảnh minh họa


                Như câu nói sau đây: “Quan môn thất kiện sự, sài, mễ, du, diêm, tương, thố, trà”. Nghĩa là trong nhà lúc nào cũng phải có 7 thứ là: củi, gạo, dầu, muối, tương, giấm, trà. Uống trà không chỉ là thói quen “Ăn xong uống một chén trà” mà còn là một truyền thống, một nét văn hóa “khách đến chơi nhà nhất định phải pha trà tiếp đãi” đã có từ lâu đời của người Việt ta. Và nhất là vào những dịp Tết đến thì trà càng không thể thiếu trong câu chuyện ngày xuân.

                Có lần tôi tham dự cuộc thi viết về trà. Điều đặc biệt của cuộc thi này là nhuận bút và giải thưởng đều trả bằng trà. Khi cầm những gói trà được gửi từ Ban Tổ chức, tuy là giá trị vật chất không đáng bao nhiêu, nhưng sao tôi thấy vui lạ. Có lẽ do tôi nghĩ rằng đây không phải là trà bình thường mà là trà nhuận bút, tức là trà của những người hiểu và yêu trà. Tôi thỉnh thoảng cũng có viết bài đăng báo. Nhưng sao khi nhận nhuận bút bằng tiền, mặc dù cũng vui, nhưng niềm vui khi nhận nhuận bút bằng trà rất lạ, cứ như cung đàn ngân nga, rộn rã mãi trong lòng.

                Tôi coi những gói trà nhuận bút đó còn quý hơn cả nhuận bút bằng tiền. Tôi vui là vì trong mối tương giao này mọi thứ không dùng đồng tiền để đo lường, để trao đổi, mà chỉ có những giá trị tinh thần thanh cao, trong sáng. Tôi có lần nói vui với huynh đệ rằng, ai phát minh ra tiền chính là tội nhân thiên cổ vì đã đưa nhân loại vào vòng tội lỗi, làm suy thoái đạo đức và bào mòn các giá trị nhân văn. Nhuận bút bằng trà, trong trường hợp này, là nhuận bút cao nhất, là sự kính trọng nhất đối với tác giả. Vì nếu trả bằng tiền thì coi thường trà quá. Trà sẽ có mùi tiền, và như vậy thì mùi vị của trà đã nhạt mất rồi, biến đổi mất rồi, trà sẽ không còn ngon nữa. Trả nhuận bút bằng trà phải chăng hàm ý rằng chúng ta hãy yêu trà bằng tình yêu thuần khiết thanh cao, và hãy tỉnh táo trước sự cám dỗ của cuộc đời, mà cụ thể là tiền bạc.

                Vâng, bản thân trà là sự tỉnh thức. Tương truyền, có một lần trong khi đang ngồi thiền, Tổ Bồ Đề Đạt Ma bỗng ngủ gục. Ngài bực quá liền cắt mí mắt cho tỉnh ngủ. Mí mắt ấy rơi xuống đất và mọc lên thành cây được gọi là trà. Lá của cây ấy có tác dụng chống buồn ngủ, làm cho tinh thần tỉnh táo. Từ đó những người ngồi thiền thường hái lá trà uống để được tỉnh táo khi ngồi thiền. Có lẽ đây chỉ là truyền thuyết để giải thích tính “tỉnh thức” của cây trà chứ các nhà khảo cổ học phát hiện trà đã có hàng ngàn năm trước rồi, ở nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

                Trong lá trà có chứa hàm lượng caffeine rất cao nên giúp cho người uống trà có được đầu óc tỉnh táo, tâm trí sáng suốt. Cho nên tôi nghĩ rằng câu chuyện trên được viết ra với hàm ý nói về công dụng “thức tỉnh” của cây trà, cũng như mối liên hệ giữa trà và thiền hơn là sự thật. Trà làm cho ta tỉnh táo và thiền làm cho ta tỉnh thức, và cả hai có mối liên hệ mật thiết với nhau. Tuy hai mà một. Có lẽ vì vậy mà người Nhật coi thiền và trà là một. Ngày nay các nhà khoa học đã chứng minh chất theanine là một amino acid chỉ tìm thấy trong cây trà. Chất theanine kích thích hoạt động của alpha sóng não. Làn sóng alpha này xảy ra khi chúng ta tỉnh táo và thư giãn. Và thật thú vị là người ta cũng thấy ở những người có kinh nghiệm về thiền cũng có hiện tượng làn sóng alpha này ở trong não.

                Khi người ta nói “Thiền trà nhất vị” chính là muốn nói đến tinh thần, ý chí của việc uống trà. Nếu ta không hiểu về thiền, không ngộ được thiền ý thì khi uống trà ta sẽ không cảm nhận được sự đồng nhất giữa trà và thiền. Khi uống trà lòng phải tỉnh, tinh thần phải thư thái, từ từ cảm nhận hương vị của chén trà để đưa lòng mình hòa vào cái tĩnh lặng, bình yên của vũ trụ bao la. Thiền và trà đều chung một mục đích, đó là tìm đến sự thăng hoa, thuần khiết và nhất là sự tỉnh thức của tâm hồn. Giữa cuộc sống xô bồ ngày nay, tỉnh thức là vô cùng cần thiết. Sống tỉnh thức là duy trì ý thức trong từng giây phút hiện tại trên mỗi công việc mà mình đang làm, không để tâm bận bịu với quá khứ, viển vông mơ tưởng đến tương lai. Tỉnh thức để biết rõ những gì đang diễn ra với mình và cuộc sống quanh mình. Tỉnh thức để tâm ý được minh mẩn để có được những quyết định sáng suốt để thành công và hạnh phúc hơn trong cuộc sống. Tỉnh thức để không bị cám dỗ bởi vị ngọt của ngũ dục, lục trần vậy.

                Với cái nhìn tỉnh thức ta thấy trà không chỉ là trà mà trà còn bao hàm những yếu tố không phải trà nữa. Theo giáo lý Duyên sinh của Phật giáo thì các hiện tượng thế gian hình thành là do nhiều điều kiện, nhiều duyên kết hợp lại. “Một là tất cả, tất cả là một”. Điều này rất thú vị khi ta ứng dụng vào việc uống trà. Ly trà mà ta đang uống không phải chỉ là ly trà mà ly vũ trụ, ly đất trời, ly nhân sinh, vì trong ly trà đó có đất, nước, không khí, có ánh nắng, ánh trăng, có sương mai, có người hái trà, có cả 4 mùa xuân hạ thu đông…, cũng như không biết bao nhiêu là câu chuyện vui buồn của nhân tình thế thái xung quanh những yếu tố đó.

                Ai hay trong một tách trà

                Có hồ sen ngát mượt mà đưa hương”.

                Và dĩ nhiên là phải có bản thân người đang thưởng thức trà là ta đây nữa. Ta là một phần của vũ trụ cũng như vũ trụ chứa đựng trong ta. Thấy được điều này ta thấy yêu thương đất trời, yêu thương mọi người và vạn vật hơn. Vì họ là một phần không thể thiếu trong ta. Ta không thể sống nếu thiếu họ. Họ tốt thì ta mới tốt. Và ta tốt ta cũng góp phần làm cho thế giới tốt hơn. Khi uống trà, nước trà đi vào cơ thể ta và ta với trà hòa lại làm một, trong trà có ta, và trong ta có trà, có vũ trụ đất trời, có tình người tình đời. Tất cả đều được chứa đựng trong một ngụm trà buổi sớm mai. Thật là vi diệu biết bao!

                Uống trà còn là thú vui tao nhã, thanh cao. Thú vui cuộc đời nói chung có hai loại là thanh cao và không thanh cao. Thú vui không thanh cao là thú vui thiên về vật chất, chạy theo tình tiền danh lợi, tranh giành được mất hơn thua; nó bắt nguồn và cũng là nguyên nhân tạo ra sự ích kỷ và kết quả là đưa đến khổ đau cho mình và người khác. Còn thú vui thanh cao thì thiên về tinh thần, tình cảm, không ích kỷ tranh giành mà là chia sẻ. Càng chia sẻ thì niềm vui càng phong phú. Cho nên uống trà phải có bạn, trà tam rượu tứ. Nói uống trà là một thú vui thanh tao, bao hàm hai ý nghĩa. Một là bản thân việc uống trà là thanh cao và hai là uống trà làm cho tâm hồn người ta trở nên thanh cao. Rượu làm cho người ta say, tiền làm cho người ta mê, địa vị và danh tiếng làm cho tâm hồn người ta đen tối và gây ra tội lỗi; còn uống trà chỉ làm cho tâm hồn người ta tỉnh táo và thánh thiện hơn mà thôi.

                Từ xưa đến nay có rất nhiều câu chuyện về trà nhưng chưa thấy có câu chuyện nào nói rằng người ta uống trà rồi gây ra tội lỗi cả, mà chỉ có những câu chuyện về sự cao quý của trà mà thôi. Đó là sự tinh tế trong Những chiếc ấm đất, là niềm vui bình dị nhưng thanh tao trong Chén trà trong sương sớm của Nguyễn Tuân, hay tách trà của Thiền sư Triệu Châu mời “uống trà đi” để nhắc nhở khách thiền hãy quay về với thực tại đang là, và câu thơ của văn nhân tài hoa Tô Đông Pha thời Bắc Tống “Trà, kính trà, kính hương trà” để khuyên mọi người không nên trọng phú khinh bần hoặc thấy người sang bắt quàng làm họ. Ngoài ra còn có không biết bao nhiêu là triết lý nhân sinh liên quan đến trà, chẳng hạn như: “Cuộc sống cũng giống như cách pha trà! Hãy đun sôi cái Tôi của bạn, làm bay hơi mọi Lo Lắng, pha loãng mọi Buồn Phiền, lọc đi mọi Sai Lầm, và bắt đầu thưởng thức sự Hạnh Phúc”. Khoa học còn chứng minh rằng trà rất tốt cho sức khỏe, như chống lão hóa và ngăn ngừa nhiều bệnh tật. Cho nên người xưa đã đúc kết công dụng của trà qua bài thơ sau:

                Bán dạ tam bôi tửu,

                Bình minh sổ tràn trà.

                Nhất nhật cứ như thử.

                Lương y bất đáo gia.

                Nghĩa là:

                Nửa đêm ba chén rượu

                Sáng sớm một tuần trà

                Mỗi ngày cứ như thế

                Thầy thuốc không đến nhà.

                “Nhất bôi xuân lộ tạm lưu khách, lưỡng dịch thanh phong kỷ dục Tiên”. Nghĩa là: Một chén trà xuân tạm giữ khách, một cuộc sống thanh bạch làm người ta muốn trở thành tiên. Trà không chỉ là thức uống tốt cho sức khỏe mà còn hàm chứa nhiều ý nghĩa và triết lý nhân sinh sâu sắc. Khi Tết đến, người ta mua những loại trà thật ngon để tặng nhau, và cùng với các loại bánh mứt, cùng nhau thưởng thức chén trà thơm mát như nhắc nhở nhau hãy sống mạnh khỏe, tỉnh thức và thanh tao… như trà.
                Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

                Comment


                • #53

                  Quyển Sách Lớn Nhất Của Nhân Loại ( truyện cổ Tây Ban Nha )

                  Bảy người đi tới , ngọn đuốc trong tay họ toả sáng toà lâu đài chằng chịt mạng nhện. Trộm cướp? hay cú vọ? Ai mà biết
                  Câu chuyện sau đây sắp vén hộ ta tấm màn bí mật.
                  ]"]WordPress.com
                  Ngày xửa ngày xưa, có một bà goá sống cùng bảy đứa con trai .Cuộc đời đến khổ chung quy chỉ vì nghèo, nghèo nhất làng.Khi cái nghèo đã đến độ tận cùng, bảy anh con trai bèn quyết định ra đi , đi khắp thế gian để kiếm ăn .Còn bà mẹ ở lại nhà , lo chăm bẵm mỗi một con cừu cái , và mảnh ruộng trồng ngô bé tẹo,bé đến mức con thỏ rừng chỉ co cẳng nhảy một cái là có thể vượt qua.

                  Bảy anh em đi mãi, qua hết thành phố này đến thành phố khác, từ làng nọ sang làng kia, nhưng chẳng nơi nào kiếm được việc làm.Các cậu đói meo.Đêm đến cũng chẳng có nơi ngủ đỗ , đành nằm vật vạ trong rừng , dưới tán cây , hoặc chui vào các bờ bụi bên đường , vặt được của thiên nhiên chút gì, đút vào bụng chút ấy. Một hôm trời đột ngột trở chứng mưa tuôn xối xả , gió lạnh nổi lên. Chiều xuống rồi , thế mà khắp xung quanh chẳng thấy nhà cũng chẳng thấy người. Ngay lúc đó , họ bỗng thấy hiện lên trong tầm mắt những bước tường đổ nát của một toà lâu đài cổ. Bảy anh em bảo nhau đến đó gõ cửa xin trú đỗ qua đêm. Nhưng chẳng có ai ra mở cửa. Họ tiếp tục gõ , vẫn im phăng phắc .Họ đẩy cửa , bước vào một khoảng sân rộng bỏ hoang.Trong sân không có chó giữ nhà; chuồng ngựa vắng hoe; kho thóc rỗng , chẳng có đến một con chuột. Gió lùa thông thống rú rít qua các ô cửa sổ nứt vỡ, không nơi nào thấy có một tia sáng le lói.

                  Bảy anh em đi băng qua sân ,vào lâu đài. Họ cất tiếng gọi , họ đập cửa; tiếng họ âm vang khắp hành lang trống trải, nhưng chẳng có ma nào đáp lại. Họ mở cánh cửa đầu tiên và đưa mắt nhìn vào phòng: chỉ thấy một lớp bụi dày phủ trùm tất cả. Trong các góc phòng , những tấm lưới nhện chăng ngang chăng dọc như những cánh buồm trên một con tàu. Cùng cảnh ấy bày ra trước mắt khi họ sang phòng thứ hai , phòng thứ ba và tất cả các phòng khác. Cho đến khi mở cửa căn phòng cuối hành lang thì cả bảy anh em đều sững sờ: không một vết bụi , một sợi tơ nhện; chính giữa phòng có kê một chiếc bàn lớn bày bảy bộ đồ ăn bằng bạc, một đĩa đựng thịt sốt hãy còn bốc khói; cạnh mỗi bộ đồ ăn , có một chiếc khăn lụa, và một cốc rượu vang đỏ; trong giỏ, một chiếc bánh mì hãy còn nóng hôi hổi, toả mùi thơm quyến rũ; và trong lò sưởi, củi đã xếp sẵn chờ châm lửa.

                  Mấy anh em còn gọi thêm nhiều lần nữa, nhưng tiếng họ vang lên trong hành lang rồi tắt ngấm, chẳng hề được trả lời. Lúc bấy giờ người anh cả mới đánh bạo bước đến cạnh lò sưởi, và châm lửa, củi bén lửa, chẳng mấy chốc một làn hơi ấm dễ chịu tràn ngập gian phòng. Bảy cậu con trai đã đói meo từ sáng sớm, liền ngồi cả vào bàn bắt đầu đánh chén.

                  Đang ăn, họ bỗng nghe một giọng nói run rẩy.

                  – Cho thêm chút ánh sáng nữa! Cho thêm chút ánh sáng nữa!

                  Cả bảy anh em đều cảm thấy máu trong huyết quản đông đặc. Họ đứng bật dậy, chờ đợi một người nào đó đi qua, nhựng âm vang chầm chậm tan đi và xung quanh lại im phắc. Vẫn còn ngập ngừng, họ quay trở lại bàn ăn, nhấm nháp chút rượu vang. Chính lúc đó, lại nghe vang lên tiếng kêu: – Cho thêm chút ánh sáng nữa! Cho thêm chút ánh sáng nữa!Tiếng kêu ngừng, âm vang lịm tắt trong tĩnh lặng, trở về họ chỉ còn nghe từ lò sưởi tiếng nổ tí tách của ngọn lửa.Người anh cả liền thu hết can đảm, đứng dậy, đốt lên một ngọn đuốc và nói:

                  – Để anh đi xem có chuyện gì

                  – Chúng em cùng đi với anh, – sáu người em đồng thanh đáp lại.

                  Họ ra hành lang, nhưng chẳng thấy gì cả: chỉ có vầng trăng lấp lánh giữa cácđám mây rách tướp, tràn ngập khắp mọi nơi một thứ ánh sáng nhợt nhạt. Họ xem xét căn phòng ở liền bên cạnh, rồi căn phòng tiếp theo, lục lọi tất cả mọi xó xỉnh có cửa mở ra hành lang. Nhưng chẳng tìm được gì, ngoài lớp bụi dày trải hắp nơi và các tấm lưới nhện giăng trên trần, tưởng chừng như đã lâu lắm, không một người nào lọt vào đây.

                  Họ lên cầu thang, vào xem các căn buồng khác, cũng chẳng thấy gì. Thế nhưng, cứ chốc chốc, từ một nơi nào đó trong bóng tối mịt mùng, tiếng kêu run rẩy lại vang lên:

                  – Cho thêm chút ánh sáng nữa! Cho thêm chút ánh sáng nữa!

                  Cứ mỗi lần như vậy, cả bảy anh em đều run bắn lên. Tuy vậy, họ luôn luôn lấy lại được bình tĩnh, tiếp tục cuộc kiếm tìm.Họ lục soát hết phòng lớn, phòng bé, hết các hành lang, các tiền sảnh rồi đến một cánh cửa cuối cùng, trên ngọn tháp cao. Cảnh bên trong chợt hiện ngay khi cánh cửa bật mở khiến bảy anh em đều sửng sốt bàng hoàng.
                  ]"]WordPress.com
                  Chính giữa căn phòng đầy bụi và mạng nhện, một ông lão ngồi trên chiếc ghế bành cũ kỹ, gần như thủng đít. Khuôn mặt tái nhợt của ông lão được đóng khung bởi một bộ tóc bạc phơ, bộ râu dài chấm tới đất. Sau lưng ông lão, một bức tranh vẽ con mèo đen treo tường. Con vật nhìn các vị khách không mời qua phía trên vai ông lão, đôi mắt xanh lè lấp lánh trong ánh trăng khiến mấy anh em cảm thấy như có sự đe doạ.

                  Ông lão thậm chí chẳng thèm để ý đến sự có mặt của các chàng trai. Trước mắt ông , trên chiếc bàn thấp , nhỏ , một cuốn sách lớn đã mở sẵn , hình như ông đang muốn dò đọc. Và thỉnh thoảng ông lại rên rỉ:

                  – Cho thêm chút ánh sáng nữa! Cho thêm chút ánh sáng nữa!

                  Mấy anh em cảm thấy chân cẳng mềm nhũn, và lạnh buốt dọc sống lưng. Đúng lúc họ sắp sửa rời căn buồng và chuồn khỏi lâu đài, người anh cả trấn tĩnh lại bước đến gần ông lão; chẳng hiểu sao, một nỗi thương cảm bỗng tràn ngập lòng anh. Giơ ngọn đuốc cao quá đầu, anh nói với ông lão bằng một giọng ra chiều an ủi:

                  – Ánh sáng đây , thưa cụ!

                  Ông lão cũng chẳng nhìn, hơi cúi thấp xuống và bắt đầu đọc một cách say sưa. Ông đọc ngấu nghiến , đọc không ngừng nghỉ , đôi mắt như gắn chặt vào sách , tay vội vàng lật giở các trang giấy đã ố vàng, chừng như sợ ánh sáng tắt trước khi đọc xong. Ngọn đuốc vẫn cháy chầm chậm.

                  Đọc đến trang cuối, ông lão thở dài nhẹ nhõm, gập sách và với dáng vẻ mệt mỏi, đặt sách lên bàn. Đến lúc đó, mấy anh em mới nhận ra là bộ sách rất dày, gồm nhiều tập, được đóng lại bằng bìa da cũ, các góc bịt bạc đã đen xỉn. Ông lão nhìn người anh cả, và nói với giọng đã thư giãn:

                  – Lão cảm ơn con, con trai ạ. Lão cảm ơn tất cả các con đã giải thoát lão. Khi còn sống , suốt bao nhiêu năm trời, lão không yêu thương bất cứ người nào, trái tim lão không hề biết thương cảm. Mọi người xa lánh lão, bảo rằng lão dữ tợn, độc ác, và tàn nhẫn, và đây là hình phạt mà lão phải gánh chịu: lão bị giam ở nơi này cho đến khi đọc xong cuốn sách lớn kia.

                  Sách nói về những người khôn ngoan và tốt bụng, miêu tả nỗi khổ đau, cực nhọc của họ, những giọt nước mắt của họ, những bất công giáng xuống họ, và tất cả những cái đó đều do thói ích kỷ của lão gây ra.Những trang sách chứa đầy tiếng khóc của các bà mẹ chăm sóc con lúc đau ốm , nỗi đớn đau của những đứa con không giúp nổi cha mình, nỗi thất vọng của những người đàn bà vĩnh viễn mất con. Lão phải đọc bằng hết cuốn sách. Thế mà ở đây, luôn luôn thiếu ánh sáng. Bởi vì ánh sáng mặt trời và mặt trăng khó lọt nổi qua các ô cửa sổ bé nhỏ kia. Lão bắt đầu đọc từ một trăm năm trước và mãi mãi không thể đọc xong trừ phi có ai đó đến cứu lão bằng cách rọi sáng giúp, nếu không lão cứ phải vĩnh viễn ở đây. Các con đã cứu lão. Để đền đáp lại, lão cho các con ngôi nhà này và mọi thứ xung quanh. Ngôi nhà đã đổ nát gần như tàn lụi, bị trùm lấp dưới các lùm ngấy và cúc gai, nhưng nếu các con đào xuống hầm nhà , các con sẽ tìm được bảy chiếc hũ đựng đầy vàng nén, hãy lấy tất cả đi, số vàng ấy sẽ thuộc về các con.

                  Ngọn đuốc tắt , đúng lúc ông lão dứt lời. Người anh cả chạy đi tìm một ngọn đuốc khác, nhưng khi anh quay lại, ông lão và cuốn sách đã biến mất, trên tường chỉ còn lại một cái khung rỗng.Sáng hôm sau, mấy anh em xuống hầm nhà, đào đất và lấy bảy chiếc hũ đựng đầy vàng.Họ quay về nhà mời mẹ đến lâu đài, sửa sang lại các bức tường cũ, lau dọn các căn phòng, chuồng ngựa, vườn tược, và khai khẩn vùng đất xung quanh. Mấy mẹ con mãi mãi không còn biết đến đói nghèo, cùng cực. Họ cũng mãi mãi không bao giờ quên ông lão và những gì được ghi trong cuốn sách của ông.
                  Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

                  Comment


                  • #54

                    Ông Tháng Ba


                    Một hôm , những người chăn cừu tập trung lại và quyết định xem phải làm cái gì. Núi thì đẹp, thiên nhiên tốt lành, những bãi cỏ thì xanh tươi…Chỉ có một điều không tốt : đó là ông Tháng Ba! Họ yêu cuộc sống của mình và không hề muốn đổi nó lấy bất kỳ thứ gì trên đời này cả.Họ yêu những ngọn núi , yêu những cây thông , những hòn đá granit lớn, họ đi những chặng đường dài, vừa đi vừa ngắm những con cừu, những con dê nô đùa, gặm cỏ, mà không biết mệt mỏi . Chỉ có một điều không tốt : đó là ông Tháng Ba!

                    Người già nhất nói:



                    – Tôi nghĩ rằng chúng ta phải đi đến gặp ông Tháng Ba và đề nghị ông ấy trở thành bạn của chúng ta và đừng làm cho chúng ta khổ sở nữa! Ông Tháng Ba có một sức mạnh tuyệt đối. Khi ông ấy vui vẻ , ông ấy tỏ ra có vẻ dịu dàng và ban cho chúng ta những tia nắng mặt trời đẹp đẽ, ấm áp và toàn bộ những dãy núi trở nên xanh biếc , cỏ cây rậm rạp. Nhưng ông ấy không vừa lòng thì quà tặng dành cho chúng ta sẽ là những trận mưa, băng tuyết, bão táp, không có gì có thể mọc được trên dãy núi này, súc vật chết vì đói, nếu không thì cũng bị sét đánh hoặc mưa dầm. Đó chính là những gì sảy ra những năm gần đây…



                    Tất cả những người chăn cừu đều đồng ý , họ nhìn nhau lo lắng . Người trẻ tuổi nhất nói:



                    Đúng, chúng ta sẽ đi gặp ông tháng Ba và tôi nghĩ rằng mỗi người trong số chúng ta sẽ hứa dâng cho ông ấy một con cừu nếu như ông ấy chịu tỏ ra tốt bụng với chúng ta!



                    Tất cả đều đồng ý . Họ chỉ định ra một vài người để đến gặp ông tháng Ba và nói với ông ấy tất cả những gì họ đã quyết định.



                    Ông Tháng Ba chăm chú nghe và không nói nửa lời , ông để cho họ ra về.



                    Năm ấy tháng Ba trôi qua thật êm dịu . Núi thật đẹp , cỏ cây , hoa lá tươi tốt, những con cừu thật béo, những con cừu non lớn thật nhanh và những người chăn cừu thì cảm thấy hết sức hạnh phúc.



                    Đã đến cuối tháng ba người chăn cừu nhiều tuổi nhất nhắc nhở mọi người:



                    – Chúng ta phải đến gặp ông Tháng Ba và dâng cho ông ấy những con cừu như chúng ta đã hứa!



                    – Để làm gì cơ chứ ? – Một người chăn cừu khác nói , anh ta vốn nổi tiếng vì tính hà tiện. Dù sao đi nữa thì tháng Ba cũng sắp kết thúc rồi, chỉ còn có hai ngày nữa thôi , sau đó là đến tháng Tư, ông này lúc nào cũng vui vẻ.



                    Thế rồi người chăn cừu hà tiện kia đã giảng giải một hồi , và cuối cùng thì tất cả những người khác cũng đồng ý làm theo ý kiến của anh ta, chỉ trừ người nhiều tuổi nhất , ông vẫn nhắc lại:



                    – Các anh sai rồi . Chúng ta không bao giờ được quên lời hứa của mình. Chúng ta đã hứa với ông tháng Ba là mỗi người sẽ dâng cho ông ấy một con cừu . Rồi các anh sẽ cảm thấy hối hận! Tôi sẽ mang dâng cho ông ấy con cừu to và đẹp nhất của tôi.



                    Những người khác cười ông lão . Tuy vậy ông vẫn một mình lên đường đi gặp ông tháng Ba.



                    – Những người khác đâu rồi ? – Ông Tháng Ba hỏi.



                    Ông lão không trả lời . Ông ra về mà lòng đầy lo lắng.



                    Ông Tháng Ba đã hiểu tất cả. Ông đỏ gay mặt vì giận dữ và hét lên:



                    – Ta sẽ dạy cho các ngươi một bài học vì tội dám nuốt lời hứa và lừa ta! Ta còn những hai ngày : ngày 30 và ngày 31 và ta sẽ mượn anh bạn tháng tư của ta một ngày và các ngươi cứ mở mắt mà chờ xem!



                    Tóm lại , ngày 30, 31 tháng ba và ngày mùng 1 tháng Tư năm ấy mưa gió dữ dội chưa từng có: Thêm vào đó là sấm sét , những trận mưa đá và mưa nhiều đến mức tất cả những con cừu đều chết hết. Chỉ có một đàn cừu duy nhất còn sống sót , đó là đàn cừu của ông lão nhiều tuổi nhất.



                    Thấy vậy , tất cả những người khác nhìn nhau và nói:



                    – Thật đáng đời chúng ta!Chúng ta đã nhận được những gì đáng phải nhận bởi vì hứa thế nào thì phải làm đúng như vậy! Nếu chúng ta chịu nghe lời khuyên của ông lão thì ngày nay chúng ta đã được sống sung sướng với đàn cừu của chúng ta. Ba ngày thôi cũng đủ mang lại nỗi bất hạnh cho chúng ta rồi. Thật là đáng đời.



                    Sau ông Tháng Ba cũng cảm thấy tiếc về sự trả thù ngắn ngủi của mình. Ông còn tiếp tục tỏ thái độ khó chịu của mình trong một nửa ngày nữa. Chính vì thế mà những người dân ở vùng này có câu:



                    – Tháng Ba , buổi sáng là mùa đông , nhưng buổi chiều còn chờ xem.
                    Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

                    Comment


                    • #55
                      Người làng rắn
                      ĐỖ HÀN
                      Bân trằn trọc mãi không ngủ được. Thế là lại mất toi con hổ mang nữa. Bữa trước vợ Bân cho rắn ăn, quên không đóng cửa chuồng. Một cặp hổ mang và một con hổ chúa bò ra ngoài. Dân làng đi xem văn công về, nhìn thấy một cặp rắn, họ kêu ầm lên. Bố con Bân phải vất vả lắm mới túm được đôi hổ mang. Con chúa chuồn đi mất.
                      Chiều nay, có khách đến thăm rắn. Lại vợ Bân mở cửa chuồng. Tối đến thấy vách cửa vênh lên, soi đèn, không thấy con hổ mang đâu nữa, Bân gầm lên: “Người đâu mà đoảng thế không biết?”. Mỗi cân rắn hổ mang hơn triệu bạc, gần một chỉ vàng một ki lô hổ chúa chứ có ít đâu. Nghĩ mà xót hết cả ruột. Vết thương ở bắp chân do rắn cắn đã thành sẹo, bây giờ lại tấy lên, tưng tức làm Bân khó ngủ. Anh kéo chăn trùm lên đầu, bức bối.

                      *

                      Chuyến xe chiều nay ngược biên giới ních chặt người. Bân cố chen được một chân ở cửa xe; cứ chân co, chân duỗi như thế đứng ngót trăm cây số. Lòng Bân đầy lo lắng: không hiểu có đón được hàng không đây? Tết nhất đến nơi rồi. Bân mải nghĩ, mắt anh đăm đắm nhìn qua cửa xe, lướt trên mái tóc của cô gái ngồi ở ghế đầu, cô mặc chiếc áo màu lục, như lẫn vào mớ hàng hóa hỗn tạp ở bậc lên xuống. Bân nhìn xéo sang bờ vai mỏng.

                      Người con gái ngồi co vai, cố khép hai tay như muốn che cái bụng lùm lùm. Cô bừng đỏ mặt khi vừa ngước lên, chạm ngay ánh mắt Bân. Bân lảng nhìn sang hàng ghế sau. Mà sao cô gái này có nét gì quen quen. Bân nhíu mày, lục trong trí nhớ. Không thể nhớ nổi đã gặp ở đâu. Bân nhìn lại. Cô gái cúi đầu, chớp chớp hàng mi. Anh lắc đầu… Bao chuyến xe ngược xuôi như thế này, gặp hàng trăm người, nhớ làm sao nổi.

                      Xe dừng ở cuối thị trấn Vị Xuyên. Bân nhảy xuống, vươn vai, giậm chân, thở phì phì như trút được gánh nặng.

                      Thị trấn đang trở mình, còn bề bộn. Những căn nhà mái bằng mới xây khoe sắc vàng, nét đỏ của gạch ốp lát. Những mái lều xiêu vẹo của quán nước chưa hết thời vẫn lúp xúp quanh lối rẽ. Bân xốc balô, xăm xăm bước.

                      Hôm nay, Bân lên trước, nếu thuận lợi thì vài ngày nữa xe rắn của anh sẽ lên sau. Quan trọng là hàng về xuôi phục vụ tết. Bân muốn chớp thời cơ đánh một chuyến hàng lớn. Chợ Giang tết này sẽ tràn ngập hàng của Bân. Đang miên man nghĩ, bỗng Bân chợt đứng khựng lại… Trước mắt anh đúng là màu áo lục, chiếc áo cài khuy bên ngực phải của cô gái miền ngược. Bân rảo bước lại gần. Cô gái lúc trước ở trên xe, nay đang ngồi bệt bên bệ cỏ, tay ôm bụng, quằn quại. Chiếc túi du lịch lăn lóc dưới chân. Mặt cô tái xanh, nhợt nhạt biểu hiện sự đau đớn. Thấy Bân, nét mặt cô thoáng mừng rỡ lắp bắp:

                      – Anh… anh làm ơn cho em đến… bệnh xá hay bà lang nào gần đây … Em… đau bụng quá!

                      Bân tốc tác chạy ngược lại dãy hàng quán, gọi được chiếc xe ôm. Anh bế thốc cô ngồi lên xe. Hai vai anh lủng lẳng bên chiếc ba lô, bên chiếc túi. Chiếc xe rồ máy, lao đi.

                      … Kể cũng lạ, nắm rễ cây khô của bà lang ở bản Thính thế mà hiệu nghiệm. Uống xong bát nước sắc rễ cây, cô gái đỡ đau và ngủ thiếp đi. Bà lang gọi Bân ra hè thì thào với cái giọng kinh lơ lớ:

                      – Vợ chồng đi đâu mà chẳng biết giữ gìn thế? Sắp sinh rồi đấy… chỉ nửa tháng nữa là cùng. Tao chỉ chữa được thế thôi… đưa cái vợ mày đến bệnh viện ngay đi.

                      Anh ngồi bàn với cô chuyện đi viện, chuyện đi lấy hàng của mình. Nghe đến tên bản Tân Dân, mắt cô bỗng sáng lên:

                      – Anh có biết bà Thang – bà cụ mua rắn?

                      Có, tôi có biết. Nửa năm trước, khi bà cụ còn ở bản Tân Dân, tôi vẫn giao hàng cho bà.

                      Cô gái bỗng hốt hoảng:

                      Thế bây giờ bà ấy đi đâu?

                      Nghe đâu bà ấy về bên Trung Quốc rồi, bà ấy là người Hoa!

                      Đúng thế! Hồi bảy chín, bà đã phải về bên kia. Thời kỳ mở cửa, hai nước bang giao như cũ, bà trở lại, thuê nhà ở Tân Dân, đón mua rắn ở khắp nơi mang về. Sao bây giờ bà lại bỏ đi?

                      Bân buột hỏi:

                      Cô biết bà ấy à?

                      Cô gái bặm môi, mắt xa xăm, long lanh ngấn nước:

                      – Đấy là mẹ tôi!

                      Sao? Cô về nhà mẹ đẻ có một mình thôi à? Thế chồng cô đâu?

                      Mắt cô gái ầng ậc nước, cô vén tay áo cho anh thấy những vết tím bầm dọc, ngang trên cánh tay tròn lẳn, nõn nà.

                      Thế này thì em mới đến nông nỗi như bây giờ…

                      Không gian như đông cứng lại. Đột nhiên, cô ngẩng phắt đầu lên, nói quả quyết:

                      Em muốn nhờ anh một việc hệ trọng. Anh giúp em chứ?

                      Bân gật đầu. Cái gật đầu gần như bản năng. Không hiểu sao từ lúc gặp cô, Bân thấy cứ như có một sợi dây ràng buộc, nó mong manh nhưng không mờ nhạt, gắn kết hai người. Rất may, Bân vừa điện hỏi chủ hàng, chuyến hàng tết từ Trung Quốc sang, phải ba ngày sau mới có. Việc được cô nhờ vả, anh cũng thấy vui vui. Bân trầm ngâm chờ đợi.
                      Anh quay về thị xã, tìm mua giúp em một căn hộ, càng to càng tốt.

                      Bân bật hỏi như lò xo:

                      –Cô định làm gì?

                      Cô gái vẫn dẽ dàng:

                      – Em định về nhà mẹ đẻ để sinh con. Nhưng anh biết đấy, bà không ở đó nữa. Em phải mua nhà để ở. Đó cũng là ý muốn của mẹ em!

                      Rồi cô kể cho anh nghe về cuộc sống của cô. Mẹ cô đã cho cô rất nhiều vốn, khuyên vợ chồng cô lên sống ở thị xã gần biên giới, làm đầu mối đón hàng cho bà. Nhưng chồng cô đâu có nghe. Hắn lục lọi lấy hết tiền của cô đem đi đánh bạc. Hắn thua, đòi đưa tiền không được hắn đánh cô.

                      Cô lôi chiếc túi du lịch, lấy ra hai gói to như hai bịch mì chính. Cô đặt lên bàn và nói:

                      – Tiền thì lấy từ đây anh ạ!

                      Bân giật bắn người:

                      Trời ơi! Cô buôn Hêrôin à?

                      Cô gái cười buồn:

                      Không phải đâu, nọc rắn tinh chế đấy!

                      Bân cầm một gói lên ngắm nghía.

                      – Đúng! Đúng nọc rắn thật rồi. Ở làng anh, người ta cũng cô đặc nọc rắn được nhiều lắm. Nhưng màu sắc và độ mịn thì không được như thế này. Hai nữa, có cô đặc xong cũng đúc lọ thủy tinh cất đấy như đồ kỷ niệm. Mà này, đây chắc phải có một công nghệ hoàn hảo lắm mới làm được?

                      Đọc được câu hỏi trong mắt anh, cô giải thích:

                      Mẹ em nắm được bí quyết. Bà đã thu gom rất nhiều rắn, chiết lấy nọc rồi lại thả chúng vào rừng. Được biết chồng em không chịu làm ăn, lại hay lấy tiền của em, bà đã gửi cho em mấy ký lô này và có thư dặn: “Con hãy giữ nó mà phòng thân; chỉ với thứ này, thằng chồng con nó mới không đem đi đánh bạc được”. Đã đến nước này thì em phải bán nó đi và mua nhà cho mẹ con em ở. Cô dừng lại một lát rồi ngập ngừng nói tiếp: – Cũng là có chỗ để dừng chân mỗi khi anh lên trên này buôn bán… thế chẳng tốt sao?

                      Cô đưa cho Bân một tấm danh thiếp đầy chữ Tàu và ghi địa chỉ “số nhà… phố… thị xã Hà Giang”. Cô nói thêm:

                      – Đây là một cơ sở đại diện của các nước Tây Âu, họ rất kỹ tính khi chọn nọc rắn tinh chế. Nhưng nếu nhìn thấy danh thiếp của mẹ em và gói hàng, họ sẽ nhận ngay.

                      Bân làm theo như cái máy. Thị xã vùng biên này, anh thuộc như trong lòng bàn tay, bởi thời kỳ xảy ra chiến tranh giữa hai nước anh đã từng đóng quân ở đây gần năm năm. Dấu vết của các đơn vị bộ binh, pháo binh vẫn còn thấp thoáng đâu đây trong mỗi cánh rừng, trong mỗi khu phố. Anh không ngờ việc anh tìm nhà, giao hàng, nhận mấy trăm triệu mà nhanh như đi chợ sớm. Anh chàng lái xe ôm chưa kịp hút hết điếu thuốc thứ hai, đã thấy anh trở ra. Rồi anh tìm được một căn hộ hai tầng khá đẹp, có vườn cây, có sân thượng, nằm nép mình bên đường vào thị xã. Giá cả cũng phải chăng. Ôi! Chuyện cứ như trong mơ.

                      Bân đưa cô gái về căn nhà của cô. Tên cô là Ngọc Mai. Cô ngắm nghía, xếp đặt… ra chiều mãn nguyện lắm. Cô công bố một cách quả quyết:

                      – Giao cho anh Bân toàn quyền sử dụng tầng trên, anh hãy coi đây như nhà của anh.

                      Bân bàng hoàng cứ như mình nghe nhầm.

                      Chuyến hàng rắn của Bân bị thu giữ. Rắn vẫn là thứ hàng cấm. Song Bân cũng chẳng xót là bao. Số tiền Ngọc Mai cho mượn (cô bảo thế) cũng đủ để anh lấy mấy xe hàng tết xuôi. Đặc biệt là lời hẹn của cô: Anh về mua gom tất cả nọc rắn đã cô đặc ở làng, vốn cô chu cấp đủ sức mua hàng yến nọc đông khô hoặc sơ chế. Bân mừng vui khôn tả.

                      Hai, ba chuyến hàng tết năm ấy, Bân thắng đậm. Anh còn mang tiền về làng rắn thu mua được một số nọc rắn sơ chế. Những lọ nọc rắn cô đặc nằm lăn lóc, vô vị trong các hộc tủ, bây giờ bỗng có giá. Bân không mang rắn thương phẩm đi bán nữa. Anh cũng chẳng cần chạy hàng Trung Quốc về xuôi. Bân đã sung túc nhờ thương vụ mua nọc rắn.

                      Ngọc Mai đã sinh con. Một cháu gái bụ bẫm, xinh xắn hứa hẹn sẽ đẹp như mẹ nó. Nàng đặt tên con là Thủy Tiên. Suốt ngày nàng ôm con, ngắm con, lòng mong ngóng Bân trở lại sau mỗi chuyến về xuôi. Tình cảm giữa hai người ngày càng đằm thắm. Nhưng chưa bao giờ Bân dám bước qua ranh giới của hai người bạn chung vốn làm ăn. Mai đẹp quá, kiêu sang quá khiến Bân ngại. Bân đúng mực, chân thành quá làm Mai sợ. Chính vì thế họ không để lại điều tiếng gì. Tuy nhiều đêm, Bân nôn nao khi nghe Mai ru con. Tiếng ru hời hợi, như đốt trong lòng Bân.

                      Nằm trên gác hai, Bân kéo chăn trùm kín đầu, cố quên đi, cố như không nghe thấy gì.
                      Gần một năm trôi qua, lại sắp đến một cái tết nữa. Bân vẫn ngược xuôi mang hàng cho Mai. Một hôm Mai nói:

                      –Anh Bân ạ! Theo em được biết, lượng nọc rắn tinh chế ở chỗ mẹ em đã quá nhiều so với nhu cầu tiêu thụ. Ta phải tính tìm thị trường mới.

                      Bân sốt sắng:

                      –Những khách hàng cũ đâu rồi?

                      Họ vẫn lấy hàng, nhưng không đáng là bao so với lượng ta có. Em tính có khi anh phải đi Bắc Mỹ một chuyến xem sao.

                      Bân giãy nảy:

                      Từ bé anh chưa đi ra nước ngoài, anh biết làm gì ở cái xứ xa xôi đó?

                      Mai dịu giọng:

                      Anh cứ làm theo lời em dặn, em đã có thư nhờ người quen ở bên đó giúp anh. Nếu anh không phản đối thì tuần sau đi là vừa!

                      Bân vội vàng về quê, sắp xếp công việc và chia tay vợ con. Bà con làng rắn kéo đến đông lắm. Ai cũng chúc cho anh xuất ngoại thành công. Họ biết rằng anh đi thắng lợi là làm giàu cho cả làng rắn này. Mấy bô lão còn đưa anh ra đình làm lễ tế Thành hoàng thật trang trọng. Cả làng trông cậy vào Bân. Nguyên một tết vừa rồi, bán rắn thương phẩm và một vài ki lô nọc sơ chế, làng rắn đã có một trăm mười sáu con đờ – rim mới. Hy vọng năm nay làng rắn sẽ đổi đời, biết đâu dăm chục ô tô con là chuyện thường.

                      Bân trở lại Hà Giang vào một ngày giáp tết. Anh mở cổng bằng chìa khóa riêng. Nhà cửa gọn gàng, thơm tho. Hình như mẹ con Ngọc Mai vẫn ngủ.

                      Khuya. Trời lạnh. Bân bật điều hòa cho phòng ấm lên. Tiếng máy ro ro như đưa anh vào giấc ngủ. Bỗng có tiếng sột soạt rất khẽ. Bân bừng mở mắt. Ngọc Mai trong bộ quần áo mặc trong nhà, trắng muốt, đang uyển chuyển đến bên giường.

                      Mai lẹ làng luồn vào trong chăn, hai cánh tay trần mềm mại ôm lấy lưng Bân. Họ quấn lấy nhau, một tình yêu như đã đợi từ lâu, lại như không ngờ là có…

                      *

                      Bất giác Bân thấy buồn buồn trên má. Anh cắn nhẹ vào cánh tay trần của Mai. Mai giật bắn tay, rụt lại. Cánh tay nõn là sáng hồng trong ánh đèn mờ ảo. Mai bật người chồm dậy, thở hắt ra, giận dữ. Bân choàng tỉnh, ngơ ngác nhìn xung quanh.

                      Rõ ràng anh nghe thấy những tiếng phì phì từ khóe miệng kiêu sa vừa nằm cạnh anh.

                      Lẹ làng và đầy kinh nghiệm, Bân luồn bàn tay, nâng cánh tay mềm mềm vắt trên ngực. Không phải là tay nõn nà nữa mà là con rắn hổ mang. Ôi! Anh vừa cắn vào bụng nó. Bân nhẹ nhàng nâng chăn lên, bắt nhẹ lấy mình con rắn, miệng khe khẽ gọi:

                      – Mình ơi… mình ơi! Thấy con Hổ mang rồi, thấy rồi. – Vợ Bân ào từ trong buồng ra, hối hả.

                      Nó đâu, nó đâu rồi?

                      Bân vẫn thảng thốt nhưng mặt bừng đỏ:

                      Nó nằm trong chăn của anh đây này… nó còn trườn cả lên ngực anh nữa!

                      Vợ Bân bưng lấy mặt, bàn tay run bần bật:

                      – Ôi! Thật hú hồn!

                      Vợ chồng Bân đưa con rắn về chuồng của nó. Con rắn quay đầu, lúc lắc lúc lắc nhìn mặt Bân, nó như còn thèm muốn sự vuốt ve, ấm áp vừa rồi.

                      Ngoài đường, người đi chợ sớm đã râm ran. Hình như tết này giá hàng lại tăng lên thì phải.

                      Bân rửa tay, quay về giường, nhưng không sao ngủ lại được nữa. Tiếng gà gáy đã túc mục. Trên giường, Bân vẫn còn thấy thoảng mùi thơm thơm, gây gây khi nãy. Bất giác anh cười một mình.

                      Làng rắn lại bước vào một ngày hối hả.
                      Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

                      Comment

                      Working...
                      X
                      Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom