• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Đi tìm giòng sông trong bài thơ "Vọng Thiên Thai Tự" của Nguyễn Du

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Đi tìm giòng sông trong bài thơ "Vọng Thiên Thai Tự" của Nguyễn Du

    Đi tìm giòng sông trong bài thơ "Vọng Thiên Thai Tự" của Nguyễn Du
    BS Hồ Đắc Duy

    Link" align="left" border="0" alt="" style="padding:7px;" /> Nguyễn Du, tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê quán làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con thứ bảy Cụ Hoàng Giáp Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm. Thân phụ Ông thi đỗ tiến sĩ và làm quan đến chức Tể Tướng thời Lê-Trịnh.

    Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 ở phường Bích Câu, thành Thăng Long (sau này là Hà Nội), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 đời nhà Lê, khi thân phụ đang làm Tể Tướng, mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba, người Bắc Ninh (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 người con) Thân phụ Nguyễn Nghiễm qua đời lúc Nguyễn Du mới 10 tuổi (1775) và thân mẫu mất lúc Nguyễn Du 13 tuổi nên Nguyễn Du về sống với người anh khác mẹ là Hồng Lĩnh Hầu Nguyễn Khản, trấn thủ Sơn Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng cho thế tử Trịnh Tông. Được anh nuôi dưỡng và cho ăn học. Nguyễn Du đỗ tam trường thi Hương khi 19 tuổi, là người học rộng, tinh thông cả Phật học và sành các môn thi họa.

    Năm Gia Long nguyên niên (1802), Nguyễn Du được triệu ra làm quan, bắt đầu là Tri Huyện Phụ Dực, Thái Bình; ít lâu sau làm Tri Phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Đông).

    Năm 1805, Nguyễn Du đã được phong tước là Du Đức Hầu.
    Sau đó Nguyễn Du cáo bệnh xin lui về quê.

    Năm Gia Long thứ năm (1806), Nguyễn Du được triệu vào kinh đô Huế giữ chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng Bình.

    Tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống đi Trung Hoa và năm 1815 ông trở về Kinh được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.

    Bài thơ Vọng Thiên Thai Tự, một trong số bài thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Du có lẽ được làm vào khoảng năm 1806 – 1809 trước khi ông qua đời 1820

    VỌNG THIÊN THAI TỰ
    Thiên Thai sơn tại đế thành đôngLink" align="right" border="0" alt="" style="padding:7px;" />
    Cách nhất điều giang tự bất không.
    Cổ tự thu mai hoàng diệp lý
    Tiên triều tăng lão bạch vân trung
    Khả liên bạch phát cung khu dịch
    Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.
    Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo
    Cảnh Hưng do quải cựu thời trung
    Núi Thiên Thai ở phía Ðông hoàng thành
    Cách một dòng sông nhỏ dường như không đến được
    Mùa Thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng
    Vị sư triều trước già trong mây trắng
    Khá thương mình đầu bạc rồi vẫn phải chịu để người sai khiến
    Không cùng với núi xanh giữ được niềm thuỷ chung.
    Nhớ năm trước ta từng một lần đến đây
    Còn thấy có treo quả chuông đúc thời Cảnh Hưng ngày xưa

    NHỚ CHÙA THIÊN THAI
    Thiên Thai chùa dựng phía thành Đông
    Khó đến vì chưng cách bức sông
    Thu mới lá vàng che cổ tự
    Triều xưa mấy trắng lảo sư ông
    Thương ta đầu bạc còn đeo nợ
    Chẳng được cùng non vẹn thủy chung
    Nhớ lại một lần ta đến đó
    Cảnh Hưng còn thấy quả chuông đồng
    Tô Kiều Ngân

    Trong bài thơ Vọng Thiên Thai Tự có 3 điều cần được giải mã
    Cách nhất điều giang tự bất không
    Tiên triều tăng lão bạch vân trung
    Cảnh Hưng do quải cựu thời trung
    CÁCH NHẤT ĐIỀU GIANG TỰ BẤT KHÔNG ĐÓ Ở ĐÂU?

    Thật vô cùng thú vị khi đọc câu thơ này của Nguyễn Du, tôi không biết giòng sông nào đã ngăn bước chân ông không vào đựơc ngôi chùa mà lần trước ông đã vào trong đó.

    Một số tác giả khi bàn luận về giòng sông này thỉ cho đó là một ẩn dụ để Nguyễn Du nói lên tâm sự, hoàn cảnh của mình: Khá thương mình đầu bạc rồi vẫn phải chịu để người sai khiến, Không cùng với núi xanh giữ được niềm thuỷ chung.

    Còn tôi thì tôi nhất định phải đi tìm cho ra được giòng sông đó để chúng minh nó không phải là ẩn dụ.

    Đọc lại bài thơ hàng ngàn lần để mình có thể hòa nhập vào trong tâm trạng và nguồn cảm hứng của Nguyễn Du, tôi nghĩ chỉ có cách đó mình mới mong làm sáng tỏ giòng sông trong bài Vọng Thiên Thai tự, trong tâm trí tôi vang lên:

    Giòng Sông là giòng sông có thực hay chỉ là một ẩn dụ
    Giòng sông này có giống như giòng sông của bà Huyện Thanh Quan trong bài Qua Đèo Ngang: Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông rợ mấy nhà, SÔNG ở đâu trên Đèo Ngang? mà tôi đã tìm ra hay không.

    Với sông Hương hay sông An Cựu thì thời điễm đó không những có đò ngang mà còn cầu làm bằng cây hay tre, không lẽ Nguyễn Du không sang sông được hay sao? Vì chỉ cần đi qua được phía hữu ngạn sông Hương là có thể đến chùa Thiên thai, chùa này nằm gần núi Ngự Bình.

    Phải tham khảo các tài liệu một cách cẩn trọng về đia lý hình thể sông suối núi non vùng Thiên Thai, Ngự Bình, Trường Bia, Thiên An, Trúc Lâm, Ba Đồn ... các chùa gần đó như Viên Thông, Tra Am, Tây Thiên, Trúc Lâm, Hồng Ân, Diệu Viên ...tựơng đài Huyền Trân, khu vực chín hầm, cơ ngơi của ông Ngô đình Cẩn , bảo tháp của thiền sư… trên sử liệu còn lại trước khi bắt đầu hành trình đi tìm giòng sông mà nhiều ngưới cho nó như là một ẩn dụ.

    Nguyễn Du đã viết:
    Cách một giòng sông nhỏ dường như không đến được
    Mùa Thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng.

    Rõ ràng là Nguyễn Du đã nhìn thấy ngôi cổ tự ẩn hiện thấp thoáng trong lá vàng của mùa thu xứ Huế khi đứng bên này sông
    Một con sông như vậy không thể là sông Hương hay sông An Cựu được vì 2 con sông này nằm cách Thiên Thai Tự đến 7-8 Km.

    Vậy thì đây là một con sông mà tầm nhìn từ bên này sông sang bên kia sông không quá xa để Nguyễn Du mô tả cảnh chùa qua bài thơ Vọng Thiên Thai tự.

    Tôi quyết định đi thăm ngôi chùa mà Nguyễn Du đã 2 lần từng đến cách đây vừa đúng 200 năm và thật bất ngờ trước chùa và chung quanh chùa không có con sông nào cả, hỏi thăm các cư dân ở trong vùng họ bảo ở đây không có sông mà chỉ có khe và suối nhỏ.

    Giòng sông trở thành một thúc bách ám ảnh trong một thời gian khá dài . Giòng sông là một ẩn dụ. Sông, suối hay khe đây? với 300 năm biết bao vật đổi sao dời, sông biến thành suối hay khe cũng là chuyện thường tình. Ba trăm năm trước núi rừng Thiên thai đầy cop dữ với những cây cao cổ thụ với những tàng thông bạt ngàn, khu rừng rậm ở đây là phần đất bìa của dãy Trường Sơn. Đứng trên núi Ngự Bình có thể định vị đỉnh núi Thiên Thai và các hòn núi đá bên cạnh nó xanh ngắt nhưng bây giờ trống trơn, xói mòn có nơi nhà cửa san sát.

    Sau khi đi lang thang mất một ngày trời, tôi trở vào chùa lúc đó hoàng hôn đã xuống và ở đâu đó trong ngôi chùa vẫn còn âm vang những câu nói về giòng sông này.

    Sách Ô Châu Cận Lục của Dương văn An năm 1555, trong bài tựa ông viết: "kể từ thời mở nước Việt ta, do hoạch định tự sách trời, ngoài bốn thừa tuyên thì người Chấu Ái khẳng khái hiếu nghĩa tinh thần hiếu học , Châu Hóa ta tiếp liền xứ Quảng… Xét miền Ô Lý, nước ta nối liền với cõi Nam hoang vu… Tuy nhiên khảo cứu tận nguồn đất này thì trước đời Lý Trần, vẫn là bờ cõi của Chiêm Thành, về đời Hồ Lê mới là quận huyện của triều đình … "

    Trong Đại Nam nhất thống chí, theo Hán Thư thì Nhật Nam là Tượng Quận nhà Tần xưa, năm Nguyên Đỉnh thứ I đổi làm quận Nhật Nam, Tỵ Ảnh và Chu Ngô là 2 trong 5 thành của quận Nhật Nam đến đời Hán là ứng với châu Ô và châu Lý của Chiêm Thành thời bấy giờ.

    Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển VI trang 91 cho biết năm 1306, hai châu Ô, Lý đựơc vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng để làm lễ dẫn cưới công chúa Huyền Trân, năm sau (1307) hai châu này được đổi tên là Thuận Châu (nửa nam tỉnh Quảng Trị hiện nay); và Hóa Châu (toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện nay) 2 châu này được vua Trần Anh Tông giao sai Hành Khiển Đoàn Nhữ Hải đến vỗ yên dân vùng này. Thuận Hóa dần dần trở thành nơi gặp gỡ và giao lưu hai nền văn hóa, tín ngưỡng rất khác nhau. Dân Đại Việt chịu ảnh hưởng văn hóa và tín ngưởng của người Hoa, trong khi dân bản địa là Chiêm Thành có một nền văn hóa Ấn - Hồi.

    Vào thời các chúa Nguyễn, xứ Thuận Hóa đã có vô số chùa chiền và thảo am .

    Thiền Sư Liễu Quán, người khai sơn ngôi cổ tự này, Người từ phủ Phú Yên đi theo thuyền buôn ra Thuận Hóa vào năm 1690, khai sơn thảo am Viên Thông vào khoảng năm 1697 phía nam dưới chân núi Ngự Bình, sau đó vào khai sơn một thảo am khác ở chân núi Thiên Thai năm 1708, Thảo am sau này được gọi là Thiên Thai Tự. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 2, trang 126 mô tả ngọn núi này như sau: Núi Thiên Thai ở phía tây bắc huyện Hương Thủy hình thế cao vót, phía tây trông ra cánh đồng bằng, cạnh núi có chùa, gọi là chùa Thiên Thai Nội (Thuyền tôn), ngọn núi vòng quanh ôm chầu vào chùa, phong cảnh tuyệt đẹp… ".

    Một huyền thoại về Thiền Sư Liễu Quán phải ăn rong, uống nước suối để sống, quyết chí tu hành cho đến khi đến đắc đạo.

    Nhiều tác giả mỗi người nói một cách khác nhau về câu chuyện thiền sư ăn rong để sống trong tiểu sử của ngài. Người cho rằng ngài ăn rong khe, uống nước suối độc (Hà Xuân Liêm), kẻ thì nói thiền sư ăn rong ở hồ (Tầm rong độ nhật…. khi thiền sàng chỉ là bông cây thảm cỏ, rong xanh đáy hồ đã duy trì mạch mạng sắc thân … TT Tích Khế Chơn); người thì khẳng định ngài ăn rong con sông trước mặt chùa.

    Hai câu đối minh chứng có một giòng sông đã được một vị sư người Trung Quốc viếng khi ngài tạ thế ghi trên cổng tường đi vào bảo tháp của thiền sư : "Bửu đạt trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy; Pháp thân độc lộ y nhiên tạo lý khán thanh sơn" (Tiếng linh báu ngân dài cùng dòng nước lục trước cửa chảy hoài không dứt; Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh).

    Giòng sông huyền thoại của thiền sư và trong bài thơ của Nguyễn Du đó đã hiện ra trước mắt tôi, cho dù thiên nhiên và con người đã làm biến dạng khuôn mặt thế gian nhưng hình ảnh vị sa di trẻ tuổi đang trên đường đi tìm chứng quả mà phải tầm rong độ nhật để duy trì mạch mạng sắc thân nơi giòng sông đó.

    Giòng sông, giòng sông, giòng sông ở đâu? vang lên từ một cõi mơ hồ nào đó vọng lại hay từ tiền kiếp xa xưa.

    Hình ành vị sa di trẻ tuổi hiện ra trước mắt tôi , vị sa di mà về sau này đã trờ thành tổ sư của Thiền phái Tử Dung Liễu Quán, giòng sông nằm trước bảo tháp của ngài về hướng tây, bên kia sông là một ngọn núi đúng như câu “Tiếng linh báu ngân dài cùng dòng nước lục trước cửa chảy hoài không dứt; Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh”

    Từ giòng sông, chống gậy, vạch lau, đạp cỏ, tôi cùng mấy người bạn cũ thời Quốc Học là Phan Đình Ngân, Nguyễn Văn Sa, Lê Đình Hạnh, Trần Xuân Sỹ, Trương Công Qui leo lên một triền núi nhỏ hướng về phía đông, rồi đi qua một cánh đồng dốc thoai thoải theo dấu chỉ dẫn cùa Hòa Thuợng Thiện Siêu là cách phía sau tháp độ 800 mét để đến một ngôi chùa nổi tiếng ở Huế và điều này cũng đúng như nhận xét của Đại Nam Nhất Thống Chí quyễn II, trang 203 "Chùa Thiên Thai nội ở xã Dương Xuân có tên nữa là Thuyền Tôn (Thiền Tông). Tương truyền do Liễu Quán hòa thượng dựng dựa vào núi, trông ra đồng bằng, phong cảnh cũng đẹp…

    Còn bây giờ, trước bảo tháp của Thiền Sư Liễu Quán là một con đường đất đỏ, một khoảng đất trống chừng một mẫu và nghe đâu chủ nhân của mảnh đất này muốn thực hiện một… và giòng sông của Nguyễn Du thì vẫn còn đó, nhưng biến dạng đến đau đớn, xin mời bạn đến xem giòng sông mà có người mãi đến 200 năm sau mới có dịp lên tiếng hỏi Nguyễn Du rằng: Có phải cụ Nguyễn Du đi từ trên phía Trúc Lâm về nên không qua được sông để vào chùa và cụ Nguyễn phải đi vòng sau lưng núi Ngự Bình về Đàn Nam Giao để rồi về lại Kinh thành phải không? (sách Ô Châu Cận Lục của Dương văn An)
    www.dactai.com
Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom