• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Tôi Yêu Khoa Học

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • #31
    Maya - nền văn minh rực rỡ của nhân loại

    Nhiều người cho rằng "ngày tận thế" bắt nguồn từ lịch Maya, nhưng người Maya không chỉ có lịch mà còn có thành tựu văn minh huy hoàng trước khi bị diệt vong.

    Những kim tự tháp Maya vẫn còn nguyên vẹn.

    Trong sử sách, nền văn minh Maya đạt tới đỉnh cao của mọi lĩnh vực từ kiến trúc, toán học, thiên văn học, cho đến nghệ thuật. Tuy nhiên, sự biến mất của nó lại là một bí ẩn mà đến nay giới khoa học chưa khám phá hết.
    Nền văn minh Maya được xây dựng bởi người Maya, một bộ tộc thổ dân châu Mỹ. Nó hình thành trên vùng đất mang tên Cuello cách nay 4.000 năm. Từ mảnh đất này, người Maya phân chia thành nhiều nhánh, trong đó, nhánh lớn nhất tiến về vùng đất là vịnh Mexico ngày nay. Tại đây, các nhà khảo cổ vẫn tiếp tục khai quật hàng loạt đền thờ đá có niên đại lên tới 2.500 năm.
    Giới khảo cổ cho biết, nền văn minh Maya đã tạo ra hàng loạt thành phố lớn vào thời kỳ năm 800 đến 400 trước Công nguyên. Những thành phố nổi bật nhất là Nabke (thuộc Guatemala), Chichen Itza, Yaxchilian, Oxkintok, Palenque, Dos Pilas, Uaxactun, Altun Ha, Bonampak. Những khu đô thị của người Maya có sức chứa hàng vạn người. Chúng được xây dựng hoàn chỉnh, hiện đại.
    Người Maya có hệ thống lịch rất chính xác dựa vào chiêm tinh học. Tuy nhiên, họ lại tin tưởng vào chu kỳ tự nhiên của thời gian. Các nhà chiêm tinh thường phân tích các chu kỳ và tiên đoán các sự kiện trong tương lai. Sự kết thúc chu kỳ thời gian trong bộ lịch của người Maya khiến con người của thế giới hiện đại tưởng tượng ra sự diệt vong.
    Chữ viết của người Maya là một chuỗi các ký hiệu âm và dấu tốc ký. Hệ thống chữ viết gồm hơn 1.000 ký hiệu.
    Người Maya có nền nông nghiệp phát triển rực rỡ. Họ đã trồng trọt đủ các loại rau, củ, quả. Kỹ thuật trồng ngô của họ đạt đến đỉnh cao. Nghề chăn nuôi, hay các nghề như chế tác đá, trang sức, gốm, dệt vải, chế biến gỗ cũng phát triển mạnh.
    Trong thời kỳ đầu Công nguyên, hàng loạt nhà nước, quốc gia của người Maya thành lập và phát triển rực rỡ, đa dạng. Tuy nhiên, các quốc gia lần lượt bị diệt vong một cách bí ẩn và gần như biến mất hoàn toàn vào thế kỷ thứ 10. Chỉ duy nhất một quốc gia trên bán đảo Yucatan, Mexico tiếp tục tồn tại đến thế kỷ 16. Quốc gia cuối cùng của người Maya cũng biến mất bởi sự xâm chiếm của người Tây Ban Nha.
    Bộ lịch của người Maya.

    Các công trình xây dựng của người Maya có lẽ là dấu ấn rõ nét nhất còn sót đến ngày nay. Những nhà khảo cổ vẫn miệt mài khai quật những ngôi mộ khá đặc biệt trên các quả núi, trong rừng sâu. Những ngôi mộ khổng lồ xa xưa là tiền đề cho những kiến trúc kim tự tháp. Hàng trăm kim tự tháp vẫn còn tồn tại khá nguyên vẹn, rải rác trong các rừng sâu, nơi vốn là trung tâm quyền lực của các quốc gia Maya cổ. Số lượng khổng lồ tác phẩm, chữ viết, lịch khắc trên đá tiếp tục thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Đó chính là những bằng chứng khẳng định sự phát triển đỉnh cao của người Maya.
    Nhưng mười mấy triệu người Maya đi đâu? Các nhà khoa học tích cực giải mã được 80% lượng chữ viết khổng lồ của người Maya khắc trên các phiến đá và hiểu được phần nào nguyên nhân diệt vong của nền văn minh này.
    Chẳng dân tộc hay quốc gia nào khác giết dân tộc Maya, mà họ tự tìm tới bờ vực của sự diệt vong. Người Maya không yêu chuộng hòa bình, thiên nhiên như chúng ta nghĩ. Họ thực sự hiếu chiến và khát máu.
    Hàng loạt cuộc chiến tranh đã xảy ra trong nội bộ các quốc gia của người Maya. Trong thời kỳ chiến tranh, rất nhiều người Maya chết đói. Việc khai thác rừng quá mức cũng khiến môi trường thay đổi, lượng nước ngầm giảm dần. Hơn nữa, vùng đất của người Maya còn hứng chịu những thời kỳ hạn hán khốc liệt, kéo dài hàng trăm năm.
    Cuối thế kỷ thứ 9, các con kênh do người Maya đào không còn nước. Dù khoa học kỹ thuật thời kỳ đó phát triển mạnh, người Maya vẫn không thể đào sâu xuống lòng đất tới 150 m để lấy nước.
    Thiếu nước, nền nông nghiệp đình đốn, người Maya thiếu lương thực. Trong khi các cuộc xung đột đẫm máu vẫn xảy ra triền miên, khiến các nền văn minh này dần biến mất.
    Theo các nhà khoa học, hiện nay vài triệu người là hậu duệ của người Maya đang sống ở vùng Trung và Nam Mỹ. Nhưng thực dân Tây Ban Nha đồng hóa họ suốt mấy trăm năm nay, khiến mầm mống cuối cùng của văn minh Maya cổ xưa biến mất hoàn toàn.
    Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

    Comment


    • #32
      Phát hiện "hành tinh cô đơn" trong vũ trụ

      Các nhà khoa học Mỹ vừa phát hiện ra một hành tinh cô đơn trong vũ trụ, cách trái đất 80 năm ánh sáng, trôi nổi trong không gian mà không có ngôi sao chủ nào sưởi ấm cho nó.


      Theo hãng tin NBC, các chuyên gia Viện Thiên văn thuộc ĐH Hawaii khẳng định: “Chúng tôi chưa bao giờ tìm thấy một thiên thể trôi tự do trong không gian như vậy. Nó có mọi đặc điểm của một hành tinh trẻ xoay quanh một ngôi sao trẻ, nhưng lại trôi một mình”.

      Trong quá khứ, các nhà thiên văn học xác định những hành tinh cô đơn như vậy có thể tồn tại, nhưng giờ họ mới phát hiện ra bằng chứng đầu tiên. Hành tinh có tên PSO J318.5-22 lớn gấp sáu lần sao Mộc.

      Một số nhà thiên văn học tranh luận rằng định nghĩa của “hành tinh” là các thiên thể hình thành xung quanh các ngôi sao. Do đó, cần phải gọi PSO J318.5-22 là “thiên thể có khối lượng tương tự hành tinh” (planemos) chứ không phải là hành tinh.

      Nhóm chuyên gia Viện Thiên văn cho rằng có thể PSO J318.5-22 được hình thành xung quanh một trong nhóm sao trẻ Beta Pictoris, xuất hiện 12 triệu năm trước đây. Nhiễu động trọng lực có thể đã đẩy PSO J318.5-22 ra khỏi quỹ đạo sao chủ của nó ngay sau khi nó ra đời.

      Các nhà khoa học cho biết thông thường rất khó quan sát các hành tinh vì chúng ở bên cạnh sao chủ quá sáng. “PSO J318.5-22 không xoay quanh ngôi sao nào, do đó rất dễ nghiên cứu. Nó sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu các hành tinh khí lớn tương tự như sao Mộc” - chuyên gia Niall Deacon thuộc Viện Max Planck cho biết.
      Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

      Comment


      • #33
        Những thành phố trong truyền thuyết

        Đây là những thành phố, địa điểm hư hư thực thực, lại được thêm nhiều lời đồn thổi nữa nên độ kì bí của chúng càng cao

        Atlantis

        Triết gia Hi Lạp Plato là người đầu tiên mô tả thành phố đẹp nhưng xấu số này vào khoảng thế kỷ IV trước Công nguyên. Theo Plato, Atlantis là hòn đảo quê hương của thần biển Poseidon. Poseidon phải lòng một người trần là Cleito và xây thành phố Atlantis cho nàng.


        Thủ đô của Atlantis thực sự là một kỳ quan kiến trúc và công trình xây dựng kỳ vĩ bao gồm những bức tường thành và kênh đào hình tròn đồng tâm. Ở trung tâm thành phố là một quả đồi lớn, trên đỉnh đồi là nơi đặt đền thờ Poseidon. Bên trong đền chính là bức tượng Thần biển bằng vàng đang cưỡi ngựa thần sáu cánh.

        Và khoảng 9.000 năm trước thời của Plato, sau khi vương quốc Atlantis suy tàn, các vị thần quyết định phá huỷ lục địa này bằng một trận động đất khủng khiếp với những cơn sóng thần nhấn chìm toàn bộ những công trình và nền văn minh Atlantis xuống đáy biển.



        Từ đó trở di, các nhà sử học và những tay săn lùng kho báu ra sức tìm xem Atlantis nằm ở đâu và nó đã bị phá hủy như thế nào. Thế nhưng họ đều không đạt được mục đích.

        El Dorado

        Đây là một thành phố vàng huyền thoại được đồn đại nằm ở Nam Mỹ. Nó gắn với những câu chuyện về một ông vua thời cổ, cũng tên là "El dorado" (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Người Vàng"). Ông vua này trên mình phủ đầy vàng.


        Các nhà khoa học đã từng tuyên bố về việc phát hiện hơn 200 vết tích lớn của El Dorado tại khu vực lòng chảo Amazon, gần biên giới Brazil và Bolivia.

        Từ trên cao, trông các vết tích này như những đường kẻ địa lý được khắc vào mặt đất. Nhưng các nhà khoa học nói rằng những đường nét này là phần còn lại của các con đường, cây cầu, hào sâu, các đại lộ và quảng trường từng là nền tảng của một thành phố văn minh nằm trên một khu vực dài hơn 200km. Thành phố này có thể đã là nơi sinh sống của một cộng đồng dân cư khoảng 60.000 người và những tàn tích mới được phát hiện có niên đại từ năm 200 - 1283 sau Công nguyên.


        Những vết tích được cho là thuộc về El Dorado.

        Camelot


        Camelot là cung điện huyền thoại của vua Arthur. Có nhiều giả thuyết về những địa điểm có thể là Camelot ở Vương quốc Anh, nhưng vẫn chưa có bằng chứng vững chắc nào chứng minh rằng nó từng tồn tại.


        Thế kỉ thứ V, các quân đoàn La Mã chiếm đóng xứ sở Anh mãi rồi cũng rút đi, nhưng họ để lại một đất nước không có sức tự vệ, các bộ lạc German từ lục địa Châu Âu nhận thấy ngay cơ hội của họ.

        Người Anglo, người Saxon và người Jutes tiến về phía Tây, phá hủy các tu viện cùng với sách sử và học thuật lưu trữ ở đó. Vì việc phá hủy các sách vở, các bản chép tay chứa vô vàn kiến thức, mà thời kì này đc gọi là "thời đại tăm tối".

        Nhưng rồi chúng cũng bị đánh bại. Truyền thuyết nói đến một người có công ngăn chặn sự xâm lược của quân Anglo-Saxon, một ông vua vĩ đại đoàn kết được nhân dân đứng lên chống trả ngoại xâm và thắng hết trận này đến trận khác. Đó là Arthur, Vua của người Briton.

        Chiến thắng cuối cùng diễn ra tại núi Badon. Tại đây, hơn 900 quân Tây Saxon đã ngã gục dưới lưỡi kiếm Excalibur huyền thoại của Arthur.


        Vua Arthur.
        Arthur xây cho mình một pháo đài tên là Camelot. Ông cùng hoàng hậu cai trị đất nước sáng suốt trong nhiều năm. Nhưng con trai cả của ông, hoàng tử Modred, ghen tị với vua cha, hắn đã dấy lên làm phản. Mặc dù cuối cùng Arthur giết đc Modred, nhưng ông cũng bị tử thương. Khi Arthur qua đời, thì Camelot mau chóng biến thành một huyền thoại.

        Ogygia

        Ogygia là hòn đảo của nữ thần Calypso, một nhân vật trong thần thoại Hi Lạp. Hòn đảo này rất lạnh, đầy những khu rừng tối tăm và thú dữ đáng sợ. Calypso đã giữ anh hùng Odysseus ở đây trong nhiều năm. Tuy nhiên nhiều khả năng hòn đảo này cũng chỉ hoàn toàn nằm trong trí tưởng tượng bởi tính hiện thực của nó rất thấp.


        Tranh miêu tả Odysseus bị giam cầm trên đảo.
        Lyonesse

        Gắn với những câu chuyện nửa thực nửa hư về vua Arthur, Lyonesse từng được coi là một xứ sở nằm ngoài Mũi Cuối Đất ở Cornwall nước Anh. Huyền thoại nói rằng một cơn bão lớn đã kéo đến, và biển cả trùm lên đất liền. Tuy nhiên, khi vua Arthur trở về, thì Lyonesse lại nổi lên từ biển cả.



        MU

        Một thiên đường đã mất có tên là Mu từng được xem là Vườn Địa Đàng trong Kinh Thánh. Các chuyên gia tin rằng Mu đã bị phá hủy bởi thiên tai, chẳng hạn động đất hoặc đại hồng thủy. Có người còn khẳng định rằng các hòn đảo ở Thái Bình Dương đều là vết tích còn lại của Mu.


        Vương quốc của Prester John


        Vương quốc huyền thoại này do một ông vua - linh mục theo đạo Kito tên là Prester John trị vì. Vương quốc ấy nghe nói có cả suối nước trường sinh bất lão, và tất cả thần dân của John đều hạnh phúc, khỏe mạnh và thanh bình. Tuy nhiên, huyền thoại cũng nói rằng hầu như không thể tới được chốn thiên đường này.


        Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

        Comment


        • #34
          Giếng thần Thor kỳ lạ hút nước giữa biển

          Giếng thần Thor ở Oregon (Mỹ) còn được gọi là "cổng địa ngục", đủ lớn để nuốt chửng một con thuyền. Điểm tham quan này thu hút nhiều du khách nhờ hiện tượng hút nước độc đáo.

          Nước biển có vẻ như bị hút xuống hố sâu không đáy ở bờ biển Oregon, Mỹ. (Ảnh: Daily Mail).


          Điểm tham quan độc đáo này có tên là "Giếng thần Thor", đôi khi còn được gọi là "Cổng địa ngục". Thực chất, hố biển này chỉ sâu khoảng 6m. (Ảnh: Daily Mail).


          Khi thủy triều lên cao, sóng tràn vào và lấp đầy hố cho tới khi trào ra ngoài hoặc bắn lên tung tóe. Sau đó, nước lại rút ngược vào hố, khiến cho Giếng có vẻ như liên tục rút nước đi. (Ảnh: Reddit).


          Giếng thần Thor thu hút nhiều du khách và nhiếp ảnh gia trên thế giới nhờ hiện tượng độc đáo này. (Ảnh: Daily Mail).


          Nơi này thuộc khu vực mũi Perpetua, hạt Lincoln, bang Oregon, Mỹ. (Ảnh: Daily Mail).


          Nước thủy triều bắn ra khỏi giếng, tạo cảnh tượng hùng vĩ khiến du khách thích thú. (Ảnh: Leisure).


          Theo Gary Hayes của trang Traveloregon.com, Giếng thần Thor ban đầu có thể là một hang biển, sau đó một phần trần hang sụp xuống và bị nước biển xói mòn. Anh cũng khuyến cáo du khách không nên tới quá gần giếng để đảm bảo an toàn. (Ảnh: Reddit).


          Từ tháng 5/2016, 3 du khách đã bị sóng mạnh bất ngờ gần giếng quật ngã. May mắn là không ai rơi xuống hố hay bị thương nặng. (Ảnh: Brian Matiash/500px).
          Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

          Comment


          • #35
            Năng lượng từ trái tim: Trường điện từ kết nối cảm xúc và con người



            Viện nghiên cứu HeartMath (Institute of HeartMath – IHM) cho biết trái tim có thể tạo ra trường điện từ rất mạnh. Trường điện từ này thấm vào mọi tế bào và có thể hoạt động như một tín hiệu đồng bộ cho cơ thể, tương tự như thông tin mang bởi sóng vô tuyến. Đặc biệt, nghiên cứu cũng cho thấy năng lượng này không chỉ được truyền đến não bộ mà còn có thể được người khác phát hiện trong một phạm vi giao tiếp nhất định. Dữ liệu cũng cho thấy các tế bào được nghiên cứu trong ống nghiệm cũng phản ứng với trường điện từ sinh học của trái tim. (ảnh: iStock)
            Nghiên cứu của IMH cho thấy trái tim tạo ra trường điện từ lớn nhất trong cơ thể. Điện trường được đo bằng điện tâm đồ (ECG) có biên độ lớn hơn khoảng 60 lần so với sóng não được ghi lại trong điện não đồ (EEG). Thành phần từ trường của tim, mạnh hơn khoảng 5.000 lần so với bộ não tạo ra, không bị cản trở bởi các mô và có thể đo được ở cách cơ thể vài mét. Trái tim giữ vai trò quyết định cảm xúc chứ không phải não bộ


            Tại IHM, Tiến sỹ McCraty và cộng sự đã tích lũy các bằng chứng thuyết phục cho thấy nhịp điệu của tim (rhythms of the heart) – được định nghĩa là biến thiên nhịp tim (heart rate variability- HRV) – có rất nhiều tác dụng chứ không chỉ giữ cho máu lưu thông trong cơ thể. HRV có xu hướng không ổn định và rối loạn trong lúc con người cảm thấy căng thẳng, tạo ra sự truyền dẫn tín hiệu từ tim đến não làm ức chế khả năng suy nghĩ tỉnh táo và đưa ra quyết định hiệu quả của con người. Tuy nhiên, trong trạng thái cảm xúc tích cực, nhịp điệu của trái tim là một dạng sóng mượt mà và hài hòa (coherence patterns).

            Tiến sỹ Y khoa Karl Pribram, người được coi là cha đẻ của khoa học thần kinh nhận thức hiện đại, đã giới thiệu ý tưởng rằng bộ não người ở cấp độ chức năng chỉ là một hệ thống nhận biết và lưu trữ các mẫu trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm cảm xúc (cognitive and emotional experiences). Priham cho rằng, vì trái tim là nguồn gốc chính của mọi dạng sóng (patterns) có nhịp điệu (rhythmic) trong cơ thể, trái tim giữ vai trò chính trong trải nghiệm cảm xúc của mỗi chúng ta.

            Tin tưởng vào những phát hiện mang tính bước ngoặt của Karl Pribram, tiến sĩ McCraty phát biểu: “Lý thuyết vững chắc từ một nhà thần kinh học học hàng đầu thế giới cho thấy rằng trái tim không chỉ là một phép ẩn dụ trong trải nghiệm cảm xúc của chúng ta. Não bộ diễn giải các dạng sóng trong trái tim, và chúng tôi (tại IHM) đã chứng minh rằng những cảm xúc khác nhau được phản ánh trong các dạng sóng khác nhau trong nhịp điệu của tim (patterns of heart rhythm).”

            Một nhà thần kinh học hàng đầu cũng hỗ trợ cho lý thuyết này. Tiến sỹ Y khoa J. Andrew Armor, người có các bài viết trong các ấn phẩm học thuật cao cấp, nói rằng trái tim về cơ bản có bộ não nội tại của chính nó. Ủng hộ quan điểm trên, Tiến sỹ McCraty cho biết: “Hiện nay chúng ta biết rằng trái tim gửi nhiều thông tin đến não hơn so với bất kỳ thứ gì khác”.
            Trái tim giữ vai trò quan trọng trong các trải nghiệm cảm xúc, nó gửi thông tin đến não nhiều hơn chiều ngược lại (ảnh: mujeralquimia.com)
            Các nhà nghiên cứu tại IHM đã tiếp tục phát triển các kỹ thuật để chuyển các dạng sóng HRV không ổn định sang các dạng sóng hài hòa (coherence) dẫn đến trạng thái tích cực hơn. Họ đã chứng minh lâm sàng rằng các nhịp điệu hài hòa của tim sẽ cải thiện tổng thể các chức năng nhận thức, ra quyết định và ổn định tình cảm của con người.

            IHM cũng phát hiện rằng dạng sóng thể hiện sự biến thiên nhịp đập của tim sẽ biến đổi một cách rõ rệt khi một người trải nghiệm các cảm xúc khác nhau. Những thay đổi trong trường điện từ, áp suất âm thanh, huyết áp được tạo ra bởi sự biến đổi nhịp điệu của tim được cảm nhận bởi mọi tế bào trong cơ thể, tiếp tục hỗ trợ vai trò như một tín hiệu đồng bộ cơ thể của trái tim. Nhịp tim một cá nhân đang rối loạn chuyển sang dạng sóng điều hòa khi họ chuyển từ thất vọng sang trạng thái biết ơn (ảnh: heartmath.org) Trái tim là “Tổng đài” kết nối tất cả chúng ta?


            Nghiên cứu tiếp theo của IHM về trực giác và tim có thể nâng cao hơn nữa tình trạng của tim. “Những nghiên cứu này chỉ ra rằng tim đang phản ứng với mọi thứ ngay cả trước khi bộ não phản ứng”, tiến sĩ McCraty nói. Khái niệm trực giác của trái tim không chỉ là một lý thuyết “vớ vẩn”; nó được hỗ trợ tốt bởi các dữ liệu sinh lý được thu thập một cách nghiêm ngặt từ một phân tích lớn bao gồm 20 nghiên cứu.

            Tuy nhiên, ngay cả “khả năng” này của trái tim có thể cũng chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Lý thuyết cho rằng trái tim có thể giao tiếp với nhau và tập hợp sức mạnh của con người đang được quan tâm một cách nghiêm túc. “Trái tim không chỉ là một thực thể vật lý” Tiến sỹ McCraty cho biết. “Chúng ta cũng có trái tim tràn đầy năng lượng. Chúng tôi gợi ý rằng trái tim là một tổng đài thông tin cơ bản.” Con người thực sự có thể được kết nối với nhau theo cách tương tự như cách các điện thoại di động trao đổi thông tin với nhau. Con người có thể được kết nối với nhau “từ trái tim đến trái tim” (ảnh: IHM/Youtube)
            Đây là chủ đề nhận được nhà báo Ed Decker quan tâm đặc biệt do một trải nghiệm ông đã có nhiều năm trước. Ông từng cảm thấy một làn sóng lo lắng dâng lên vào chính xác thời điểm khi mẹ ông đột quỵ cách đó khoảng 4.000km. Tiến sỹ McCraty giải thích với Ed Decker rằng đó không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên mà đó là hiện tượng thu nhận tín hiệu: “Rất nhiều nghiên cứu cho thấy những gì chúng ta hòa hợp là những thứ chúng ta có liên kết hoặc kết nối, là những thứ liên quan hoặc quan trọng với chúng ta về mặt cảm xúc. Sự liên kết này điều chỉnh (tune) chúng ta đến một tần số cụ thể. Chúng ta tạo ra các tần số cộng hưởng để chọn ra những làn sóng.”

            Trong thực tế, kết nối này giữa con người hoạt động như một thiết bị phát vô tuyến và Wifi, và những tín hiệu này ở xung quanh chúng ta trong không gian vào mọi thời điểm. Với trường hợp Ed Decker, Tiến sỹ McCraty nói rằng, ông đã được điều chỉnh đặc biệt để hợp với tín hiệu của mẹ ông.
            Trường điện từ sinh học tạo ra bởi trái tim mỗi người có thể kết nỗi với nhau (ảnh: IHM)
            Tiến sỹ McCraty nói thêm rằng từ trường của Trái Đất có thể hỗ trợ sự truyền tín hiệu giữa mọi người. “Từ trường của trái đất là một làn sóng mang thông tin liên quan đến sinh học,” ông nói. “Đây là thứ kết nối tất cả chúng ta. Nó cũng là một phần của trực giác: làm thế nào một người mẹ biết con trai hay con gái của bà đang đau khổ ở phía bên kia hành tinh. Có thứ gì đã truyền đạt thông tin đó, điều này dường như thường xảy ra gần như ngay lập tức. Theo giả thuyết của tôi, đó chính xác là từ trường của trái đất, và có một số lượng lớn các bằng chứng ủng hộ điều này.”
            Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

            Comment


            • #36



              ]"]WordPress.com


              Cuộc thám hiểm kỳ thú trong khu rừng rậm xứ Nam Mỹ



              Năm 1974, một chiếc phi cơ bay lạc vào khu rừng rậm xứ Colombia, người phi công đã khám phá ra một công trình xây cất cổ xưa bằng đá có hình dạng kim tự tháp nhưng không giống kim tự tháp thường thấy ở Ai Cập hay Nam Mỹ.



              iều này đã thôi thúc rất nhiều nhà khoa học và khảo cổ tìm đến đây. Sau cùng, họ phát hiện ra sự tồn tại của bộ lạc Kogi, được cho là hậu duệ của một nền văn minh cổ xưa đã biến mất từ mấy nghìn năm trước.

              Các nhà khảo cổ đã nhiều lần cố gắng tiếp cận với bộ lạc này nhưng đều bị lảng tránh. Về sau, vì một lý do nào đó mà ký giả Alan Ereira đã được một người đại diện của bộ lạc Kogi tiếp xúc. Người này cho hay, đây là lần đầu tiên và có thể là duy nhất họ cho phép “con người hiện đại” viếng thăm.

              Đầu năm 1993, Alan Ereira đã lên đường cùng một ký giả, ba nhà quay phim và nhân viên y tế. Đồng thời, họ cũng tìm được một người của bộ lạc kế cận có thể nói được tiếng Kogi làm thông dịch.



              Những người Kogi.

              Theo những gì khảo sát được, tộc người Kogi có niên đại khoảng 7-8 nghìn năm. Kogi là một trong những bộ tộc kỳ lạ và đặc biệt nhất thế giới bởi họ sống tách biệt, không có bất cứ quan hệ hay liên lạc với thế giới. Duy chỉ có một bộ phận người dân có tiếp xúc với những bộ tộc khác, sống lân cận trong cùng dãy núi.

              Người Kogi có vóc dáng nhỏ nhắn giống người châu Á nhưng nước da ngăm đen và mái tóc xoăn tự nhiên. Theo phong tục truyền thống, cả nam và nữ đều để tóc dài, mặc quần áo giống nhau. Họ sống trong những ngôi nhà nhỏ làm bằng gỗ và lá cây, rất thoáng mát và sạch sẽ.



              Những ngôi nhà nhỏ làm bằng gỗ và lá cây của bộ tộc Kogi.

              Đặc biệt, tất cả mọi người trong bộ tộc đều ăn chay. Họ chủ yếu chỉ ăn hoa quả, rau củ và tuyệt đối không ăn thịt. Người Kogi tâm niệm: “Trái đất là nơi vạn vật sinh sống, tại sao phải sát sinh những loài động vật vô tội, khi mà chúng cũng như con người, đều biết đau”.

              Nhóm ký giả cho rằng, đây rất có thể là lý do tuổi thọ của người Kogi cao đến như vậy – trung bình hơn 100 tuổi. Khi nhân viên y tế trong phái đoàn “kiểm tra” sức khoẻ của những người trong bộ tộc, anh lần lượt dùng các dụng cụ y khoa đo huyết áp, khám phổi, khám răng, thử máu… và không tìm thấy một dấu hiệu nào về bệnh tật hay sức khoẻ suy kém, kể cả sâu răng. Tuy vậy, vị Trưởng Lão cho biết, vẫn có trường hợp người qua đời vì bệnh nhưng rất ít và thường xảy ra khi đứa bé mới lớn.

              Người Kogi gieo trồng một cách hết sức thô sơ và tự nhiên. Họ không bao giờ tích trữ lương thực, bởi theo họ, điều đó khiến con người trở nên ích kỷ và vô tình tạo nên sự ham muốn chiếm hữu nhiều hơn, đây chính là khởi nguồn của mâu thuẫn và chiến tranh.

              Khi thấy những người Kogi hay cầm một cái ống bằng gỗ đựng vôi, dùng cái que gỗ xoay vòng cho vôi tan thành bột và lâu lâu lại chấm vào lưỡi, ký giả Alan Ereira hỏi vị trưởng lão:

              – Thưa Trưởng Lão, người có thể giải thích cho chúng tôi biết rõ ý nghĩa của hành động đó được không?

              Vị trưởng lão đáp:

              – Hành động đó rất có ý nghĩa vì nhắc nhở mọi người trong chúng tôi luôn luôn ghi nhớ cần mài giũa Thân và Tâm để hiểu rõ đời sống một cách đúng đắn và vẹn toàn.

              Vị trưởng lão chia sẻ thêm rằng:

              – Theo quan niệm của chúng tôi thì sống thuận theo thiên nhiên không thể có bệnh. Bệnh tật chỉ là hậu quả của những gì trái với thiên nhiên. Sự tương giao giữa con người với thiên nhiên hết sức mật thiết và khi thiên nhiên bị phá hoại, chắc chắn con người cũng bị ảnh hưởng. Chính vì sống trái quy luật thiên nhiên mà có đủ thứ bệnh tật kỳ lạ xuất hiện.

              Bộ tộc Kogi không có trường học mà chỉ có cách dạy dỗ khẩu truyền từ ông bà, cha mẹ cho con cháu, và từ các bậc Trưởng Lão cho những thanh niên. Nhóm ký giả đã ghi lại được cách Trưởng Lão dạy dỗ một thanh niên cách ăn uống như sau: “Khi ăn phải nhai từ từ, thong thả, phải ý thức từng chút một và tuyệt đối chú tâm vào việc ăn chứ không được nghĩ gì khác”.

              Ngoài ra, khi được khoảng 20 tuổi, thanh niên được gửi đến học hỏi với các bậc Trưởng Lão trong những túp lều đơn sơ hoặc một hang đá. Tại đây, họ sẽ tập ngồi yên quay mặt vào vách tường trong 7 đến 9 năm liền. Họ chỉ được nhai một ít lá cây, uống một chút nước và chú tâm suy ngẫm về những điều được giảng dạy. Mỗi ngày, vào giờ giấc nhất định, các bậc Trưởng Lão có nhiệm vụ hướng dẫn sẽ bước vào và trao cho họ một đề tài để suy ngẫm.

              Ký giả Alan Ereira đánh giá:

              “Trong suốt 9 năm ngồi như vậy, người Kogi đã học được cách biết tôn trọng thiên nhiên. Họ biết ý thức về sự sống tràn đầy trong thiên nhiên, từ đỉnh núi cao xa to lớn cho đến những côn trùng bé nhỏ, từ những trận mưa đầu mùa đổ nước xuống các dòng suối tươi mát cho đến những hoa thơm cỏ lạ mọc trong các thung lũng… Tâm thức họ tràn đầy các hình ảnh tuyệt vời của thiên nhiên qua các điệu nhạc mà chim chóc hòa tấu, thưởng thức hương thơm của cỏ hoa, rung động với các thay đổi của thời tiết… Và khi trưởng thành, bước ra khỏi hang đá, con người đã có ý thức rất sâu xa về mình, về sự tương quan giữa mình và mọi vật. Khi đó họ mới được công nhận là đã trưởng thành, có thể lập gia đình; hoặc tiếp tục đi theo các bậc Trưởng Lão để học hỏi thêm nhiều năm và trở thành một trong những người này. Danh từ “Trưởng Lão” của người Kogi không hề có nghĩa là người chỉ huy mà chỉ có nghĩa là một người thông thái (wise man) mà thôi”.

              Một vị Trưởng Lão cho biết: “Vũ trụ là một tấm gương lớn, phản ánh tất cả mọi việc xảy ra trong đó. Nếu có thể giao cảm với với vũ trụ thì người ta không cần phải đi đâu xa mà cũng biết được những điều cần thiết. Việc ngồi 9 năm trong động đá không phải chỉ ngồi đó nhai vài lá cây, suy nghĩ vài câu nói, mà đòi hỏi người ta phải nỗ lực tìm hiểu về chính mình, tìm hiểu về các quy luật vũ trụ. Khi đã hiểu các quy luật một cách sâu xa thì con người sẽ không làm trái với nó. Sở dĩ con người làm việc sai trái vì họ không hiểu biết, chỉ sống hời hợt, quay cuồng và dựa trên những giá trị giả tạo. Sống như thế không thể gọi là sống. Đó là sống mà như chết, thân thể tuy sống mà đầu óc đã chết từ lâu rồi!”.

              Cũng bởi vậy, đối với người Kogi mà nói, việc chết cũng rất giản dị và tự nhiên. Khi cảm thấy đã đến lúc phải ra đi, một người già thường tìm một hang đá sâu và ngồi yên trong đó chờ chết. Họ không làm đám tang, gia đình cũng không than khóc bởi họ biết đó là một việc bình thường, là quy luật của tạo hóa.

              Sau khi đã tham quan bên trong bộ lạc và hiểu được phần nào cuộc sống nơi đây, ký giả Alan Ereira được gặp một vị “Trưởng Lão”. Nhìn hàm răng còn nguyên vẹn, mọi người trong đoàn đều nghĩ ông lão chỉ khoảng 60 tuổi nhưng về sau ký giả Ereira được biết vị Trưởng Lão này đã sống trên 100 năm rồi. Thực tế, vị Trưởng Lão nào cũng đều 100 tuổi trở lên, nhưng họ không có dấu vết già yếu, bệnh tật trên thân thể như vẫn thường thấy ở những người bình thường khác.

              Vị Trưởng Lão bắt đầu lên tiếng:

              “Chúng tôi đã thảo luận rất kỹ về điều chúng tôi muốn nói. Chúng tôi muốn gửi một thông điệp cho các em trong gia đình nhân loại. Chúng tôi nói bằng trái tim, những lời nói chân thành nhất của những người anh và mong các em hãy lắng nghe”.

              Tự nhận mình là anh cả của loài người, Trưởng Lão tiếp lời:

              “Thứ nhất, nhân loại cần biết rằng tất cả chúng ta đều là anh em một nhà. Dù chúng ta có màu da khác nhau, truyền thống khác nhau, quan niệm khác nhau, sống trong những điều kiện khác nhau nhưng tất cả chỉ là bề ngoài mà thôi, bên trong chúng ta không hề khác biệt. Khi đói chúng ta đều đói như nhau, lúc khát chúng ta đều khát như nhau, chúng ta đều có cảm giác vui buồn như nhau.

              Chúng ta đều là con cùng một Mẹ. Chúng tôi được sinh ra trước nên là anh, và làm anh thì cần phải chỉ bảo cho các em. Nhưng tiếc là các em đã quên mất nguồn gốc thiêng liêng của mình. Mẹ của chúng ta chính là tự nhiên. Đốt rừng, phá núi, đổ đồ ô uế xuống biển chính là chà đạp lên thân thể của Mẹ. Mẹ là nguồn sống chung và chúng ta không thể sống mà không có Mẹ.

              Các em đã làm trái với quy luật tự nhiên, gây tai họa không những cho Mẹ mà còn cho chính các em. Các em cứ mê mờ nghĩ rằng mình có khả năng cải tạo thiên nhiên, cải tạo cuộc sống – Con người ngày càng văn minh tiến bộ với những máy móc tuyệt hảo tinh vi – Nhưng ý tưởng đó quá sai lầm, vì dù thông minh tài giỏi tới đâu, các em vẫn không thể thay đổi quy luật tự nhiên cũng như chế ngự được cơn thịnh nộ của thiên nhiên – Con người không thể ngăn cản sóng thần, động đất, lũ lụt và nhất là dịch bệnh và cái chết, mà ngược lại còn là nhân tố phát sinh những biến động từ thiên nhiên. Nếu cứ tiếp tục như vậy, các em sẽ tự huỷ hoại chính mình.

              Khi cố gắng để đẩy lùi bệnh tật, con người vô hình trung đã làm phát sinh những loại vi trùng và những thứ bệnh mới khác.

              Khi con người sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng cho gia súc và hoa màu – chúng ngấm vào đất đai, biển cả, sông ngòi… Sau đó, con người lại hấp thụ vô số những chất độc hại đó từ nước và không khí.

              Nhưng điều tệ hại nhất là con người luôn tranh giành, thù hận và tàn sát lẫn nhau. Đây chính là sự ích kỷ và tham lam, và con người sẽ phải trả giá cho những điều đó. Bởi, quy luật tự nhiên là không chấp nhận những thứ xấu xa, tà ác.

              Loài người vẫn tự hào rằng mình văn minh mà không biết cái văn minh đó là con dao hai lưỡi sát hại toàn thể nhân loại. Ðã đến lúc loài người nên thức tỉnh. Ðây chính là lời kêu gọi thiết tha và cũng là trách nhiệm mà người anh chúng tôi nhắn gửi tới những người em của mình. Hãy gửi ngay thông điệp này đến thế giới càng sớm càng tốt”.

              Thực vậy, từ ngàn xưa, nhân loại đã có những nền văn minh lớn. Những nền văn minh đã tạo ra các kiến trúc vĩ đại như Kim Tự Tháp, Vườn treo Babylon, Vạn Lý Trường Thành… Tuy nhiên, dù phát triển đến đâu chăng nữa, nền văn minh nào cũng không thể thoát khỏi bị huỷ diệt nếu đạo đức con người đã trở nên hủ bại. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Vậy nên, cho đến ngày nay, không mấy ai biết rõ về những nền văn minh cổ xưa đã từng tồn tại, ngoại trừ những giai thoại rời rạc, không liên kết.

              Thông điệp mà người Kogi gửi đến cho chúng ta hẳn là có lý do. Thử hỏi, tại sao chỉ sống ở nơi núi cao rừng thẳm mà họ vẫn biết rõ về những gì đã và sẽ xảy ra trên thế giới như vậy? Chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, cho đến những thực trạng đang diễn ra ngoài xã hội – tất cả đều được tiên đoán chính xác và rõ ràng. Có thể câu trả lời là bởi họ có khả năng “giao cảm với vũ trụ”. Suốt 9 năm quay mặt vào vách đá để tu tập – họ đã khám phá ra sự liên kết, giao thoa, hợp nhất giữa trời đất, con người và thiên nhiên.
              Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

              Comment

              Working...
              X
              Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom