Chút lưu lại

Go Back   Chút lưu lại > Văn Học/Nghệ Thuật > Truyện
Trang nhà Phòng ảnh Thơ mới Download mViet Lưu bút

Truyện
Những truyện ngắn, truyện dài về Tình cảm, Xã hội, Truyền thuyết v....v..... bạn đã đọc qua và yêu thích. Có thể của chính bạn sáng tác hoặc sưu tầm từ nhiều Tác giả khác nhau.

Trả lời
 
Thread Tools Display Modes
Old 03-08-2015, 10:10 PM   #25
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

THÂN PHẬN TỘI TÙ
*




Trại cải tạo "ngụy quân, ngụy quyền", nằm tại Huyện Tây, đây là tên mới đổi của người thắng trận, trước tháng tư, Huyện Tây là quận Hòa Đồng, thuộc tỉnh Gò Công
Từ địa điểm tập trung, tại trường Trung Học Công Lập Gò Công, buổi chiều, nhóm trình diện được lệnh chuyển qua trường Trung Học Bán Công, ngủ qua đêm, sáng có xe đò chở lên trại cải tạo Huyện Tây nầy, đây là khu trại gia binh của chi khu Hòa Đồng, nằm bên nầy đầu cầu, bên trái trên đường vô quận.
Anh em trong trai là những người sinh quán tại Gò Công, làm việc trên khắp bốn vùng chiến thuật, nay xếp giáp trở về quê nhà trình diện, phần còn lại là quân nhân công chức, người của khắp nơi, về làm việc tại Gò Công...
Tại đây tôi gặp người anh thứ ba, anh trình diện trước tôi một ngày, anh là giáo chức, dạy văn chương trường Trung Học Gò Công, anh tốt nghiệp khoá 16 Thù Đức, tại trại nầy,trong hàng ngũ giáo chức, chỉ có 3 người mang cấp đại úy, là Thầy Nguyễn Phước Hải, thầy Hùng với anh tôi. Nhà tôi có hai anh em trai, cùng nắm tay nhau vô chung trại tù ....cho tiện người nhà thăm nuôi.
Dù trong lòng đang nặng nỗi buồn thua trận, phải xa gia đình, gửi thân vào tay giặc... Nhưng gặp lại bạn đồng môn, đồng hương sau nhiều năm xa cách, những câu chuyện trao nhau, đầy buồn thương lẫn lộn...Một câu thường nghe anh em nói nhiều nhất : tao tưởng mầy vọt được rồi chứ!!
Tôi sống qua bốn trại tù, hai trại ở Tiền Giang, và hai trại ngoài Bắc.. Trại Huyện Tây là trại thong thả nhất, thứ nhất khỏi phải đi lao động, thứ hai không phải lệ thuộc vào tiếng kẻng, sáng muốn thức dậy lúc nào thì thức, tối muốn thức tới đâu cũng được, miễn đừng gây ồn ào, trại lại gần nhà, sáng có người của trại lảnh ra chợ mua thức ăn sáng, theo danh sách đặt hàng vào mỗi buổi sáng sớm, mang về còn nóng hổi ... Người cán bộ phụ trách việc mua thức ăn buổi sáng, có tên là Chi, cựu học sinh trường Gò Công, khóa 6, trước là cán bộ xây dựng nông thôn… Chi có anh theo Việt Cộng, nay còn sống trở về có chức sắc, nên Chi được điều về đây làm việc… Chỉ sau mấy tháng mua thức ăn sáng, Chi tạo được chiếc xe lambretta 2 bánh láng coón..
Ở trại nầy dùng chữ giam lỏng thì
đúng hơn là trại tù....chính nhờ vậy mà anh em không có người nào đào thoát, tất cả đều bị gạt.. gạt từ buổi ban đầu..Vào trại khoảng hơn nửa tháng, cũng chẳng nghe ai nói năng chi, cứ sáng dậy tự động tập thể dục, mạnh ai nấy tập, thích kiểu nào tập kiểu đó, xong ghi tên gửi mua ăn sáng, trưa lảnh nước uống, lảnh cơm, chiều lảnh cơm lảnh nước, mỗi căn trại ở 10 vị .. tương đối cũng thoải mái, chiếu trải trên nền đất...chiều ra trước sân nhìn dân chúng đi qua lại ... thỉnh thoảng cũng nhìn thấy người quen, những anh gốc Hòa Đồng, chiều chiều, vợ con canh giờ đi qua đi lại... Dù không trao đổi lời nào nhưng sự nhìn thấy nhau cũng tạo được chút an tâm...
Sĩ quan từ cấp thiếu úy, cao nhất là thiếu tá... Hầu hết các anh tác chiến và các ngành nghề khác đều chuyển qua Kiến Hòa, cấp đại úy, thiếu tá thì chuyển lên Cao Lảnh, thành phần còn lại là giáo chức biệt phái, trưởng ty, chi, sở, phân chi khu trưởng, cảnh sát sắc phục, dã chiến, an ninh quân đội, tình báo, sở, phòng, ban 2, chiến tranh chính trị... đảng phái...Xem ra đa phần" có nợ máu với nhân dân"Mỗi tuần lễ phải đóng tiền cơm, nên phần ăn cũng không đến nỗi nào, sau hai tháng, trại trả lại tiền cơm, và mức ăn có kém đôi chút. thường là cá biển kho với canh rau… Cũng chẳng thấy trại ban bố lệnh lạc gì cả, Rồi có một toán khoảng 200 người gồm trưởng ban, đoàn trưởng cán bộ xây dựng nông thôn, vài hạ sĩ quan, thư ký hành chánh…Bởi có thêm người nên phải dồn phòng, chỗ nằm, có phần chật chội, chật từ nơi ngủ tới ngoài sân, ra vô là đụng người, vì sân trại gia binh không mấy gì là rộng … Lúc xe chuyển các anh nầy ngừng trước trại, anh em ùa ra sân đúng nhìn…
-Coi khóa đàm em tới ..
Từng cặp bước vô… Tôi nghe tiếng của Thiếu Úy Hiền
- Có ba tui kìa ( Thầy Ký Sung), Anh Đại Úy Võ Hiếu Để, đại đội trưởng Đại Đội Chiến tranh Chính trị Gò Công
_ Có Ông Nội tui kìa! Nguyễn Thanh Cầm, khóa 2 CTCT Đà lạt
-Trời ba tui kìa
Một bạn thân tôi, Nguyễn văn Nha ( Phượng Hoàng) cũng có mặt trong toán nầy .

Khóa nầy vô mấy ngày thì khai giảng khóa học.. kéo dài hơn tháng … Có anh Lưu, cán bộ xây dựng nông thôn bên cù lao Tân Thới, đêm ra nhà cầu treo cổ tự vận chết.. Xác treo lũng lẳng như vậy tới trưa, ban pháp y từ Mỹ Tho xuống mới tháo dây khán nghiệm… sau đó cho thân nhân lảnh xác về chôn… Rồi tất cả khóa nầy đều được thả hết.. bởi thả hết nên nhóm sĩ quan còn lại mới lạc quan yêu đời … Nhân viên trại chộn rộn sửa sang lại hội trường, căng băng vải kẻ chữ to ." Khai Giảng khóa học tập cải tạo sĩ quan ngụy quân ngụy quyền Gò Công" anh em thấy vui mừng, vì nghĩ đơn giản, có khai khóa thì phải có bế khóa và rồi sẽ được tha về như khóa trước….
Sau đợt đổi tiền lần đầu, rất nhiều gia đình trở nên nghèo túng, Mức ăn trong trại giãm dần, cơm ăn lưng bụng, số người gửi mua thức ăn sáng cũng giãm dần…Nhóm tôi bắt đầu khẩn đất trồng lang, hàng ngày sau giờ đọc báo, anh em đi tìm những đọt rau hoang như dền, diệu, Loại rau diệu nầy, lần đầu tiên tôi mới biết ăn khi vào trại nầy.. Lần lần rau hoang càng khan hiếm vì số người đông…Rau lang thì chậm phát triển vì đất cằn, mà nước tưới lại là nước phèn mặn.. Tuy vậy mỗi tuần nhóm cũng cắt luộc một dĩa, chia ra mỗi người cũng được đũa rau…Tuy nhiên đói khát cũng chưa thấm thía gì cho lắm, vì cứ 2 tuần được thăm một lần.. anh em chung buồng cũng san sẻ cho nhau .., phòng tôi có Lê văn Liệt, khóa 2/69 TĐ, nguyên là Trưởng cuộc Cảnh sát, tỉnh Long An... Là cháu gọi Tám Niên đang giữ chức Huyện ủy Gò Công, bằng cậu, mẹ và em gái Liệt thường đến thăm vào buổi chiều... Và thức ăn tươi như cà ry, gà quay, bún, bánh mì...... cả nhóm 10 người đều ăn no luôn... Cám ơn Liệt và gia đình .
Sau 10 bài học chính trị và sau nhiều lần thu hoạch, mà lần nào trưởng trại cũng nói một câu mà tôi thuộc tới bây giờ…
- Nhìn chung, các anh khai báo tốt, tuy nhiên cũng còn nhiều anh chưa thành khẩn, các anh về viết bổ sung…" Vậy mà có nhiều người vẫn tin vẫn sợ, viết ngày viết đêm, không tội cũng tự gán cho mình có tôi với hy vọng khai nhiều được đảng khoan dùi cho về sớm..
Bắt đầu từ tháng thứ 6 đã có những đợt thả, lần 2 người lần 3 người .. lai rai thả hoài, Các anh được thả là những anh giáo chức cấp thiếu úy, hay có thân nhân bảo lảnh, cho đến tháng thứ 11 thì tất cả các thầy giáo trong trại đều được thả hết, trừ thầy giáo Tốt cấp Trung Úy.. sau đó trại tập họp anh em lại cho biết sẽ chuyển anh em tới một địa điểm khác, tiện nghi hơn, đầy đủ hơn để việc học tập chóng tiến bộ hơn,… Hơn trăm anh em được gọi tên lên xe đò chỡ đi, tay chân tự do không còng trói .. rồi ngày hôm sau, tôi trong nhóm gần 200 anh em lên xe GMC chuyển đi lên trại Mỹ Phước Tây, thuộc Quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, sau đó mới biết anh em chuyển trước chuyển lên khám đường Mỹ Tho…
Bước chân vào trại Mỹ Phước Tây, nhìn vách bện bằng đưng, nóc lợp đưng lụp xụp ..Nhìn thấy láng trại là hởi ôi rồi.. Nhiều anh em tác chiến, trước có hành quân qua đây, cho biết đây là căn cứ hỏa lực của ta trước đây, nằm sát quốc lộ vô Kiến Tường, cạnh con kinh Dương văn Dương…
Thời gian sống trong trại Hòa Đồng, cảnh tù tội xem như chẳng có nghĩa lý gì cả.. chỉ là khoảng thời gian giam lỏng, ăn ở không chẳng làm động móng tay, sáng chiều đua nhau tập thể dục..Bây giờ vào trại Mỹ Phước Tây mới thấy thấm, mới thấy đâu là địa ngục trần gian…..
Nằm chen nhau như cá mòi họp, trong mỗi đội, gồm đủ mọi thành phần xã hội. Trước khi nhóm Gò Công lên, trại nầy rất ít sĩ quan quân đội Sài Gòn, thành phần xã trưởng, hạ sĩ quan, binh sĩ, trộm cắp, gái điếm, vượt biên.. ..
Tôi nằm kế bên Tư Què, chân của chú em nầy bị tật, can tội ăn cắp bình ắc quy, trưởng nhóm là Thượng sĩ Hiếu, hình như phục vụ ở chi khu Sầm Giang.Tôi ngủ chung mùng với Thiếu Úy Tài, thám báo Gò Công, cái mùng nhà binh không giăng thẳng được, mà nằm 2 người, mệt quá nên giấc ngủ đến dễ dàng…
Nhớ ngày đầu tiên lảnh vá đi lao động đào kinh, băng đồng, vượt kinh hơn 5 cây số mới tới hiện trường, băng qua nhiều khu đất trủng thấp, chỗ nào có nước là có cá và đỉa, những bạn tù ở đây trước, có anh mang theo cần câu, tù nào vai cũng có mang một bị đệm, đựng cơm, nước, thức ăn, các anh cố đi nhanh, để có dư giờ câu cá, hái rau dọc theo đường.
Ở trại nầy tôi biết ăn thêm nhiều loại rau, rau cỏ đồng tháp mười bạt ngàn, rau dền, rau diệu non mướt, dưới kinh có rau hẹ nước, rồi rau đắng, rau mò ôm ( đáng lẽ ôm rồi mới mò chứ), rau đắng đất, rau chốc, cải tàu bay…rau mò ôm có chỗ mọc chen nhau khoảng năm mười thước vuông.. Bạn tù thường kể cho nhau nghe chuyện lính chính quy Bắc Việt, xâm nhập vào Nam, tới Đồng Tháp Mười, đêm ra đồng làm chuyện đệ tứ khoái, xong bứt cỏ chùi .. Tay sờ lên mũi, ngửi thấy thơm, vào kháo với đồng đội
" Trong Lam ( Nam), cả cơm nắm tiền, tới cỏ chùi đít cũng thơm".. Thì ra anh ngồi trên đám rau mò om; loại rau nầy phải ăn với lẩu lương, phở, hay lươn um, còn làm rau nêm cho canh chua, chứ ăn khơi khơi với cơm … chả ra gì cả, mà lại khó ăn, ờ thì khi đói, cũng hái đại đem về ăn độn, không bổ bề ngang cũng bổ bề dài…Tôi cũng hái hẹ nước, loại hẹ nầy ăn dở lắm, vừa dai vừa không có mùi vị, lại mọc sâu dưới đáy kinh, nên thân đóng đầy phèn, rau nầy ăn dở cũng giống như rau chốc, thực ra mấy loại rau nầy, trước đây, dân chúng chỉ dùng để cho heo ăn..bây giờ thiếu đói, hái ăn đở … không cám ơn Bác,còn chê khen nỗi gì!!
Hôm nào về sớm, còn lựa chọn rau hoang, hôm nào về trể, quơ quào đại. lẫn cả cỏ, xuống kinh tắm vội vàng, rửa qua loa, luộc chín ..vi trùng nào sống nổi … Bởi ăn uống như tù mà !... thời gian vẫn cứ nặng nề trôi, bởi không quen lao động nặng, tất cả anh em từ Gò Công lên, chỉ sau mấy tuần nhìn lại thấy khác sắc, ban đêm ngủ còn phài chia ca ra gác, đám võ trang đi tuần bên ngoài, ngang qua nhóm, gọi mà không có tiếng trả lời, sáng bị xài xể mệt lắm ..
Những anh tù có sức khỏe, họ là lính, xuất thân nông dân, nên đào kinh nhanh lắm, xong phần đất, rủ nhau đi tác vũng, những hố bom, nay đọng nước, có rất nhiều cá, bắt được cá, lớp nướng ăn tại chỗ, lớp đem về kho nấu… Nhóm sĩ quan chúng tôi …nhìn thấy biết thèm … Phần đất đào kinh, nhiều đêm trăng lên mà vẫn chưa đào xong, mới thấy thấm thía câu "Một nắng hai sương", sáng ra đi trời còn mờ tối, sương còn vương đọng trên cây trên lá, tối mò về, đêm nào có trăng còn thấy đường đi, đêm tối trời, chân đất, băng đồng, vấp tới tét móng chân luôn…, vừa mệt vừa đói… chốc chốc lại phải lội qua kinh, kinh có bề ngang 3 mét. phóng qua thì không nổi, lội thì …… Sài Gòn ơi, Thanh Hải ơi, Lưỡng Nghi ơi, Thanh Thế ơi… Con gà vàng bóng lưởng treo trong lồng kiếng trong mấy tiệm phở trên đường Hiền Vương … bây giờ hiện ra rất rõ trong ký ức …Trong sự thèm muốn của cơn đói .!
Mỗi tháng cho thăm nuôi một lần, mỗi lần 15 phút tại vòng rào kẽm gai quanh trại… Thân nhân bên ngoài ruộng, tù bên trong … , chuyển giỏ thức ăn vô, mang ngang trạm kiểm soát, vô nhóm bỏ đó, lên phòng điều hành, lảnh khi thì thúng lúa, khi thì bó khóm, hay 5 cây chuối cao khoảng hơn thước, mang ra hiện trường cách trại hơn 5 cây số…. Từng bước đi trên con lộ đá, trời hực nắng giữa trưa,, trong lòng ngỗn ngang trăm mối .. Mới gặp người thân đó, mới nghe chuyện vui buồn ở nhà… đầu đội thúng lúa.. mắt muốn nở sao… từng bước đi, như một người máy… chữ nghĩa nào đủ để diễn tả nỗi lòng, tâm trang của người tù khổ sai lúc bấy giờ …!!. Thúng lúa còn dễ dàng xoay trở, ra tới nơi đổ vô bồ xong là về, bó khóm mới thật là dĩ chí di nan, nó không nặng lắm, nhưng rườm rà, lại gai gốc, 5 cây chuồi mới dở khóc dở mếu … Rồi cũng xong thôi, trời hại mới chết chứ người hại chỉ vất vả chút thôi .!
Trai nầy có một điều đặc biệt, các cán bộ trại ít có người nào lành lặn, trưởng trại, Hai Bạch thì chân đi cà lích xích, Sáu Que, trưởng an ninh, thì bàn tay mất mấy ngón, người thì mất vành tai, người thì mặt mày đầy thẹo … Bởi vậy chúng áp đặc luật rừng lên tù sĩ quan, nhất là các sĩ quan từng phục vụ cho Sư Đoàn 7, lính địa phương quân tiểu khu Định Tường.. là những người mà trước đây trực chiến với chúng .. Chúng đánh đập hết sức dã man dù lỗi lầm rất nhỏ, những anh tù mà chúng cho là chống đồi, nguy hiễm, tối tối ban an ninh kêu tên lên làm việc… sau đó nghe súng nổ.. sáng trại cho biết là anh đó bỏ trốn bị bắn chết … trường hợp của Đại Úy Lãnh, sĩ quan xuất thân giáo phái Hòa Hảo, Đại Tá Nguyễn Đức Xích, có thời là tỉnh trưởng Gia Định, ông bị biệt giam, chiều chúng cho ra đổ bô, xúc ống tiểu… chúng lừa cho Ông đi xa ra vòng rào.. lấy cớ có ý trốn trại .. bắn chết … mạng người tù như con kiến con ruồi.! Người ban lệnh buông súng, làm sao thấu hiểu nỗi oan khổ của thuộc cấp mình, vì quân kỷ, tuân hành lệnh mà nay bị đối xữ tàn tệ thua cả súc vật .!!
Suốt ngày quần tà lỏn, áo rách, lúc nào cũng ẩm ướt, không ướt vì lội kinh, vì trời mưa thì cũng ướt vì mồ hôi .. có đào kinh mới thấy rõ nghĩa chữ ròng ròng ( Mồ hôi đổ ròng ròng)đổ ướt mờ cả mắt… Nhiều lô đất cứng quá, phải nghĩ đến mình đang đào mả Hồ Chí Minh, thì mới cuốc được những cuốc đúng nghĩa, một bạn tù gốc nghĩa quân chỉ cho tôi ..( Anh cứ nghĩ anh đang cuốc mả HCM là anh đào nổi)
Chín tầng địa ngục, tôi mới qua có 2 tầng thì ăn thua gì…
Những anh tù yếu đuối bệnh tật ở trong nhóm lao động nhẹ, nhóm nầy đi lấp hố bom, làm cỏ ruộng, cắt đưng lát, giã bàng ….
Tôi theo nhóm đào kinh mấy tháng hết chịu nổi, được anh em trong nhóm bình bầu thuận cho qua lao động nhẹ…Thành phần lao động nhẹ không có lảnh phần cơm sáng… Thường dẫn đi lao động, cũng là một anh tù, gọi là Chịu Trách, những người nầy là tù Việt Cộng, cán bộ tham nhủng, tham ô, phạm tội ..
Người dẫn toán tôi là Anh Tư Ảnh, nhưng anh em vẫn thường gọi là Anh Tư Ỉa
Tên nầy có lối chửi tù rất có bài bản, nghe riết thấy vui tai
Tôi còn nhớ, lao động lấp hố bom, có máy cày trục đất, đất trở vòng, củ năng theo lưởi cày lộ ra … Nửa buổi được ngồi nghỉ vài phút, tiện tay bứt củ năng ăn… Tới giờ làm anh em ngồi nán chưa chịu ra.. Tư Ảnh cao giọng:
- Đ con Đ mẹ mấy ông, phải ngày trước mấy ông biết ăn năn (g) thì đâu đến nổi, có chịu ra làm không, tao kêu võ trang bắn bỏ hết bây giờ ..- Đ. con Đ mẹ nó, tên tao là Ảnh mà nó kêu tao là Ỉa, chắc trùng tên Ông Cố Nội nó nên nó cử không dám kêu

Đại khái, nghe chửi hoài rồi cũng quen tai … Một buổi trưa, trại tập họp gọi tên từng người,ai có tên gọi, đứng ra riêng một góc… Khoảng trên 200 anh em, cũng đủ cấp, đa số là sĩ quan, rồi tới trưởng ty, hạ sĩ quan tình báo, một ít đảng phái…
Con tàu Sông Hương trên bến Tân Cảng Sài Gòn đưa người tù ra Bắc, suốt ba ngày ở dười hầm tàu, chỉ thông thiên bằng một miệng hầm cở chiếc đệm, thức ăn là mì gói, mấy khúc mía, miếng dưa hấu… ngày đầu tiên, sau khi tạm ổn chỗ nằm, trong khoang tù, ầm ỉ tiếng rượt đuổi đánh nhau … đám tù làm ăn ten bị thanh toán sưng mày sưng mặt … trại Mỹ Phước Tây có thượng sĩ Khanh, phục vụ trong ngành quân cảnh tư pháp… vô tù làm đội trưởng, lạm dụng quyền hành hà khắc với anh em, mới đầu, anh còn ỷ sức đánh trả lại , nhưng lực lượng hạ ăn ten đông quá, mặt mày anh nổi u nần bầm xanh trông thật…đáng tội, mấy trại khác cũng đều có người bị đánh… Tôi còn nhớ Anh Lê Trường Mộng, nguyên Trung Úy chi khu Chợ Gạo, là đội phó của anh Khanh, có tên trong danh sách ăn đòn ngày hôm sau,.. qua ngày sau … chưa kịp điểm danh ăn ten thì anh em bị say sóng .. tới 90% anh em nằm bẹp.. nhiều anh ói mửa… Tôi tuy ròm mà chẳng sao cả.. ngồi nhìn quan sát cảnh đổi dời .., Lê trường Mộng mặt la mày lét, ngồi thu hình thấy tội nghiệp. Nhìn cụ Trương Vĩnh Lễ, nguyên chủ tịch quốc hội đệ nhất cộng hoà.. đứng tựa vách tàu, ông đứng yên như pho tượng...… Có lẽ Ông là người có chức sắc cao nhất trong hơn 2000 tù trong khoang hầm.
Bắt đầu ngày thứ hai thì thùng phân người và nước tiểu bốc mùi đầy tràn tàn lan … Thân tù phải nếm đủ mùi tân khổ…!! đa số anh em nín đại tiện, còn tiểu tiện thì rất khó cầm..mỗi ngày có dây từ trên thòng xuống kéo thùng phân lên… Địa ngục nếu có thật chắc cũng cở vầy
Buổi chiều, tàu cặp bến Hải Phòng.Có tiếng loa từ trên boong tàu vọng xuống
-Các anh đã tới miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tất cả chuẩn bị lên bờ….
Một phần ba quảng đường tù tội tôi đã đi qua, nhóm tù của anh em tôi từ ngày vào trại cho đến lúc thả, lúc nào cũng chịu sự quản chế của Công An…
Miền Nam thân yêu của tôi, miền Nam là vựa lúa… miền Nam nước ngọt trăng thanh…Người miền Nam đối xữ với nhau rất chân tình…. Vậy mà tôi bị đọa đày trên chính quê hương tôi, tôi làm gì nên tội, phải chăng, cấp trưởng của tôi bất tài… để cho các người từ Bắc vào chiếm lấy miền Nam một cách dễ dàng, đầy may mắn..
Hai năm trong hai trại tù miền Nam, có lúc tôi đã phải cùng bạn tù mang ách thay trâu trục đất trên ruộng Đồng Tháp… Trong lúc miền Nam đâu phải thiếu trâu cày..
Ngày tôi còn đi học, không có ai chỉ dẫn cho tôi về sự tàn ác của Cộng Sản, cho tới ngày tôi đi lính, tôi cũng không hiểu rõ chế độ Cộng Sản… Xem phim Chúng Tôi Muôn Sống, tôi chỉ nghĩ đó là phim tuyên truyển… Tôi đâu có ngờ, củng là con cháu Lạc Long.Người miền Bắc Cộng Sản là con thú hoang chứ không phải là con người
Mẹ ơi!... Bây giờ trong cõi vĩnh hằng, chắc là mẹ đã thấu hiểu được cảnh khổ sai của con, con xin lỗi mẹ, từ bấy lâu nay, chưa lần nào con nói thực bao nhục nhằn cay đắng mà con phải hứng chịu trong lao tù Cộng Sản, mẹ ơi con sợ mẹ buồn, thằng con út mà mẹ hết sức thương yêu, nay vì buông súng mà phải chịu sống trong cảnh đày ải… Đôi mắt của mẹ, trong mỗi lần chia tay bên bờ rào kẽm gai trong khu thăm nuôi …. Làm sao con quên được hở mẹ… Những người mẹ của lính .. rất đáng trân trọng vinh danh ….Cũng rất đáng trân quý nữa, đó là những người vợ chung thủy, thăm nuôi, chờ đợi chồng đang oằn oại trong lao tù Cộng Sản, phải dải nắng dầm sương, mua chui bán nhủi kiếm tiền mua quà cho chồng ...mà đa số họ xuất thân từ hàng ngũ nữ sinh, chưa từng quen chuyện đời sương gió...
Tại Gò Công có hai chị phải bỏ mạng trên đường ra Bắc thăm nuôi chồng...
Cám ơn Cộng Sản đã tạo ra cảnh đời nghiệt ngã...!

Viết tại Kỳ Đà Động hè 2011

THỦY LAN VY

\
__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
nhonhatrang (04-08-2015), Sương Đêm (30-09-2015)
Old 27-09-2015, 01:10 PM   #26
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

ĐẬM ĐÀ HƯƠNG QUÊ
*





-Sao con không lấy nón lá của chị con đội cho mát. Trời nắng nóng quá mà con, chai nước mưa mẹ châm đầy liệu có đủ uống không con? Uống xong nhớ để ly chai vào bao ny lon cho sạch nha con…
Mẹ vẫn luôn ngọt ngào, vẫn đôi mắt trìu mến nhìn tôi, với mẹ tôi vẫn là thằng con trai út bé bỏng của thuở nào...
-Được rồi mẹ, đi lao động bây giờ bụng no là quá sướng rồi…Tám năm trong tù con đã quen rồi mẹ., vào nghỉ đi mẹ!
Tôi được giặc thả về đã gần tròn năm, những người tù được thả ra từ các trại tù miền Bắc thường về địa phương không bị quản chế, riệng đất Gò Công nầy, có lẽ tại vì trước năm 1975, là tỉnh đứng đầu trong việc bình định an ninh trên toàn quốc, nên khi giặc về, mọi oán thù đều đè nặng trên đầu trên cổ người của chế độ Sài Gòn.Nên tù Nam tù Bắc gì cũng quản chế hết... Ít nhất cũng phải hơn năm.
Trong thời gian quản chế, thỉnh thoảng trong tuần, trong tháng tôi vẫn thường bị công an khu vực gọi đi lao động, khi thì cạo cờ, những lá cờ vàng được sơn bằng sơn Mỹ trên những bức tường, trên những thân cây to, trên nóc công sở, theo năm tháng vẫn còn rõ nét vì sơn Mỹ quá tốt. khi thì đi đập phá miếu thờ Ông Quan Công, vì trong miếu có bàn thờ Ông Lãnh binh Tấn, những ngày gần tết đi quét dọn lau chùi các công sở, đi làm thủy lợi… Bất cứ công việc gì cần là có mặt đám tù cải tạo quản chế, lần nầy đi đấp sông, con kênh nằm cuối đường từ xóm Cầu Tàu ra, được quy hoạch phóng đường nên thị xã quy tụ một lực lượng hùng hậu, ngoài tù cải tạo quản chế, mỗi nhà góp một công trong việc đấp đường nầy, con kinh dù hẹp nhưng đang thông giòng nước, lượng công nhân dù đông, chia ra làm nhiều dây, móc đất sình từ phía gần bờ chuyền tay nhau rồng rắn mấy chục người một dây, cục đất ra tới tay người cuối chỉ còn bằng cái bánh bao…nên kết quả …
Đã hơn mười ngày, với lực lượng đông như vậy, con đường ngăn nước đã gần hình thành, chỉ còn khoảng 2 thước nữa là con đường liền mặt, và chiều nay là buổi chiều quyết định.
Nhìn con đường ngăn nước được đấp bằng sình, với hàng cọc bằng cây đước đóng lưa thưa, cột được dựng bằng tay, trông rất lỏng lẻo, mấy anh em cải tạo chúng tôi chỉ biết lắc đầu trước việc làm của các đỉnh cao trí tuệ thị xã.
Tôi đạp xe trở lại hiện trường sau 2 tiếng nghỉ xả hơi về nhà ăn cơm. Gửi xe đạp ở nhà chị Loan, người đẹp Cầu Tàu năm xưa, tôi lửng thửng bước đi về hướng bờ sông, gặp Anh Hậu, nguyên chi khu trưởng quận Hòa Bình, Anh Có, thiếu tá phòng 1 sư đoàn 7, chị Rết, trung úy quân đoàn 2 …đã có mặt dước gốc cây bần bên bờ sông, đây là những người cũ quen biết chung phường 2 với tôi, vẫn thường đi lao động chung với nhau…
Những ai có tiền hay có quen biết, thường thường không phải đi lao động loại bất thường nầy, mình nghèo quá đành phải dang nắng vọc sình thôi.
-Ê, chiều nay, buổi chiều cuối của công trình nầy, để coi, con bờ sình nầy sẽ bể nát… Còn khoảng 2 thước, áp suất nước càng mạnh mà đấp bằng sình thì….
Anh Hậu cười lớn mà không nói tiếp
-Ê chút xong về ghé nhà thằng Hiệp ăn bánh vá, nó mời tụi mình hôm qua.Anh Hậu vừa nói vừa nhìn mọi người, Anh Hiệp nguyên là sĩ quan thanh tra của tiểu khu Gò Công.
Trời nắng chang chang, bờ sình hắt hơi nóng lên thật khó chịu, dây chuyền sình của phường 2 phía bên nầy bờ sông, có tất cả hơn mười dây, mỗi dây khoảng trên 30 người, chuyền từng nắm sình hướng về 2 thước còn lại, tôi đứng cuối dây nên nhìn thật rõ, nước bắt đầu xoáy mạnh khi khoảng trống càng hẹp lại. Tiếng cổ động của ban chỉ đạo thị xã oang oang bên tai, qua mấy cái loa phóng thanh treo trên mấy cây bần, tiếng cười đùa của những người lao động tạo nên một không khí ồn ào, bởi làm chuyện không có tiền công, nên mọi người đều làm cho có, làm chiếu lệ, tạo dịp cười giỡn nhiều hơn là chuyền sình, tôi với anh Hậu, anh Có, chị Rết đứng cuối dây luôn râm rang chuyện trò, nhắc chuyện bạn bè năm xưa…
Ầm, một âm thanh khá lớn, hàng cây cọc và dãy đất sình trôi bung theo dòng nước… Tiếng cười, tiếng la, tiếng bước chân lội bì bõm trên sình, hai hình ảnh trái ngược, mặt ban chỉ huy giống như cái bánh bao chiều, mặt mày anh chị em lao động vui ra thấy rõ…
Tôi với Anh Hậu, Anh Có quẹo xe đạp vào hướng nhà đèn, nhà anh Hiệp cất nửa trên đất, nửa trên sông nên rất mát mẻ, bước vào nhà tôi thấy có Anh Hên, nguyên tiểu đội trưởng quân cảnh tư pháp tiểu khu Gò Công, sau màn chào hỏi, chúng tôi quay quần cùng ngồi trên chiếc bàn tròn, kê sát vách đóng bằng lưới B40, bên ngoài sông nước đang lớn, dòng nước lặng lờ với chút sóng nhẹ, lơ thơ vài cây thủy liễu( bần), lá cành đong đưa theo gió,,,mát mẻ làm sao.!
Ba anh Hiệp từng là đại tá thị trưởng một thị xã miền trung,Đại Tá Mãi nhờ đau cột sống được giặc tha về sớm từ trại Nam Hà, cũng đang ở chung với anh, Bác chỉ nằm trên giường, có khách tới thăm bác vui lắm, tôi vẫn thường trò chuyện với Bác… Thường Bác nhắc chuyện ngày xưa với nhiều tiếc nuối. Bác rất thích tôi vì dù chênh tuổi tác nhưng cùng chung trại tù Nam Hà, có nhiều chuyện nhắc nhớ thời trong lao nhục. Những kỷ niệm rất khó quên trong đời.
Anh Hiệp có người vợ đảm đang,Chị ba Phích, chị mua chui bán nhủi rất khá, nên cưu mang luôn cả gia đình, Anh Hiệp có số sống nhờ cung thê, nên thường ngày chẳng phải làm gì hết, cách vài ngày lại tổ chức tiệc tùng mời bạn bè ăn nhậu. Đi lao động anh đóng tiền, người cũ người mới gì anh đều chơi, anh thường nói
-Mình như cá trên thớt, sống trong tay sinh sát của tụi nó, không cho đám công an khu vực ăn nhậu, tụi nó làm khó dễ mất công phiền phức,.!
Gió từ sông thổi lòn qua song lưới, dòng kênh nước chảy lững lờ, thỉnh thoảng có chiếc thuyền tam bản chở củi, chiếc ghe câu của chú Tám bờ Kinh lênh đênh giữa dòng…
Bụng đói, gió mát thổi lòn song, nhìn tô bún trắng nõn, dĩa bánh vá vàng ươm, dĩa rau sống xanh tươi, màu vàng đậm của khế chua, màu trắng xanh của dưa leo bầm, tô nước mắm ớt với những múi chanh, ớt đỏ tỏi trắng lượn lờ, tôi chép miệng nuốt nước miếng, thời mạt vận quen ăn rau cỏ, thấy thịt cá ai không khỏi thèm…
-Mời anh em cầm đũa, hôm nay năm anh em mình ăn bánh vá quê hương..Tôi dô trước một ly, rồi bắt đầu xoay vòng nha...
Anh Hiệp nói xong uống cạn một ly rượu thuốc ngon lành.
-Bánh vá nầy bà xã đặt chiên, nên nhân bánh đặc biệt có cua lột, có óc heo…
Tôi gấp đũa bún, mấy cọng rau, giá, dưa khế, gắp 1 cái bánh vá, dùng tay xé ra làm nhiều miếng, chan mấy muổng nước mắm ớt…từ ngày ở tù về hơn năm, hôm nay lần đầu mới được ăn lại bánh vá quê hương, bột dòn xốp, tôm thịt gan heo ngọt ngào, óc heo béo ngậy, nhất là thịt cua lột, nó ngon béo làm sao! cay của ớt, chua của khế, thơm của rau…tôi làm tiếp chén thứ hai…chỗ thân tình đâu cần chi giữ kẻ.Ly rượu thuốc xây vòng từ từ tới, vừa ăn xong chén bún, dô một ly rượu thuốc nó ngon làm sao…



-Ê cái thằng Hai A đảng ủy gì đó, hai cái bàn chân nó nhỏ xíu mà sao hồi đó mình đi hành quân không bắt được nó, chân cẳng gì giống như bàn chân con nít, mà sao nó chạy giỏi quá?!
-Nhờ chạy giỏi bây giờ nó mới ngang tàng, phách lối..mẹ!
Tiếng anh Hậu gợi chuyện và Anh Cò Hên trả lời
Hai A người của đảng ủy thị xã Gò Công, chỉ huy công trình đấp kênh hôm nay, tên nầy có nhiều mặc cảm với người của chế độ cũ, luôn hạch sách và làm khó dễ khi có điều kiện, sau mấy năm làm việc bây giờ thân hình mập phì, áo quần bảnh bao, tuy có đôi bàn chân dị tật bẩm sinh, đôi săn đal nhỏ nhắn như của em bé lên năm, thế mà vẫn chịu được thân hình trên 60 kílô của Hai A
-Thôi bỏ qua chuyện đó đi, ở đây tai vách mạch dừng, mình nói chuyện khác cho vui đi. Tiếng của Anh Hiệp chủ nhà.
-Lần lao động nầy sao không thấy Anh Sự? Anh Có thắc mắc
Anh Sự cùng khóa 16 Võ Bị với Anh Hậu,Anh Sự nguyên là chi khu trưởng quận Hòa Tân, mẹ anh là chủ chảo bánh vá nổi tiếng Gò Công, là truyền nhân của lò bánh vá chợ Giồng ( quận Hòa Đồng), loại bánh chiên nổi tiếng có mặt đầu tiên tại tỉnh Gò Công, nghề nào cũng vậy, phải có một chút bí quyết mới có được cái ngon đặc biệt của nó, người ngoài có bắt chước cũng không thể so bì được, bánh vá của gia đình Anh Sự ngon là nhờ có bí quyết. riêng.
-Thằng Sự nó ít đi đâu lắm, có lẽ nó đóng tiền nên mới nằm nhà an toàn, chứ dễ gì công an khu vực tha cho nó. À nầy, mấy anh là dân Gò Công chánh gốc, tui chỉ là rể Gò Công nên không biết rành về nguồn gốc cái bánh vá nầy. Anh Hậu tiếp
- Mỏng rành chuyện Gò Công, nói nghe chơi cho vui .Sở dĩ anh Hậu nói như vậy là vì…
Tôi sinh quán, học hành và lớn lên tại Gò Công, tôi có thể biết được nhiều chuyện về Gò Công qua những câu chuyện giữa Ông Nội và Ba tôi, nhưng cũng có rất nhiều cái thuộc thế hệ trước mình không thể nào biết được, nếu không có người trong cuộc kể cho biết. Người Gò Công, người tỉnh khác đến chơi, ai ăn qua bánh vá bún cũng đều khen ngon, nhưng chẳng có mấy ai muốn tìm hiểu cái bánh vá nầy đến từ đâu, ai là người mang nó du nhập vào Gò Công, thường người ta chỉ nhìn cách chiên bánh, vật liệu chiên bánh, để có dịp thực hành, làm phong phú thêm thực đơn gia đình.Cũng có nhiều tác giả đã viết nhiều bài về đề tài bánh vá, nhưng nội dung thường chỉ tả cách làm bánh và cách ăn, cũng như vật liệu làm bánh mà chưa có tác giả nào đề cập tới nguồn gốc cái bánh vá Gò Công.
Tôi có nhiều duyên may, sống trong một gia đình giáo chức, có lối giáo dục người nhỏ bắt chước người lớn…lễ nghĩa ở đời tôi nhìn cách hành sử của Ông Nội của Ba tôi mà bắt chước làm theo. Nhìn anh chị học hành tôi bắt chước học theo, gia đình tôi không khe khắc trong việc theo dõi sự học hành của anh em tôi. Ba tôi và Ông nội thuở sinh tiền vẫn thường đàm đạo, nhắc lại chuyện xưa tích cũ, khen tặng gương trung hiếu, khích bác lũ nịnh gian…tôi lẩn quẩn trong nhà nên được nghe và nhờ có chút trí nhớ tốt nên tôi ảnh hưởng rất nhiều… Chuyện bánh vá tôi nhớ tới Anh Sự, người tự nhận mình lớn lên, nên người, bên chảo mỡ bánh vá, anh là người Gò Công, ra đời làm quận trưởng tại Gò Công, một điều anh vẫn thường hãnh diện.
Thuở trung học, tôi học chung với Tuyết Nga, em gái của anh.Ở Gò Công thường mỗi người ngoài tên cha mẹ đặt còn kèm theo một ngoại hiệu do bạn bè, chòm xóm gán ghép cho .Chẵng qua là vì tên thứ, tên trùng nhiều người nên phải kèm ngoại hiệu cho dễ phân biệt. Ngoại hiệu có thể từ hình dáng bên ngoài như Sang quắn,Nhựt què…, từ ngành nghề, như Chị Loan mắm lóc, vì chị có người mẹ bán mắm ngoài chợ, anh Minh bánh bàn, chị Kiều bánh ích…Vì gia đình như Chị Nguyệt Cò mi Linh vì chị là con Ông Cò Mi Linh,Dung Ba Nữa vì Dung là con gái thầy Ba Nữa, tên thứ thì Năm lửa, Hai néo, Sáu lèo…,…dĩ nhiên Tuyết Nga không qua ngoại lệ đó, cô nầy bị bạn bè gọi là Nga bánh vá, nghe goi là cô phản ứng ngay, cô chửi thôi…tắt bếp. Chính vì hay chửi, ghét ai gọi ngoại hiệu nên Nga cứ bị gọi hoài. Ngày tôi còn đi học,tên tôi có lót chữ kỳ, bạn bè trong lớp ít có trò nào gọi đúng tên tôi, ê Kỳ Đà cho tao mượn cây thước, ê kỳ nhông cho tao mượn cục gom…tôi vẫn tự nhiên như là tên thật của tôi, không bao giờ tỏ vẻ khó chịu, nên dần dần tôi trở lại với chính tên tôi trong khai sinh.
Với 2 chén bún bánh vá, qua 5 vòng xây tua…Rượu đế Bình Ân ngâm chuối hột chín phơi khô, rượu có nồng độ cao uống mau bốc, tiếng cười nói trong bàn râm rang,bé Phi con gái anh Hiệp lại mang thêm một dĩa khô hắc cấy nướng vàng đập mềm với một dĩa nước mắm me dầm ớt trông thật hấp dẫn…
-Ê mỏng! biết gì về bánh vá nói nghe chơi Mỏng, chú có ăn nhiều cũng không mập được đâu. Anh Cò Hên cười cười nhìn tôi
-Dạ thì cũng biết chút chút… Tôi có được duyên may nghe Anh Sự kể về chuyện bánh vá của gia đình anh.
-Ê, làm một ly cho ấm lòng đi rồi kể. Anh Có rót đầy một ly trao cho tôi.Đánh khà một tiếng tay xe điếu thuốc rê, mồi lửa,nhả một hơi khói dài tôi bắt đầu lấy giọng.
-Người Gò Công vẫn thường hãnh diện với món bánh vá, người ta chỉ biết đến chợ Gò Công, cánh chợ hướng đông vào gần cuối chợ,chảo chiên bánh vá đặt ngay trên mặt gạch nền chợ,Một cái bàn hình chữ nhựt chân thấp để vật liệu chiên bánh, khách hàng có thể mua bánh dễ dàng, muốn ngon hơn thì mua sẵn vật liệu như gan heo, thịt nạc, nấm rơm, có khi cua lột, tôm càng, óc heo…đến chỉ nhờ chiên thì bánh vá sẽ ngon hơn nhiều, thành ra cái bánh vá nào bột cũng như nhau, tùy giá tiền mà nhân bánh khác nhau, ngon dở là ở chỗ...tiền
Anh Sự khẳng định tên bánh là bánh vá chứ không phải là giá (Cây giá ươm từ đậu xanh), vì bánh được đổ bằng cái vá, cái vá nầy có lòng vá sâu hơn vá múc canh thường. Người ta giải thích vì bánh có nhân là giá nên gọi là bánh giá, Thế thì bánh xèo cũng có nhân là giá mà sao không gọi,. trong nhân bánh vá có nấm sao không gọi là bánh nấm, bánh tôm, bánh gan…??
-Bà Nguyễn Thị Luốc, người dân còn gọi là Bà Tư bánh vá là vợ của Ông Hương Nhạc Trần văn Tồi gốc người Ba Dừa Tỉnh Mỹ Tho, vì sinh kế chuyển về sống ở Chợ Gạo khoảng năm 1916 thời thế chiến thứ nhất đang ì xèo dữ dội, sinh sống bằng nghề chiên bánh vá, sau đó chuyển về chợ Giồng Ông Huê đâu khoảng thập niên ba mươi. Bà Tư bánh vá có 2 người con, một gái là Trần Thị Vinh, một trai là Nguyễn văn Tại, bà Tư chiên bán bánh vá tại chợ giồng Ông Huê, cô con gái theo phụ mẹ.Năm 17 tuồi, Trần Thị Vinh lên xe hoa với chồng là Nguyễn Duy Hải . Xe hoa không đưa cô dâu về nhà chồng quê ở Vĩnh Hựu mà giữ cô dâu tại nhà vì bắt rể
Nên tuy lập gia đình nhưng Bà Vinh vẫn theo phụ mẹ bán bánh vá…lần lượt Anh Thế rồi Anh Sự ra đời, những bước đi lẩm đẩm của hai anh nầy cũng lòng vòng quanh chảo mỡ bánh vá.Bánh vá Vĩnh Lợi tiếng đồn xa, thuở ấy có nhiều gánh hát nhỏ về xã, đêm quay cót quanh chợ bán vé diễn tuồng, mấy anh hề trong lúc diễu cương đều có nhắc tới chuyện bánh vá Vĩnh Lợi, ăn quá ngon quá đã. ..
Đây là khoảng thời gian nhiểu nhương của đất nước, Cộng Sản quốc tế lợi dụng lòng yêu nước của người Việt Nam lập ra mặt trận Việt Minh ( Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh)Với tầm vong gậy gộc , những người yêu nước, phải đi đầu, chết thay cho bọn lảnh đạo núp trong chốn an toàn.Năm 1945 Việt Minh đánh đồn lính (vị trí sau nầy là dinh quận) trong đồn có mặt Ông Cai Tổng Ngữ, coi như chức sắc khá cao của tỉnh, lực lượng Việt Minh quá yếu chỉ cốt đánh gây tiếng vang, chúng đốt phá một góc làng,rồi bỏ chạy, nhà bà Tư bánh vá cháy rụi, cả nhà phải nương náu mấy nhà quen .Người con trai bà Tư cưới con gái Ông Tam Hưng ( Chủ xe đò Mỹ Tho Chợ Giồng.)
Lúc bấy giờ Chú Hải đang đi lính gạc ở Gò Công, đó là khoảng năm 1947, cùng thời bấy giờ có Cai Nhung rồi Đội Nhung đang làm ở Đơ dèm bua rô, đội Nhung sau nầy là Đại Úy Nhung người đi trong chiếc thiết giáp định mệnh từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu trong ngày 2-11 năm 1963, bà Vinh dẫn con theo chồng về Gò Công ở trong trại lính ( sau nầy trại lính được gọi là trại gia binh) trại lính gạc lúc bấy giờ nằm trên con đường trước mặt dinh tỉnh trưởng phía đối diện, đi từ bờ sông về hướng nhà thờ thì đụng miếu tiên sư trước, tới một miếng đất trống ( sau nầy xây trường Trung Học Gò Công ) trại lính đồi diện với tòa án, sau nầy trai lính trở thành trung tâm cải huấn, nơi nhốt tù binh Cộng Sản, và để kiếm tiền sinh sống, bà Vinh tiếp tục hành nghề của mẹ, chiên bánh vá bán tại chợ Gò Công. Như vậy bánh vá có mặt ở Gò Công vào khoảng năm Đinh Hợi 1947,tỉnh Gò Công bắt đầu có hai chảo mỡ bánh vá, một đầu tiên ở Chợ Giồng, và một ở chợ Gò Công. Bánh vá ngon nhờ nhiều yếu tố.Bột dậy, nhưn tươi, để có được đồng tiền lời, cả gia đình phải qua nhiều công đoạn khá vất vả, sau khi tan chợ về, sắp xếp vật liệu đâu ra đó…chiều xuống, cho gạo vô chậu ngâm nước tới 3 giờ sáng đem gạo xay thành bột, gạo ngâm khoảng 8 tiếng đồng hồ, gạo vừa nở, vừa chớm lên men, nên khi chiên, bột sẽ xốp và dòn.Đặc biệt bánh vá bà Vinh chỉ chiên bằng mỡ heo quay, mở nầy chú Hải mỗi sáng đi thu gom ở các lò heo quay, nếu thiếu mới dùng thêm mỡ heo tươi, ngoài bột gạo có pha thêm bột đậu nành, mà muốn biết tỷ lệ pha chế bao nhiêu thì mổi năm cứ đến ngày 30 tháng 2 tây mang 2 con cọp quay đến nhà Anh Sự cúng tổ sẽ được chỉ dẫn tận tình...( Đã bí quyết thì ai truyển cho mà học)
-Thằng Mỏng nầy dốc hết biết, tháng hai làm gì có 30 tây. Tiếng Cò Hên càm ràm…
-Ờ thì trong nghề nghiệp, ai cũng có bí quyết giữ riêng làm của gia bảo, tôi lựa ngày 30 là có ý cho biết bí quyết nầy khó được truyền lại
-Sau nầy cạnh bà Vinh có thêm bà Hai Chuối, bà là mẹ của Anh Tư nước đá, sau nầy Anh Tư lên Sài Gòn, trở thành tuyển thủ quốc gia trong môn đá banh với danh hiệu là mũi tên vàng ( Một thời hai anh Tư và Quới làm nổi tiếng dân Gò Công trong bộ môn đá banh). Bánh vá của bà Hai Chuối không ngon bằng của bà Vinh, vì bà Hai chiên bằng dầu, cũng như công thức copy không hoàn toàn giống như chánh bản...
Sau nầy trong Tăng Hòa( Chợ Cửa Khâu) Cũng có chảo dầu bánh vá, không biết của ai, nhiều người ăn cũng khen ngon.
Hai lít rượu mít ngâm chỉ còn lại một ly cuối cũng là vòng chót của tôi, Anh Hiệp chủ nhà con mắt gần như muốn nhắm, Anh Hậu mặt đỏ như Quan Công, Cò Hên thì ca ử ử bản Tỏ Tình Trong Đêm...
-Ba mua thêm rượu nữa không ba.Tiếng bé Phi ngọt ngào hỏi Anh Hiệp
Anh Hiệp đang lim dim bỗng giựt mình
-Con dẫn ba vô buống đi ngũ, ba hết chịu nổi rồi con ơi Tiếng Anh Hiệp nhừa nhựa kéo dài…
…..
Bây giờ trên đất tạm dung ngồi viết lại mấy dòng nầy, lòng tôi thương nhớ quá, Gò Công quê hương còn đó, anh chị tôi còn đó, mà cờ đỏ cũng còn đó, nên đành thương đành nhớ, buồn nhớ chuyện năm xưa, gọi phone nhắc nhở chuyện quê nhà với một vài người bạn đó là niềm vui cuối tuần của tôi .
Lúc tôi mới thả về, chị tôi có mua cho tôi một cái bánh vá của cô Lan, cô em gái của Tuyết Nga, kế thừa nghiệp mẹ, nhưng nơi chiên bánh không còn đặt ở vị trí cũ, chảo mỡ cũng teo nhỏ lại, chỉ bằng phân nửa chảo mỡ năm xưa, cái bánh cũng nhỏ đi nhiều, dĩ nhiên gan ruột chỉ là những miếng thịt mỏng như lưỡi lam, con tôm thì đang tuổi vị thành niên. Với một cái bánh vá , chị mua cho một ký bún, cái bánh vá nhỏ xíu, hòa trộn với một kí bún, lực lượng hai bên không cân xứng, kệ, tôi ra sau vườn hái ít lá quế, chén nước mắm ớt, lẽ ra phải có dưa leo bầm, cải xà lách với vài loại rau thơm cắt mỏng với ít giá sống, nhưng mà thôi, như vầy cũng quý rồi…Tôi ngồi ăn mà nhớ tới chảo mỡ năm xưa, nhớ đến Chị Lắm lúc đó chị học trước tôi 4 lớp, chị mặc áo trắng, da chị trắng, mặt chị đẹp, bên chảo mỡ bốc khói, trên vĩ, bánh vá vàng ươm, cô nữ sinh duyên dáng nầy đã có biết bao cây si đem trồng trước chảo mỡ…Nhưng mà có cây nào mà chịu nỗi với độ nóng trên 100 độ của mỡ đang sôi? Gò Công có những ngày trời mưa liên tiếp, lò chiên chụm bằng củi, củi ướt khói mịt mờ, nhìn hình ảnh chị Lắm mặt tươi như ngọc. hai con mắt đỏ ửng, nước mắt rưng rưng vì khói cay, ngồi trong làn khói mỏng, một hình ảnh đẹp dễ làm tôi liên tưởng đến truyện kiếm hiệp của Kim Dung, người đẹp Tiểu Long Nữ luyện kiếm tỏa nhiệt bốc lên thành khói trong đêm trăng mờ ảo, chắc cũng đẹp như vầy thôi.Tôi ăn hết tô bún rồi mà miệng vẫn còn thèm và có cảm giác như …chưa ăn, giá mà có được một ly cà phê tráng miệng…
Đã qua rồi cái thời sống trong tay giặc, đất tạm dung đầy đủ quá, nhưng kỷ niệm ai giúp giùm tôi mang theo. Con đường Gò Công, con đường Sài Gòn... tôi còn nhớ như in trong dạ. Về bánh vá Gò Công tôi còn nhớ 4 câu thơ
“ Buổi sáng chợ đông chão mỡ sôi
“Thơm lừng bánh vá khách quanh ngồi
“Mắm pha chanh ớt rau tươi rói
“ Ngon quá nhờ em miệng khéo cười
(Trích trong bài "Gò Công Thương Nhớ" thơ của TLT)
Bên Ca Li, hàng năm tới ngày giổ bà Vinh, Anh Sự cũng có mời thân tình đồng hương tới dự, món chánh vẫn là bánh vá bún rau thơm, Anh Sự cho biết dù chính người trong nhà chiên nhưng bánh vá vẫn không ngon bằng bánh năm xưa, vì bột gạo mua làm sẵn, bột xay từ gạo ngâm có chút lên men bột mới xốp dòn được. còn xay bột, cũng làm được nhưng cực quá vì xay bằng máy xay tiêu, máy xay trái cây.Ở đây làm sao tìm được con tôm đất ruộng còn nhảy soi sói, khi tôm chín thịt ngọt ngào khó tả, làm sao tìm được nấm rơm búp vừa mới rời gốc rạ, đừng nói chi đến con tôm càng xanh để trong rổ, chân tôm càng còn bún tanh tách, con cua lột lót cỏ non, nằm mềm mại, ngo ngoe nhẹ nhàng mấy cái que..…
Thôi thì nhìn thấy bánh vá như thấy Gò Công. Bên nầy Houston tôi làm gì được nhìn thấy cái BÁNH VÁ...chưa có tiệm ăn nhà hàng nào ở đây bán món ăn nầy.
Hai món tuyệt chiêu của Gò công đều không thấy bán ở Mỹ là mắm tôm chà và BánhVá

Viết tại Kỳ Đà Động. Quý Thu 2008
( Viết để tặng giai nhân tài tử từng ăn bánh vá Gò Công)

THỦY LAN VY


__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến thylanthao trong bài viết này:
Sương Đêm (30-09-2015)
Old 18-10-2015, 10:03 PM   #27
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

HUYỄN MỘNG BƯỚC ĐỜI
-ss-

Khi Phước Tuy in vết xích sắt T54, dân lính từ Bà Rịa lếch thếch bồng trống chạy ra Vũng Tàu. Từ Trại Lam Sơn, tôi cũng lên đường trên chiếc xe dodge. Tới Vũng Tàu, tôi dẫn mấy đứa em ra Bến Đình, đón tàu hàng băng biển về Vàm Láng. Tàu cặp bờ vào buổi chiều ngày 26 tháng 4. Có khoảng gần trăm lính bị nhốt ngoài mõm đất theo leo bên bờ sông. Vì là quê nhà, nên tôi dễ nhận ra người quen đang đứng trên bờ nhìn xuống.. Khoảng 6 giờ chiều, thiếu tá Sự (Khóa 16 VB), quận trưởng quận Hòa Tân, đi xe jeep với 2 chú lính cận vệ, ngừng xe trước bến cảng. Anh đứng nhìn một lượt nhóm người đang bị cô lập. Anh nhận ra tôi - dù không biết chính xác tôi là ai - nhưng anh biết tôi là con trong gia đình họ Nguyễn, cũng ở gần nhà anh. Anh vẫy tay cho tôi lên bờ, hỏi thăm mọi việc. Anh có ý cho tôi quá giang xe về Gò Công, nhưng tôi từ chối vì còn mấy đứa em đi theo. Tụi nó theo tôi từ KonTum, qua biết bao nhiêu khúc đường sinh tử, về tới đây, nỡ nào tôi bỏ tụi nó bơ vơ..

Xe quân cảnh do thượng sĩ Hương, cũng là cựu học sinh Trung Học Gò Công, sau tôi một lớp, hướng dẫn đoàn xe GMC chỡ đám lính rã ngũ về phi trường L19. Phi trường nằm cạnh trung tâm yễm trợ tiếp vận tỉnh. Tôi bước vào trung tâm, gặp rất nhiều người quen chào hỏi .. Kìa là Đại Úy Để (Khóa 17 TĐ), kìa là Trung Úy Dư (khóa 2 CTCT/ ĐL)… Vì lệnh giới nghiêm 24/24 tôi không dám về nhà, vì ngại tầm súng của đám nhân dân tự vệ, mịt trời khói lửa không sao, về đây té lổ chân trâu, chết cũng phiền! Thôi thì phơi sương ngoài phi trường cùng với mấy chú em thêm một đêm nữa ...

Sáng ngày 29 tháng tư, Trung sĩ nhất Khâm dùng xe Honda chở tôi lên Sài Gòn trình diện. Hai thầy trò với một cây cold lận lưng nhắm hướng Cầu Nổi trực chỉ. Lên tới Cầu Ông Thìn khoảng 10 giờ sáng, thì có lệnh giới nghiêm 24/24. Thiết giáp đang đụng nặng với chính quy Bắc Việt từ hướng Long An qua. Suốt đọan đường từ cầu Ông Thìn đến Cầu Nổi đông đúc đủ các loại xe đò miền Tây, vì mấy ngày sau cùng, tuyến đường Long An bị gián đoạn. Sư Đoàn 22 và Sư Đoàn 7 đang đụng nặng với quân Bắc Việt. Xe đò từ miền Tây, đều dùng ngả Mỹ Tho qua Gò Công lên Sài Gòn. Vì nghẻn đường, dân chúng căn lều hai bên lộ, bày hàng mua bán, dù lệnh giới nghiêm 24/24 đã ban hành. Thoạt mới nhìn thấy vui vui .. Nhưng có đi có đứng trên đoạn đường nầy, mới thấy sau cảnh nhộn nhịp là những tấm lòng đang đau xé… Tôi về tới Cầu Nổi, bến phà đóng cửa. Hai thầy trò sửa soạn tìm chỗ nghỉ trong nhà chờ đò, thì may mắn có một chiếc xe dân sự chạy đến. Trên xe có 2 người đàn ông. Một người bước xuống xe vào trạm mượn máy liên lạc về tỉnh. Chỉ vài phút sau một chiếc phà đặc biệt rời bến .. Trên đó có tôi và thêm 1 chiếc xe chở hàng nhỏ của nghệ sĩ Tùng Lâm, cùng với chiếc xe nhà của hai vị nầy.. (Lúc vô tù, ở trại Hà Tây, tôi chung buồng với Anh Tống, trưởng ty cảnh sát Long An, tôi mới biết người lái xe chiều hôm đó là Anh Tống và thiếu Tá Xuân ngồi bên cạnh)

Sáng ngày 30, đám lính trong nhà tôi (khoảng 20 tên) sang khu nhà thờ uống cà phê sáng, sang bàn billard cạnh bên làm vài cơ chờ mở đường…Tôi nhớ khoảng gần 11 giờ, có một chú nhân dân tự vệ vào, mời tất cả về nhà nghe radio… Mọi người đều ngạc nhiên không biết chuyện gì xãy ra… Sao lại mời nghe radio…?
.....
Thiếu Tá Sự, chi khu trưởng quận Hòa Tân, lảnh thổ quận Hòa Tânthuộc tỉnh Gò Công, có hai ngõ chánh vào tỉnh, là cửa biển Vàm Láng và bắc Cầu Nổi. Bên kia bờ Cầu Nổi thuộc quận Cần Đước, tỉnh Long An, còn bên kia biển Vàm Láng là Vũng Tàu. Hàng ngày có tàu làm ăn qua lại giữa hai cửa biển nầy. Đài phát thanh Sài Gòn, đài BBC, đài VOA, suốt ngày phát tin di tản… di tản… Tình hình nghiêm trọng lắm rồi. Không biết đất nước sẽ đi về đâu? Quân nhân thì nghe lệnh cấp trên mà di tản. Còn dân chúng thì di tản theo quân nhân, cho trọn tình quân dân cá nước… và Vũng Tàu đã tràn đầy…cá nước. Làn sóng người từ vùng I qua vùng II, tới trung tâm vùng III, và rất nhiều người muốn tìm đường xuống vùng IV, vì tin vào sự an toàn của vùng nầy. Họ ra Bến Đình băng biển về Vàm Láng Gò Công. Đơn vị nào còn cấp chỉ huy thì còn kỷ luật. Đơn vị nào rã hàng thì lính tráng không còn muốn nghe lệnh ai nữa. Đời lính dạn dày gió sương .. Đã nguyện đem thân trai hiến dâng cho tổ quốc, họ đã biết bao lần vào sinh ra tử. Họ là những người lính thiện chiến, mà bây giờ bị bỏ rơi khi súng đạn vẫn còn mang bên người… Họ ấm ức, họ bất mãn .. Xin ai đừng làm điều gì trái ý họ lúc nầy… Giờ nầy có ai biết đơn vị họ đang ở đâu? Giờ nầy có ai biết gia đình, cha mẹ, vợ con họ đang ở đâu? Thiếu Tá Sự trên xe jeep hết có mặt tại Cầu Nổi, lại xuống Vàm Láng. Cầu Nổi đông nghẹt xe chờ hai bên bến bắc, nhưng không hỗn loạn bằng Vàm Láng vì ít lính, nhiều dân. Phía Vàm Láng thì đã có nhiều thuyền lớn nhỏ và ghe cá từ Vũng Tàu chạy qua. Cặp bến cá đổ lên bờ, không biết bao nhiêu là dân thường và quân nhân của nhiều binh chủng khác nhau, còn mang đầy đủ vũ khí. Chuyện chết chóc xãy ra dễ dàng. Cấp bậc cao nhất người ta nhìn thấy có Đại tá Lân. Ông hình như là tỉnh trưởng Phước Tuy, nguyên trước kia là Tham mưu Trưởng sư đoàn Dù. Ông cúi đầu lặng lẽ đi theo đoàn người di tản, tìm phương tiện về Gò Công. Xa bờ một khoảng, có hai tàu sắt chỡ lữ đoàn I Dù, gồm 3 tiểu đoàn 1,8,9. Vì không vào bến bải cạn được, nên phải thả neo ngoài xa…

Trung Úy Thăng, Phân Chi Khu trưởng Vàm Láng, sợ có hỗn loạn, gọi máy xin chi khu tăng cường quân cảnh giữ trật tự. Nhưng chi khu làm gì có quân cảnh. Anh Sự báo lên tiểu khu, thì được Đại Tá Lê, tiểu khu trưởng ra lệnh, phải tước tất cả vũ khí và chỡ lính rã ngũ về tiểu khu. Đây là một lệnh rất khó cho những ai muốn thi hành lệnh nầy.

Chi khu trưởng lên xe với mấy người cận vệ. Theo sau xe jeep, là chiếc GMC trực chỉ Vàm Láng. Hương lộ nhỏ hẹp đi vào bến cá dày đặc những lính và dân. Anh Sự xuống xe đi bộ và tìm gặp được vài sĩ quan võ bị khóa đàn em. Anh không ra lệnh, mà chỉ cố thuyết phục các sĩ quan trẻ nầy. Kêu gọi thuộc cấp buông súng, rồi lên xe để được chỡ về tiểu khu.

Anh Sự trở lại xe, thì được hiệu thính viên báo có Trung Tá Đỉnh, lữ đoàn trưởng nhảy dù muốn gặp anh trong máy. Ông Đỉnh đang ở tại văn phòng xã. Từ ngày ra trường tới bây giờ, anh Sự mới gặp lại niên trưởng, Trung Tá Đỉnh khóa 15. Ông Đỉnh giới thiệu Trung Tá Hồng, Lữ đoàn phó và hai Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng. Ông Đỉnh nhờ anh Sự đưa đi gặp Đại Tá Lê (Tỉnh trưởng Gò Công). Trung Tá Hồng ở lại Vàm Láng với đơn vị. Lính Dù trên tàu cũng vào bờ thoải mái ăn uống, chờ lệnh trong tinh thần kỷ luật rất cao… Đại Tá Lê tiếp Trung Tá Đỉnh trong phòng làm việc và gọi máy báo tin cho tướng tư lệnh vùng IV Nguyễn Khoa Nam. Tướng Nam ra lệnh tử thủ thẳng cho ông Đỉnh và đặt lữ đoàn dưới quyền chỉ huy của Đại tá Lê .

Anh Sự chở ông Đỉnh về lại chi khu Hòa Tân. Cả hai đều im lặng. Tiếng máy C25 sau xe báo cáo có cờ giải phóng xuất hiện xa xa ở mé rừng.Vừa tới cổng quận thì thấy một bầy chó rất đẹp, loại chó nhà giàu, không biết của ai? Thấy anh Sự xuống xe, thầy Bùi Giáng tĩnh bơ như đất nước không có chuyện gì xãy ra, kéo bầy chó lại gần anh Sự:

- Bữa nay thầy đem mấy con chó nầy giao thiếu tá nuôi nó .. Tụi nó khôn lắm .. Con nầy là sứ giả của Thích ca nè… Con nầy là sứ giả của Jesus… Còn con nầy là sứ giả của…

Không đợi thầy Bùi Giáng nói hết câu, anh Sự vội vàng từ chối:

-Thầy ơi, tôi không thể nào tiếp Thầy trong ngày hôm nay ...

Rồi anh Sự móc tiền nhét vào túi nhà thơ, bảo thầy tìm xe về Sài Gòn ngay lập tức vì ở đây nguy hiểm lắm, tình hình nặng nề lắm rồi… Bữa khác hãy xuống chơi… "Bữa khác" trong lời hẹn cũng là mốc thời gian vô định.. Cũng từ hôm đó, anh Sự vĩnh viễn không còn gặp lại ông thầy Bùi Giáng kính mến lần nào nữa... Anh vừa quay lưng đi vào văn phòng, thì hai chiếc xe của hai ông quận Cần Đước và Cần Giuộc ngừng lại hỏi:

-Ê, bộ toa tính ở lại chờ bàn giao hả?

Nói xong hai xe tiếp tục chạy thẳng hướng Vàm Láng ..
Gần 3 giờ trưa, một đoàn xe, trong đó có thấy đại tá Lê mặc áo giáp, cùng vợ và cô con gái ngồi trên xe, chạy ngang quận về hướng biển. Không còn biết phải làm gì nữa, anh Sự vội vã tiễn vợ con ra xe về bên ngọai ở làng Tăng Hòa, rồi cùng Ông Đỉnh ra Vàm Láng, nơi đơn vị Dù vẫn còn đang chờ thượng cấp.

Xã Vàm Láng là một xã sống bằng nghề đánh cá. Vì họ có nhiều ghe tàu, đủ khả năng đi đánh cá xa bờ, nên đã trở thành nơi hẹn cho những chuyến đi… dù không biết nơi đến là đâu?! Một mủ đỏ mang cái radio đang nghe lại cho Trung Tá Đỉnh. Bản tin đầu hàng của tướng Minh thường xuyên phát lại, vậy mà tới giờ nầy hai anh mới được nghe… mà vẫn không muốn tin…! Ông Đỉnh đứng dựa vào đầu xe jeep, nước mắt ông chảy dài trên đôi má dạn dày phong sương.. Mắt Anh Sự cũng đỏ hoe.. Không phải chỉ có hai người khóc, mà còn nhiều, nhiều lắm .. Bao nhiêu là nước mắt nghẹn ngào, tức tửi. Họ khóc cho ai? Cho tổ quốc? Cho Chánh Phủ? Hay cho đời mình? Họ khóc cho tất cả…!
Nén tiếng thở dài, Ông Đỉnh đứng thẳng người ngỏ lời với đồng đội thuộc cấp:

- Chúng ta đã chiến đấu bao nhiêu năm dài để bão vệ miền Nam.. Bây giờ có lệnh đầu hàng… Chúng ta không thể cải lệnh được. Anh em từ giờ phút nầy tự do quyết định cuộc đời mình.. Ai muốn về nhà, muốn đi đâu thì đi.. Riêng tôi… chắc sẽ đi Úc.. Anh em nào muốn đi theo thì đi…

Nói xong Ông cho tay vào túi móc ra một nắm tiền ném tung theo gió.. Tiền Việt Nam bay lả tả, cuốn theo gió bụi bước đời, mà chẳng thấy ai buồn nhặt lấy. Một hình ảnh rất bi hùng cuối trang chiến sử… Đầy máu và nước mắt...!

Thành phần sĩ quan tiểu khu Gò Công tự tìm tàu thuyền mà đi. Chỉ có gia đình Đại Tá Lê mới đến gần với tàu của đơn vị Dù. Lúc bấy giờ không biết có ai phóng tin bà Đỉnh từ Sài Gòn đã xuống tới Gò Công tìm chồng. Anh Đỉnh nói với Trung Tá Hồng và anh Sự:

- Moi phải lên Gò Công đón bà xã xuống, rồi sẽ đi...

Nhìn cảnh hỗn loạn tại bến cá, Thiếu tá Tây, Đại úy Để… và nhiều, nhiều nữa … trở lại Gò Công mặc cho cuộc đời đưa đẩy… Mọi người tự an ủi…"Thôi thì dù sao cũng hòa bình rồi, bên thắng cũng là người Việt với nhau…chắc không đến nỗi nào…"

Trên chiếc tàu hàng loại cận duyên chỡ bộ chỉ huy lữ đoàn Dù bây giờ có thêm gia đình Đại Tá Lê, Thiếu Tá Sự với thằng em cận vệ, cùng vài sĩ quan chi khu kể cả nhân viên hành chánh như Phó Quận Thúy… Chiều xuống dần rồi tối hẵn... Chờ mà không thấy Trung Tá Đỉnh trở lại, nên Trung Tá Hồng quyết định cho nhổ neo. Theo lời chỉ dẫn của Đại Tá Lê cứ cho tàu chạy thẳng ra hướng đông sẽ gặp tàu Mỹ.. Tàu chạy trong đêm tối, biển lặng yên, bầu trời đầy sao lấp lánh… nhưng giông bão hình như đang xé nát trong lòng mọi người. Anh Sự ngồi bên cạnh người tài công cũng là chủ tàu, phụ quan sát theo vệt đèn pha để tàu tránh đụng vào các miệng đáy. Nhìn hướng Sài Gòn thấy khói lửa ngút cao, còn trước mặt vẫn là biển cả với một màu đen! Cũng phải vài tiếng sau mới nhìn thấy ánh đèn le lói từ xa và tàu cứ nhắm hướng đèn mà chạy tới.. Chạy cho tới khi sao mai lấp lánh mờ dần và mặt trời ló dạng…

Một chiếc tàu Mỹ khá lớn đang neo ở đây từ lúc nào rồi. Trên boong tàu có nhiều người bước tới lui. Họ đứng tựa lan can tàu nhìn xuống.. Những xà lan chật kín người đang cặp hai bên hông tàu.. Người trên tàu nhìn xuống xà lan như tìm như kiếm người quen…. Tàu Dù tiến dần tới tàu Mỹ thì gặp phản ứng. Loa phóng thanh từ trên tàu kêu gọi người dưới tàu phải vứt bỏ vũ khí, trước khi cặp vào xà lan. Tàu Dù chạy quanh một vòng thì người trên tàu đã nhận ra quân bạn…Có tiếng bạn mủ đỏ từ trên tàu vọng xuống:

-Đại bàng ơi! Còn mấy đứa con của đại bàng đâu rồi? Mỹ không cho mang súng lên tàu nó đâu…

Anh Sự đề nghị với Anh Hồng kiếm tấm vải trắng viết 3 chữ SOS kéo lên và quăng súng xuống biển để cho nó biết mình muốn gì.Tàu mình nhỏ chắc không thể chạy xa được nữa, Anh Hồng cay đắng thở dài… Thế là những thiên thần mủ đỏ của lữ đoàn I Dù, một thời ngang dọc trên mọi chiến trường, hôm nay trên biển cả mênh mông, đành phải giã từ vũ khí ở giờ thứ 25 của vận nước.

Ông Lê lên xà lan ngồi trên trụ sắt buộc tàu. Khi mọi người lên hết xà lan, tàu không người điều khiển tự trôi lui theo giòng nước. Dây buộc tàu vòng qua chân Ông Lê siết mạnh, tiếng xương gãy phát ra một âm thanh rợn người. Ông Lê thét lớn rồi ngất lịm. Biết có tai nạn, tàu Mỹ ưu tiên nhận người bị thương. Phó Thúy, cùng mấy người ngồi cạnh, khiên Ông Lê và cùng dẫn gia đình ông lên tàu. Chiếc tàu Mỹ nhổ neo… Ông Tỉnh Lê và Ông Quận Sự chia tay nhau từ đấy. Những xà lan đầy người được các tàu Mỹ khác lần lượt kéo người lên.. Và dòng xà lan từ Sài Gòn vẫn liên tục được kéo tới, cùng với biết bao nhiêu ghe thuyền mong manh khác cứ đổ ra biển tìm con đường sống, dù con đường ra đi đầy hiễm nguy, chưa nói đến giặc Cộng tàn nhẫn, bắn xối xã vào những tàu nào chúng thấy được.....

Con sông Bến Hải, đứng bên nầy bờ nhìn thấy bờ bên kia rõ ràng, vậy mà sau năm 54, đất nước đôi miền chia cách.. Bắc Nam từ đấy biệt tin nhau.. Bây giờ không phải là con sông mà là biển cả. Sóng nước chập chùng, xa cách nhau nửa vòng trái đất.. Ra đi bỏ quê hương đến xứ người xa lạ.. Biết làm sao sinh sống? Người cùng giòng giống mà còn không yêu thương nhau, thì người dị chủng, biết có chịu cưu mang mình không?? Rồi còn cha mẹ, anh chị, vợ con còn kẹt lại ở quê nhà.. Mình là cột trụ gia đình mà bỏ ra đi.. Con còn nhỏ.. Vợ chưa từng nếm gió trải sương, làm sao nuôi con? Với lại kẻ chiến thắng cũng cùng chung huyết thống, gốc con cháu Lạc Long.. Tin tức từ radio, chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam vẫn ra rả thông tin… Đánh người đi, chứ ai đánh người trở lại..?! Qua cơn lốc xoáy kinh hoàng, không phải tất cả đều bằng lòng với chuyến đi của mình. Có người… khá nhiều người đủ mọi thành phần trong xã hội, trong quân đội lẫn chánh quyền, khi mà họ nhìn thấy, biết được chung quanh họ trên tàu, trên đảo… hầu hết người ta đi có mặt đông đủ vợ con, gia đình, có cả người giúp việc, chị vú đi theo.. Những người ở lại, có nhiều người đã gửi vợ con thân nhân đi trước, để họ an tâm ở lại với chức vụ cho tới giờ chót. Họ nhìn lại mình với nỗi đau của tận cùng thân phận.. Xa vợ vắng con .. Làm sao họ an tâm sống? Có ai muốn làm người chồng lỗi đạo với người vợ trẻ? Có ai muốn chạy trốn bổn phận làm cha? Đây là những lý do đã khiến cho con tàu Việt Nam Thương Tín đem về cả 1500 người, đã thoát ra đi mà không đi tiếp tục…

Khi nhìn thấy người trở về từ tàu Việt Nam Thương Tín, các anh em tù chung trại thường hay cười nhạo, "đã ra đi mà còn nhớ cái còng nên trở lại!", "Trở lại bằng con tàu Việt Nam Thương Tâm!" .. Thường thì những anh em trở về nầy đều nhẫn nhịn nuốt đắng cay, không nói dù một lời biện minh cho bước trở về… Ai có ở trong cảnh mới hiểu được người trong cảnh…

Tàu Việt Nam Thương Tín vào tới hải phận Vũng Tàu, sau khi gửi tín hiệu xin cặp bến, tàu nhận hiệu dừng lại. Có hai chiếc tàu nhỏ võ trang mang cờ mặt trận giải phóng của Việt Cộng chạy ra đón rước.. Súng đạn lên nòng trong tư thế chiến đấu.. Tất cả đoàn người lên hết trên boong tàu đứng đầy xung quanh lan can, nhìn xuống tàu VC với nét mặt đầy vẻ lo âu. Mấy cán bộ cao cấp, mang súng nhỏ lên tàu, tiếp xúc với thuyền trưởng, hải quân Trung Tá Trần Đình Trụ và đại diện đoàn người hồi hương là Trung Tá Trần Ngọc Thạch, chánh võ phòng của Tổng thống Trần Văn Hương. Sau khi quan sát khắp mọi nơi, tên cán bộ VC đứng giữa boong tàu, an ủi bà con nên yên tâm, vì cách mạng chỉ đánh người chạy đi chứ không bao giờ đánh người trở lại. Khi hai tên cán bộ xuống tàu nhỏ, thì tàu Việt Nam Thương Tín được lệnh trực chỉ Nha Trang, với sự hộ tống của hai tàu võ trang VC. Tàu cập bến Nha Trang, tất cả thuyền nhân lên bờ, và bị giam giữ rải rác nhiều nơi trong tình Nha Trang. Đây là thời gian từng người được gọi đi làm việc (Chữ của VC), và họ bị làm việc liên tục suốt mấy tháng trời, khai thế nào chúng vẫn bảo là chưa thành khẩn khai báo…

Anh em thuộc tỉnh Gò Công trở về trên tàu khá đông. Ngoài binh sĩ, cán bộ xây dựng nông thôn, cảnh sát… trong hàng ngũ sĩ quan, có các anh Thiếu Tá Sự, Đại Úy Phạm Văn Mến, Đại Úy Bá, Trung Úy La Ngàn, Trung Úy Ngô Bứa,Trung Úy Minh Hiếu, Trung Úy Vàng, Trung Úy Bé, và Phó quận Thúy. Sau đợt lấy cung, một số đàn bà trẻ con, dân sự được tha về sớm. Các anh được coi là trong ban đại diện bị đưa về Chí Hòa. Còn lại tất cả giải giao ra Xuân Phước… Ra đây để mà học tập cải tạo hầu sớm tiến bộ trở thành người công dân… Cộng Sản (!)

Trại Xuân Phước trước đây là doanh trại của Lực Lượng Đặc Biệt, đã bị bỏ hoang từ ngày Lực Lượng Đặc Biệt giải thể, sau khi Mỹ rút. Trại nằm sâu trong rừng núi tỉnh Phú Yên. Đoàn tù VNTT coi như là nhóm tiên phong xây dựng lại trại Xuân Phước từ hoang tàn trở nên vững chắc đủ tiêu chuẩn nhốt tù.

Anh Sự nằm cạnh anh Trần Hồng Đăng, trung sĩ nhất nhảy dù. Đăng hiền lành chân thật. Anh được lòng bà con từ ngày còn trên đảo. Anh hớt tóc không công cho bà con. Đền trả công, anh nhận lại từ bà con đủ thứ vật dụng, thức ăn thuốc hút… những thứ mà trại cấp phát cho người trên đảo. Những điếu thuốc Mỹ anh Đăng mang về bây giờ, được ngắt ra từng khúc nhỏ thay thế bi thuốc lào… Hút nhã khói cho qua cơn ghiền..!

Sau một thời gian tạm coi là ổn định, trại cho phép tù viết thơ về thăm nhà… Lá thư gửi đi kéo theo chuổi thời gian trông ngóng tin nhà.. Biết bao nhiêu điều mà người tù rất muốn biết kể từ khi rời đất lênh đênh trên biền cho tới bây giờ…
Một buổi sáng Đăng được cán bộ trại gọi, ra lên gặp giám thị trưởng… Tới trưa Đăng trở về buồng, dáng dấp trông như người mất hồn, nằm dài nhìn lên mái nhà bằng đôi mắt xa xôi… Thấy tình cảnh của Đăng như vậy, anh Sự hỏi thăm chuyện gì đã xãy ra….Đăng ngồi dậy, tay với lấy ống điếu cày, thong thả nhồi vào nỏ một bi thuốc, mồi đóm lửa, kéo ro ro một hơi dài, ngước mặt thả khói lên trời, Đăng móc túi lấy ra một lá thư, mới nhận được từ tay cán bộ trưởng trại trao cho anh Sự. Lá thư có dấu bưu điện Hà Nội. Lá thư được viết khá dài, nhưng chỉ có một câu ngắn, đủ nói lên cơn huyển mộng của một trong nhiều bi kịch của cuộc chiến tương tàn trên quê hương Việt Nam…

Đăng con! Hòa bình lập lại đã lâu rồi, sao con không xin phép thủ trưởng về thăm mẹ…
Vợ con vẫn chờ con.. Nay vợ con đã thăng quân hàm thiếu úy Công An …”

Thì ra…
Cây cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải, từng ghi vết nhơ chia cắt đôi miền. Nay Cộng quân cưỡng chiếm miền Nam, cây cầu không còn gây khó dễ, cho dân hai miền Nam Bắc lại qua, thì trước sau gì người mẹ của Đăng, cũng thấu rõ định mệnh nào đã đeo đẳng người con trai, từ ngày đem tuổi trẻ xẽ dọc Trường Sơn. Thì ra Đăng là một bộ đội trẻ xâm nhập vào Nam ở lứa tuổi 20. Trong một trận tấn công vào một đơn vị Mỹ ở miền Trung, Đăng bị trọng thương bất tỉnh tại chiến trường. Khi tỉnh lại, trong ánh đèn sáng rực mà Đăng chưa lần nào được trông thấy.. Nhìn băng bông trên người, Đăng biết mình được đối phương cứu sống, nhưng chưa biết mình đang nằm ở đâu và rồi sẽ bị đối xữ như thế nào đây? Sau thời gian được tận tình cứu chữa, Đăng bình phục. Bệnh viện Mỹ chuyển giao Đăng qua chính quyền địa phương. Không chấp thuận cuộc sống tù binh, Đăng chọn con đường cải danh hồi chánh. Lúc còn trên giường bệnh, Đăng cũng có ý muốn tìm về đơn vị cũ. Nhưng bây giờ thì chịu ra hồi chánh, Đăng coi như tứ cố vô thân. Còn trong tuổi động viên, Đăng tình nguyện nhập ngũ trong màu áo hoa rừng Nhảy Dù. Đăng có khả năng. Sau nhiều lần bị thương, cũng như lập được nhiều chiến công, với một khoảng thời gian khá dài, Đăng trở thành một hạ sĩ quan xuất sắc của đơn vị. Tết Mậu Thân, Đăng có mặt trong trung đội tái chiếm đài phát thanh Sài Gòn. Đơn vị xuất phát từ cầu Phan Thanh Giản, lần theo phố vào Nguyễn Bỉnh Khiêm, xuyên lần qua các dãy phố đến Phan Đình Phùng. Trong lúc băng qua đường xung phong vào sân đài phát thanh, Đăng bị trọng thương, nằm điều trị tại tổng y viện Cộng Hòa, xuất viện lọai 2. Đăng không xin giải ngũ, mà tiếp tục đời lính làm việc nhẹ tại hậu cứ. Anh làm lính hớt tóc, sau thành tài xế. Khi hiệp định Ba Lê ra đời, Đăng được chỉ định làm tài xế cho phái đoàn quân sự liên họp bên kia, trong trại Davis nằm trong Tân Sơn Nhứt. Đăng tiếp tục kể, có lần tướng trưởng đoàn Bắc Việt thấy Đăng kéo thuốc lào, có hỏi xin một bi hút thử.. Kể tới đây, Đăng cười, kéo áo lên khoe những vết thẹo trên người..

- Đây là thẹo của đạn M16, đây là thẹo của AK47..

Vừa nhìn những vết thẹo Anh Sự cười cười:

-Vậy chú em mầy khỏe rồi, mai mốt thả về đoàn tụ với mẹ, có vợ là thiếu úy công an… ấm đời trai ..

Nghe Anh Sự nói, Đăng lắc đầu cười như … mếu:

- Thấy vậy mà không phải vậy đâu.. Em đã có vợ hai con trong Nam rồi. Trước đây vợ con em ở trong trại gia binh Hoàng Hoa Thám, bây giờ không biết trôi dạt về đâu..?? Anh thấy đó, mình đã tới đảo rồi mà đành phải trở về, cũng vì thương vợ nhớ con.. Vì thương tụi nó quá, nên em mới chấp nhận đau thương mà về, nếu không bây giờ đang đi trên miền nắng ấm… Bây giờ thật khổ! Không biết nói sao với mẹ, với vợ đang mong chờ ngoài Bắc?!

Một số sĩ quan từ cấp trung úy tới trung tá được chuyển ra Bắc trên mấy chiếc xa hàng bít bùng. Chiếc còng đôi đã xác định họ là ai! Đoàn xe chạy ngang qua hai con sông lịch sử. Hai dòng sông phân ly mà người hai miền không ít người mong có ngày đi thăm nhìn cho tận mặt...

Anh Sự gở 13 cuốn lịch, về lại Gò Công… Đời người tù cải tạo vẫn tưởng tàn dần trong chế độ mới… Đâu có ai ngờ sau cơn mưa trời thực sự sáng. Chương trình HO ra đời cứu vớt biết bao gia đình quân công đang ngụp lặn trong bể khổ về được miền đất hứa. Gia đình anh Sự cũng nằm trong thành phần may mắn đó. Trước khi rời bỏ quê hương ra đi, cũng giống như nhiều người khác, tìm về nơi chốn làm việc năm xưa nhìn lại cảnh cũ, anh Sự nhẹ nhàng trên chiếc xe đạp (Thời đó được gọi là Cúp điếc). Anh xuống thăm gia đình người cận vệ, chú Tiếp đang sống tại Hòa Tân. Tiếp là hạ sĩ quan nên được về sớm. Nói là sớm chứ cũng trên 3 năm. Tiếp cũng đang học Anh văn chờ đi Mỹ.. Thầy trò gặp lại nhau hàn huyên tâm sự, kể cho nhau nghe những thay đổi trong bước đời ..

- Thằng Đăng có lần tưởng chết vì ăn trúng cóc độc, sau nầy nhiều bạn tù thấy nó áo quần bảnh bao. Thong dong trên chiếc Dream đời mới trên đường phố Sài Gòn…

Vậy là Đăng đã đoàn tụ với vợ con ở Rạch Giá và chắc đã nhiều lần xin phép “Thủ Trưởng“ ra Bắc thăm mẹ già… Cũng lại một bước đời huyển mộng...!

Chia tay thuộc cấp cũ, anh Sự trên đường về, làm một vòng, ngang qua doanh trại quận Hòa Tân cũ. Anh nhìn thấy mấy con gà đang bươi đất kiếm trùng, dưới mấy bụi bắp chưa trổ cờ… Lòng anh như chùn xuống.. Bức tranh đời thay đổi quá nhanh.. Cảm khái vừa đạp xe vừa khe khẻ…

“ Tạo hóa gây chi cuộc hý trường
Đến nay thắm thoát mấy tin sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Đền cũ lâu đài bóng tịch dương…"

Anh Sự ra đi mà lòng chưa được ổn lắm. Vợ anh phải ở lại uống thuốc đi sau, vì phổi có vết nám. Vợ anh lặng lẽ tiễn cha con anh lên đường. Anh đốt nén nhang trước bàn thờ gia tiên, từ giã Ông bà Cha Mẹ ra đi. Trước khi lên xe, anh tình cờ gặp lại Thầy Nguyễn Văn Ba, nguyên giáo sư Trung Học Gò Công. Coi như Thầy Ba là người duy nhất tiễn cha con anh Sự lên đường.. Một trang đời của một gia đình được lật qua…
.....

Tôi ở trại Hà Tây có gặp Đại Tá Lân. Sau mấy năm tù ông bị bệnh mù mắt. Ông có hỗn danh là Lân mù. Ông ở buồng 15 cạnh buồng 16, dành riêng cho sĩ quan cấp đại tá. Trong hai buồng nầy, cũng có 2 vị Trung tá, cũng đều trong ngành Chiến Tranh Chính Trị, là Ông Diên Nghị (Quân Đoàn IV) và Mười Hai (Cục Chính Huấn). Ông Lân rất vui vẽ yêu đời. Ông được nhiều cảm tình của đám tù sĩ quan trẻ. Ông Lân không biết bây giờ ở đâu? Ông Đỉnh cũng đã tới miền đất tự do và hình như đang lâm bệnh. Trung Tá Hồng bỏ miền đất hứa về chiến khu với Hoàng Cơ Minh, để rồi xuôi tay nhắm mắt khi ước vọng chưa thành. Thương cho một người chiến sĩ, luôn quyết đem thân đền ơn tổ quốc…

Thì ra cuộc đời như một cơn trường mộng, thấy đó rồi mất đó, điều mình làm thấy phải, người khác lại cho là sai…

Hằng năm, sau tết, ở đất tạm dung nầy, lòng tôi luôn thấy bùi ngùi… Những ngày thiêng liêng đối với người Việt thì mình lại sống xa quê... Đâu biết tết nhứt là gì.. Mùng một lên xe đi làm, làm sao lòng không khỏi ray rứt… Cũng mùa xuân, tôi hưởng xuân cuối cùng trong đời lính tại KonTum, tám cái tết trong lao tù Cộng Sản, hơn 15 cái tết xa quê…

Một khoảng đời khá dài… Thương cho Việt Nam mình, cứ mãi chịu cảnh phân ly... Cha con chồng vợ nhiều khi gặp rất nhiều hoàn cảnh éo le.. phủ phàng…Với tôi.. chẳng qua là Huyển Mộng Bước Đời !

Viết tại Kỳ Đà Động Mạnh Xuân 09

THỦY LAN VY

__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến thylanthao trong bài viết này:
HồngLan (31-10-2015)
Old 20-12-2015, 06:30 PM   #28
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

BƯỚC ĐỜI CỦA NÓ
*


Mỗi lần đi làm về, vào những buổi chiều trời mưa, nó thường không mở cửa vào nhà ngay, mà thường đứng trên hàng hiên nhà, nhìn ngó mông lung. Mỗi lần nhìn mưa, nó lại thấy nhớ .. Nó có rất nhiều kỷ niệm với mưa. Từ ngày rời bỏ quê hương, lòng nó luôn ray rứt.. Một cảm giác mất mát, một nỗi buồn hụt hẫng .. Hình như nó thấy tiếc và thấy nhớ.. Những điều nó mất, rất khó tìm lại được .. Nếu nhìn qua đôi mắt của nó, người đối diện rất dễ nhìn thấy nỗi buồn .. Nỗi buồn của giống ma Hời mất nước…!
Với 7 năm lính, cấp bậc của nó rất bèo trong hàng ngũ sĩ quan cấp úy. Bổng lộc triều đình, dĩ nhiên nó chưa được hưởng chút gì... Đời lính ngắn ngủi của nó, chỉ biết ăn cơm chực của người chị thứ tư, xin tiền người chị thứ sáu... Ngoài quần áo trận, những thứ khác trên người nó có, đều của Mẹ và chị nó cho. Vậy mà khi lá cờ vàng tan tác... nó vô tù, chuyển từ Nam ra Bắc, gở hơn 8 cuốn lịch... Tính ra gần ba ngàn tờ lịch .. Một khoảng thời gian không phải ngắn trong suốt đời người.. Nó tuy có cao lớn nhưng ốm yếu.. Vậy mà nó vẫn sống .. sống trong địa ngục trần gian. Lúc trở về với Mẹ, nó trong thể hình lành lặn.. tóc trắng hơn nữa mái đầu, dù lúc đó tuổi nó còn ở hàng 3.
Đêm cuối tuần, có thong thả chút thời giờ.. nó đọc mấy bài ký sự trong nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa... Những trận đánh trong những ngày mùa hè đỏ lửa, gợi lại cho nó biết bao nhiêu là nhớ...là thương... cảm giác vui buồn lẫn lộn...
Bởi mùa hè đỏ lửa năm âý, nó cũng có mặt tại Huế hơn một tháng trời...



Vừa bước xuống phi trường Phú Bài... đi được vài bước, thì đạn pháo của VC đã ầm vang nổ, chào đón hành khách vừa tới Huế. Trên chuyến bay từ Sài Gòn ra Huế, khoang hành khách của chiếc C130 toàn là lính, với ba lô, với vũ khí cá nhân, với từng ánh mắt đăm chiêu.. phảng phất nét buồn thương nhớ... Nỗi buồn của người không biết được ngày mai...!
Họ là những người lính tác chiến từ vùng 1 về phép, nay trở ra đơn vị. Họ là lính Sài Gòn đi công tác tăng phái cho quân đoàn 1. Nó là trưởng toán dân sự vụ, được Tổng Cục CTCT điều công tác tăng phái cho Bộ chỉ huy CTCT tiền phương, đóng tại Trại Nguyễn Tri Phương, dưới sự điều động chỉ huy của Đại tá Phan Phiên, tham mưu phó CTCT quân đoàn 1. Ngoài 2 toán tăng phái từ Tiểu Đoàn 50 CTCT, còn có bộ chỉ huy nhẹ của Tiểu Đoàn 10 CTCT, do đích thân Thiếu Tá Bá, tiểu đoàn trưởng đảm nhiệm.
Lần đầu tiên trong đời lính, nó bước chân trên đất vùng 1 chiến thuật, phi trường Phú Bài với mùi hôi thối nặc nồng. Trước mắt nó là hàng trăm quan tài, phủ quốc kỳ, đặt trên nhiều pallets san sát nhau. Chiến tranh tàn khốc. Tháng 8 năm 72, cổ thành Quảng Trị còn trong tay giặc Bắc. Những quan tài nầy có lẽ được quàng khá lâu, nước rỉ ra ngập ướt cả lối đi.. Người ta phải dùng vôi bột trải lên một lớp dày và lớp vôi trở thành một lớp bột nhão. Mưa lất phất, mưa xứ Huế, mưa suốt ngày, mưa suốt tuần, mưa nhão đất.. khi nặng hạt, khi thưa hạt... Trời âm u, mây thấp .. Cảnh sắc trông thật buồn... Dễ làm trĩu lòng những người mới vừa từ Sài Gòn ra...!
Nó và 4 nhân viên, theo sự chỉ dẫn của mấy anh trong phi hành đoàn, cúi mình mang balô chạy vội về hướng nhà chờ đợi.. Giặc chỉ pháo hơn mươi trái rồi im.. Cũng không thấy thiệt hại gì cụ thể, vì đạn biết tránh người, và trời kêu ai thì người đó dạ... (người câm chắc khỏi chết!)
Với một bông mai trên ve áo, kinh nghiệm công tác xa của nó còn yếu kém... Những người lính thì dạn dày hơn. Họ đã từng bước chân trên khắp 4 vùng chiến thuật.. đã từng gặp nhiều tình huống khác nhau.. nên nhờ thế, lòng của họ chắc cũng ít lo lắng hơn nó....
Yên tiếng pháo, toán tăng phái được một anh hạ sĩ quan, thuộc tiểu đoàn 10CTCT hướng dẫn đến chiếc GMC để về doanh trại... Từ Phi Trường Phú Bài về phi trường Tây Lộc cũng khá xa... Mưa rơi lất phất.. Doanh trại chỉ là 2 dãy nhà tiền chế, nằm bên nầy hào nước, bên kia là phi trường Tây Lộc. Sân trại trông hoang phế tiêu điều, lổ chổ đất đá, cỏ hoang, vài hố cá nhân có mái che... Giao thông hào trông rất đơn sơ.. Đại úy Trần Trợ, Tiểu đoàn phó, coi qua sự vụ lệnh, hỏi thăm một vài điều, đã chi định nơi tạm ngủ cho cả toán. Chỗ ngủ của toán nằm cuối dãy nhà bên trái, sát chuồng heo của trại. Bốn thầy trò nó mắt nhìn mắt... Tìm chổi quét dọn, trải poncho cho đủ mấy người nằm... Lơ đảng ngồi hút thuốc vặt, nhìn trời rớt mưa, không ai nói một lời .. Nhưng những điều suy nghĩ chắc là cũng giống nhau... Làm sao không khỏi nhớ nhà dù vẫn biết, lính tổng trừ bị luôn phải rày đây mai đó! Lại đến nơi đang dầu sôi lửa bỏng, trời thì mưa gió sụt sùi...
Hạ sĩ Võ văn A, chung đơn vị với nó trước đây ở Sài Gòn, được thuyên chuyển về nguyên quán mấy năm nay, từ văn phòng chạy tới thăm hỏi mừng rỡ. A bây giờ là tài xế cho Tiểu đoàn trưởng, Thiếu Tá Bá, nguyên thủ khoa khoá 13 võ bị, bạn cùng khóa với đại đội trưởng của nó. Tính ông Bá hiền lành, điềm đạm, rất tốt với thuộc cấp. Khi từ Huế về Sài Gòn công tác, ông vẫn thường ngủ trong phòng sĩ quan đại đội, nên tuy khác đơn vị, ông vẫn xem đám sĩ quan cấp úy của nó như là thuộc cấp của ông. Rất tiếc giờ đây ông đang nằm bệnh viện... Trừ hạ sĩ A, nó không quen biết một ai khác nơi nầy...
Toán của nó, lảnh một chiếc xe Dodge, với hai binh sĩ cơ hữu... Có khi thêm toán quân y của Trung Úy Điềm... Hàng ngày dung ruỗi đến các trại tiếp cư nằm tại các trường học, rải rác khắp các quận như Phú Vang, Hương Thủy, Hương Trà, Hương Điền...
Nhiệm vụ của toán là phụ lập danh sách tạm cư, khám bệnh, hớt tóc... Chuyển giao tặng phẩm cứu trợ đến từng đồng bào tỵ nạn... Công việc nầy, nó từng làm ở Sài Gòn, đón đồng bào từ Bình Long, Phước Long, từ Kontum ... Từ các nơi có giao tranh lớn về Tân Sơn Nhất... Rồi chuyển đồng bào đến các trại tiếp cư ven đô... Công việc cũng không có gì khó khăn rắc rối ... Với lại nó đã quen làm những việc nầy...
Thường cứ đến nơi, toán luôn làm việc cật lực, vì trước mắt, nhìn thấy cảnh khổ của người dân, phài bỏ nhà cửa ra đi… Chiến tranh đã tạo nên biết bao nhiêu thảm cảnh cho đồng bào… Nhiều lúc trước mắt những cảnh quá hãi hùng, tàn nhẩn do bom đạn gây nên... Nó thấy lòng buồn lắm… Sao nó lại sinh ra trên một đất nước đầy khốn nạn như vầy?! Người Việt Nam sao cứ mãi chịu đựng chiến tranh? Cùng là người Việt với nhau, sao lại đang tâm xâu xé nhau ...?? Lúc đó, nó chỉ hiểu Cộng Sản một cách lờ mờ , nhìn thấy sự tàn ác của Cộng Sản, qua những cảnh khủng bố, ám sát các nhân viên Diệt Trừ Sốt Rét, công chức xã ấp, quân nhân, mà thời còn đi học, nó nghe nói tới, cũng như chứng kiến thường xuyên.
Nó hiểu biết về Cộng Sản một cách mơ hồ, cũng phải thôi, vì có ai chỉ dẫn cho nó thấy rõ dã tâm của Cộng Sản, dù nó là lính trong ngành CTCT. Những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, nó chỉ được biết người Cộng Sản qua những câu chuyện được nghe kể về những vụ ám sát, giết người dã man, không có tình người, nhưng trong lòng nó chưa bao giờ có ý thù hận, vì tầm nhìn của nó ngắn, hạn hẹp qua sách vở, mà nó cũng rất ít khi đọc những đề tài khô khan nầy. Nó vẫn nghĩ, họ cũng là người Việt Nam... Nhìn đồng bào “bỏ của chạy lấy người” ở những nơi vừa bị Việt Cộng tạm chiếm, nó có nhìn thấy chút chút tính man rợ của Cộng Sản, nhưng vẫn chưa thấu đáo lắm.
Xong một tháng công tác, toán dân sự vụ chuẩn bị trở về hậu cứ.. Đêm từ giã, nó cùng binh nhất Âu, tài xế, ra quán ven đường, xế cổng trại một chút. Hai thầy trò nhờ chủ quán nướng cho con khô mực với 1 lít rượu đế, ngoài đó gọi là rượu xi ca, rượu có màu như rượu thuốc trong Nam, nhưng dợt hơn. Một vài người trong quán nhìn thầy trò nó với cặp mắt ngạc nhiên.. Sao có hai người mà gọi tới một lít rươụ? Thực ra, tửu lượng hai thầy trò nó rất cao. Rượu trắng Hốc Môn, rượu đế Gò Công thầy trò nó vẫn thường "cưa" một lít, mà chỉ mới hơi hơi “nóng máy”, thì rượu Xi ca lạt lẽo nầy, nhằm nhò gì với thầy trò nó! Trong quán, ánh sáng lờ mờ bằng ngọn đèn một bóng tròn, có lẽ cở 60W, trời đêm dịu mát, mới uống được vài ly thì bé Hồng, con gái chủ quán, khoảng 17 tuổi, từ phía sau quán bước ra ôm cổ nó, vừa khóc, vừa kể...

- Thiếu úy ơi, em khổ quá! Ở đây không có cách gì kiếm ra tiền để sống… Thiếu úy cho em theo về Sài Gòn, em sẽ làm hết mọi việc cho thiếu úy... Em nghe lời sai bảo của thiếu úy...

Tội nghiệp nó… Nó hết sức ngỡ ngàng trước tình huống nầy… Âu tài xế cũng ngạc nhiên không kém…

- Hồng ơi Hồng! Em tưởng anh là cái giống gì, mà em đòi theo anh về Sài Gòn...? Một thân một mình anh đây mà tiền lương chỉ đủ hút thuốc ăn sáng, làm sao anh nuôi em cho nổi...!!

-Thiếu úy đừng lo, em chỉ ăn cơm không với muối.. Em không xài tiền.. Em không cần gì hết, chỉ cần được thiếu úy nuôi em thôi... và em sẽ lo cho thiếu úy.. Em sẽ không còn khổ như sống ở đây...

Tội nghiệp, nó nhớ hoài kỷ niệm đó… Nó biết Hồng nói thật… Cô gái chỉ muốn xa miền đất khô cằn đầy dẫy bất trắc, đạn pháo thường ngày.. rồi cũng có ngày lảnh pháo nầy! Hồng tưởng nó là ông gì có thừa tiền, thừa phương tiện, sống đủ đầy ở Sài Gòn. Một tháng ở Huế nó sụt mất cũng vài ký lô.. Không chừng mang thêm bệnh đau tim vì những phút giây hồi họp chờ pháo, ngày 2 cữ, vào buồi tính sương và giữa ngọ !!!
.....

Phi trường Phú Bài, sáng sớm trời còn mờ sương… Nhưng không khí sinh hoạt đã thấy tất bật, rộn ràng, phi cơ lên xuống liên tục... Trên chiếc C119, khi tất cả hành khách đã an vị, phi cơ chuẩn bị cất cánh... Hành khách trong khoang, chỉ có một vài người đàn bà, có lẽ là vợ con lính, từ Sài Gòn ra thăm chồng con trở về... Nó còn nhớ vị trưởng phi cơ, đại úy Trác, đi tới đi lui giữa hai hàng ghế… Ông dặn dò vài điều an toàn trên phi cơ, gương mặt ông sáng sủa, giọng nói ông vui vẻ, rất dễ có cảm tình với người đối diện... Ông đang nói, chợt ngừng lại, ánh mắt đầy vẻ ngạc nhiên, Ông nhìn qua khung cửa số... trong giọng nói có vẻ như trách mọc, như ngạc nhiên...

- Ba túi đeo lưng với 3 khẩu carbine của anh em nào còn bỏ quên dưới sân?

Ông đảo mắt nhìn một vòng, vẫn không có tiếng trả lời.. Cặp mắt ông ngừng lại nơi hàng ghế của thầy trò nó

- Có phải ba lô và súng đạn của mấy ông CTCT?

Nó hết sức ngỡ ngàng, khi thấy ba thuộc cấp đột nhiên đứng dậy, rời hàng ghế bước xuống phi cơ, khệ nệ mang ba lô súng đạn lên, trước bao cặp mắt chế diễu của hành khách đồng hành. Một phần lỗi cũng nơi nó, không kiểm soát thuộc cấp…
Nó xấu hổ vô cùng. Lính tráng kiểu gì mà quên luôn súng đạn...! Có lẽ mấy chú nầy khi được lên phi cơ bay về Sài Gòn đã mừng quá, thoát khỏi vùng đất quá nguy hiễm.... Nên vì mừng mà quên tất cả… Ngay cả “súng là vợ - đạn là con” mà cũng không nhớ...!!

Trên tàu, đặc biệt có một thương binh không quân, đang vô nước biển, nằm trên chiếc băng ca treo sát vách ... Nó để ý, khi phi cơ bắt đầu bình phi, mặt chai nước biền vẫn yên ru không gợn động ...Vị trưởng phi cơ đã khéo léo lái con tàu lướt cánh êm ru...

Hình ảnh mấy trăm quan tài, với mùi hôi thối nặc nồng, cứ lởng vởng trước mắt nó. Chiến tranh tàn khốc quá! Mấy năm nay nó chỉ lui tới vùng bốn, công tác tại Chợ Gạo (Mỹ Tho), Gò Công, Hốc Môn, Bình Chánh, thỉnh thoảng cũng thấy quan tài phủ quốc kỳ, nhưng chỉ vài chiếc quan tài thôi... đâu có hàng hàng lớp lớp như thế nầy...! Bao nhiêu quan tài đó, là có bấy nhiêu góa phụ, bao nhiêu là cô nhi....Hình ảnh người goá phụ trẻ với vài đứa con thơ ... lòng nó không khỏi không ray rứt...!
Những buổi “nhậu quên đời” sau những chuyến công tác, trong những ngày lảnh lương, ngày 20 tây trong tháng, có bao giờ nó không nhậu ...?! Trời sinh nó có một tửu lượng tương đối khá, nếu không bị chồng độ, rất khó nhìn thấy nó say... Những anh lính nghĩa quân, những cán bộ thông tin, ở những nơi nó đến công tác, có lẽ họ khó quên nó, người sĩ quan trẻ, trưởng toán, vẫn thường uống rượu... thay cơm nầy !!
Nó thấy mình phung phí thời gian uổng quá… Nhậu nhẹt dễ làm hư người. Nhậu nhẹt dù tỉnh táo cũng không làm sao giữ được bình thường, con người dễ mất tư cách ...! Nó phải làm gì khi tuổi còn tương đối trẻ, đừng phung phí sức lực cho chung trà chén rượu ... Trong lúc những thanh niên đồng tuổi với nó thi nhau gục ngã trước làn đạn của giặc thù...
Mùa thu năm 72, cũng là mùa khai trường, nó lò dò đến Văn Khoa, đóng tiền ghi danh nhập học , nhiệm ý Việt.... Và cũng kể từ hôm ghi danh, bạn bè chung đơn vị, ít có dịp nhìn thấy nó ngồi trong các quán nhậu, trên cuối đường Phan Đình Phùng, hay những quán nhậu dọc theo hai bên đường xa lộ. Đại úy Đặng Thế Sang, đại đội trưởng, rất hài lòng, thích thú khi thấy nó bớt nhậu và ghi danh học lại. Từ trại Nguyễn Bỉnh Khiêm, tới trường bằng xe Honda chưa đầy 10 phút, nhưng ông đã dành cho tôi nó mọi sự dễ dàng trong việc đi học. Ban đêm nó ngủ hẵn trong doanh trại. Trực và công tác bất thường ban đêm, nó làm thế hết cho bạn bè, bù lại ban ngày nó vắng mặt ...
Hướng tiến thân nó đang nhìn là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Nguyễn Thế Phương, chung đơn vị, thường khuyên nó gắng học:

- Mày xong cử nhân, rồi muốn thi vào cao học hành chánh, cứ theo dõi mấy bài diễn văn của Tổng Thống, của Bộ Trường... Luyện thêm Anh văn… Mày thi lần đầu sẽ rớt, rút kinh nghiệm năm sau nếu mày chuyên cần sẽ đậu .

Mấy tuần lễ đầu, nó còn bở ngở… Khi ngồi vào ghế giảng đường, vì bạn cùng lớp chênh nhau khoảng 5 tuổi, các cô cậu sinh viên thuần túy nhìn nó bằng đôi mắt e dè... “Chú lính nầy học thực hay vào đây chỉ để cua gái đây…???” Nhưng sau đó, nhìn thấy sự chuyên cần, đến lớp đều đặn hàng ngày của nó và nhìn thấy tập vở nó ghi bài rất sạch sẻ và đầy đủ .. dần dần nó có đựợc một số bạn bè trẻ, đa số là các cô sinh viên duyên dáng ... Từ đó khỏi phải ngồi dưới đất, hay đứng khom mình bên khung sửa sổ để nghe giảng và ghi bài ...
Mấy cô bé thương tình chú lính chăm học, nên mỗi ngày đều dành cho nó một chỗ ngồi ...
Môn học mà nó thấy khó khăn trong chương trình học năm nhiệm ý, với nó là môn Anh văn! Vì là học sinh trường tỉnh, giáo sư thường thiếu. Sau một tháng khai giảng, mới có thầy, là chuyện thường. Như năm nó học đệ nhất, thầy Thinh chỉ dạy có hơn tháng, thầy phải rời trường nhập ngủ khóa 21 Thủ Đức, để rồi cho tới tháng cuối của năm học, mới có thầy từ đệ nhất cấp đến dạy tiếp! Vã lại, anh văn để học thi tú tài, cũng không có gì khó khăn lắm. Biết cách học rất dễ kiếm điễm trung bình. Thường là một câu về phiên âm, một câu về nhấn giọng, môt câu xếp cột, một câu thay đổi thề, một đoạn dịch ra việt văn..... Nên cũng không phải khó để kiếm được điểm trung bình...
Có lẽ nhờ nó đến lớp đều đặn, chuyên cần, nên cô Châu dạy dịch Việt ra Anh đã cho nó đủ điểm... Thầy Xiêm dạy văn phạm đã nới tay khi chấm bài của lính! Bởi nó đi học mặc đồ trận, bảng tên rõ ràng.. Người không để ý, nhìn hoài rồi cũng nhớ tên nó thôi... Ngoài môn Anh Văn, chữ Hán và Việt Văn, việc học đều rất dể dàng với nó ...
Thình thoảng, nó cũng có bạn từ xa đến trại thăm. Những buổi nhậu gặp gỡ nầy cũng không làm nó quên việc học. Nhiều lần đang nhậu, chợt nhớ tới giờ quan trọng, cần phải nghe giảng, nó tạm từ giã bạn đến trường...Vào lớp, biết thân, nó ngồi bàn cuối, nép mình vào góc tường. Vậy mà...

- Sao trong lớp hôm nay có mùi rượu ?

Nó nghe nhỏ Thơ nói với nhỏ Sang..
Nó ngồi im gần như nín thở. Chỉ sợ mùi rượu bay xa... Bởi dù có 4-5 chai bia 33 trong bụng, mặt nó vẫn tỉnh bơ như người bình thường ... Những lần vô lớp sau khi nhậu, tối về chép bài lại vô tập, kiểm lại bài ghi thấy rất đầy đủ... Nhìn bài vở ghi chép tươm tất, nhiều khi nó tự phục nó ..
Rồi mối tình với cô bạn gái chung lớp, Mắt Nâu, cũng nảy nở theo tháng ngày... Từ nhiệm ý lên Quốc Âm, Ngữ Học, nó đều đạt hạng Bình Thứ ... niềm hãnh diện cho sinh viên mặc quân phục...
Năm 74, nó ghi danh chứng chỉ Văn Minh Việt Nam và Việt Hán .. học được mấy tuần, nó cầm quân lệnh, thuyên chuyển ra đơn vị CTCT đóng tại quân đoàn 2..
Tại Pleicu, nó vẫn tiếp tục theo dõi bài vở... Mắt Nâu khi ghi bài vào tập, lót carbon cho nó một bản sao y. Nó nhận thơ bưu điện hàng ngày. Học bằng đèn cầy hàng đêm. Ngồi học tại bàn từ nhà trong trại gia binh, sau trường trung học Pleime, đến hội quá Tây Nguyên trong Hàm Rồng, hay kho gạo ờ KomTum...
Nhưng trời đâu có chiều lòng người ...
Toàn thề quân nhân các cấp phải bỏ quân đoàn ra đi... Trên con lộ 7B, đầy máu và nước mắt.. Trên lưng ba lô nó mang đầy sách vở, bài học... Sau những ngày gian nan băng rừng vượt suối, nó về tới Sài Gòn, với gương mặt của người về từ cõi chết, tóc dài, da sạm đen, hốc mắt quầng sâu, ốm nhom như con ma đói... Vậy mà nó vẫn vô trường nghe thầy Kỉnh, thầy Bửu Cầm, thầy Lãng... giảng bài ...

Lệnh đầu hàng ngày 30 tháng tư như một định mệnh, như một chảo dầu đang sôi, dội lên đầu người lính Cộng Hoà. Một màu đen thê lương ảm đạm phủ chụp lên đầu toàn dân miền Nam... Nó tự an ủi, cho rằng, hoà bình đã đến, dù ở vị thế nào, bên thắng bên thua ... đều là người Việt Nam. Nó nghĩ, sau một thời gian ngắn ổn định... nó sẽ ôm tập đi học lại, lo gì !!
Nhưng, nó đã lầm! Không phải mình nó lầm, mà nhiều người lầm! Phía thắng, tuy cũng là người Việt, nhưng máu thú - mà là thú hoang! Chúng tàn độc không thể tưởng được! Mất cả tính người ...!! Chúng là tập hợp các tính của Tần Thủy Hoàng, của Lê Long Đỉnh, của Lê Chiêu Thống... Đốt sách, giam giữ thầy, triệt bỏ tôn giáo, và thẳng tay trả thù những người từng một thời cầm súng chống lại chúng!
Sau hơn 8 năm trong lao tù Cộng Sản, nó bị lưu đày từ Nam ra Bắc. Trại Nam Hà, nằm cheo leo giữa lưng chừng núi ... Nơi có biết bao anh hùng, tuấn kiệt miền Nam đã phải vùi thây làm bạn với côn trùng giun dế... Bao nhiêu tuấn kiệt khác trở thành những thây ma biết đi... Sống trong đau buồn tủi nhục đếm tháng ngày trôi qua...

Mạng số con người là do trời đặt để
"Bắt phong trần phải phong trần
"Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Rời cổng trại tù vào giữ mủa hè năm 1983, nó trở về nhà trong vòng tay thương yêu của mẹ và của chị...
Thời gian ở tù về mới là thời gian thử thách lớn trong đời nó. Tình người thay đổi hoàn toàn... Sống trong một xã hội mà luân thường đạo lý không được xem trọng. Chữ sĩ lại tụt xuống hạng chót...
Trên bến năm xưa... vài cảnh xưa còn đó ... Người năm xưa. đã từng nói với nó những lời tha thiết nhất, hứa hẹn sống bên nhau đến trọn đời ..., đã từng cạnh kề bên nó suốt ba năm chung trong giảng đường Văn Khoa.. Sóng nước trường giang vẫn lững lờ chảy ... Nhưng thuyền xưa đã trôi dạt về đâu …??

“Tiếng hát ru em vẳng nghe trong đêm vắng...
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu Điu lại nở ra dòng liu điu”
(Còn sống ở xã hội nầy thì con nó lớn lên... sẽ thành liu diu)
Nó đâu có ngờ, ca dao tục ngữ, là kinh nghiệm sống của ông bà mình, qua bao nhiêu thử thách ở đời, mới viết nên được những câu có vần có điệu, có ý nghĩa như vậy.

Nó buồn lắm. Nhìn mặt mũi nó sáng lán, mà lý lịch nặng nề quá..!
Làm sao thoát khỏi đất nước nầy? Nó nghèo quá, ai dám rủ rê nó vượt biên...?!
Nhưng rồi .. chuyện gì phải đến thì đã đến ..
Làm sao ngờ được có một ngày, những người tù năm xưa như nó, đường hoàng chiểm chệ ngồi lên phi cơ, mãi lánh xa lũ khỉ, trực chỉ sang Mỹ quốc …

Giã từ tất cả.. Giã từ Việt Nam.. Giã từ Sài Gòn… Hẹn ngày tái ngộ... Xin giã từ...

Khi đến Mỹ, nó phải đi làm ngay.Nó cần tiền. Mẹ nó đang đau nặng. Nhà nó quá nghèo sau cuộc đổi đời đầy uất hận. Tiểu bang TX cho trợ cấp không đủ sống, trong lúc tuổi hai đứa con nó cộng lại mới bằng 5... Thời giờ đâu, phương tiện đâu để học hành, dù nó vẫn muốn lắm. Đến xứ người phải học tiếng nước người . Nó biết, nhưng nó không làm được...
Nó xin vào quyét dọn cho một hảng tiện. Hảng nhỏ thôi. Chủ hảng là hai anh em ruột người Mỹ trắng, với hơn mười người thợ cũng toàn Mỹ trắng... Chỉ có nó là tóc đen. Trong bàn ăn chỉ có nó là ăn cơm... Sau một vài hảng làm chung với người Việt, bây giờ làm chung với Mỹ, nó vẫn cảm thấy thoải mái. Công việc tuy có nặng nhọc, nhưng tâm trí thấy thanh thản. Từ chủ cho đến thợ đều đối xữ với nó thân thiện và ân cần lắm... Lần đầu tiên hảng mướn một người gốc Á, nó lại siêng năng, chăm chỉ.... nên được lòng mọi người..
Việc làm bằng chân tay, nên trí óc thanh thản, nó có dịp nhớ lại chuyện trong đời lính, trong đời tù... Nhớ anh, chị .. Nhớ bạn bè... Nỗi buồn từ đâu kéo đến..Chợt nhớ đến câu ca dao tục ngữ ngày nào...

Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu Điu lại nở ra dòng liu điu”
(Còn sống ở xã hội nầy thì con nó lớn lên... sẽ thành liu diu)

Bất giác nó thở dài..
Sống nơi xứ người, tuy lòng luôn hướng về Quê Mẹ, nhưng có một điều nó chắc rằng, hấp thụ nền học vấn nơi trường học của một quốc gia văn minh nhất thế giới ... Con nó chắc chắn không phải là liu điu, nếu như còn sống ở Việt Nam !!

Bây giờ trong cõi vĩnh hằng, Ba Mẹ nó chắc sẽ không còn điều gì để lo lắng cho con trai út của Ba Mẹ.. Ngày nó vào lính, ngày nó vào tù.... Ba Mẹ nó đã lo lắng, đã bao lần cầu nguyện cho nó được bình an... Tiếc cho Ba bỏ nó ra đi lúc nó còn trong tù... Mẹ nó có chút vui mỗi lần nhận tin nó từ một đất nước mà có người gọi là miền đất hứa...

Anh chị nó đang mong thằng em trai út về thăm quê... Vâng, nó sẽ về ...



“Houston, ngày, tháng, năm..

Anh chị ơi, ly nước đã đầy rồi...! Một giọt nước… chỉ cần một giọt thôi ... cờ máu sẽ không còn thách thức tung bay trên đất nước Việt Nam nầy nữa... và em sẽ về...”

THỦY LAN VY
( Viết tại Kỳ Đà Động Tháng 10 năm 2013)

__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
HồngLan (26-01-2016), Sương Đêm (28-12-2015)
Trả lời

Bookmarks



Hiện thời số người đang xem chủ đề này là: 1 (0 Thành viên và 1 Khách)
 
Thread Tools
Display Modes

Quyền Hạn Gởi bài
Bạn không được quyền gửi bài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đangTắt

Chuyển nhanh đến

Múi giờ GMT -7. Hiện tại là 07:28 AM.


Chút Lưu Lại không chịu bất cứ trách nhiệm gì về nội dung bài đăng của tất cả Thành viên.
Nhóm Điều Hợp có toàn quyền chỉnh sửa, xóa bỏ, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên Thành viên mà không cần giải thích lý do.

Powered by vBulletin® Copyright ©2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2017 @ www.chutluulai.net. All rights reserved.
Vietnamese Language by www.mvietx.org.