Chút lưu lại

Go Back   Chút lưu lại > Văn Học/Nghệ Thuật > Truyện
Trang nhà Phòng ảnh Thơ mới Download mViet Lưu bút

Truyện
Những truyện ngắn, truyện dài về Tình cảm, Xã hội, Truyền thuyết v....v..... bạn đã đọc qua và yêu thích. Có thể của chính bạn sáng tác hoặc sưu tầm từ nhiều Tác giả khác nhau.

Trả lời
 
Thread Tools Display Modes
Old 05-12-2014, 08:45 AM   #9
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

CÂY ME
*




Tuổi đời chồng chất theo thời gian với bước chân in dấu khắp cùng đây đó,tuổi đời càng đè nặng tôi càng cảm thấy thấm thía về một bài viết trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư, quyển sách mà ngày còn thơ bé tôi vẫn rất thường đọc dù không phải là sách giáo khoa đang học tại trường, bài “ Không Đâu Đẹp Bằng Quê Hương, …một người đi xa trở về…dù cho người đã chu du khắp đông tây nam bắc, dù cho mắt đã nhìn thấy bao cảnh đẹp mà bước chân từng đi qua thế mà… vẫn không có nơi đâu đẹp bằng quê hương…
Ngày đầu tiên rời khỏi đất nước trên chuyến bay Việt Nam cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất đến phi trường Thái Lan, trong chuyến ra đi trong chương trình tỵ nan H.O, trong lúc ngồi chờ chuyến bay chuyển tiếp trên 30 người Việt thuộc gia đình quân công của chế độ Cộng Hòa ngồi trong nhà chờ đợi, một ngôi nhà tiền chế trống vách, chung quanh là đất trống cỏ dại mọc um tùm, rải rác có một vài cây trứng cá…gợi cho.tôi nhớ tới thời tôi còn học trung học, khoảng thời gian đầu thập niên 60, ở Gò Công nhà nào có sân đất thì hầu như đều có trồng cây trứng cá. Trời chiều dần, những tia nắng yếu ớt buổi hoàng hôn, tạo thành một màu sắc riêng biệt của buổi cuối ngày, muổi đen khá nhiều cắn chích lung tung, tôi ngồi bên cạnh vợ con mà lòng vẩn vơ trăm chuyện, cảnh hoàng hôn ở đây sao nó giống ở quê mình quá, kỳ hôn, cùng ở vùng Đông Nam Á thì chắc là địa dư và thổ nhưởng, khí hậu… đều có phần giống nhau…thì hoàng hôn ở Miên hay ở Việt Nam cũng đều giống nhau thôi.
Khi đến thành phố Houston thuộc bang Texas, lạ người, lạ cảnh, dù khi tôi vào đời với 7 năm lính, tôi ở đơn vị CTCT, lực lượng tổng trừ bị, phải rày đây mai đó, luôn xa gia đình, rồi ngày trời sập, phải vào tù gở hơn 8 cuốn lịch, vậy mà sang tới đây, lạ người lạ cảnh tôi thấy lòng tôi ray rứt nhớ nhung, hình ảnh mẹ, chị anh, rồi bằng hữu, con đường, ngôi trường, ngôi chợ…những hình ảnh thân thương đầy kỷ niệm đó luôn lởn vởn trong trí tôi…tôi nhớ tới cây me, loại cây mà ở đây tôi tìm hoài không thấy…Với tôi cây me rất gần gủi, thận thích, cây me với tôi có nhiều gắn bó trong đời sống thường ngày, nhất là thuở tuổi tôi còn thơ bé…
Ở Gò Công, khu nhà tôi ở thuộc xóm Cầu Huyện, đường xuống Cầu Huyện cặp theo bờ kinh, tới ngả tư cầu Tây Ban Nha, quẹo phải ra Ao Trường Đua là Xóm Me, thời còn Tây, tỉnh Gò Công trong buổi bình minh còn hoang dã, có cả cọp trên khô và sấu dưới nước…Tây cho đào Ao Trường Đua ( Khoảng năm ký hòa ước Giáp Thân 1884 . Lúc tôi được thả về thì khoảng năm 1984, Gò Công có nhận được giấy báo của hảng thầu Effel bên Pháp, cho biết là dinh tỉnh trưởng và một vài công thự khác đã xây dựng cho đến nay đúng 100 năm. Hảng sẽ không còn chịu trách nhiệm gì về các công trình nầy nữa, mà Ao Trường Đua được đào để lấy đất đấp nền các công thự nầy)., trước lấy nước cho dân dùng, sau lấy đất đấp nền xây dinh tỉnh trưởng và nhiều công thự khác, trước tiên sở Trường Tiền( sau nầy là Ty Công Chánh) cho đấp một con lộ thẳng góc với ao hướng ra nhà thờ để làm con lộ vận chuyển đất, hai bên lề đường trồng me… Có lộ thì có nhà… mới đầu cư dân thưa thớt, một bên là ruộng, một bên le hoe mấy nhà gần ngả ba Ao Trường Đua, và xóm nầy được gọi tên là Xóm Me.Khi tôi có chút hiểu biết thì con đường Xóm Me( Đường Phan Châu Trinh) chỉ còn sót lại 1 vài cây, đặc biệt ngay ngả ba( sau nầy là ngả tư) trong khuôn viên nhà ông Hương Thân Bính có một gốc me mà thân me hai người lớn ôm không giáp, Với tôi cây me lúc nào cũng có một dáng dấp bình thản mà vững vàng, tàn lá rậm ri, cây cho bóng mát ngã bên lề đường… Dân buôn bán, học trò đi học thường tụ dưới bóng mát cây me nầy để chơi đánh đáo hay bắn kè, người buôn gánh bán bưng thì nghỉ chân chốc lát,chú lục lộ chăm sóc đường cũng thường núp nắng nơi đây để hút thuốc. Nhà tôi cạnh bên nên cũng thường ra đây nhìn lứa tuổi trang bạn đánh đáo, bắn bi, ba mẹ tôi thường ngăn cấm không cho ra đường, nhất là dưới những tàn cây cao bóng mát vào buổi trưa… “ Sẽ dễ bị ông bà “quở” mà sinh bệnh. Cây me nầy cũng mang nhiều huyền thoại về ma cỏ, Thuở thập niên 50 trên dọc hai bờ kinh, có cất mấy cầu tiêu sông,một cái trước nhà Ông Huyện Đờn, một cái bên kia sông, bên hông nhà ông Đốc Phủ Tường, người đi cầu ban đêm thường thấy có hai bóng trắng leo lên leo xuống cây me… Thời đệ nhất Cộng Hòa, Gò Công thật sự thanh bình, trước phòng thông tin, tuần nào cũng có cất rạp trình diễn văn nghệ do ban nhạc thuộc tiểu đoàn 518 đãm trách… Khuya tan hát dân Cầu Huyện rũ nhau đi về từng tốp, ít dám đi lẻ tẻ vì sợ ma cây me… Rất thường khi nằm ngủ trong nhà, tôi nghe rất rõ tiếng ù té chạy của những người sợ ma…
Ngoài Xóm Me, con đường liên tỉnh Gò Công Mỹ Tho còn có một địa danh, mà vào đầu thập niên 60, người dân trên những chuyến xe đò liên tỉnh nghe nhắc tới không khỏi phập phồng, lo sợ đó là Cây Me Treo Cổ thuộc xã An Thạnh Thủy, Quận Chợ Gạo. Lúc đó” Cách Mạng “ chưa về nên bọn Việt Cộng lộng hành, thường xuyên rình rập chận xe đò, bắt quân nhân công chức dẫn đi, có người được thả có người mất tích luôn nên dân chúng rất e ngại khi xe di chuyển ngang qua đây, vào tang tảng sáng hay lúc hoàng hôn… cho tới Đệ nhị Công Hòa, Sư Đoàn 7 mới bình định được khu vực nầy.
Tôi nhắc sơ về một vài địa danh có cây me nơi quê tôi, Ngày lên Sài Gòn tiếp tục đi học tôi rất thích một vài con đường có bóng mát cây me, con đường Đồn Đất, gần trung tâm Văn Hóa Pháp, vào những ngày đầu mùa mưa, Sài Gòn thường có những cơn giông bất chợt, me lả ngọn rơi rụng lá vàng, những chiếc lá nhỏ xíu bay bay trên áo, trên vành nón nghiêng che của các nữ sinh duyên dáng, tan trường từ Trung tâm Văn Hóa Pháp, trên con đường Gia Long, với bóng mát hàng me thật dễ thương, Cũng thời “ Cách Mạng” chưa về, Việt Cộng, cái quân khủng bố chuyên nghiệp, thường bắn hỏa tiển 122 ly bừa bãi vào thành phố, gây biết bao thảm cảnh cho dân lành, buổi sáng tôi thường đạp xe đi xem , tôi còn nhớ, một cây me trên đường Gia Long bị bứng luôn gốc ngã nằm dài trên đường..
Cây me rất hữu ích cho đời sống con người, từ thân me, lá me trái me đều có công dụng riêng… Người Gò Công thường thích ăn món canh chua, để nấu được nồi canh chua dĩ nhiên phải có trái me hoặc lá me, chất liệu làm ra vị chua, canh chua là món ăn của người dân dã, ăn cơm cũng dễ nuốt mà nhậu cũng rất bắt mồi, buổi chiều trời bảng lảng hoàng hôn, trải đệm dưới gốc me, bốn đệ tử Lưu linh vốn là con của Ngọc Hoàng, ngồi trên đệm quây quần bên chiếc mâm nhôm, một chai ba xị đựng đầy rượu đế, một tô canh chua lá me nấu với cá chốt, một cái nhạo với một cái ly nhỏ, loại mười một ly đong đầy một xị rượu, một dỉa nước mắm trong dầm ớt hiễm, vậy mà khề khà chuyện nọ chuyện kia, trăng lên gần đỉnh đầu mà tiệc rượu cũng chưa chịu tan…
Thân cây me xẽ ra làm thớt, thớt me dùng rất tốt, dao chặt xuống ít lên dăm… lắm người được đi xuất cảnh chánh thức, trong hành trang không quên mang theo tấm thớt me, Tôi vẫn nghe truyền miệng, làm thịt rắn hổ không được dùng thớt me vì khi ăn xong dễ bị ngộ độc.
Thân cây me tôi chỉ thấy công dụng làm thớt, ngoài ra chỉ làm củi chụm, không thấy thợ mộc dùng cây me xẽ gổ cất nhà hay đóng bàn ghế, dân gian thường nói” bần dòn, ổi dẽo, me dai” trèo lên cây me mới thấy câu nói nầy rút tỉa từ kinh nghiệm sống của dân gian, mình có thể đứng trên những cành me chông chênh, cành me qưằn xuống chứ không gãy.
Dưới gốc cây me, thường là sân đất, không có cây gì mọc được, ngay cả cỏ là loại dễ mọc, vì rễ me ăn lang theo mặt đất, làm cho đất chua, các loài thảo mộc khác không phát triển được.
Cạnh nhà tôi là nhà ông Thôn Trưởng, một ngôi nhà cao cẳng bằng gổ ,nhà to lớn, nằm giữa một sân vườn thật rộng, trong vườn trồng đủ loại cây ăn trái như sơ ry, mãn cầu, xoài… dĩ nhiên là có cây me, cây me trồng sát rào, bên nhà Ông Thôn có đám cháu nội trang lứa với tôi, nên những ngày nghỉ học, tôi thường qua đây chơi, mùa me có trái, tụi tôi trèo lên cây như bầy khỉ, thằng Phú thằng Quý, cả con Huỳnh Mai là gái cũng trèo luôn, bởi thường trèo lên trèo xuống hằng ngày, nên thân me vỏ không còn xù xì mà trơn láng
Tôi có khiếu bắn kè từ thuở nhỏ, trưa chúa nhựt của những ngày còn học tiểu học, tôi thường lén nhà ra gốc me gần ngả ba, tụ nhau với lũ bạn trang lứa, từ xóm nhà máy nước đá lên chơi, sau vài giờ là tôi có được cả bụm kè thắng trận
Ở Gò Công gần ngả ba Yên Luông Đông có nhà ông Chín Kỷ, trước nhà có hai cây me ngọt, hình như nguồn gốc hai cây me nầy là do hột giống của bà Nguyễn Thị Hai, trong hội Thông Thiên Học, mang về từ Ấn Độ, tôi là con cháu trong nhà nên mỗi năm vào dịp tảo mộ ông bà đều được ăn me ngọt, ở Gò Công lúc đó me ngọt quý vô cùng, qua xứ Mỹ nầy trong chợ Việt Nam, me ngọt Thái Lan bày bán ê hề; Nhưng cũng hột của cây me ngọt đó gieo trồng , khi cho trái, cây bị lai giống vẫn chua, dù vị chua có nhẹ nhàng hơn mà trái nhỏ hơn, đó là giống me đậu phộng.
Trái me và lá me, người miền Nam không ai là không biết công dụng của nó, tùy theo loại cá tôm, gà, ếch nhái, chuột, rắn… mà người nấu dùng me sống, me chín hay là lá me…Với loại nào, nồi canh chua nêm nếm đúng mức đều rất ngon miệng, miền Nam khí hậu tương đối nóng, buổi cơm sau giờ làm việc, có tô canh chua rất dễ bén cơm…
Ngoài canh chua ra trái me còn ba cách ăn khác, me chín ngào đường, mứt me và me thấu.
Ngày tôi còn học tiểu học, những gánh hàng rong bán xế cổng trường thường có món me ngào đường, tôi còn nhớ, một mâm nhôm trên đó để me ngào đường, món nầy rất dễ làm, me chín bỏ vỏ, bắt chảo ngào với đường tán, nếm thấy dễ ăn, nghĩa là không chua quá mà cũng không ngọt quá, trang đều lên mâm, trên rắt tí mè rang vàng,hay đậu phộng rang vàng đâm nát, thế là quý vị con nít đi ngang nhìn, đố đứa nào không chảy nước miếng, thế là có năm cắc mua năm cắc, có một đồng mua một đồng, người bán hàng dùng miếng lá chuối, rồi dùng muổng múc một hoặc hai muổng gì đó, cho thêm 1 cây tăm, thế là chú em tay cập cặp sách sát nách, tay nâng tấm lá lên miệng, liếm tới liếm lui ngon lành,nhiều khi mê ăn không thấy đường, đụng vào gốc cây dội ngược, mâm me bày bán cạnh lộ, xe cộ qua lại tung bụi đầy trời, vậy mà đám học trò nhỏ vẫn ăn và vẫn mạnh cùi cụi… Thời đó, khoảng cuối thập niên 50, Gò Công có ban quân nhạc, thường xuyên núp dưới bóng mát mấy cây dương gần hồ tắm để dượt kèn trống, mấy anh bán đá nhận đậu đỏ, bánh lọt thường xúi đám tiểu yêu tay cầm chùm me tay cầm gói muối ớt đứng nhìn các anh lính kèn tập,chốc chốc đưa trái me lên miệng chắp chắp rồi hít hà, chỉ độ vài phút là mấy chú lính kèn thổi xì xịt vì miệng chảy đầy nước miếng, nhớ lại thời đó, thời Ngô Tổng Thống mới về nước, Gò Công thực sự sống trong cảnh thanh bình,những trò chọc phá đó bây giờ nhớ lại tôi còn thấy khoái…
Dĩ nhiên, những gánh hàng rong nầy cũng không thiếu món me ngâm thấu, món mầy học trò nhỏ, gái trai gì cũng ưa cả, ngay người lớn ăn còn quên thôi, ăn xong uống nước lạnh… để rồi bị Tào Tháo rượt, xong rồi, khỏe lại, gặp lại cũng ăn nữa…
Lựa loại me già, bỏ vào nồi nước luộc sơ, trong nước có bỏ chút phèn the, vớt me ra ngâm vào thau nước lạnh một đêm, có pha chút phèn chua,lột vỏ, nấu nồi nước đường dằn muối, để nguội, bò cam thảo vào ngâm cho ra màu vàng, thế là ta có món me thấu, trái me trắng ửng vàng, nhai dòn dòn, chua chua, mằn mặn ngòn ngọt, ăn quên thôi, trong mấy chợ Việt Nam ở Houston tôi thấy thỉnh thoảng có bán món nầy…
Món cao cấp của trái me là mứt me, làm món nầy mấy người tánh nóng khó thành công vì chụm lửa hỏa hào me sẽ đen thui… Với 1 kí lô me sống, lựa trái nở nang đều đặn, ướp muối hột độ 4 giờ cho dễ lột vỏ, lột vỏ xong ướp muối bọt khoảng một giờ, dùng dao bén xẽ lấy hột, dùng bàn xâm, xâm đều trái me, ướp me đã xâm với muối bọt giống như muối cá… sau 1 giờ đem ra xã lại nước lạnh. Nấu nồi nước sôi cho vào chút phèn chua, trụn sơ me khoảng 5 phút, vớt ra xả nước lạnh cho sạch. Cho đường và me vào thau, ướp một đêm cho me thấm đường, vớt me ra, đường còn lại, bắc lên bếp chụm lửa than liu riu, dùng vỉ sắt gác lên chảo đường, sắp me lên vỉ sắt, dùng muổng múc nước đường đang sôi rưới lên me cho đến khi nào me thấm đường là được, để me lên dĩa bàn, phơi nắng cho ráo đường, dùng giấy kiếng màu, cắt khéo tay thành sợi, gói từng trái có cả cuống và xơ me… Lọai mứt nầy ăn rất ngon miệng, giá bán cũng không rẻ…bởi làm rất công phu.
Thời còn học tiểu học, những ngày cận tết, tôi thường được giao cho việc chụm lửa mấy chảo mứt…Tuy chuyện “ Xông pha khói lửa” có nóng một chút nhưng bù lại khi mứt tới là tôi có quyền nếm trước…
Đất người, tết nhứt, bánh mứt bày bán đầy chợ… nhưng mứt me cũng khó tìm thấy, với lại tại mình sống lâu chứ không phải già, nên muối đường đều phải bớt ăn, nên ba thứ bánh mứt chỉ ngó qua cho biết, chả bù lại, những năm tháng trong lao tù Cộng Sản, muối cũng như đường, lúc nào trong người cũng thấy thiếu, những ngày tết đến, những ngày mưa gió được nghỉ lao động, chuyện bánh trái, mứt trà luôn được anh em nhắc tới đầy vẻ thèm thuồng….đây cũng là một cách thưởng thức hàm thụ trong những tháng năm đói rét trong lao tù Cộng sản...
Những tháng ngày sống trong trại tù Hà Tây, tôi thuộc đội nuôi cá nên có dịp kéo xe đi nhiều xả gần trại, mùa đông nhiều khi ra tới Thường Tìn để tìm rong, cỏ, các làng Rùa, làng Phượng tôi thường xuyên tới… Nhiều cây trái giống miền Nam nhưng tuyệt nhiên, cây me tôi chưa bao giờ được nhìn thấy tại tỉnh Hà Sơn Bình.
Tháng 7 năm 1983, tôi được giặc thả về, trước năm 1975 tôi vẫn có tên trong tờ khai gia đình nhà chị tôi, cũng như nhà ngọai tôi tại Sài Gòn, nhưng vì còn độc thân chúng đuổi tôi về Gò Công ở với mẹ, thời gian mới về bị quản chế 2 năm, cũng bị nhiều ràng buộc như trong tù chỉ khá hơn là gần gửi với người thân, khỏi phải đi lao động khổ sai, tuy thỉnh thoảng vẫn phải công tác đào kênh, đấp đập, gọi là lao động xã hội chủ nghĩa...,trong ngày sau 6 giờ chiều là không được ra khỏi nhà…Tháng tám, trời mưa to, cây me cạnh nhà trốc gốc, ngã vắt ngang trước nhà, cây me khoảng gần vòng tay, may mắn nếu nó ngã xéo một chút là đè lên mái nhà… Thế là tôi có chuyện làm, với cây búa cùn, tôi nhẩn nha đẻo từng khúc, vừa làm vừa chỉ cho con cháu học mấy chữ Hán, con cháu học sư phạm ban Việt, Buổi trưa tôi đang ngồi chặt chặt đẻo đẻo, thì tôi nghe có tiếng của chị tôi
-Bảy, có thằng Quang đèo đến kìa
Thằng Quang bạn học với tôi thời trung học, nó từ Hòa Đồng xuống tỉnh trọ học gần nhà tôi, trong lớp cùng ngồi bàn nhứt kế tôi, Những năm cuối trung học, cùng làm thơ trong Nhóm thơ 20 Gò Công, đi lính cùng khóa 13 đại đội phó CTCT tại Trường Nguyễn Trãi( Biệt Khu Thủ Đô) Ngày sập tiệm chung trại tù Huyện Tây Gò Công, từ ngày nhập trại nó lần lần biến đổi tánh tình, trở thành tay sai chỉ điểm cho cán bộ trại, nó là tên trưởng nhóm ác độc thứ hai của trại Hòa Đồng, chỉ sau Đại úy Hỉ ( BĐQ), Chính Quang rủ tôi cùng tham gia công tác chỉ điểm với nó. Trong tình bạn cũ tôi có khuyên nó hãy nhìn lại, anh em trong trại là những chiến hữu cũ, lại là đàn anh, đàn em chung trường trung học, có nhiều vị thầy dạy cũ…
Tôi còn nhớ câu tôi kết luận
- Tao nói lỡ lời có gì mầy bỏ qua cho
Sống trong tay Cộng Sản, như cá nằm trên thớt, ai mà không sợ. Lỡ nói rồi tôi đâm ra ngán nó báo cáo...
Tôi tuyệt giao với Quang từ đó, anh em từng ở trại Huyện Tây, ai mà không hận thằng Quang. Nó báo cáo hãm hại biết bao nhiêu người. Nó nhỏ con nên có tên là Quang đèo, chức vu sau cùng của nó là Phân chi khu trưởng xã Vĩnh Bình, tốt nghiệp khóa 4/68 trường bộ binh Thủ Đức
Quang và người bạn chỡ nó, họ Tô Vĩnh tên gì tôi quên, một giòng họ giàu có ở Hòa Đồng, vô nhà được chị tôi mời ngồi ghế giữa. mẹ tôi từ nhà sau cũng lên ngồi bên bộ ván, vì cả nhà biết tôi rất hận thằng nầy, nên sợ có điều gì bất trắc xảy ra, chị ra gọi tôi vào, vẫn quần tà lỏn, ở trần, tôi không cần mặc áo, ngồi vào ghế vấn thuốc rê hút… Tôi hiểu tấm lòng của mẹ và chị dành cho tôi, tôi im lặng, Quang hỏi câu gì tôi trả lời câu đó và trả lời rất đâm họng nên láp dáp mấy câu nó kiếu ra về
Tôi còn nhớ
- Nghe nói tù ngoài Bắc đói khổ lắm phải không?
- Mầy đừng có bôi bác chế độ, mầy không nghe nhiều lần quản giáo và đài phát thanh ra rã… Nước ta tiền rừng biển bạc, Trưởng trại Chín Nhựt của trại Huyện Tây từng nói
- Cửa sông Cửu Long toàn là kim cương và đá quý trầm tích ở đầy, rồi đây nhà nước sẽ khai thác … giàu có mấy hồi
Tụi tù ngoài Bắc tụi tao được ăn ngày 3 bữa, có bàn billard, bàn ping pong, có thư viện, có sân bóng chuyền… nhiều thứ giải trí khác, tù chỉ ăn rồi…chơi.
-Về mấy tháng nay mầy làm gì
-tao làm báo
-mầy viết cho báo nào vậy?
- báo của tao là báo mẹ báo chị, báo đời…chớ báo nào
Thằng Quang ra về… tôi thấy trong lòng ray rứt, tìm được một thằng bạn đã khó mà cắt đứt tình bạn lại càng khó hơn, may mắn trong đời, tôi chỉ cắt tình bạn có 2 lần, cũng sau ngày trời sập.
Ngồi bên thân cây me đang chặt dở dang, tôi hút một hơi thuốc dài, tự dưng cảm khái, ngâm nho nhỏ bốn câu thơ của Nguyễn Bính, dán trước cửa nhà lúc về sống ở miền Tây Nam Bộ
‘Từ dạo về đây sống rất nghèo
“ Bạn bè chỉ có gió trăng theo
“Những thằng bất nghĩa đừng lui tới
“ Hãy để thềm ta xanh sắc rêu…
Mười mấy năm lưu lạc xứ người, mỗi lần ra đường, nhìn thấy những cây có tàng lá giống cây me là lòng tôi như chùng xuống, kỷ niệm thời thơ ấu như hiện rõ trong tôi, những thức ăn chế biến từ lá, trái me… Tôi nhớ mẹ tôi, tôi nhớ anh chị tôi…Tôi nhớ Gò Công, quê hương của tôi mà giờ đây cờ sao bay bay như thách thức… Làm sao tôi về lại, ngày mẹ tôi còn sống, tôi đã nhiều lần gửi bài thơ trong đó có 2 câu
“Con đi dưới lá cờ sao máu
“Rờn rợn lòng con, nhục mẹ ơi! *

THỦY LAN VY
Viết tại Kỳ Đà Động, Lập Xuân 2008
* Thơ T. L. Thảo
Reply With Quote
Đã có 3 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
HồngLan (13-01-2015), mongmothu (08-12-2014), nhonhatrang (06-07-2015)
Old 07-12-2014, 04:47 PM   #10
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

ĐU ĐỦ
*



Buổi chiều thứ tư của tuần lễ cuối tháng, Thầy Trung thường mời một vị học giả tới thuyết trình cho đám đệ tử năm dự bị, những đề tài thuyết trình đều có liên quan đến văn học nghệ thuật.
Giờ vô lớp chiều nay, sinh viên đông thấy rõ, giảng đường 2 là giảng đường lớn nhất của trường, đúng 2 giờ trưa đã đơm đặc đầu sinh viên, vẫn có một số thiếu chỗ ngồi, tụ tập quanh cửa sổ, cửa ra vào…Tiếng chuyện trò, bàn tán ồn ào như buổi nhóm chợ...
Lớp đột nhiên yên lặng, sinh viên đồng lọat đứng lên chào thầy.Thầy Trung vẫn áo sơ mi trắng tay ngắn, cà vạt, tay xách cặp, bước lẹ vào lớp, theo sau thầy là một vị khách tuổi quá năm mươi, mặc bộ đồ trắng, đầu đội nón cối trắng, Áo của vị khách dài gần tới gối, tôi không biết gọi là áo gì, vì áo dài đàn ông thì không phải, mà áo ba ba cũng không…. Thầy Trung chào sinh viên xong, thầy bắt đầu giới thiệu vị khách… Đám sinh viên vỗ tay vang giảng đường khi biết vị khách là học giả Hồ Hữu Tường.
Tôi vô cùng thích thú. Tên Hồ Hữu Tường, tôi rất quen thuộc, từ ngày tôi còn học tiểu học, bởi trong tủ sách nhà tôi, không thiếu tác phẩm của Ông, tôi đã từng đọc say mê từ thời còn bé, nào là Thu Hương, Chị Tập, Phi lạc sang Tàu…Hôm nay được thấy người bằng xương bằng thịt thì còn gì vui thích cho bằng…
Ông Hồ Hữu Tường đã lấy được cảm tình, ngay từ những phút đầu của câu chuyện. Hôm nay Ông nói về chuyện vua Khải Định vào Sài Gòn. Vua Khải Định là một vì vua ăn chơi, thích ăn mặc kiểu cọ, rườm rà,thích mang đồ trang sức, lại nhu nhược theo Tây, chỉ biết hưởng thụ, mặc cho dân tình sống trong vòng lệ thuộc.Cũng chính vì vậy, sĩ phu Nam Kỳ, mới bàn thảo về chương trình đón tiếp vị vua ăn chơi nầy. Để tránh tay mắt của mật thám Pháp, sĩ phu Nam Kỳ đề cử bà Sương Nguyệt Anh làm trưởng ban tổ chức, Bà tên thật là Nguyễn Thị Khuê, ái nữ của Ông Đồ Chiểu, chữ Khuê tên của bà là tên của một loài ngọc,chữ thuộc bộ Ngọc, chữ ngọc ghép với chữ Khuê thành ra tên một loài ngọc, cho nên có nhiều người lầm đọc tên bà là Nguyễn Thị Ngọc Khuê, cũng như bút hiệu của bà, có rất nhiều người lầm, đọc là Sương Nguyệt Ánh.... Chương trình tiếp rước vua, được soạn thảo công phu, từ việc chọn tuồng hát phải như thế nào, để cảnh tỉnh nhà vua, làm sao cho nhà vua nhìn thấy được, thực cảnh của đất nước, để lo cho dân, mưu cầu tự do, độc lập cho đất nước…Ông Hồ Hữu tường với giọng nói miền Nam, âm thanh lớn mà ấm, ông nói đều đều suốt hai tiếng đồng hồ, giảng đường yên phăng phắc, nhiều sinh viên quên cả khép miệng, ngồi há mỏ say sưa nghe… Ông rời bụt giảng giữa tiếng vỗ tay vang dộ,i trong niềm luyến tiếc của sinh viên, đám trẻ hình như nghe chưa đã, còn muốn nghe ông nói nữa, vì đề tài ông thuyết giảng, là đề tài có thực, phản ánh một phần nào hoàn cảnh lịch sử của đất nước, trong thời Pháp thuộc.
Mắt nâu ngồi lên yên sau xe tôi mà còn vỗ lưng tôi
-Ông thầy nói hay quá, em nghe mê luôn, ờ mình kiếm cái gì ăn đi anh, rồi hãy về nhà, còn sớm mà…
Cái gì chứ ăn là tôi đồng ý ngay, giờ tan trường, đường Cường Để đặc cứng xe, ngoài văn Khoa, còn Võ Trường Toản, Dược, Kiến Trúc, Trưng vương…Tôi luồn lách cho xe rẻ qua Thống Nhất, bọc vòng Vương Cung Thánh Đường, qua Tự Do, rẻ vào Lê Lợi.
-Ăn bò bía hở anh, mắt nâu miệng hỏi tay vuốt lưng tôi
-Ờ, ăn gỏi đu đủ, rồi uống nước mía Viễn Đông.
Đối diện với xe nước mía và rau má, bên nầy đường, có nhiều xe đậu sát tường, đa số chủ là các chú Tiều.Tôi và mắt nâu sề vào xe gỏi đu đủ. Chú Tiều vui vẻ chào thầy cô, tay không quên cầm chiếc khăn lông lau sơ mặt bàn thiếc,tôi nghe nhiều người nói, chiếc khăn lông nầy nhúng vào thùng nước lèo, sẽ tăng thêm vị ngọt…?!
Trong khi chờ đợi hai dĩa gỏi, tôi xoay người sang xe bên cạnh gọi thêm một dĩa bò bía… Rảnh rỗi ngồi nhìn thao tác của chú Tiều, tay chú cử động thật nhậm lẹ, chú dùng kẹp nhôm gấp đu đủ ra dĩa, bốc miếng gan cháy, chú dùng kéo cắt ra từng miếng nhỏ, mỗi lần cắt chú không quên nhấp kéo, âm thanh nhấp kéo rất quen thuộc với khách ăn vĩa hè… Nghe âm thanh không cũng bắt ứa nước miếng,chú mặc áo thung, quần Tiều dài quá gối, chú phải may quần dài quá gối có lẽ chú sợ cái không cần ló mà nó ló ra.! Nên mặc quần cụt mà dài quá gối..Nhìn tay chú, cầm chai nước tương, pha dấm đường ớt, chú xịt vào dĩa trông thật điệu nghệ.Tôi cầm ống đũa rút ra hai đôi, đôi đũa nầy không biết chạm môi bao nhiêu người, với một sô nước nhỏ chú rửa dĩa, đũa cả ngày không hết nước.Hai dĩa gỏi được mang ra trông rất bắt mắt, thứ đu đủ mỏ vịt bào nhỏ sợi, sắc xanh ửng vàng, gan cháy, khô bò đen đen nâu nâu, lá quế xắt nhỏ xanh mơn…, dùng đũa trộn qua một lượt, gắp đũa nhè nhẹ,đũa gỏi vô miệng với đầy đủ hương vị, chua của giấm, bùi của gan cháy, cay của ớt, mặn ngọt béo bùi, cay đủ cả, nhai trúng miếng gan…vị bùi béo ngon vô cùng, gắp đúng ba đũa là hết dĩa gỏi, vậy là phải thiếm sực.
Bây giờ trên đất người xa lạ, vào chợ Việt Nam, chợ Mễ vẫn thấy bày bán đu đủ xanh, có chợ bán đu đủ bào sẵn, khô bò đủ loại, mua về pha chế chút đỉnh là có gỏi ăn ngay… Mỗi lần nhìn thấy hàng đu đủ, là tôi nhớ tới Mẹ tôi, nhớ tới mắt nâu, cô bạn Văn Khoa, cạnh kề suốt ba năm dài, nếu gió mưa đừng bất chợ,t thì mắt nâu sẽ là hồng nhan tri kỷ của tôi…
Dĩa gỏi đu đủ ở Pasteur, chỉ là hương hoa, gỏi đu đủ mẹ tôi trộn ăn mới là biết đã...
Trời Gò Công, tháng 7 tháng 8, thường có những cơn mưa giông bất thường. những cây có rễ ăn bàng, thường bị trốc gốc. Hầu như nhà nào có đất là có trồng đu đủ, nhiều khi không phải trồng từ cây con, mà do ăn trái, vung vãi hột, chúng tự mọc lên, nhằm chỗ thuận tiện, người nhà để luôn cho tới lớn.
Sở dĩ cây đu đủ dễ bị trốc gốc là vì khi cây bắt đầu tăng trưởng, nếu cưng nó mà đấp gốc cao lên nó sẽ chết, cho nên cây đu đủ nào gốc cũng lồi ra trên mặt đất, mà rể lại không ăn sâu, nên gặp mưa giông rất dễ trốc gốc, Ba tôi thường dùng chuối cây ăn buồng, chặt ra từng khúc, chất dưới gốc cho mát cây.Nếu gieo hột trồng rất khó phân biệt hột nào lên cây đực, hột nào lên cây cái… Công tình trồng cho tới ra hoa, lại là cây đực, thì thật là phí công.Bởi hoa đu đủ thuộc lọai lưỡng tính, hoa đực và cái cùng một cây. Khi cây đu đủ bị giông trốc gốc, ba tôi chẻ thân cây ra làm hai, lựa thế đất xốp úp mặt chẻ xuống, mưa vài đám, chỗ các mắt trên thân bắt đầu đâm tược, tược lên chừng 2 gang tay ba tôi chặt ra từng khúc, đào lổ đặt xuống, chắc ăn là cây đu đủ cái
Cây đu đủ cao đến 10 mét,mang một bó lá ở ngọn,lá mọc so le,có cuống dài,mỗi phiến lá chia ra làm 8,9 thùy sâu, mỗi thùy lại bị khía thêm nữa như bị xé rách, cây đu đủ cái, có hoa màu vàng nhạt, mọc thành chùm ở nách những lá già, trái kết bám sát thân, còn cây đu đủ đực, ra hoa bằng những nhánh mọc dài ra, hoa suốt trên nhánh. Chót nhánh thường là một trái,trái nhỏ thôi và cũng lâu chín hơn trái đu đủ thường, bông đu đủ đực chưng với đường phèn, bởi trái tim có 4 ngăn, có người mỗi ngăn chứa một người, chưa kể trên đỉnh trái tim còn một người đứng, cho nên những người có trái tim chứa nhiều người quá, nên dễ sanh ra hồi họp, uống thứ nầy rất công hiệu. Người bị mộng, di, huợt tinh, dùng quả đu đủ bằng cở bắp tay, khoét cuống cho hai cục đường phèn vào, dùng lửa than nướng chín, để nguội, ăn thịt bên trong, ăn luôn cả hột, ăn hai ba trái là thấy kết quả tốt ngay.
Cây đu đủ có thân cao trung bình 2, 3 thước, thân cây có nhiều sẹo vì lá rụng đi để lại, cây đu đủ thích họp ở miền nhiệt đới. Thuở còn bé, thình thoảng lượm được một tàn lá đu đủ rụng, tôi thường cầm lên, che như che dù, nhiều cây đu đủ lên cao quá, dễ bị trốc gốc nên người nhà đốn ngang, chổ đốn cao khỏi mặt đất khoảng thước tây, trên vết đốn lựa một gáo dừa khô lớn úp lên trên che mưa, cho thân cây khỏi thúi, khoảng vài tuần, thân cây tức, nhảy nhánh át, có khi lên bốn nhánh, cả bốn nhánh đều cho ra trái .
Đu đủ mỏ vịt, mẹ gọt vỏ rửa sơ cho sạch mủ, dùng bàn bào, bào ra thành sợi nhỏ, số lượng đu đủ bào mẹ nhắm đủ cho cả nhà ăn.Mẹ dùng tay vắt cho đu đủ bào ráo nước, để tất cả vào trong tượng tai bèo.
Lá quế, mẹ rửa sach, cắt nhuyển, ớt chín đỏ, mẹ bổ dọc, bỏ hột, xắt thành sợi chỉ ngâm dấm.Tôm đất, mẹ luộc vừa chín tới, lột bỏ vỏ,chừa gạch, trang mỏng tôm luộc ra trên dĩa bàn, đem dĩa để trên hồ nước phơi nắng, độ chừng 2 tiếng đồng hồ, cho thịt tôm săn dẽo lại. Thịt ba chỉ, mẹ cắt khổ hình chữ nhật vừa gắp, dùng dây lạt quấn chặc xung quanh khổ thịt, thả vào nồi nước có pha chút muối, khi nước sôi, hạ lửa liu riu chờ khi thịt vừa chín tới, mẹ vớt thịt ra xã nước lạnh, tháo bỏ dây lạc, dùng dao bàn, mẹ lật khu tô liếc sơ vài cái, mẹ cắt mỏng khổ thịt ba chỉ ra thành từng miếng mỏng đều nhau….Tôm thịt mẹ cho vào tuợng đu đủ, chút giấm, chút đường, chút nước mắm… mẹ nêm, mẹ nếm, mẹ trộn đều, khi nếm thấy vừa ăn, mẹ múc ra từng dĩa bàn trắng, xong mẹ rắc lá quế lên trên mặt, không quên điểm thêm mấy sợi ớt cong queo, màu đu đủ mỏ vịt hơi vàng, màu xanh của lá quế, màu đỏ của ớt, màu trắng trong của thịt mở, chỉ nhìn dĩa gỏi, mà nước miếng đã muốn đầy họng.Mẹ cũng không quên đâm cối nước mắm ớt chanh đường, bên cạnh dĩa gỏi là dĩa bún tươi..gắp đũa bún cho vào chén, thêm đũa gỏi, chan tí nước mắm ớt, răng bén thời tuổi trẻ, nhai gỏi thấy dòn, trúng con tôm thấy dẽo, trúng miếng thịt thấy ngòn ngọt, rồi cay chua, thơm quế, bún trơn cổ…nuốt như cò! Đó là thời còn nhỏ, sau nầy đi lính, về phép, mẹ trộn gỏi đu đủ cho ăn, tôi thấy mẹ dọn ra mâm là vội phóng ra xe, chạy đi hú thêm vài thằng bạn, chứ dĩa gỏi ngon lành như vậy mà ăn không có rượu…đau bụng chết!
Một cây đu đủ thường có ít nhất cũng trên 10 trái, thấp nhất là trái lớn, rồi nhỏ lần lên,cho nên trồng đu đủ có trái ăn quanh năm.Khi cây đu đủ tróc góc, mấy trái hườm chín mẹ rửa để lên dĩa, đặt trên bàn thờ cúng, đu đủ mỏ vịt dùng trộn gỏi, còn đu đủ xanh mẹ gọt vỏ, cắt hai bỏ hột, cắt lại làm tư, làm tám, tùy trái lớn nhỏ, rồi cắt miếng cở 3 ngón tay, mẹ hầm với giò heo, món nầy ăn cơm cũng dễ nuốt lắm, trái nhỏ mẹ thái nhỏ ngâm chua . Ôi bàn tay của mẹ, bàn tay dịu hiền, bàn tay nầy, bây giờ con chỉ còn tìm thấy trong mơ…
Không phải trái đu đủ nào cũng có hột, hột trái đu đủ nằm bám theo thành ruột, có nhiều trái không hột, khúc gần trên cuống đùn lại thành nhiều hình thù trông ngộ nghĩnh.Hột đu đủ nhìn thấy mộng nước đen nháy.
Rời Gò Công tôi lên Sài Gòn đi học, rồi đi lính. Tôi ở nhà cô thứ tư, nhà cạnh nhà thờ Họ Bình Hòa..Ở khu ngã tư Bình Hòa nầy có nhiều quán ăn rất nổi tiếng, như cơm tấm bà Sáu, lúc đầu thời tôi còn học tiểu học, chỉ là một gánh cơm để sát hè một tiệm nước của chú Chệt Mập, sau bà cất nhà lầu, và cất đối diện bên kia đường Nguyễn Văn Học, một căn phố lầu chuyên bán cơm tấm, ngày đương thờ của nền đệ nhất Cộng Hoà, bà Nhu vẫn thường sai người ra đây mua cơm tấm, ngoài cơm tấm còn có tiệm mì Minh Sanh cũng rất đông khách, quán nhậu Lâm Viên gần rạp Đại Đồng, có rất nhiều em tiếp viên trẻ đẹp, gần nghĩa địa, trong hẽm bên kia chợ, hướng bên đường Lê Quang Định, sau bên hông tiệm phở đi vô, một hiệu mì nổi tiếng Sài Gòn, đó là mì Cây Dừa, tiệm nằm trên một khu đất rộng rải, chỉ có nóc lợp bằng tole, không có vách che,phía sau là nhà ở của chủ tiệm, con hẽm khá lớn, xe taxi chạy lọt, hẽm nối đường Lê Quang Đinh với đường Phan văn Trị, quán trông rất bình dân nhưng ngon bá chấy, buổi tối trời mưa, buồn trời buồn đất, rũ thêm vài thằng bạn, ra làm tô mì, uống chai 33, tô mì bưng ra, bốc khói ngạc ngào, miếng đùi vịt tiềm vàng ươm bong da, sợi mì vàng, hành xanh, nước lèo sóng sánh, thêm một dĩa khăn lông nóng, một dĩa đồ chua, đặc biệt, món chua nầy làm bằng đu đủ xanh, tỉa hình con sam, khổ cở bốn ngón tay…gắp cho vào tô vài miếng ớt ngâm dấm, xịt chút hột bông cải, chút dấm tiều, nước tương, dùng đũa trộn nhẹ tô mì, cắn đùi vịt thơm béo làm sao. Xong gắp con sam chua, cắn một miếng, nó dòn, nó chua ngòn ngọt, hạ cái béo thịt vịt xuống ngay, chiêu một ngụm 33…ngoài đường có tu hít thổi báo giới nghiêm bất thường cũng thây kệ, nuốt cho hết tô mì, sau đó thì tính sau…!
Hột trái đu đủ dùng để trị gai cột sống, lấy hột đu đủ vừa chín tới, chà cho bong hết lớp màng nhầy, đâm nát,bọc vào miếng vải, đấp vào chỗ xương có gai nửa giờ, rồi dùng một trái banh lông nhỏ đứng áp vào tường, để trái banh lăn qua lăn lại nơi chỗ bị gai, từ 20 đến 30 lần, mỗi ngày một hai lần, làm như vậy đều trong một tháng, sẽ có kết quả tốt.Mấy lúc gần đây người ta còn dùng lá đu đủ, sao sắc uống để trị ung thư, thực ra khi bác sĩ đã bó tay( thầy chạy) thì người bệnh mang tâm trạng cầu may ( vái tứ phương), ai chỉ đâu làm đó, phước chủ may thầy, công hiệu như thế nào cũng chưa được rõ.
Trong trái đu đủ còn có chất acid malit men, chất nầy có tác dụng làm mềm thịt, nên thợ nấu ăn thường bỏ vào nồi thịt dai một miếng đu đủ xanh…cho thịt mau mềm.
Trong dân gian có một câu đố về cây đu đủ” Mình thì mình cau-lá thì lá thầu dầu- Hoa là hoa thiên lý.”
Sống ở Houston, muốn ăn đu đủ chín lúc nào cũng có, chợ Mỹ, chợ Việt bày bán ê hề, nhà Việt Nam, có sân đất là có trồng đu đủ, trái đu đủ còn xanh bày bán thiếu gì, nhưng nợ áo cơm, thời gian sít sao quá, rảnh đâu mà mua về bào làm gỏi? chứ nhiều khi thoáng nhớ tới nước mía Viễn Đông, không khỏi nhớ tới dĩa gỏi đu đủ bào…của một thời đi học, của một thời đi lính…cũng như rất khó quên mối tình sinh viên thuở nào...
Sài Gòn tháng ba, tháng tư, trời trưa gay gắt nắng, nóng như lửa từ trên trời phả vào mặt, rề Honda, tấp vô lề bên một xe sinh tố nào đó. Trong lồng kiếng, đu đủ chín được cắt thành miếng vuông vuông cở 3 ngón tay, cô chủ quán cười duyên, đưa cái răng lòi xĩ dễ thương làm sao, bàn tay trắng nuốt, mấy ngón thon búp măng, dùng gắp gắp từng miếng đu đủ, cho vào dĩa, không quên xúc một vá đá bào để lên mặt, ngồi trên yên Honda, chờ cô em mang dĩa trao tận tay, con nhỏ buôn bán, chạm mặt cùng nắng gió, mà sao da mặt mịn màng quá, đôi chân mày nhỏ rứt.. Trời đang gay gắt nắng, tay cầm nỉa, cho đu đủ vào miệng, nuốt đu đủ, nuốt luôn nụ cười của cô bé, nó mát cổ, mát bụng làm sao….Không ăn đu đủ miếng thì uống đu đủ xay, miệng ngậm ống hút, mắt mơ màng nhìn ông đi qua bà đi lại, nhưng bà thì mắt nhìn kỷ hơn nhìn ông…
Cây trúc, cây dừa, dễ đi vào thơ ca hơn cây đu đủ, thường ít thấy bài thơ, bài văn nào, được viết lên bằng sự rung động từ cây đu đủ..Trong mâm trái cây chưng vào dịp tết, người dân miền Nam không quên trái đu đủ, vì dân gian, với tâm hồn bình dị của người miền Nam chơn chất, một mơ ước thật bình thường, ao ước chỉ Cầu, Đủ Xoài, giọng miền Nam, xoài hay xài cũng đọc giống như nhau…
Thời còn đi học, thầy dạy vẽ thường ra đề tài vẽ trái đu đủ…Thời tôi học tiểu học, thầy giáo Giáo dạy môn vẽ, cũng có ra đề nầy, năm tôi học lớp nhì.tôi vẽ dở, nhưng đề tài nầy, tôi kiếm 6,7 điểm dễ dàng. Lên trung học, thầy Giàu cũng có ra đề nầy, vẽ bằng bút chì và sơn màu nước.Năm lớp nhứt, giờ thủ công, mấy bạn ở quê khéo tay nặn trái đu đủ bằng đất sét, khi thành hình dùng nắp bút bi, ghè lại bóng loáng trông thật giống, thầy lấy chưng trong tủ thủ công của lớp..
Một món ngon của miền Nam, nói tới đu đủ mà quên nói tới món mắm trộn là điều thiếu sót. Người miền Nam vốn thích mắm, người miền Nam, nhà nào hầu như cũng đều biết làm mắm tôm, còn gọi là mắm nhúc, con tôm đất( phải là tôm ruộng) thời mà Gò Công trồng lúa một vụ, ruộng được bón phân chuồng, thời chưa xài phân hóa học, cũng như các thứ thuốc diệt sâu rầy, khi lúa trổ đồng đồng, trong ruộng nước cao chừng vài tấc, nhưng không thiếu cá tôm, người dân nghèo quanh năm sống bên ruộng, bắt cá tôm nầy ăn, dư dả làm mắm. Con tôm đất cắt đầu bỏ phần cứt, chừa gạch lại, cắt chưn cũng được mà để chưn cũng chả sao, con tôm được rửa sach, để ráo nước, ướp chút rượu, nước mắm pha nước lả, nấu với đường, để nguội, con tôm xếp khéo vào keo, lẫn với tỏi và ớt trái, xếp xong dùng tay ém cho chặc chịa, trên mặt xếp một lớp lá chùm ruột, rồi dùng 2 que tre gài lại cho chặc, đổ hỗn họp nước mắm nấu vào ngập mặt tôm, đậy nắp cẩn thận, để chai keo vào chỗ thoáng, không cần phơi nắng, con tôm trở màu đỏ là đúng sách vở.Con mắm ngon là con tôm phải còn nguyên dáng, thịt tôm đầy trong võ tôm, con tôm bị đổ đầu và thịt tôm bủng là trật sách vở.Trước khi ăn, đu đủ mỏ vịt bào sợi, đem phơi nắng cho heo héo, keo tôm được đổ ra tượng tai bèo, tỏi đâm nhuyển với ớt, rồi tỏi xắt mỏng với ớt chín đỏ, loại ớt nhỏ trái( ớt chỉ thiên) trộn chung với đu đủ với mắm, cho trở vào keo, ngày sau đu đủ thắm mắm, thịt ba chỉ luộc nước sôi lửa liu riu, xắt từng miêng vừa ăn, bún, rau thơm phải có tía tô, húng quế, húng cây, ..khế chua, chuối chát xắt mỏng, bún trắng tươi đựng trong dỉa bàn lớn.. món nầy, mấy chú đực dùng, mà không có thêm xị rượu là thiếu sót vô cùng, và rất dễ bị đau bụng…
Những ngày còn trong lính, tháng bảy tháng tám về phép, buổi chiều trời thường hay mưa, có đám tạnh sớm, tới giờ cơm, ngoài sân ểnh ương kêu quềnh oang hòa với chèn hen, vạt sành…thành khúc bi ai nghe buồn não nuột, mẹ dọn cơm trên bộ ván trong nhà bếp, cha mẹ, anh chị quay quần bên mâm cơm chiều, thức ăn là những thứ đặc sản quê nhà, dĩa ếch xào đọt chùm ruột, tô canh bù ngót nấu tôm bạc, một dĩa rau thơm, khế chuối chát sắp bên vành dĩa, một dĩa mắm tôm chua trộn đu đủ, sau cơn mưa trời rất mát, cơm gạo Sóc Nâu nóng bốc khói, , rau sống khế chuối chát, gắp cho vào chén, gắp một đủa mắm, và vô miệng, ôi! Thơm rau chua khế, cay ớt.. đu đủ bào thắm mắm, thịt con tôm dai dai mằn mặn… cơm xúc liền tay…
Đu đủ bào ngoài trộn mắm tôm chua còn được dùng để trộn mắm thái ( người Nam sao lại dùng chữ thái) mắm thái là mắm cá lóc Châu Đốc, lóc bỏ xương da, thái ra thành từng sợi mắm, thứ mắm trộn nầy cũng ăn với rau, bún giống như mắm tôm chua, mắm thái tại Houston, trong chợ Hồng Kong, lúc nào cũng có sẵn một chậu lớn, bên cạnh nhiều chậu mắm khác như mắm cá linh, mắm cá sặc, ba khía, dưa mắm… trông qua chẳng khác nào hàng mắm ở chợ Bà Chiểu bên Gia Định; ngoài ra, còn có mắm thái vô chai, mà chợ Việt Nam nào cũng có bán, ngoài cũng dán nhản của bà giáo nầy bà giáo nọ… ngoài ra người ta còn dùng đu đủ sống làm dưa mắm, đu đủ gọt vỏ, cắt ra thành tám hay sáu tùy trái lớn nhỏ, rửa sạch mủ, ngâm với nước muối, vớt ra thau khô ráo, dùng nước mắm cốt( con cá ướp muối làm mắm, đến khi thịt con cá chín thành mắm, người ta dùng đường thốt nốt thắng chảy ra với nước lả, để nguội, đổ vào khạp mắm, tiếng trong nghề gọi là chao mắm.Lúc đầu chưa chao đường, còn rặc muối rất mặn, khi được chao đường, nước mắm sẽ dịu đi Nước nầy múc ra rưới ngập lên thau đu đủ, để vài tuần cho mắm thắm là ăn được, dùng dao bén, cắt mỏng miếng dưa mắm, xong dùng tay vắt cho ráo nước mắm, thịt ba chỉ ram vàng, dùng dao bén cắt mỏng.. Thịt và đu đủ mắm trộn đều với tỏi ớt đâm nhuyển, cho thêm chút đường…nặn chanh vào, nêm nếm vừa ăn, món nầy ăn cũng bắt cơm lắm.. Người nghèo đâu có làm vẽ duyên như vậy. Nhiều khi mua dưa mắm về để nguyên như vậy, mặn lè, gắp cho vô chén, cắn dòn khắm khíu, ăn với cơm, lao động chân tay cực khổ, tuổi sức còn trai tráng, ăn cũng năm sáu chén cơm đầy! cho nên cũng cùng một tên gọi, mà dĩa dưa mắm nhà nghèo, khác xa dĩa dưa mắm nhà trung lưu.
Ngày miền Nam hoàn toàn phỏng dế…Giặc Bắc vào cai trị dân Nam, tôi phục vụ trong đơn vị, bị chúng ghép vào thành phần ác ôn, dù chưa từng chạm súng với chúng lần nào.. ngành Chiến Tranh Chính Trị mà chúng gọi là bọn Tâm Lý Chiến… Trong những lần lên lớp, chúng thường nhắc tới bức tranh của một họa sĩ, tôi không nhớ rõ lắm hình như là của họa sĩ TạTỵ, một sĩ quan cấp tá, có nhiều tài trong việc cầm bút, phục vụ ở Cục Tâm Lý Chiến, vẽ hình năm bảy tên Việt cộng ốm nhom, đang đeo cọng lá cây đu đủ… Bức tranh nầy có lẽ gợi ý từ những tên VC, bị bắt được trong hầm trong hốc, tên nào tên nấy ốm trơ xương.Chúng rất ghét bức tranh nầy, nên tác giả, hình như cũng trần thân với những tên cai tù khắc nghiệt nầy
Tôi may mắn, là được tái định cư tại một quốc gia văn minh và hùng mạnh nhất thế giới, sống trong một thành phố lớn thứ tư của Hoa kỳ, thành phố có số dân Việt lưu vong đông đứng thứ nhì trên thế giới, nên tại đây có rất nhiều chợ Việt Nam. Điển hình món mắm thái trộn đu đủ, muốn ăn cứ vào chợ Hồng Kông, mắm được chứa trong những ảng lớn, có kẹp gắp, có hủ nylon để sẵn bên, muốn mua bao nhiêu thì gắp bấy nhiêu, ra cân tính tiền dễ dàng,cón mắm tôm chua, chợ Việt nào cũng có bán, keo lớn, keo nhỏ, con tôm đỏ au, mua đu đủ bào sẵn về trộn là có ăn liền, còn gỏi đu đủ, rất nhiều nhà hàng VN có bán, trái đu đủ, từ xanh tới chín bày bán ê hề.
Tôi nhắc tới trái đu đủ là vì tôi nhớ Gò Công, tôi nhớ tới mẹ tôi, một mái nhà tuy nghèo, mà đầm ấm năm xưa, chẳng may, chinh chiến tràn lan, giặc Bắc phương manh tâm cuỡng chiếm miền Nam, gây cho gia đình ly tán, cờ quỷ còn đỏ trời, tôi không mặt mũi nào quay về lại trên đường xưa lối cũ, khi phải nhục nhã đi dưới lá cờ sao máu.. Nỗi ray rứt nhớ nhà, nhớ quê, nhớ mẹ…đành mượn trái đu đủ nhắc cho đở thèm, đở nhớ… Mẹ ơi nhiều đêm trong giấc ngủ, con mơ thấy mẹ, Mẹ vẫn dịu hiền như ngày nào, sao mẹ đến với con mà mẹ không nói lời nào, sao mẹ không trộn gỏi đu đủ cho con ăn, sao mẹ không hôn con như những ngày con còn thơ ấu…và lần nào cũng vậy, vừa mở miệng gọi mẹ là tỉnh giấc…Tôi lưu lạc đâu đây? Sao quê tôi còn đó mà tôi không về được??

thủy lan vy
(Viết xong tại kỳ đà động, một ngày đầu tháng 12 có tuyết rơi tại Houston )
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
HồngLan (13-01-2015), nhonhatrang (06-07-2015)
Old 08-12-2014, 11:43 AM   #11
mongmothu's Avatar
mongmothu
Senior Member

 
Join Date: Sep 2009
Đã Cảm ơn: 1,187
Được cảm ơn: 34 lần/23 bài
Status:mongmothu is offline
 
mongmothu is on a distinguished road

Default cám ơn Thuy Lan Vy

Tôi cũng quê Gò Công (Câu Nổi). Cám ơn anh có nhưng bai viêt rât hay
Reply With Quote
Old 08-12-2014, 10:09 PM   #12
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

Mongmothu ở Cầu nổi , có học trường Trung Học Gò Công ? Có biết Anh Trần Nghĩa Đời quê Cầu Nổivà đang là hội trưởng hội Gò Công ở Cali...
Liên lạc về thuylanvy@yahoo.com nói chuyện tiện hơn
Reply With Quote
Old 20-12-2014, 09:33 PM   #13
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

MƯA ĐỒNG THÁP MƯỜI
*




Mỗi ngày cứ đến 5 giờ sáng là kẻng báo thức đã vang lên. Ngoài sân trời còn tối mịt.Tất cả tù choàng thức dậy sau một giấc ngủ như mê, đầy mệt mỏi,bởi lao động quá nặng nề trong việc cuốc đất đào kinh mà thời gian nghỉ quá ngắn.Có những ngày nắng gay gắt, gặp phải thế đất gò, cứng như sắt, toán đào kinh về tới trại thì trăng đã lên. Nhảy ùm xuống kinh tắm vội vàng, vô tới chỗ nằm là căng mùng ra ngủ,chẳng kịp nói với người nằm cạnh bên một câu nào. Gặp hôm mưa dầm ra lãnh lô đất nước lên tới gối, be bờ tát nước xong có khi gần hết buổi sáng. Làm việc với hết sức con người mà mỗi ngày lãnh 2 ca cơm trắng với 1 phần canh lưng chén (thường là rau ,bí luộc với muối và chút mỡ heo) Ðào kinh 2 thước tới, 2 thước ngang, sâu 1 thước rưởi , đáy 1 thước, triên bờ bảy ba. Hai con kinh song song, phần giữa sẽ đắp thành con lộ, bờ đê hai bên bờ kinh sẽ trồng chuối và trồng khóm .Chương trình còn là xả phèn đất Đồng Tháp bẳng cách đào những con kinh nhỏ xẻ dọc ngang cho nước chảy ra con kinh lớn mà lao động chính là lực lượng tù của trại cải tạo Mỹ Phước Tây. Không biết người ngồi trên đã nghiên cứu kỹ chưa chứ theo cách đào kinh nầy thì sức khoẻ của tù ngày sẽ kiệt dần vì chế độ ăn uống quá kém mà việc làm lại quá nặng nhọc, mà mỏ phèn của Đồng Tháp Mười thì quá lớn ..!Hơn 5 giờ sáng đã xuất trại, lội ruộng băng đồng trung bình mỗi ngày hơn 6 km mới tới nơi . Ði và về đã muốn hết hơi chứ đừng nói chi đến việc đào kinh.Tuần lễ đầu tiên mới chuyển từ trại cải tạo Hoà Đồng lên đây, tôi cảm thấy toàn thể xương trong người như rệu rã, bắp thịt bắp tay mỏi nhức như dần. Không có ngày nào tôi đào xong phần đất, thường đều phải nhờ anh em trong toán phụ tiếp, một điều làm cho tôi hết sức ái ngại,bởi bạn bè đã mệt mỏi sau phần đất của mình nay phải bỏ công đào giúp. Cả toán phải xong ,sau khi tên "chịu trách" kỉểm tra thấy đạt thì toán mới được tập trung chờ điểm danh ra về, nên dù không muốn anh em cũng phải phụ nhau để được về sớm. Nhiều khi vì mệt mỏi quá, không ai phụ ai nên trăng đã lên mà tôi vẫn còn nguyên cả lớp đất cao khoảng hơn 4 tấc. Anh em tù thường gọi đùa là còn đứng trên bục thuyết trình vì mọi người tù xuống đến lớp đất đáy mà mình còn đứng trên cao . Quần xà lỏn, áo rách vá chầm, mặt mày đầy bùn đất, khi nào xong ra vũng khoát nước rửa mặt Rửa xong lên tôi mới thấy nhẹ người, một ngày lao động với tôi mới thực sự là hết.
Ngoài cái khổ về lao động vất vả, còn một nỗi khổ khác mà hầu hết đám sĩ quan trẻ tụi tôi phải cắn răng chịu đựng là việc ăn ở chung chạ với đủ thành phần trong xã hội , từ hạ sĩ quan, binh sĩ đến trộm cắp, chiêu hồi. Nằm cạnh người biết điều còn đỡ, rủi ro nằm bên tên lưu manh thì thật là khổ tâm. Vui thì nó cười nói, buồn thì chửi xiên chửi xéo: "Đồ cái thứ quen thói ngồi mát ăn bát vàng, đồ cái thứ chỉ tay năm ngón, bây giờ cho ...chết mẹ tụi bây luôn ". Chưa kể đồ đạc hở ra bị mất cắp, nếu nóng trả lời lại đêm ngủ nó giả đò mê mớ quơ chân đá vô sườn vô lưng. Trại nầy trước khi tụi tôi đến chỉ có vài sĩ quan còn lại đa số là tù hình sự.
Trại cải tạo Mỹ PhướcTây nằm trên trục lộ Cai Lậy- Kiến Tường, trước đây là căn cứ pháo binh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Phía sau trại là phố chợ của khu trù mật Mỹ Phước Tây. Trước và bên hông trại là hai dòng kinh Dương văn Dương.
Mấy tháng đầu, tôi ở trong nhóm do chú Tư Hiếu làm nhóm trưởng. Chú là người có cấp bậc cao nhất của nhóm nầy, thượng sĩ ,thuộc chi khu Cái Bè, tính đằm thắm rất dễ chịu, hiểu đời. Tụi tôi khoảng 10 ngưởi đều là sĩ quan từ trại cải tạo Hoà Đồng lên nhập vào nhóm nầy. Một gian nhà cột tràm lợp đưng , vách chầm lá, khoảng 50 mét vuông. Ðã có sẵn trên 40 tù với 6 em Phục quốc đang bị còng chân chung một thanh sắt. Phòng quá chật , nền đất. Tôi phải nằm chung mùng với Thiếu úy Tài, trung đội trưởng thám báo tiểu khu Gò Công, cạnh Tư què nhỏ hơn tôi khoảng 5 tuổi can tội trộm .
Những buổi lao động về trễ, nhìn thấy ánh trăng lấp ló trên trời tôi mới thấy thấm thía câu "Một nắng hai sương" mà trước đây tôi chỉ hiểu lờ mờ. Bây giờ chạm thực tế mới hiểu rõ: sáng đi sương còn mờ mịt, tối về sương rơi ướt tóc ...Nhóm sĩ quan Gò Công chuyển lên trại nầy khoảng trên một trăm.Cùng chung cảnh khổ nên dễ kết thân với nhau, nhưng hầu hết anh em đều không quen với việc lao động, nên sức khoẻ đều sút kém trông thấy rõ. Trại chia ra làm 3 hệ, mỗi hệ chia thành từng nhóm ở chung nhau, hệ quân đội, hệ cảnh sát và hệ hành chánh. Một dãy ngang, hai dãy dọc, chính giữa là nhà bếp và trại tù nữ. Sát bộ chỉ huy là dãy nhà nhỏ dành cho những người bệnh dễ lây như lao, cùi... Chức sắc trong nhóm có 3 cấp : nhóm trưởng, nhóm phó, thư ký nhóm do anh em bầu lên . Cũng có khi do trại chỉ định ( thực ra do Bảy Quế chỉ định). Khi ra lao động thì do một số quân đội và cán bộ Việt Cộng bị nhốt về các tội tham ô , hủ hóa hay chiêu hồi dẫn đi , có võ trang súng ống đầy đủ đi kèm. Thường là súng trường CKC, thỉnh thoảng mới thấy có súng AK. Những tên tù chức sắc nầy được gọi là chịu trách. Thường những tên chịu trách nấy rất sắt máu và hắc ám hơn cán bộ trại bởi họ muốn lập công chuộc tội để được tha về sớm . Trưởng bên tù Nam là Bảy Quế, một tên Việt Cộng bị ghép tội phản gián. Tên nầy ốm cao, người miền nam, chịu trách điểm danh xuất trại cũng như điểm danh vào buồng buổi tối, có quyền đề nghị biệt giam và cũng thường ngồi chủ trì các buổi họp kiểm điểm ở đội .Bên nữ là Bà Hai Cốt cũng can tội gián điệp ( Sau ngày sập tiệm, báo Sài Gòn ...lóng cóng có đăng một tiểu thuyết gián điệp mà Bảy Quế và bà Hai Cốt là 2 nhân vật chánh.)
Tù Việt Cộng ít khi được ở yên. Ở trong nhóm nầy vừa tạm ổn, tương đối vừa mới hiểu rõ tính tình nhau là chuyển đổi qua nhóm khác. Bởi vậy trong tù có câu ..." Thứ nhất tự khai, thứ hai đổi nhóm ...”. Tôi chuyển qua nhóm 20, nhóm trưởng tên Đẹp là trung sĩ cảnh sát , nhóm phó là Khanh thượng sĩ quân cảnh tư pháp . Hai tên nầy sống có vẻ cách biệt với anh em trong đội, thường thích tỏ ra vẻ mình là cấp chỉ huy , và có vẻ không ưa gì đám sĩ quan từ Gò Công lên. Tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi cũng phải cố gắng thích ứng để sống. Trong nhóm nầy cũng có vài sĩ quan Gò Công nhưng chỉ có một người bạn là Võ Văn Trầm, khóa 2 CTCT Đà Lạt, thuộc Sư Đoàn 9 là tương đối thân thiết với tôi. Ra lao động chúng tôi vẫn thường đào đất 2 lô tiếp giáp nhau. Trầm có sức hơn tôi nhưng để hoàn thành phần kinh cũng phải hết sức vất vả .
Buổi sáng các đội tập trung ngoài sân trại. Trong lúc chờ đợi điểm danh xuất trại, một số anh em tìm những tảng đá xanh mài lưỡi len cho bén Âm thanh rền vang trong cảnh trời còn tối đen. Bang, Đại úy phân chi khu trưởng xã Long Thuận thường chỉ cảnh mài len cười nói :
- Coi kiếm sĩ mài gươm dưới ...mây kìa.
Hôm nay đào kinh tận giáp hạt nên Bảy Quế cho xuất trại sớm.Trên 600 tù tay cầm len tay xách bị đựng cơm nước đi thành một dọc dài trên con lộ cặp bờ kinh trên đường liên lộ đến Kiến Tường. Ngang qua trại tù Vườn Đào ( tù nhân trại nầy toàn là sĩ quan, có một nữ sĩ quan là Trung Úy Nguyệt )tôi nhìn thấy anh em trong trại này còn trên sân chưa ra lao động. Gió buổi sáng mang chút sương đêm còn sót lại, cảm giác lành lạnh nhưng rất dễ chịu. Thỉnh thoảng có vài bạn tù băng vội xuống ruộng bên đường hái rau diệu, rau má hoặc rau dền, hay tấp vào quán bên đường mua nải chuối, gói xôi ... Có tốp đi trong im lặng cũng có tốp cười nói râm ran
- Ê Mỏng, hôm nay chắc trời sẽ mưa lớn.
Thằng Trầm đi bên cạnh nói với tôi
-Tao khoái trời mưa, mưa cho thiệt lớn, đỡ phải đào đất. Thật vậy, mưa có lạnh lẽo và ướt át thật nhưng nước ngập tràn thấy đường đâu mà đào với đắp.Tìm bờ đất cao ngồi rút mình dưới cái nón lá mỏng manh trông như một cây núm dại.
Thấy bầu trời còn nhiều mây đen, liệu mưa khó dứt hột là Bảy Quế cho thu quân.Phần lớn cho thu quân khi trời mưa là do đám vệ binh sợ tù trốn trại.
Trời dần sáng tỏ. Khi tới gần giáp hạt,thỉnh thoảng trên đường liên tỉnh có chuyến xe đò Sài Gòn Kiến Tường chạy ngang qua ...Rất nhiều khi tôi kịp nhìn thấy ánh mắt thật buồn của một cô gái nào đó ngồi bên cửa xe. Tôi nhớ tới những ngày công tác tại quận Phú Lộc, chiều buồn ngồi một mình trong quán bên đường nhìn xe cộ tấp nập qua lại với tốc lực thật vội vã từ Sài Gòn về Bạc Liêu hay Cà Mau,bên chai bia, gói thuốc lá mà nhớ tới Sài Gòn. Nhớ đến con đường Cường Để mỗi khi mùa hè đến, cổng trường rực rỡ xác hồng hoa phượng. Cô bé mắt nâu vén gọn vạt áo dài ngồi gọn vào yên sau chiếc xe Honda dame màu xanh, vòng tay ôm thật sát.Quận Phú Lộc này tôi đến công tác có một tuần lễ, nhưng những người lính và dân ở đây còn để lại trong lòng tôi nhiều cảm tình đẹp. Nhất là Thiếu Tá Phát, vị quận trưiởng đẹp trai,mà tôi cũng vừa hay tin đã tự sát trong ngày tháng tư đen ...Bây giờ nhìn chiếc xe đò chạy ngang ,tôi có một ước muốn thật tầm thường là được ngồi trên chiếc xe đò để về Sài Gòn,một việc còn khó hơn là bắc cầu qua biển nối Gò Công với Vũng Tàu ...Bây giờ trước mặt là một cánh đồng đưng mênh mông cạnh những thửa đất hoang ngập đầy nước và cây điên điển. Trời tháng mười hoa điên điển nở vàng . màu vàng thật đậm... xa trông cũng đẹp mắt lắm.
-Ê Trầm, cố gắng đào lẹ, phụ tao hái bông điên điển chiều về nấu canh chua ăn.
- Để coi trúng lô đất nào, gặp chỗ nhiều nước quá,tao mầy làm trâu nằm vũng chứ làm sao mà xong sớm được .
Thằng Trầm nói xong ngước nhìn trời, nó chỉ đám mây đen đang từ hướng Nam kéo tới .
-Tao cá với mầy là hôm nay mưa lớn lắm , lo mà tìm chỗ trú mưa chứ đào đục gì mà đào .
Bảy Quế vừa căng dây cậm tiêu chia lô vừa nhìn trời rồi lầm bầm: - Hôm nay chắc trời mưa suốt ngày .
Tôi và Trầm đứng nhìn lô đất mới lãnh , nước lên tới đầu gối, đỉa trâu lội lều bều. Trầm ngó mặt lên trời cười ngất :
-Hôm nay cúm núm kêu rồi Mỏng ơi !( Cúm núm kêu lúc trời giáp tối ) Hút một điếu thuốc rồi tính sau.
Trầm móc bao nylon đựng thuốc rê ra vấn một điếu rồi thảy chuyền cho tôi .
-Đắp bờ tát cạn nước cũng trưa trật rồi, chỉ còn mong mưa tới sớm .Lao động là vinh quang mà Mỏng.
Tôi nói nhỏ vừa đủ cho Trầm nghe :
-Nhưng mà không lao động là ...vinh râu mà Trầm, Kệ, tới đâu tới, hút thuốc uống nước ...rồi ngồi cầu mưa.
Tôi trả lời với Trầm mà mắt nhìn quanh, bạn tù mọi người cũng đều lo lắng nhìn lô đất. Có nhiều người cùng nhau hợp tác, bắt đầu be bờ tát nước .
Trầm bắt đầu cầm len khui hộc, nó xắn ngầm từng tảng đất thật to. Tôi nhìn cục đất mà thấy ngán ngược. Ðặt len nằm trên bờ, tôi xắn quần, bắt đầu ôm đất đắp bờ. Dù đang lao động nặng nhưng vì buổi sáng hôm nay mây âm u,gió lại lành lạnh,gần nửa thân mình ngâm dưới nước nên tôi cảm thấy trong người ớn lạnh.Cho tới gần 10 giờ thì bờ bao cũng đã đắp xong. Trầm buông len,giơ chân lên khỏi mặt nước, cả chục con đỉa trâu bám đầy ống quyển mập căng đầy máu. Nó kéo từ con ra khỏi da, máu chảy đỏ nước.Trầm nhìn quanh,thấy chẳng có chỗ nào để giết đỉa, đành quăng ra xa mà coi bộ ấm ức lắm. Nó móc túi lấy chút thuốc rê quẹt lên vết đỉa cắn để cầm máu , miệng lầm bầm chửi thề. Tôi cũng chẳng khá hơn gì nó, chốc chốc thò tay xuống nước là kéo ra một chú đỉa... Dưới mắt tôi ở đây đìa đúng là...lềnh như bánh canh. Trầm phụ tôi tát nước và kiểm soát lại các nơi rò rỉ .
- Nghỉ chút Mỏng, kiếm cái gì ăn, tao thấy đói rồi .
Thằng Trầm khoát nước rửa tay, lên bờ móc thuốc vấn hút và đi lần đến chị gánh hàng. Nó mua 2 gói xôi tìm bờ cao ngồi rồi vẫy tay gọi tôi .
Tôi đi lần tới, Trầm vừa ăn vừa phân công :
-Tao xắn đất ngầm, mầy dùng thùng đạn tát nước cho nhanh, khi nào cạn nước thì phụ đào với tao.
Trong không khí lành lạnh, trên 600 tù trải dài một khoảng tầm xa nhìn mút mắt. Nhiều lô đã tát nước xong, đất được len vụt lên bờ đều đặn, mỗi cục đất với hình dáng và trọng lượng gần giống như nhau,liên tục bay bay lên bờ .
Những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rơi .Thằng Trầm cười cười nhìn tôi:
- Ê, khoẻ rồi Mỏng à ...Coi trước chỗ nào có lùm cây cao để đụt mưa, tao nhìn đám mây nầy thấy mưa tới chiều chưa dứt. Mầy nhớ bọc thuốc hút lại cho kỹ, lạnh mà không có thuốc hút là buồn lắm đó .
Tôi nhìn quanh, cả cánh đồng đưng chẳng có cây nào có tàn cao đủ để núp mưa. Nhìn xa , ngoài đường lộ thỉnh thoảng có xe đò chạy qua, cũng có những bàn tay như vẫy chào. Nhìn lên bầu trời thì mây đen vần vũ, hạt mưa đã bắt đầu nặng hạt. Rất nhiều anh em tù bỏ lô đất lên bờ đứng hút thuốc. Gió bắt đầu thổi mạnh và cơn mưa cũng trút giọt ào ào .
Mình mẩy ướt nhem, tôi và Trầm xách bị cơm chạy núp mình vào một đám đưng gần kề che sụp nón lá nép mình tránh mưa. Mưa thật nặng hạt, chốc chốc hai đứa rút chân lên lấy tay gỡ bớt đỉa , đỉa trâu no máu con nào con nấy mập ú .
Thằng Trầm càu nhàu :
-Lao động là vinh quang, tụi mầy không làm mà cứ theo hút máu tao hoài , chết nè con .
Thằng Trầm dùng thân cây đưng lộn ngược con đỉa ra , máu đỏ ướt cả tay nó .
Trời đã trưa mà mưa không dứt hột. Bụng đói mà không biết làm sao ăn. Gió lộng tư bề, tôi cảm thấy lạnh, cái lạnh không bình thường như mọi khi gặp trời mưa. Trong người tôi hình như có tới hai luồng lạnh, một từ trong xương lạnh ra, một từ ngoài lạnh vào .
-Ê Trầm, hình như tao bị cảm, tao thấy lạnh quá,không làm sao chịu nổi.
Tôi vừa răng đánh bù cạp vừa nói với Trầm. Nó nhìn tôi bằng cặp mắt ái ngại :
-Giữa đồng không mông quạnh như vậy thì làm sao có chỗ khô ráo mà tránh mưa tránh gió. Mầy thử lựa chỗ nào nước cao ra đó trầm mình xuống nước , ló đầu lên che nón lá kỹ lại coi có đỡ lạnh hơn không. Dân quê mình ra đồng làm ruộng gặp mưa to gió lớn vẫn chống lạnh bằng cách nầy .
Tôi đảo mắt nhìn qua một lượt, mấy cây điên điển nở hoa vàng đang lả mình theo từng cơn gió giật. Có nhiều khóm chỉ còn ló thật ngắn chút đọt. Trong lòng thấy ngao ngán ,tôi lách đám đưng lội chậm chậm về hướng bụi điên điển. Tôi từ từ ngồi xuống nước ,chỉ để ló từ cổ trở lên. Quả nhiên thấy ấm hẳn lại. Thằng Trầm nhìn vẻ mặt dễ chịu của tôi ,nó cười lặc khặc:
-Ấm chưa Mỏng ?Chừng nào lạnh hết chịu nổi tao cũng xuống với mầy ...
Tầm mắt tôi chỉ cách mặt nước khoảng gang tay, hạt mưa xéo mạnh vào mặt nước,rải đều chập chũm. Tiếng mưa rơi, tiếng gió từng cơn, tiếng đưng quằn ngã theo gió vang vang bên tai tôi. Lòng tôi thật buồn, tội cho cái thân tù ... Chốc chốc lại phải lấy tay rà khắp người để kiểm soát đỉa, bởi vẫn thường bị mấy con đỉa lẻn vào ..".bộ chỉ huy" để hút máu .Mấy con đỉa này tù bắt được thường đề quyết là đỉa ...cái
Tôi co ro ngồi dưới nước, tuy có ấm hơn ngồi trên bờ nhưng vẫn cảm thấy lạnh lắm. Gió xoáy thổi vào mặt bật tung nón lá ... Mắt tôi mờ lại trước những giọt mưa . Những chùm hoa vàng điên điển, trước tôi còn thấy rõ, dần dần mập mờ nghiêng ngả theo từng cơn sóng nước ...Mẹ của tôi bây giờ đang ăn cơm trưa ? Mâm cơm không biết còn được mấy món hay là chỉ trơ một dĩa rau luộc, không biết có thêm được trứng vịt luộc dầm nước mắm không ? Với đồng lương dạy học của chị, vừa nuôi ba nuôi mẹ lại cưu mang thêm đứa em tội tù ...Mỗi lần gặp Mẹ bên hàng rào kẽm gai , bên bờ ruộng chỗ cho thăm nuôi phía sau trại , lần nào tôi cũng phải hết sức cố gắng cho nước mắt khỏi tuôn trào. Bao lần tôi nói mẹ tìm người gửi chứ đi thăm đường xá xa xôi quá, sức khoẻ Mẹ bị suy giảm làm sao con an tâm sống được...Mẹ ừ mẹ hử. Tay mẹ lần xoa bóp tay con, mẹ vuốt tóc, mắt mẹ đỏ hoe... Rồi vắng một tuần lại cũng thấy mẹ lên thăm ... Mẹ đâu biết rằng khi con từ giã mẹ trở vào nhóm là phải vội vàng lên trình diện ban chịu trách để đi lao động ngay. Ðó là quy luật dành riêng cho người có thăm nuôi trong ngày chúa nhật. Tùy theo mùa nên công việc có khác nhau , khi thì một thúng lúa giống lội trên 6 cây số đường ruộng, khi thì 5 cây chuối cây giống cao khoảng hơn thước . Khi thì một bó đầu khóm giống. Thúng lúa giống một giạ tuy có nặng nề, vậy mà dễ di chuyển vì khi thấy mệt ,tù cứ để xuống nghỉ . Thời gian di chuyển không bắt buộc nhưng tù nào cũng muốn xong về sớm đề sắp xếp đồ thăm nuôi . 5 cây chuối mới là nan giải , thường tù dùng dây kết lại làm bè ,dòng theo bờ kinh mà kéo. Tới khúc lộ ôm từng cây băng qua,ra tới nơi đào lỗ trồng 5 cây xong mới được về. Tên chịu trách còn đến xem từng cây coi có bị bầm dập gì không . Ðầu khóm giống càng khổ hơn , nó không nặng nhưng gai góc , nếu vác vai thì gai đâm cổ .Cách nào thì cũng bị gai quào xước cả người.
Mới mười tám tháng xa nhà mà lòng tôi đã thấy nhớ lắm.Lúc ở đơn vị, dù là đơn vị tổng trừ bị luôn phải rày đây mai đó, nhưng mỗi khi thấy nhớ nhà thì dù cho cấm trại 200% đi nữa, tôi muốn về là tôi về . Không có đơn vị trưởng hay quân cảnh nào cản ngăn tôi được ...Bây giờ mẹ tôi ngồi đó, rất muốn ôm hôn mẹ mà không làm sao hôn được ... Nước mất ... là mất tất cả, tôi bây giờ là thằng hàng binh, nhục ơi là nhục, đánh đấm kiểu nào mà phải buông súng đầu hàng ...Không trăm lần không, ngàn lần không, cá nhân tôi không đầu hàng mà tôi ở trong tập thể đầu hàng ...Ngày còn ở trại cải tạo Huyện Tây, mỗi nửa tháng được cho thăm nuôi một lần, tù bên trong nhìn rõ thân nhân từ ngoài đường di chuyển về hướng cổng trại. Ðã có lần máu tôi chợt nóng lên, mắt tôi nhìn như tóe lửa, khi nhìn thấy cảnh mẹ tôi hai tay xách đầy hai giỏ nặng lầm lũi bước vào cổng trại bị một thằng võ trang dùng mũi súng gạt ngang làm mẹ hoảng hốt mất đà suýt té...Hai tay tôi nắm chặt lại... Mẹ ơi, con trai mẹ hèn quá, mẹ ơi hoàn cảnh nào đã biến con trai mẹ thành thằng hèn ...Mẹ ơi ! chắc Mẹ vẫn biết thằng con trai út của mẹ có một trí nhớ rất tốt, cả đờI nó sẽ không bao giờ quên hình ảnh mẹ mình lảo đảo trước sắt thép của kẻ thù ...
Mưa vẫn trải đều hột, chưa có dấu hiệu gì sắp ngớt . Bầu trời vẫn một màu đen kịt, thỉnh thoảng chớp nháng sáng trời ... Sấm động gầm gừ rền vang ... Gió vẫn xoáy lốc từng cơn
-Mưa quá làm sao hút thuốc Mỏng, mầy đói bụng chưa ?
Tôi trở về với thực tại. Trầm đã ngâm mình xuống nước không biết lúc nào và đang ngồi phía sau tôi . Thấy tôi ngoái đầu nhìn lạI, nó nhe răng cười khục khặc, da mặt nó đã tái xanh dù nắng gió đồng Tháp Mười đã biến tù thành ... Ông táo Tàu từ lâu .Người tôi run lên từng đợt,tôi vuốt mặt mấy cái:
_ Lạnh quá Trầm ơi, tao chịu hết muốn nổi rồi, chút về mấy cạo gió giùm tao nha Trầm ...Đói bụng quá mà mưa như vầy làm sao mà ăn. Tao cũng thèm thuốc lắm rồi ...Mưa điệu nầy tới chiều chưa dứt ...mà tại sao lần nầy tụi chịu trách cho thu quân trễ quá vậy?
Mắt tôi lại thấy nặng, đã lạnh, đói lại còn buồn ngủ nữa ...Tôi bỗng như thấy lại hình ảnh một buổi trưa tại trại Huyện Tây... Buổi sáng mẹ đã vào thăm, buổi chiều tôi yên chí nằm trong phòng, và để rồi rất ngạc nhiên khi được gọi tên ra thăm nuôi ...Tôi mặc vội bộ bà ba đen Xây Dựng Nông Thôn đi vội ra cổng trai ... Mắt tôi mở to đầy ngạc nhiên lẫn thích thú .." Mắt Nâu" ! Trời ơi Mắt Nâu của tôi lặn lội từ sài Gòn xuống thăm tôi.. đi chung với mắt nâu còn có Khưu thị Tuyết Mai cũng bạn chung lớp năm Nhiệm ý ban Việt. ... Theo phản ứng tự nhiên tôi chồm tới định nắm tay ... nhưng tôi kịp "thắng" lại , vì tôi đã tự biết tôi là ai. Tôi đâu còn là sĩ quan ở trại Nguyễn Bỉnh Khiêm gần đài phát thanh Sài Gòn nữa mà mừng mà vui khi thấy Mắt Nâu vào trại thăm tôi, như những ngày còn trong đơn vị ... Mà ở đây là trại cải tạo, một lối nói văn vẻ thay cho trại tù hay khám đường ....
-Ê, Bảy Quế đang nói gì với mấy nhóm trưởng kìa Mỏng , không chừng thu quân đó mầy ...
Tôi đang mơ màng nhớ lại những hình ảnh đã qua thì giọng thằng Trầm đưa tôi về thực tại ...Hai hàm răng tôi đánh vào nhau nghe cồm cộp, tiếng nói run run đứt khoảng
-Về là phải rồi ...mưa như vầy mà còn đào gì nữa.
Tôi đứng thẳng người lên, cơn gió xoáy ngang làm tôi lảo đảo suýt té. Ngồi lâu cẳng chân bị tê . Gió mưa đập vào người làm tôi run lên .
-Rán đi Mỏng, chắc về thiệt ..Mầy lấy tấm nylon của tao quấn đỡ, về tao cạo gió cho mấy . Thằng Trầm an ủi tôi .
Chú Tư Hiếu nhóm trưởng khoát tay ra hiệu tập họp, tôi run rẩy chạy lúp xúp theo Trầm về vị trí xếp hàng...Anh em bạn tù người nào cũng loi ngoi như chuột lột, mặt mày xanh xao, đứng co ro run rẩy. Bảy Quế điển danh xong toán nào là cho toán đó về...Anh em rẽ nước băng đồng ... Mưa vẫn không ngớt hột. Chúng tôi vừa đói vừa lạnh. Nước lên ngang rún , phải lội hơn cây số mới ra tới bờ lộ cái , anh em lúp xúp chạy cho đỡ lạnh
-Rán chạy lẹ Mỏng , tới quán mua mấy củ mì ăn đỡ đói với hút điếu thuốc cho ấm lòng ...Thằng Trầm giọng run run nói với tôi .
Rồi đám tù cũng về tới trước cổng trại , không có anh em nào xuống kinh tắm như thường lệ mà tự động xếp hàng chờ điểm số để nhập trại. Gió vẫn vụt vù thổi, chớp vẫn nháng sáng trời ... Bây giờ cũng đã hơn 2 giờ trưa ...Tôi thấy trong người khó chịu ... Vào phòng thay áo quần khô xong tôi vạch lưng cho Trầm cạo gió . Nó xin chút dầu lửa và dùng cái muỗng cạo lưng cho tôi ..
-Mầy bị trúng gió rồi Mỏng , mới cạo sơ mà đã thấy tím bầm ...
Tôi cũng không màng ăn cơm chiều, trùm mền nằm thiếp luôn cho tới kẻng điểm danh tối mới ráng ngồi dậy, thấy nặng đầu và mình mẩy nóng hực. Tôi đứng lên lảo đảo suýt ngã ..
- Anh Đẹp báo cáo dùm , tôi nóng quá , chóng mặt không ra điểm số được.Tôi gượng nói với Đẹp trưởng nhóm, xong nằm ngã ra thở dốc...
Tôi nằm mê man cả hai ngày, chỉ uống chút nước do người bạn tù nào đó cũng bệnh nghỉ ở nhà như tôi. Mấy viên thuốc ABC tôi mang theo, tôi cố gắng uống mỗi ngày 4 viên.Buổi tan tầm thằng Trầm đi lao động về nấu cho tôi soong cháo, nhưng tôi cũng chỉ ăn được vài muỗng vì miệng mồm đắng nghét . Thằng Trầm an ủi tôi :
_ Mầy phải rán uống thuốc và ăn nhiều cháo mới có sức mà hết bệnh được ..
Miệng đắng quá, tao thèm uống nước chanh quá Trầm ơi, tay chân tao như rã rời cử động hết muốn nổi...Tôi gượng cười :” Không biết tao qua khỏi con trăng nầy không”.
Tôi thiếp đi nhiều hơn tỉnh ...Nhiều đêm thức giấc tôi nhớ mẹ vô cùng. Từ nhỏ sống cạnh kề mẹ, tôi ít khi bệnh.Vào quân trường cũng thế,ai sao tôi vậy. Chín tháng quân trường ,ngay cả trong thời huấn nhục tôi chưa từng bị xỉu. Cũng từng dầm mưa dãi nắng khi ra đơn vị , cũng ngủ bờ ngủ bụi ... . Nhất là trên con đường máu 7B di tản từ Pleiku về đến Bình Tuy, biết bao nhiêu là gian hiểm tôi đều vượt qua được ...Không lẽ trong cảnh tù đày như vầy ... Tôi không dám nghĩ tiếp,nhưng có lẽ vì quá tủi thân, nước mắt tuôn trào ướt cả má ...Nhiều lúc tôi nghĩ quẩn , phải chi mình chết bờ chết bụi trên con lộ 7B cho rồi đở phải cực thân như bây giờ. Rổi tôi cũng lại nghĩ : sông có khúc ,ngườI có lúc,mình phải ráng sống , sống để có ngày nhìn thấy toàn dân đứng lên xé nát lá cờ sao. Tình trạng nầy kéo dài mươi ngày tôi mới dấn tỉnh ... Trầm đi lao động về cùng với thằng Quang phục quốc vẫn nấu và mang đến chỗ nằm cho tôi từng chén cháo.Tôi ăn được nửa chén , rồi một chén ... Những buổi lao động gặp đất mềm tụi nó đào xong sớm, rảnh tay bắt con cá con tôm, ngang đồng nhổ nắm rau đắng đất về nấu cháo cho tôi. Trong hoàn cảnh không có người thân mà được bạn tù chăm sóc, lòng tôi cảm kích lắm.Tôi cũng tự mình cố gắng đi ra đi vào, phơi nắng buổi sáng. Gần một tháng trời mới tương đối bình phục. Thằng Trầm hôm đó về sớm nấu cho tôi một soong nước, ra phía sau pha nước cho tôi tắm. Ðã lâu mới cởi áo quần, tôi thầy người tôi toàn là xương.
Tắm mát mẻ, hòm đất đóng lâu ngày phải kỳ cọ thật lâu.Buổi tối thằng Trầm pha gô nước trà có mấy miếng kẹo đậu phọng, mời một số bạn bè trong nhóm đến uống trà mừng tôi hết bệnh ... Tuy trong mình thấy nhẹ nhàng nhưng tôi cảm thấy còn yếu lắm bởi ăn cháo suốt gần cả tháng ...
Tôi chuyển qua nhiều trại tù, riêng trại Mỹ Phước Tây tôi ở gần 12 tháng .Một thời gian rất ngắn so với tuổi tù của tôi, nhưng tôi nhớ trại nầy nhiều nhất. Mỹ Phước Tây trong lòng tôi vẫn là ... địa ngục trần gian , bởi chế độ lao động quá nặng nề và cai tù đánh đập tù quá tàn nhẫn ..
Anh Thiếu Tá Huề kiệt sức chết ở đây , anh Đại úy Lành ( giáo phái Hoà hảo ) bị tụi cán bộ dàn cảnh bắn chết phía sau trại , anh Trung Sĩ Gương cảnh sát bị võ trang nhắm thử súng bắn chết trong lúc lao động đào kinh.Còn biết bao nhiêu anh em tù bị chết vì mìn bẫy trong lúc cuốc đất trồng hoa màu ... Bao nhiêu anh em vượt trai bị bắt lại bị đánh mềm như bột ,thất khiếu đều ra máu còn bị trói ké bỏ nằm dưới cột cờ , bắt anh em tù đều phải lên coi ...Ba người bạn cùng nhóm : Sàng , Bi và Nguyễn Thanh Quang ( trung úy Không Quân ) và Đại úy Triệu tỉnh đoàn trưởng Tỉnh đoàn xây dựng nông thôn Gò Công vượt thoát được.
Bây giờ nơi đất tạm dung, mỗi khi tan ca về gặp phải trời mưa, lòng tôi lại bùi ngùi nhớ tới những cơn mưa Đồng Tháp. Trầm qua Mỹ theo diện HO 15 bây giờ ở đâu, Đại úy Triệu vượt thoát tới bến bờ tự do hình như đã qua đời vì bệnh. Còn Quang, Sàng ,Bi bây giờ các bạn ở đâu ... Trái đất hy vọng vẫn tròn, có như vậy mình mới mong có cơ duyên gặp lại những người bạn đồng cảnh ngộ ngày xưa.
Nếu không có ngày tháng Tư đen, tôi sẽ không bao giờ hiểu được sự thâm ác của người Cộng Sản. Một ngày nào đó tôi sẽ về thăm lại quê hương , tôi sẽ tìm thăm lại con lộ 7B mà tôi đã bước chân đi qua. Một đoạn đường đầy máu và nước mắt,, người chết đi cũng chưa hiểu tại sao phải bỏ quân đoàn 2. Xác người chết bị đạn hất tung hai ba lần như trong một bản nhạc của người họ Trịnh đã viết. Tôi sẽ thăm lại Đồng Tháp Mười,thăm những con kênh xẻ ngang dọc như bàn cờ mà ở đó ngày ngày tôi đều bị đĩa hút máu và phải lao động khổ sai, tai phải luôn nghe những lời chửi mắng của bọn chịu trách, cai tù.
Tôi có thực hiện được điều mà lòng tôi mong muốn ? Tôi phải tin tưởng cờ vàng rồi sẽ bay trên suốt dải đất quê hương ...vào một ngày không xa lắm

Viết tại Kỳ Đà Động, Quí Xuân 2003

THỦY LAN VY


__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
HồngLan (13-01-2015), nhonhatrang (06-07-2015)
Old 06-01-2015, 10:17 PM   #14
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

ĐÊM TRONG TÙ
*





Thượng sỹ Từ, cán bộ trực trại, dùng thanh sắt dài cài qua khoen cửa, bóp ổ khóa đánh cắt, quay bước đi vội ra sân, tay cầm xâu chìa khóa có lẽ cũng nặng gần cả kí lô, bước đi hướng về buồng bên cạnh để điểm danh tiếp, công việc mà bọn Công An trực trại vẫn thường làm hàng sáng hàng chiều, người trưởng buồng cũng vẫn thường báo cáo một câu rất quen thuộc :
-Báo cáo cán bộ, buồng 3 tổng số 86, tại hàng 80, 5 bệnh nằm tại chỗ, 1 nằm bệnh xá....
Tên cán bộ rão bước nhanh, đếm nhanh, rồi rẽ vào buồng đếm số người bệnh...
Đó là sinh hoạt bình thường, trừ những khi có chỉ thị gì đặc biệt thì hắn đứng lại nói vài lời, thường thì cũng không ngoài những lời nhắc nhở thường xuyên, về nội quy kỷ luật của trại, như cấm nấu nướng trong buồng, giữ trật tự yên lặng, cấm ca hát nhạc vàng ....
Sau một ngày lao động mệt mỏi, anh em chung buồng mới được tự do sinh hoạt với nhau, cũng sòng xì phé ( đã có máu cờ bạc thì ở đâu cũng đánh bài được ) vài bàn cờ tướng, tụ năm tụ ba nghe kể chuyện bên lon gô trà nóng, một vài rạp chiếu phim, người kể chuyện được gọi là máy chiếu, người kể hay thì được gọi là máy của bộ (Bộ Nội Vụ, thỉnh thoảng trong trại có những buổi chiếu phim cho tù xem, đoàn chiếu phim đến từ bộ nội vụ, từ tỉnh, có khi từ huyện ) tùy khả năng kể mà xuống thấp dần đến cấp miền, tỉnh, xã ... Trong buồng 3, kể chuyện cở như Phạm Thái, Võ văn Ca, Nguyễn Phát Lộc ...là thuộc về máy bộ, vì tình tiết được người kể nhớ rất chi li, người nghe thường ủng hộ cho bàn trà người kể từ bánh kẹo, đường tán đến thuốc lào ...

Trời tháng mười, Hà Tây đã bắt đầu vào thu, tuy trời vẫn còn nắng gay gắt, nhưng bầu trời thì thấp hơn, có nhiều đám mây luân chuyển trên bầu trời hơn, không khí cũng bớt oi nồng hơn những tháng hè gay gắt của trời tháng sáu tháng bảy.
Trại tù Hà Tây có ba đội rau xanh, cung cấp rau màu cho bửa ăn của tù, kể cả trên khung ( cơ quan ). Một đội rau trẻ, nằm dãy bên phải sân, do Lê Phú Cường( khoá 1 Thẩm sát viên) làm đội trưởng, cấp bậc trung bình của anh em trong đội từ trung úy đến đại úy, hiện trường canh tác ở ngoài cổng trại, đây là đội rau chánh của trại, tù viên phải lao động vất vả hơn các đội rau khác. Đội rau sồn sồn do anh Hải ( Trưởng E vùng 2 ) làm đội trưởng, cấp bậc tù viên hổn tạp, đa số là nhân viên phủ đặc ủy trung ương tình báo, và một số sĩ quan cao cấp của ngành Cảnh Sát, như các trưởng D , E , F, một số sĩ quan cấp tá, và một vài sĩ quan cấp úy trẻ, mới bổ sung từ đội chăn nuôi vừa giải thể. Một đội rau...già của Phạm Thái ( Quốc vụ Khanh) làm đội trưởng, tù viên đa phần là đảng phái quốc gia, trưởng ty hành chánh lẫn với một vài sỹ quan cấp tá và úy. Đội rau sồn và đội rau già ở chung buồng bên dãy trái sân trại, tương đối sống hàng ngày có nề nếp hơn các đội tù trẻ...
Cứ mỗi năm vào những ngày cuối thu, trời bắt đầu có nhiều áng mây thấp, thỉnh thoảng có những cơn gió mát người là các đội rau của trại bắt đầu chuẩn bị vỡ đất, trồng rau màu mùa đông như su hào, cải bắp, tần ô, riêng đội ba còn có thêm mục dọn ao trồng rau cần nước ...
Rau ăn chính của trại, bao giờ cũng là rau muống, cứ vào thu là rau muống bắt đầu cỗi, đất phải cuốc trở lên để trồng cho kịp vụ, nên việc tìm rau ăn độn của tù, trở nên khó khăn, chỉ còn một vài loại rau hoang như dền, diệu, chóc ...tay nào lanh, dạn thì lén bứt rau muống giống, tuy cọng nhỏ mà ăn rất ngọt .Công việc trở đất trồng su hào, không phải là chuyện đơn giản, mà phải tốn rất nhiều công sức và mồ hôi, ngoài hiện trường, mỗi tù viên là chủ một lô đất, phải chịu trách nhiệm về cỏ rả, tưới tắm, phân bón..., thành phần già yếu thì làm những việc linh tinh khác, như tăng phái cho chủ vườn khi có nhu cầu, phụ nhổ cỏ tát nước, xới đất .... Đất mùa nắng, cứng như đá, được cuốc lên từng tảng to, lật ngược mặt, dùng vồ đập nhuyển ra trang bằng mặt, dùng cuốc chim hay dầm xới đào hốc có thể tích do cán bộ quản giáo ấn định, khoảng cách phải đều nhau, phần sau cùng, là gánh phân từ các ụ ủ phân xanh, gồm cỏ lá hoà trộn với phân người, kít người được các anh tù tự giác bên hình sự, gánh ra từ các buồng xí tù, đổ vào ao nhỏ giữa hiện trường, lúc mới ra đội rau, chưa quen mùi, tôi phải khạc nhổ đến khô cổ, rồi sau đó, đâu cũng vào đấy, ngày nào không được ngửi kít là ngày đó không ăn được ( vì bệnh mới được ở nhà, sau khi được tù y tế trại xác nhận )
Bởi công việc nhiêu khê, tôi thì ốm tong, lại cao như cây tre miểu, lưng lại dài quá tầm cở; nên rất ngán ngẩm trong việc lao động hàng ngày... lúc mới chuyển đến trại Hà Tây, tôi được biên chế vào đội gạch, quản giáo là Thượng Úy Đào Thường, vốn gốc người Bình Định, dù sao cũng gốc người miền Nam, nên ông cũng có vẻ cởi mở chút đỉnh, tôi ngồi xếp gạch vô lò, ông thường vuốt lưng nói giỡn với tôi :
- Lưng anh Mỏng dài hết biết, lười lắm đấy !
Mà quả thật
vậy, ông bà mình vẫn thường nói : Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, thì tôi chỉ thể hiện đúng lời cổ nhân thôi, chứ nào có lười gì đâu...( biết vậy nhưng mà trong lòng tôi vẫn nhớ đến 2 câu ...Dài lưng đã có võng đào- Tốn vải đã có cẩm bào vua ban ...)
Vốn tật lười, với lại sức yếu, nên khi vào phòng xong là tôi nằm dài ra, khoẻ thì nói chuyện rỉ rả với hai anh nằm bên cạnh, một anh khoá 10 võ bị, làm trưởng một phòng ở toà tổng trấn Sài Gòn, một anh khoá 16 Thủ Đức, nhân viên phủ đặc ủy trung ương tình báo, thuộc tình báo quốc ngoại, đang công tác tại Pháp, được chiếu chỉ triệu về ....để đi tù . Không nói chuyện thì tôi đọc sách, sách của thư viện trại cho mượn, nhiều anh chê sách CS không thèm đọc, riêng tôi thì quyển nào tôi cũng đọc, vừa giết thời giờ vừa để tìm hiểu CS, phải đọc sách CS viết thì mới biết CS nghĩ gì, và xem họ nói dóc tới cở nào ...
Đêm nay cuối tuần, trong phòng ồn ào hẳn lên, vì ngày chủ nhật được nghỉ phè cánh nhạn, tôi nằm yên một mình nhìn đỉnh mùng giăng sẳn vén lên; năm nầy đã là năm thứ sáu rồi, tôi mơ màng thả hồn về Gò Công, nơi mẹ và anh chị tôi đang sinh sống, tôi lơ mơ hình dung ra cảnh sống của gia đình tôi, Mẹ tôi thì lớn tuổi, chị thứ hai tôi lại yếu đuối, chỉ có một người chị kế tôi là còn đang dạy học, có nghĩa còn làm ra tiền .Ba tôi, tạng người mạnh khỏe, nhưng chỉ một cơn bệnh tầm thường mà vì không có thuốc men, nên phải ra đi từ năm 79. Gia đình tôi ở Gò Công, sẽ phải sống ra sao bằng đồng lương khiêm nhượng của một người đi dạy học, trong chế độ bao cấp của Cộng Sản, lại phải gửi quà thăm nuôi tôi nữa, tôi bí rị không hiểu nhà tôi sống ra sao trong mấy năm nay, nhín nhút nghèo khó tới cỡ nào...
Ngày xe lăn bánh từ giã Gò Công, tôi vẫn còn nhớ rất rõ, như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua, trước cổng trường trung học Bán Công Gò Công, năm chiếc xe đò liên tỉnh đậu xếp hàng dọc, trời Gò Công sáng ngày 26-6 có hơi lành lạnh, do ảnh hưởng trận mưa gần như suốt đêm hôm trước....Toàn thể cấp Trung Úy của Tỉnh Gò Công, chia nhau từng phòng học để nghỉ qua đêm, kể cả 3 nữ Trung Úy .
Chúng tôi được lệnh mang hành trang cá nhân lên xe, tôi lên chiếc xe thứ nhì, ngồi băng nhì sát bìa cửa trái, xe đậu cạnh nhà Thiếu Tá Ngọc, tôi còn nhớ, cảm giác của tôi lúc đó thật mơ hồ, người anh thứ ba, cấp Đại Úy đã lên đường ngày hôm trước, gia đình tôi rồi đây sẽ ra sao khi hai người con trai đều phải rời khỏi nhà, để bị đưa đến một nơi nào đó ...thật mịt mờ. Bạn bè trong xe chắc đều có những mối lo riêng; tôi chợt thấy mẹ tôi hớt hãi từ hướng cầu Tây Ban Nha đi vội vàng hướng tới đoàn xe, tay người xách một giỏ khá nặng, tôi vẫy tay ra hiệu khi mẹ đến gần, trông mẹ tội lắm, mẹ nói với tôi bằng một giọng thất thần :
- Xe chỡ đi đâu vậy con ?
Làm sao tôi biết được tôi sẽ đi về đâu, để trả lời cho mẹ tôi,bây giờ là xe chuyển tù, chứ đâu phải xe chỡ đi hành quân của ngày xưa, tôi an ủi gì được cho mẹ tôi trong cảnh nầy đây ...!
- Không biết nữa mẹ à, người ta sao mình vậy, mẹ đừng quá lo lắng, con sẽ cố gắng liên lạc cho mẹ biết tin con.
Mẹ vội vã trao cho tôi giỏ xách, trong lúc xe cũng từ từ chuyển bánh, đôi mắt của mẹ tôi ửng đỏ, hình ảnh đôi mắt nầy, đã ám ảnh tôi trong suốt những năm dài trong lao tù CS, tôi hiểu Mẹ tôi đau lòng lắm, đứa con trai út mà mẹ thương mẹ quý,nay bị bắt đưa đi trước mặt mẹ, con mẹ rồi đây sẽ bị đưa đi đâu, rồi sẽ phải ra sao, tại sao làm Mẹ, mà Mẹ lại không có quyền gì với con của mình vậy, đứa con mà Mẹ đã đẻ ra và nuôi nấng nên người, bây giờ bị người ta bắt chỡ đi, đoạn lìa tình mẫu tử ...
Xe chạy chầm chậm, tôi không dám ngoái nhìn lại Mẹ tôi ...xe ngang qua giáo đường, qua trường Trung Học Gò Công, qua dinh Tỉnh Trưởng, quẹo trái ngang Ty ANQĐ, Quân Cảnh Tư Pháp, quẹo phải ngang qua trường Kỷ Thuật, qua Ty Thông Tin, ngang qua mặt chợ, các cửa hàng rất quen thuộc từ ngày tôi còn tấm bé, đây là Cẩm Nguyên, Vưu Sưu Ký, Kim Lang, Vạn Lai An, Vạn Sanh, nhà thuốc tây Trương Thị Thỉ, Công Thành, Hiệp Lợi...bên hông cửa bên phải xe, có nhiều ổ bánh mì được những người bán thảy vào, món quà đơn sơ mà đầy thâm tình của người Gò Công, dành cho những người không bảo vệ được Gò Công ...
Thế rồi ngoài dự trù của tất cả mọi người, xe rẽ vào quận Hoà Đồng, dừng lại trước trại gia binh bên nầy cầu sắt, trước cổng trại có thượng bảng " Trại cải tạo sĩ quan nguỵ quân và nguỵ quyền tỉnh Gò Công "
Cái mừng tiên khởi là dù sao, trại cũng gần nhà, còn nằm trong phạm vi tỉnh ...Xuống xe xếp hàng đôi bước vào cổng trại, tôi thấy các đàn anh đứng đầy trong sân, đang chỉ chỏ chúng tôi cười nói, thì ra đó là các sĩ quan cấp Tá, cấp Đại Úy, đã trình diện trước tôi mấy ngày, dĩ nhiên cũng có mặt người anh thứ ba của tôi .
Khoảng 20 ngưòi chia nhau một căn trại gia binh cũ, mỗi người cũng được hơn 5 tấc ngang, sau khi trải chiều trên nền đất, tạm ổn định chỗ nằm, tôi xem qua giỏ xách của mẹ, một chai đựng đầy nước uống bằng nhựa, một ly nhựa màu xanh, ba nắm cơm vắt, mấy gói muối đậu, cá khô ...
Tôi thần người ra, sao lại là 3 vắt cơm, từ bé tôi chưa thấy nhà tôi nắm cơm bao giờ, tôi chỉ thường thấy 3 vắt cơm để trước quan tài người quá cố, thêm mấy quả trứng và tôm cua luộc ( tam sên ).Tôi bẻ cơm ăn thử, cơm tán nhuyển quyện dính nhau, mỗi trái cơm bằng quả cam to, cũng phải gần nửa kí lô, lạ miệng ăn thấy ngon lắm ...
-Ê, Mỏng, dậy lên uống trà nói dóc nghe chơi mậy.
Đang trong giòng hồi ức, tôi bị thằng Giai kéo giò dựng dậy .
-Mầy nằm hoài rũ người chết, lên uống trà nói dóc cho vui, nằm đó mà nhớ ghệ hoài ...
Thằng Giai, Thiếu Úy ANQĐ, học sau tôi mấy lớp, cùng với tôi từ đội chăn nuôi, bổ sung về đội rau mấy tháng nay, nó nằm từng trên ngay chỗ tôi nằm. Tôi uể oải ngồi dậy trèo lên thang gác, thì thấy có mặt của Bích Lâu ( ANQĐ, Hoà Tân) Cò Củ ( Ty CS Mỹ Tho )Thành Đỏ ( ANQĐ Long An )Kiệt Cá Ngáo ( Chuẩn úy tù binh Phước Long )...
Tất cả quây quần trên hai chiếu của Giai và Lâu, một bếp dầu 8 tiêm đang đun một lon gô nước, mấy lon nhôm thịt họp, dùng làm ly uống nước, có thuốc lào hiệu ba số 8, Tiên Lãng, có kẹo đậu phọng, đường tán ...
Lâu và Giai cùng quê và cùng trường Gò Công với tôi, tôi học khoá 5, Lâu khoá 6, Giai khoá 8, Cò Củ là trưởng cuộc quê ở Long An, Thành Đỏ cũng là tù trước 75 bị bắt ở Cai Lậy ...tất cả cùng sinh hoạt chung từ đội chăn nuôi( trong tù thường chia ra từng nhóm ăn cơm chung với nhau, dĩ nhiên vẫn có người ăn cá thể )
- Ê Mỏng, hôm nay mầy kể chuyện Sơn Vương nghe chơi Mỏng...
Thằng Lâu vừa kéo xong điếu thuốc lào vừa lên tiếng
-Kể thì kể, mầy dân Giồng Nâu ( Hoà Nghị, An Hoà) mà biểu tao kể chuyện Sơn Vương, mầy ở Hòa Nghị, quê hương của Sơn Vương, mầy phải rành hơn tao chứ .
Tôi vừa cầm lon nước trà, xin thêm chút nước trắng, vì trà đậm quá, vừa trả lời Bích Lâu .
Thằng Mỏng nó ở ngành CTCT, nó nói dóc có tiếng, thằng Giai vừa nhai kẹo vừa cười nói...
-Thằng Giai mầy phá máy hoài, để nó nói dóc nghe chơi ...
Tiếng thằng Lâu góp ý, tôi biết thằng Lâu nó rất nhớ nhà, nó là con một, được cưng chiều từ nhỏ, với lại thêm một vợ mấy con ...ghệ,bởi vậy nó rất sợ nằm một mình, nên nó thích uống trà, nghe nói dóc để giết thì giờ .
Tôi thư thả đốp một miếng kẹo, nhai nghe dòn khứu, chiêu một ngụm trà, thong thả cầm " ba dô ca ", ngắt một bi thuốc lào Tiên Lãng, đóm cật tre bắt lửa sáng rực, tôi kéo một hơi thuốc dài, ém khói, chiêu một ngụm nước trà ...
Ngày còn bé, tôi vẫn thường nghe Ba tôi kể chuyện về Sơn Vương, tôi cũng có dịp đọc truyện" Côn Sơn khói lửa " lúc còn học tiểu học, đến trại Hà Tây được hơn 5 năm thì chú Chín Khương, nguyên phó đảo Côn Sơn, từ Hỏa Lò chuyển về Hà Tây, Chú nằm cách tôi một chiếu, nên tôi có dịp hỏi nhiều chuyện về Côn Sơn, Chú Chín là thư ký tại đảo Côn Sơn từ thời Tây, Ông đã từng chứng kiến cảnh xử bắn Võ Thị Sáu ...Từng đêm từng đêm, tôi khai thác dần cái vốn sống Côn Đảo nằm cạnh bên , từ chuyện tù của nhóm chính trị Ca - ra - ven, đến những tay một thời lừng lẫy của đệ nhất Cộng Hòa như Anh Tư Dư, trưởng ty CS Huế, Thiếu Tá Đặng Sĩ,, Thái Đen ...cho đến Sơn Vương, Điền Khắc Kim ...., chuyện kho tàng Nguyễn Ánh, chuyện thú lạ tựa như khỉ, thường ăn ếch nhái, chuyện nhân sâm ...một trong những loài sâm quý nhất thế giới có mặt ở Côn Sơn ...
Trong buồng có mấy anh thấy tôi rù rì với Chú Chín, cũng thường dừng lại góp ý
-Thằng Mỏng nó nói dóc lắm, nó hỏi chú Chín để ghi nhận làm vốn đi nói dóc đó, đừng kể cho nó nghe .
Trong buồng tôi, đa số đều là những người lớn tuổi, đều là những người từng giữ những chức vụ quan trong của chế độ Cộng Hòa, nên đối với cấp úy trẻ như tụi tôi, cũng được các chú bác dành cho một cảm tình đặc biệt, các chú các bác đã nhìn chúng tôi như những kẻ thiệt thòi của chế độ .
- Ê , nhớ tới đâu kể tới đó nghe, kể nghe cho đã rồi lại bảo tao nói dóc ...
Sơn Vương tên thật là Trương văn Thoại, sinh quán tại làng Hòa Nghị, tỉnh Gò Công, Chúa Nguyễn thua liên tục quân Tây Sơn, phải trôi dạt ẩn náo tại Côn Sơn, quân Nguyễn Lữ vẫn không tha, bao vây truy kích rất gắt, biết không thể nào chống lại quân Tây Sơn, nên Nguyễn Vương quyết định chôn dấu kho tàng tại núi Ma Thiên Lãnh, đang đêm lén dùng thuyền nhỏ, nhân trời đang mưa bão cùng vài bộ hạ thân tính ra khơi tìm đất sống .
Người chỉ huy của quân Tây Sơn có lẽ là tướng Phạm Bá Điềm, trong một đêm mưa giông tối trời đã để hở vòng vây nên Nguyễn Vương vượt thoát, thuyền ra khơi nhắm hướng đất liền tiến thẳng, khi không còn thấy dấu vết quân Tây Sơn rượt đuổi, Nguyễn Vương chưa kịp mừng, thì một cơn lốc ập tới, thuyền bè tan tác, Nguyễn Vương tưởng phen nầy bị chết vì nước ...biển, thời may có hai con cá Ông cặp hai bên ghe đưa riết vào bờ ...
Điểm lại tùy tùng còn lại, đếm chưa giáp mấy đầu ngón tay, Nguyễn Vương được dân địa phương cho biết, đây là Vàm Láng, thuộc Huyện Tân Hòa. Lần vào đất liền, Nguyễn Vương liên lạc được với Võ Tánh, lúc bấy giờ đang trú đóng tại Hòa Nghị .
Trong đám thân tính của Nguyễn Vương có Ông tổ của Sơn Vương, Ông nầy giữ được một phụ bản của kho tàng được chôn dấu tại Côn Sơn.
Khi Nguyễn Lữ kéo quân vào Gò Công truy kích, Nguyễn Vương phải chạy lên Mỹ Tho, Võ Tánh ở lại Hòa Nghị tiếp tục mộ lính đánh Tây Sơn, Ông tổ của Sơn Vương cũng ở lại với một mục đích riêng. Bản đồ nầy truyền qua tay Ông Nội tới cha của Sơn Vương, nhưng không có ai lên đường tìm kho báu .
Thời thuộc Pháp khoảng cuối thập niên 20, người anh ruột của Sơn Vương lên đường tìm kho tàng, cầm theo bức hoạ đồ, nhưng rồi người đi như sương như gió, ngày ra đi thì thấy mà tin tức về thì không .
Trương văn Thoại là một thanh niên có nhiều tham vọng, lại nhiều bản lãnh, học võ chân truyền từ ông nội và cha, học gồng từ các sư chống Pháp ở Bà Rịa, Vũng Tàu, lại biết thuật thôi miên, tính điềm đạm, cương nghị, có theo học chương trình trung học Pháp, nhưng không rõ ông đổ đạc bằng cấp gì, Ông có khiếu viết truyện, làm thơ ...
Với khả năng đó, ông quyết định nối gót người anh, dù không còn bản họa đồ, nhưng trong ký ức ông vẫn còn nhớ, vì ông có dịp xem qua nhiều lần .
Lên Sài Gòn, Ông sống bằng nghề viết sách và bán sách, thật ra đây là nghề tay trái, nghề chánh là ...cướp. Chuyên cướp nhà giàu, trọc phú ...
- Mầy kể chi tiết một vụ cướp nghe chơi, chứ mầy nói khơi khơi hoài vậy Mỏng ...Lại tiếng của thằng Giai ...
- Dễ thôi, tụi mầy có nghe tên Nguyễn Bình của Việt Minh không?, để tao kể vụ cướp điển hình của Sơn Vương cho nghe.
Nguyễn Phương Thảo ( sau nầy là Tướng Nguyễn Bình ) từ Bắc vào Nam có kết bạn với Sơn Vương, cả hai tính tình cùng tầng số, nên rất hạp nhau, thuê một căn gác trên tiệm may Nam Chấn Hưng làm nơi tá túc, ở đường lòi phèo ( Lefebre) cạnh ngả tư Chaigneau. Một buổi sáng, Sơn Vương mời Phương Thảo đi xem anh đánh cướp ...
Sơn Vương với tính hào phóng, thu nạp được nhiều em út thuộc đủ mọi giới, xuất quân lần nầy, Sơn Vương được Năm Đường là tài xế của một Ông chủ hảng xuất nhập cảng, thừa lúc chủ về Pháp thăm nhà, Năm Đường lấy xe chủ chỡ Sơn Vương đi, chiếc xe hiệu Clément Bayard bóng loáng đời mới .
Từ Bắc vào Nam, lần đầu tiên, Phương Thảo được ngồi trong một xe hơi sang trọng bóng loáng, có tài xế riêng cẩn thận, vốn là người có tâm hồn của bốn phương, nên Thảo chỉ nhìn mà không hỏi chi cả.
Sơn Vương mời cả ba đi ăn sáng tại một tửu lầu sang trọng, của người Tàu làm chủ, trên đại lộ De la Somme.Tại đây Phương Thảo được Sơn Vương mời ăn hủ tiếu đặc biệt, xiếu mại gan heo, há cẩu Sóc Trăng ...uống cà phê sữa đá, hút thuốc con mèo đen họp thiếc tròn, ăn hút no đủ rồi, cả ba lên xe nhắm hướng Tân Sơn Nhất trực chỉ .
- Anh Năm có nhớ thay bảng số xe chưa vậy anh?
Sơn Vương vừa phả khói thuốc vừa hỏi anh Năm Đường tài xế .
- Khỏi lo mà Anh Hai .
Tới một cầu sắt nhỏ, bề ngang chỉ vừa hai xe tránh nhau, Năm Đường đậu xe giữa đường, xuống xe, mở nắp thùng xe ra làm như xe đang hỏng máy, Sơn Vương cũng xuống xe, xem đồng hồ
- Còn 15 phút nửa, đủ thì giờ hút một điếu thuốc .
Nguyễn Phương Thảo rất ngạc nhiên và nôn nóng, Anh muốn chứng kiến một pha cướp do một tướng cướp khét tiếng Sài Gòn dàn dựng, Thảo hỏi:
-Vụ nầy chắc ăn không Anh Hai, trông anh bình tỉnh quá vậy, sao không thấy anh mang súng mang dao theo ?
Sơn Vương nghe hỏi liền cười ha hả, tay móc cây súng giả lận trong người ra đưa cho Thảo xem :
-Súng đây nè, súng giả mà đánh súng thiệt mới đã chứ !
Thực ra Sơn Vương đã điều nghiên rất kỷ, những sáng ngồi bán sách trên lề đường Sài Gòn Ông đã theo dõi rất kỷ các con mồi của Ông,Ông biết tên giám đốc đồn điền cao su Minot, sáng thứ bảy nào cũng tới nhà băng rút tiền để đem lên sở phát lương cho công nhân, ông biết hắn đi xe gì , theo lộ trình nào ...
Sơn Vương hút tàn điếu thuốc thì từ xa một chiếc xe PEUGOET đang chạy tớ,i tung bụi đỏ mịt mờ phía sau . Thấy đường bị nghẻn ở đầu cầu, thằng Tây rà thắng quát to : Nép vô lề cho người ta qua cầu !
Năm Đường vờ lăng xăng sửa xe còn Sơn Vương thì thong thả trả lời thằng Tây :
-Xe pane, chúng tôi đang sửa, nếu ông muốn qua cầu thì xuống xe phụ đẩy với chúng tôi .
Thằng Tây sừng sộ :
- Tao mà đi đẩy xe cho tụi bây à?! Hắn nóng nảy mở cửa xe bước xuống, vẻ mắt hằm hằm đầy bực tức
Sơn Vương lanh bước chận ngay trước mặt thằng Tây :
- Mầy là thằng nào mà phách lối quá vậy mậy.Thằng Tây đang bất ngờ trước thái độ ngang tàng của Sơn Vương , thì Sơn Vương đã sử dụng bộ pháp " lăng ba vi bộ " tiến sát người thằng Tây, tay rút súng giả chỉa vào ngực hét to : -Dơ tay lên !!
Rất bất ngờ và theo phản ứng tự nhiên, thằng Tây dơ hai tay lên trời, một lần nữa, Sơn Vương sử dụng " Cầm nả thủ " chụp cây súng sáu của thằng Tây bỏ trong túi quần, đồng thời sử dụng " di ảnh kỳ hình " phóng lại cửa xe chụp luôn va li bạc thảy cho Thảo giữ .
Năm Đường chỉ chờ cho Sơn Vương và Phương Thảo lọt vào trong xe là nhấn ga ...vọt.
Sơn Vương ném khẩu súng giả qua cửa sổ xe và nói lớn :
- Cho mượn đở tháng lương nghe Ông Gaillard, giữ cây súng cây làm kỷ niệm .
Sau gần cả phút mới tỉnh hồn, Thằng Tây lên xe đuổi theo nhưng phía trước chỉ là một đám bụi mờ ...
- Thằng Mỏng chắc lúc đó đứng đâu đó nên thấy được mấy thế võ của Sơn Vương, mà sao mấy thế võ nầy tao nghe tên sao giống thế võ trong truyện của Kim Dung và Lệnh Xé Xác của Lã Phi Khanh quá vậy .
Thằng Giai vừa nhấp trà vừa cười vừa nói
- Kệ nó mà, sao mầy cứ phá máy hoài vậy Giai ...Thằng Lâu lầu bầu ...
- Rồi sao nữa Mỏng, vụ nầy trót lọt không mậy ?
-Ờ, xe chỡ Sơn Vương chạy theo hướng Bà Quẹo, tới chợ thì Sơn Vương và Phương Thảo xuống xe, bao một cổ xe thổ mộ về Sài Gòn, Năm Đường lái xe về nhà chủ, thay lại bảng số, chùi rửa xe cẩn thận. Sơn Vương trích một số tiền lớn cho Phương Thảo, mở một tiệm giặt ủi ở Da kao làm phương tiện sinh sống ...
Tụi mầy phải biết, thời đó xe hơi ở Sài Gòn quá ít, sở mật thám cho điều tra từng chiếc xe một, hiệu nầy chưa tới 10 chiếc ở Viêt Nam, Năm Đường thấy khó thoát, nên tự ra đầu thú, một tháng sau, Sơn Vương bị còng giải về sở mật thám.
Bắt được Sơn Vương, cò Ba Zin điện cho tên Gaillard đến bót Ca ti na ngay :
- Ông treo giải thưởng 5000 đồng cho ai bắt được tên cướp, bây giờ tôi giao tên cướp cho Ông, muốn đánh đập làm gì thì làm cho đã nư đi, nói xong Ba Zin bỏ ra ngoài để Gaillard ở lại toàn quyền với kẻ cướp . Thằng Tây chụp cây roi kẹt bò, trừng mắt nghiến răng nhìn Sơn Vương
- Mầy cướp của tao 50.000 đồng, tao tính rẻ, 50 roi thôi, mầy sẳn sàng chưa .
Sơn Vương bình thản: - Xin mời Ông !
Ngọn roi kẹt bò chạm vào người Sơn Vương nghe đánh trót, chiếc áo sơ mi bằng lụa rách ngọt một đường, năm ngọn roi liên tiếp ghi năm vết đỏ thẫm nổi vòng trên lưng Sơn Vương. Sơn Vương vẫn đứng vững vàng, mặt không đổi sắc. Thằng Tây thở hổn hển, vừa tức vừa sợ, trên đời có lẽ nó mới gặp một người như Sơn Vương. Hắn quăng roi:
-Tao cho mầy thiếu số còn lại .
Sơn Vương cười nói :
-Tôi quen sòng phẳng, ông cứ đánh tiếp.
Thằng Tây khoát tay :
- Mầy ngon hơn bọn tao rồi, tao bỏ số còn lại không đánh mầy nữa đâu .
Càng lạ hơn, Gaillard bỏ ra ngoài tìm Bazin nói :
-Xong rồi tôi đề nghị Ông thả tên ăn cướp đó đi ,
Bazin rất đổi ngạc nhiên :
-Sao lạ vậy ? thả à ?!
Thằng Tây rút thuốc ra châm lửa ;
- Dân đảo Corse chúng tôi có câu : Anh hùng phải phục anh hùng, Ông muốn xử nó ra sao thì xử, còn tôi coi như huề, tôi cám ơn Ông .
Sau buổi đầu quá đổi ngạc nhiên, Bazin cho sưu tra lại lý lịch của Gaillard thì được biết, Gaillard cùng với một người em là hai tên cướp khét tiếng, có nhiều tiền án, đã từng nhiều lần vượt ngục khỏi nhà tù khét tiếng của Pháp ở Nam Mỹ : La Cayenne, vụ cướp gần nhất là đánh cướp một xe chỡ tiền của nhà băng Mỹ, vượt thoát với số tiền nầy, René Gaillard mua cổ phần của hảng Terres Rouges và trở thành giám đốc đồn điền cao su Minot.
Ra toà, Sơn Vương lảnh án 15 năm, lưu đày Côn Đảo .
- Xin quý vị giữ im lặng, chương trình văn nghệ cuối tuần của đội rau già sẽ bắt đầu ...Và để mở đầu chương trình, chúng tôi xin giới thiệu một giọng ca chưa lên mà sắp xuống, đó là anh Khưu Vĩnh Biệt, ủa ủa xin lỗi, Khưu Vĩnh Thám ( Đại đội trưởng biệt lập Sóc Trăng), sẽ mở đầu chương trình bằng ca khúc " Tình Thư của Lính ", và cũng xin giới thiệu ban nhạc đêm nay ; Phong cầm, anh Vũ Thành An , Guitar , Anh Khiêm, Violon Anh Định, muỗng Anh Niệm...Xin quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn...
Giọng của Bình thầy chùa, MC đêm nay, đang giới thiệu chương trình văn nghệ cuối tuần .
Tôi kéo một bi thuốc lào ..
- Thôi tuần sau kể tiếp, xuống nằm nghe nhạc mấy cha, kể cho nghe mà thằng Giai cứ chọc quê tao hoài
Thằng Giai cười hề hề :
- Thằng Mỏng nầy câu giờ hết biết, nó tính uống vài chục bình trà móc câu mới kể hết chuyện Sơn Vương .
Đêm cuối tuần trong tù vẫn thường xuyên lặp lại, cũng trà lá, kể chuyện, nhạc sống ...chỉ trừ những đêm cuối tuần, sau khi có đợt thả, đêm thường rất dài, hầu như mọi người đều vô mùng sớm; trong buồng thỉnh thoảng còn nghe âm thanh tiếng hút thuốc lào, bên cạnh tiếng hút thuốc lào, nếu tai ai còn tỏ sẽ nghe rất nhiều tiếng thở dài ...não nuột.Tháng ngày của một người tù không bản án, là những tháng ngày bi đát nhất trong cuộc sống trần gian...!

THỦY LAN VY
( Viết Tại Kỳ Đà Động - july 1999 )
__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
HồngLan (13-01-2015), nhonhatrang (06-07-2015)
Old 17-01-2015, 08:34 PM   #15
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

Tôi Học Trường Nam Tiểu Học Gò Công
*


_ Trân Trọng cám ơn quý Thầy Cô Trường Nam tiểu học Gò Công đã tận tụy dạy dỗ tôi suốt thời thơ ấu đã để lại trong tôi biết bao niềm quý trọng nhớ ơn
- Trân trọng cám ơn Cha Mẹ đã tạo cho tôi phương tiện đến trường và đã trang bị cho tôi một bộ nhớ khá tốt để giờ đây sau hơn 8 năm trong lao tù Cộng Sản và 9 năm sống trong xả hội Cộng Sản tôi còn nhớ được khá rõ những sự việc thời tiểu học
…….


Lứa tuổi sinh trong thập niên 40 muốn viết một bài tương đối đầy đủ về Trường Nam Tiểu Học Gò Công là một việc làm thật khó, vì Trường Nam được hình thành tại tỉnh nhà vào một thời gian mà hầu như ít người được rõ biết. Dân cư ngụ tại đây đa phần đều phải qua bậc tiểu học tại trường nầy, nhưng ít ai chịu bỏ thì giờ để tìm hiểu về lịch sử và quá trình hình thành của ngôi trường lâu đời nhất của tỉnh nhà.
Tôi sinh vào thời hậu bán thập niên 40, thời mà lịch sử đất nước được ghi nhận là có nhiều biến loạn nhất, từ khoảng 45 đến 50 tuy là một khoảng thời gian ngắn nhưng lại có biết bao cảnh vật đổi sao dời ...Từ một quốc gia thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập đã phải trải qua một cuộc chiến tranh đẫm máu để rồi toàn dân phải ngậm ngùi nhìn dòng sông Bến Hải, một lần nữa nằm chung trang nhục sử với Sông Gianh ...
Người Pháp đặt nền đô hộ cả trăm năm, người Nhật lăm le mộng bá chủ Á Châu .... đều cuốn gói ra đi... , người Mỹ đến, tuổi trẻ thời bấy giờ sống trong một xã hội đầy bất trắc, tại thị thành, người dân luôn phải trực diện với nạn bè phái của chính quyền, sự lạm quyền hống hách của mật vụ ,công an chìm, tại thôn quê,nông dân xác xơ trước đám du kích đã tạo uy quyền bằng ...máu, những vụ khủng bố giết người man rợ của bọn tay say tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt đã ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt quần chúng nông thôn ...Người học sinh ở làng quê đã phải đi học trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn, đa số dân chúng sống về nghề nông mà mỗi năm chỉ làm có một vụ lúa, lại phải thuê ruộng của các điền chủ, để rồi cuối vụ thu hoạch lúa đủ ăn trong năm đã là may lắm rồi, thức ăn quanh năm là con tôm, con cá, con ếch, con còng, cây rau cọng cỏ trong vùng, đi học thì phải đi bộ, có tiền chút đỉnh thì được chiếc xe đạp làm chân, đạp vượt qua năm bảy cây số là chuyện thường, đó là chưa kể ảnh hưởng đến thời tiết nắng mưa, lại nạn đào đường đấp lộ của bọn du kích, ban đêm chúng lùa dân ra đấp đường, ban ngày cũng chính những người dân nầy được lính quốc gia trưng dụng đi phá mô, gỡ chướng ngại vật, người dân nằm trong vòng tay của hai chủ nghĩa, chuyện ăn đạn của hai phía là chuyện thường, tỉnh Gò Công nằm ven biển, đất phèn lại nước mặn, ngoài việc ruộng nương, huê lợi về biển chỉ là phần nhỏ cho một đôi làng sống ven biển, nên để vươn lên, người dân ai cũng muốn cho con em theo học dù hoàn cảnh sống thật nghèo, trước kia cho con ra Hà Nội, sau nầy cho con lên Sài Gòn, Mỹ Tho, quyết lấy bằng cấp để thay đổi cuộc đời ... Và đa phần trì chí đều thành công, chỉ nhìn vào kết quả trong các kỳ thi tuyển vào các đại học, tên tuổi những thí sinh sinh quán tại Gò Công lúc nào cũng có tên trên bảng ở thứ hạng cao .
Tôi thực sự bước chân vào trường Nam Tiểu Học vào niên khóa 1952 - 1953 sau khi học 2 năm tại trường Bà Phước ( Sau nầy là trường Thánh Theresa ), Ở trường Bà Phước Tôi học với Bà Sơ Xi (Lucie), và chị Báu là người dạy trực tiếp cho tôi đánh vần. Thời đó tại tỉnh nhà chỉ có mấy trường là Trường Bà ( Tư Thục ) Trường Nhà Đèn,trường Nữ tiểu học, Trường Nam Tiểu Học và trường tư thục Khai Trí ( đệ nhất cấp ) sau đó mới có thêm trường tư thục Thăng Long và Trường Huỳnh Phước .... Học sinh học xong cấp tiểu học phải lên Mỹ Tho hoặc SàiGòn học tiếp.Nếu gia đình có đủ phương tiện.
Trường Nhà Đèn ( đây là chi nhánh sơ cấp của trường Nam Tiểu Học và trường Nữ tiểu học, dân dã quen gọi là trường Nhà Đèn vì trường nằm gần cơ sở phát điện của tỉnh ) cách trường Nam tiểu học khoảng trên 50 mét, nằm cách một con lộ với trường nữ công, đây là một trường sơ cấp gồm có hai dãy song song, giữa là một sân hình chữ nhật trải xỉ than đá của xe hủ lô thuộc sở trường tiền Gò Công. Sân không có một cây che mát nào, cũng không có cột cờ, mỗi dãy có năm phòng học, phía tây trường là một con đường đất mang tên A .De Rhodes chạy cặp theo bờ kinh, con đường nầy bắt đầu từ đầu sân trường nữ ( ngã tư đường Gia Long & A. De Rhodes)chạy uốn cong theo bờ sông tới ngã ba nhà đèn thì hết, bên kia con kênh là bến xe đò Gò Công và bến ghe tàu, trên con đường nầy thuở đó không có một nhà dân nào cả, chỉ có một nhà căn tin bằng gổ dành cho học sinh trường Nam tiểu Học ăn buổi cơm trưa ( là những học sinh từ xã đến tỉnh học, vì thời đó lớp học ngày 2 buổi ). Mặt bắc trường là một con lộ trải đá xanh nối dài ngang dinh tỉnh trưởng, mà bên kia đường sát bờ sông là nhà máy phát điện,cạnh đường sau dãy phòng học hướng tây có một cây gạo thật to, dưới gốc cây để hơn mười thùng phuy đựng nhựa tráng đường, cũng là điểm trú mát cho học sinh đi học sớm, mặt nam là một con đường trải đá xanh tôi không còn nhớ tên, đường nầy nối liền đường Gia Long với đường A . De Rhodes, đầu ngã ba đường là nhà ở của vị trưởng ty tiểu học ( lấy một căn đầu của trường nữ công và phần lầu của ty tiểu học ) kế là trường Nữ Công và cuối đường là sân bóng rổ của trường nữ tiểu học ( chỉ có một trụ để ném bóng , xem như chỉ có nửa sân ). Mặt đông của trường tiếp giáp một hàng rào là mặt sau của Ty Ngân Khố và cạnh bên hình như là Ty An ninh quân đội .
Dãy hướng Đông bắt đầu là lớp chót ( lớp 5 ) của Thầy Ba Nguyễn văn Thắng, phía sau lớp thầy có một cái trống mà thầy cũng là người sử dụng dùi để nhịp trống báo giờ, thầy xem giờ bằng một cái đồng hồ quả quít nhỏ loại bỏ túi, thầy cũng là trưởng giáo của trường nầy; kế lớp thầy Thắng là lớp chót nữ của Cô Tám Sảnh, lớp tư nữ của cô Nguyễn thị Công, lớp tư nữ của Cô Nghiêm, lớp ba nữ của Cô Sáu Trầu ( Cô ăn trầu không biết từ thuở nào nên mới có hỗn danh nầy ). Dãy hướng Tây, bắt đầu là lớp chót của Cô Ba Hiến, Lớp tư A Thầy Trực( Thầy bị tai nạn gãy tay Cô Sơn dạy thế, Cô Sơn dạy học mấy năm lên xe hoa bỏ nghề dạy về trông coi cơ sở sản xuất nước mắm của chồng là con trai của Bà Năm Sún ở Cầu Đúc dưới )Lớp tư B Cô Đỏ, lớp ba B cô Sáu Nghĩa, Lớp ba A cô Bảy. Dãy phía bên Thầy Thắng nền thấp tráng xi măn, dãy bên bờ kinh nền cao cỡ nửa thước lót gạch tàu ...
Tôi được vinh dự học lớp chót với Thầy Ba Nguyễn văn Thắng, học trò thầy đa phần đều viết chữ dễ đọc vì thầy luyện tập viết rất kỹ( Có lẽ vì vậy mà bạn học cùng lớp với tôi không có ai làm Bác Sĩ ).Tôi ngồi bàn thứ ba dãy bên trái cạnh bạn Nguyễn văn Nhất ( Tốt nghiệp Sư Phạm 2 năm SG, dạy trung học Tân Tây , sau 75 từng làm hiệu trưởng Trường Trung Học Tân Tây ), ngoài ra trong lớp còn nhiều bạn dễ nhớ như anh em song sinh Võ Hiếu Nhơn và Võ Hiếu Nghĩa ngồi bàn nhất dãy bên phải ( cả hai đều nằm xuống trong cuộc chiến ) Tôi nhớ rõ hai trò nầy vì hai trò ngồi bàn nhất và cứ vào mỗi buổi chiều hai trò cứ tự nhiên cúi đầu trên tập mà ngủ, Thầy Ba thường đến ký đầu hai trò rồi mọp xuống trước bàn, hai trò bị phá giấc tưởng trò nào chọc nên chửi om lên, trưởng lớp là trò Chà . Ở lớp chót nầy tôi cũng có nhiều kỷ niệm ...lúc mới vào học tôi ngồi bàn áp chót, sau lưng tôi là trò Chà, Chà lớn hơn tôi ít nhất cũng phải 5 tuổi ( thời đó học sinh trong lớp tuổi tác rất chênh nhau, trên nguyên tắc căn cứ trên khai sinh thì chênh nhau 4 tuổi nhưng trong khai sinh có nhiều trò khai giảm mất 3 , 4 tuổi. Trò Chà thường hay bắt nạt tôi, khi thì ký đầu, khi thì xin tiền, thường xuyên hăm he tôi, tôi rất sợ mà không dám mách thầy cũng như cho cha mẹ biết, bởi sợ trò Chà nên tôi thường xuyên trốn học, mỗi tuần ít nhất cũng phải trốn học 3 lần, thường vào lớp học xong, thấy trò Chà hoạnh hẹ, tôi thừa lúc thầy sơ ý là ôm tập dông mất, Thầy thường xuyên báo tin cho nhà tôi biết mỗi khi tôi bỏ lớp, gần cuối năm tôi lên bàn 3 ngồi cạnh trò Nhất mới yên; trong lớp có nhiều trò rất được phụ huynh cưng chiều mà tôi còn nhớ là trò Phước nhà ngó mặt ra góc Ao Trường Đua, đi học có ông ngoại đội nón cối trắng mặc bà ba trắng cõng đưa đến lớp ( Trò nầy trước 75 là sĩ quan Hải Quân, khóa 19? ) Có trò Cảnh đi học bằng xe đạp mặc quần tây chân mang san đan, thời đó trăm phần trăm học trò nam mặc tà lỏn đi chân đất, trò Cảnh là cháu ông Chủ Tịnh chủ hảng cà rem Xuân Trường đầu tiên ở Gò Công, trò nầy lớn lên tôi không còn gặp lại.Một trò gốc người Bắc là trò Mông, có lẽ là Simon, đi học chân mang san dan vì ba trò là chủ tiệm giày Tân Tiến, trò nầy cho tới năm đệ nhất vào trường Gò Công học chung với tôi trò đổi lại tên Dư. Ở lớp chót nầy tôi đã học và còn nhớ những gì ? Thầy Ba Thắng dạy hát, thầy vừa hát vừa ra bộ tịch và những bài hát nầy tôi vẫn nhớ và đã dạy lại cho con tôi khi bé vừa biết nói ..."Con nải con nai - nó chạy đường dài - nó kêu cái tét, Thầy vừa hát con nải con nai thì hai bàn tay của thầy đặt vào hai bên tai phe phẩy ...như tai nai, đến chữ cái tét thì hai bàn tay thầy chụm lại để trước miệng ...Rồi thì Con công tố hộ trên rừng - chèo ghe xuống biển ngó chừng con công - con công nó múa làm sao - nó thụt đầu vào - nó xoè cánh ra - nó kêu tố hộ ...Hát tới đâu thầy ra điệu bộ tới đó, khi thì hai tay chèo ghe, xòe cánh ... dĩ nhiên đám cốc tử tụi tôi mê lắm, ngoài ra có một bài thơ mà thầy rất tâm đắc, bắt học thuộc lòng, giờ ra chơi tôi còn nghe thầy bàn thơ với cô Tám Sảnh lớp chót nữ kế bên đó là bài Mắm Cà ..." Ba tôi vốn thích mắm cà - Có cà ăn được luôn ba chén đầy - Biết ba ưa chuộng món nầy - Tôi liền đi kiếm cà cây về trồng - Đêm ngày tôi tưới vun phân - Đẹp thay tim tím cái bông hoa cà - Có trái tôi muối dành ba - Bữa cơm ăn với mắm cà rất ngon ... Vào đầu năm học Tỉnh Biên Hòa bị một cơn lụt dữ dội, toàn quốc phát động chiến dịch cứu trợ ( Năm Thìn ) Tôi còn nhớ có một bài thơ mỗi lớp thầy cô đều dạy cho học sinh học, rất tiếc là tôi không còn nhớ tên tác giả .... Thuở nhỏ tôi đọc đã biết cảm động và cho tới bây giờ đọc lại vẫn còn thấy lời thơ thật tha thiết dễ làm rung động lòng người ..." Biên Hòa nước lụt tả tơi - Nước dâng hơn thước thây trôi quá ngàn - Người sống sót lại càng đau khổ - Biết lấy đâu làm chỗ nghỉ chân - Trẻ con không có áo quần - Vắng cha mất mẹ khóc rân ngoài đường ...
Ở năm học lớp chót nầy tôi còn nhớ, trường có tuyển một số giáo viên mới, huấn luyện tại trường và lớp chót của thầy Ba Thắng được đưa lên phòng hội trường của trường Nam ( hai phòng đầu sát cầu tiêu ngăn cách vách giữa bằng những tấm ván rời, vách ngăn lại thành 2 phòng học mở ra thành một hội trường, và trường cũng thường lấy địa điểm nầy làm nơi phát thưởng cuối năm, hay trình diễn văn nghệ )Tôi nhớ lên đây học khoảng nửa tháng, vì lúc đó tôi không biết hết tên thầy cô thực tập nên không ghi lại được, tôi chỉ còn nhớ có một người mà gia đình tôi quen biết đó là Chị Ngô Thị Hai con gái lớn của Ông Chủ Xíu, là vợ của cố Trung Úy Nguyễn bạch Mai, một trong những sĩ quan đầu tiên trong buổi bình minh của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, chị cũng có đứa con trai đầu lòng học chung với tôi năm đó là trò Nguyễn Bạch Quang, trước 75 du học tại Mỹ trong diện quốc gia nghĩa tử về nước với bằng kỷ sư dầu hỏa.Khai trường lên lớp tư, đích thân Thầy Thắng dẫn tôi lên lớp gặp cô Đỏ, tôi còn nhớ lời thầy :
-Trò nầy học được lắm chỉ có tật trốn học Cô lưu ý cho. Thầy giáo ngày xưa sao mà tận tụy quá ,... Sau đó mấy năm Thầy Thắng về nghỉ hưu được nhà nước phong chức Huyện .
Tôi lên lớp tư B, học với Cô Đỏ, Cô rất hiền, gốc người Yên Luông Đông. Tôi ngồi đầu bàn thứ ba, cạnh trò Hạnh và trò Nguyệt ( đều là dân xóm Cỏ ). Trưởng lớp là trò Sơn Văn Ngọc là con hay cháu của tiệm mì Quảng Tài Ký, một kios ngay mặt tiền đại lộ Phạm Đăng Hưng, đối diện với tiệm nước Quảng Lợi Hòa. Trò Hạnh và trò Nguyệt sau nầy đi lính Sư Đoàn 7, Nguyệt hình như chết trong cuộc chiến, Hạnh tôi có nhiều lần gặp lại sau khi tôi được giặc tha ra khỏi tù về sống lại tại Gò Công, Hạnh kiếm sống bằng chiếc xe 3 bánh; còn Ngọc từ khi rời trường tôi không còn gặp lại, sau nầy qua lời của Ngô văn Phò ( Quân cảnh Tư Pháp Long An), bà con của Ngọc tôi mới biết Ngọc đi tu ở một chùa Miên. Học lớp nầy tôi còn nhớ một bài thơ mà cô cho học thuộc lòng đó là bài "Chùa Làng Tôi "...Ở trong ngọn rạch làng tôi, Có chùa Diệu Đế từ hồi thuở xưa, Sau chùa cam quýt cau dừa, Trước chùa kiểng vật bốn mùa nở hoa, Trong Chùa thờ Phật Thích Ca, Sau lưng đức Phật có bà Quan Âm, Đến ngày mùng một ngày rằm, Các bà tin tưởng đi dâng nhan đèn ...Cũng trong năm học nầy có thầy Lê Dinh đến lớp dạy nhạc, thực ra Thầy chỉ dạy có hai bản theo chỉ thị của cấp trên đưa xuống, đó là bản Suy Tôn Ngô Thủ Tướng, và một bài tôi quên tựa nhưng còn nhớ lời ..." Người về đây khi núi sông đang điêu tàn -Trời Việt Nam rên siết trong muôn lầm than - giữa lúc quân Cộng bạo tàn chia cắt đôi đường hận sầu toàn dân xao xuyến như thuyền không lái ...Người về đây mang ánh vinh quang chan hòa, trời Việt Nam tươi sáng trong muôn ngàn hoa .. Ánh sáng thanh bình rộn ràng soi khắp sơn hà ... Trò Hạnh và trò Nguyệt là hai tay quậy có tầm cỡ, môn chơi nào hai trò cũng đều biết, không rù rì nói chuyện với nhau thì xé tập vở lấy giấy xếp đầu lân, diều, không thì lấy phấn vẽ xuống bàn, hoặc đem hộp dế ra kê lên miệng chắc chắc vài cái. Tôi thấy Thầy Dinh đang chép bài nhạc trên bảng bỗng ngưng lại, tay bẻ cục phấn, mắt nhìn tôi có vẻ bực mình lắm, tôi sợ lắm, cố ngồi thật chăm chú dù tự xét lại trước đó tôi không có làm điều chi sai trái, bỗng thầy ném vèo viên phấn, đánh tốc lên đầu trò Hạnh ngồi cạnh tôi, thì ra trò Hạnh đang nói chuyện với trò Nguyệt và tại đôi mắt thầy đã làm tôi lầm ... Sau nầy lớn lên tôi chỉ gặp thầy có một lần trong nhà hàng Thanh Bạch, lúc thầy đang ăn sáng chung bàn với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết, tôi có đến chào thầy. Thực ra thầy làm việc tại đài phát thanh SaiGon ( số 3 đường Phan Đình Phùng ) còn đơn vị tôi đóng quân tại số 1 bis cũng trên con đường nầy mà lại không có dịp gặp nhau.Để rồi hơn 30 năm sau tôi gặp lại Vợ Chồng Thầy tại Houston, nhân dịp thầy về dự Đại Nhạc Hội vinh danh Lê Minh Bằng.
Với một người bạn học chung lớp ....hơn 40 năm sau, trong những ngày quản chế sau khi giặc tha về, một buổi sáng tôi đến quán cà phê của Minh ( Nguyên pháo đội trưởng tiểu khu Gò Công ) một thằng bạn tù, quán nằm trước khuôn viên nhà bác sĩ Trần Công Đăng, lúc giặc tha về đâu có làm ra đồng xu cắc bạc nào ... Đôi lúc buồn cũng ra chợ chơi vào quán của Minh mong gặp vài người bạn để nói chuyện cho ...qua ngày, Minh không bao giờ tính tiền tôi mà còn mang đến vài điếu thuốc hút cho ...thơm râu, tôi ngồi ở bàn trong góc, một vị trí khuất lấp ít ai để ý, tôi đang nhâm nhi ly cà phê thì có một hán tử, dáng người kịch cợm, càm và môi đầy râu, tay xách cây roi ngựa, trông dáng sung mãn mà có vẻ phong trần, kéo ghế ngồi cạnh tôi, cất giọng ồm ồm gọi cà phê và thuốc lá, mới nhìn qua hán tử, tự lòng tôi cảm thấy quen quen, thế rồi bộ nhớ tôi bắt đầu làm việc, tôi click từ bạn lính, bạn tù, bạn nhậu ...tới bạn học ... Lòng tôi chợt vui vì tên của hán tử nầy có ghi trong bộ nhớ của tôi, tôi khều tay bạn và hỏi :
- Dạ , có phải anh là Nguyễn Thành To
Hán tử có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi xa lạ mà sao biết rõ họ tên
- Dạ, tôi là To, tôi không biết anh mà sao anh biết tên tôi ? Tôi thích chí vì biết trí nhớ của mình còn tốt
- Tôi là bạn học với anh năm học lớp tư với cô giáo Đỏ, anh ngồi đầu bàn áp chót dãy bên trái ... Đi học anh thường mặc quần cụt đen vải mỹ a mặt đệm ...
Cô giáo Đỏ trong một chuyến xe định mệnh từ Mỹ Tho về Gò Công, Cô qua đò Chợ Gạo, Bỗng giông gió nổi lên, phà đứt cáp chiếc phà trôi đi và chìm ... Cô chết trong lần sang sông nầy. Thương Cô hiền lành mà sao chết thê thảm quá ...!
Tôi học lớp ba với cô Sáu Nghĩa, cô thật hiền từ và thương học sinh, học với cô được mấy tháng, cô theo chồng đổi về SàiGòn dạy, cô Bảy Huyện từ trường nữ về dạy thế, theo lời Ba tôi vẫn thường nhắc nhở, Cô Bảy là người đàn bà học giỏi, có bằng đíp lôm thời tây, nói tiếng tây như ...đầm, biết đàn, biết hát nhạc Tây ... lẽ ra cô phải làm bà đốc mới xứng, nhưng có lẽ do cô biết nhiều quá nên có một sợi dây thần kinh nào đó bị...gút, cô buồn vui bất thường, trò nào lỡ nói chuyện trong lúc cô buồn thì thật là tội nghiệp cho cái mông của trò đó ,...Ở năm học nầy tôi còn nhớ học sinh toàn trường phải đi dưng cộ đèn ( Ngoài đêm trung thu thường niên ) mừng Ông Võ Hà Trị đắc cử dân biểu lập hiến thời đệ nhất cộng hòa .. Cuộc rước đèn bắt đầu từ trường Nam tiểu học đi ra đường Gia Long quẹo ra hướng chợ ngang qua đại lộ Phạm Đang Hưng bọc đường Chủ Sự Thiều về sân vận động để xem chiếu bóng ngoài trời ... Nhưng toán dưng cộ mới ra được tới gần chợ thi trời đổ mưa ... tất cả tự động tan hàng đi về hướng sân vận động ... Tôi còn nhớ vào được sân vận động mình mẩy tôi ướt loi nhoi ... cây đèn hình con chim câu ba tôi phất giấy màu lại từ chiều hôm trước bây giờ chỉ còn lại cái sườn tre ..Tôi còn nhớ Phim Đài Loan ... Hằng Nga du nguyệt điện do tài tử Lý Lệ Hoa đóng vai Hằng Nga ... Tôi đứng nép mình trước góc khán đài để tránh mưa ... mắt nhìn lên màn ảnh mà lòng lo sợ ... Trời mưa lai gần khuya làm sao dám đi về nhà một mình ... Nhớ tới cây me ngay ngã ba trước nhà Bác Tư Bính mà thấy ớn ... Cây me với nhiều câu chuyện ma mà tôi vẫn thường nghe kể ...Bỗng có bàn tay từ khán đài thò xuống khều vai ...
-Em đưa tay anh kéo lên ..
Thì ra là Anh Dinh, đang học lớp đệ thất trường Trung học Gò Công ... Anh đở tôi ngồi vào lòng anh ... Một cảm giác thật ấm áp dễ chịu .( Anh Nguyễn văn Dinh đền nợ nước trong sắc áo Pháo binh ) ... Ngoài ra tôi không còn nhớ gì nhiều lắm, một vài người bạn như trò Phát ( sau nầy tôi không còn gặp lại ) trò Khải ( sau trò từ trường bán công vào trường công học chung năm đệ nhất với tôi, sau đó tốt nghiệp Sư phạm Vĩnh Long về dạy tại Gò Công ) ...Khi giặc cờ đỏ thả tôi về (1983)tôi được người nhà cho biết Cô Sáu Nghĩa về sống ở Gò Công ( Dãy nhà xưa đối diện với lăng Trương Công Định, cạnh nhà ông Phán Chà ) Tôi có chỡ người chị thứ sáu đến nhà thăm cô, sau khi nhắc nhở chuyện hơn 30 mươi năm về trước, cô rất vui mừng khi gặp lại người học trò cũ, dù bây giờ người học trò cũ đã xệ cánh, tả tơi hơn xác pháo ...Mấy tuần sau cô có xuống nhà thăm tôi, thật vô cùng cảm động, tôi còn nhớ, mẹ tôi ngồi tiếp cô tại bộ ghế cẩm thạch đặt giữa nhà, tôi và chị tôi đứng sau lưng mẹ để hầu chuyện ...
Tôi từ giã cây gạo vẫn nở hoa trắng phơn phớt hồng, từ giã những thùng phuy đựng nhựa đường mà những lần trú nắng vẫn thường đứng dưới gốc cây gạo, vẫn táy máy cạy từng cực nhựa đường nắn thành hình nầy hình nọ, hay lén ve viên chọi vào đầu thằng bạn để rồi làm mặt tỉnh tuồng đứng nghe nó chửi bông lông ...
Tôi chính thức bước vào trường Nam tiểu học, ở thời khoảng đó tôi tự thấy mình lớn hơn, nhiều hãnh diện hơn vì được học tại trường Quan ( trước trường Nam là một nhánh của con kinh Sa Li Sết Ti chảy dọc theo đường Tổng đốc Phương xuống Cầu Huyện, có một cây cầu bắt ngang bên hông trường Bà Phước là Cầu Quan nối với con lộ đâm thẳng vô dinh tỉnh trưởng, từ trường Nam trở ngược hướng Cầu Tàu tới sau dinh tỉnh, trước kia chỉ là dinh thự và nhà quan quyền, nhà dân thường rất ít thường ở mãi ngoài cầu Tàu hay trước nhà thờ có lẽ cầu Quan có tên là do vậy ) .
Thời tôi vào trường Nam, Thanh tra là Thầy Lắm, hiệu trưởng là Thầy Võ Văn Giáp, đây là một vị hiệu trưởng được tuyệt đại dân Gò Công kính phục vì sự tận tụy và đạo đức của ông, giám học là thầy Nhàn, nhân viên văn phòng có thầy Mai ( Thầy có nét chữ rất đẹp chuyên viết tên trong văn bằng tiểu học và các giấy khen thưởng )Thầy Đẩu ( tóc thầy trắng như bông ) Thầy Lợi ( con trai thầy giáo Thạnh ), lao công là chú Ba Quản, nhà ở xóm Cầu Tàu, đi sổ điểm danh là Ông Tám .
Tôi học lớp nhì A với thầy Nguyễn Văn Huệ. Thầy Huệ gốc người Trà Vinh, về Gò Công dạy học, cưới vợ là Cô giáo Hớn, con gái của Ông Huyện Đạt nhà ở ngã ba Lộ Me Cầu Huyện, Thầy thuộc họ Văn Công ở Trà Vinh không biết vì sao lại đổi ra họ Nguyễn. Trường Nam lúc bấy giờ có 6 lớp nhì, B Cô Lan ( Con gái Ông Tòa Lê Bằng Ý), C Thầy Phụng, D thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm ( chồng cô Hiếu dạy trường nữ ),Đ thầy Lắm, E cô Diệu ( con gái Ông Louis Đại Đồng, F thầy Núi, lớp cô Diệu nằm ngay khúc quẹo và lớp thầy Núi nằm tiếp với hồ nước cạnh kỳ đài Trước hai phòng đầu không có hành lang, bắt đầu từ lớp thầy Huệ trước lớp mới có hành lang .
Thầy Huệ đi dạy bằng chiếc xe đạp sườn xe solex, trước thềm giữa lớp nhì A và B có một hồ nước nhỏ khoảng hơn thước khối nước, thành hồ bằng đá mài màu hồng chứa nước mưa cho học sinh uống. Lớp nhì A đặc biệt có tấm bảng đen bằng đá cẩm thạch dầy khoảng một tấc rất nặng, bạn bè chung lớp tôi còn nhớ có Nguyễn văn Sáu ( hỗn danh là Sáu sậu , Sáu nhậu , Sáu Cạo , Sáu nhánh ) Trò có một bàn tay 6 ngón gốc người Hòa Nghị là học sinh có học bổng, có trò Nguyễn Bá Chính ở Hòa Nghị té xuống piscine suýt chết, có trò Ron ( con trai thầy giáo Đầm ) đi học mà tai còn đeo khoen, có trò Ngài ở Long Chánh sau kỳ nghỉ lễ Bắc bị bệnh chết, có trò Huỳnh trước 75 là tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 12 nhà ở Thạnh Trị . Tôi ngồi đầu bàn nhì phía trái cạnh trò Bòn ở Tân Cương, Sau nầy học chung một đợt trên trung học với tôi có trò Nhuận và trò Sáu. Thầy Huệ rất hiền lành đạo đức, thầy thường ngồi ở mỗi đầu bàn để chấm bài, 5 trò ngồi trên bàn dồn tập ra cho thầy chấm, thầy vừa chấm vừa giảng, thỉnh thoảng thầy cũng nhịp thước đối với những trò quá chậm tiến, trước giờ tan học khoảng 10 phút, thầy thường kể một chuyện đời xưa mà nội dung chuyện kể không ngoài mục đích giáo dục, buổi chiều thầy thường xách vợt đến sân trường Nam ( Trường có 2 sân quần vợt ) để chơi tenis .Mực của học trò thầy Huệ tự pha lấy trong một chai lít mang đến lớp chia cho từng mỗi học sinh nên màu mực trong lớp được thống nhất. Ở lớp nhì có thêm một môn học lạ là môn Pháp Văn, tôi còn nhớ thầy dạy rất dễ hiểu ghép chữ thành những câu ngắn , thầy vừa giảng vừa viết lên bảng le chien là con chó, le là giống đực, le chien est très fidèle , est là là, très là rất, dịch nguyên câu là con chó rất trung tín ... Thầy giảng trò nhớ và tôi nhớ tới bây giờ. Tôi còn nhớ môn vẽ có thầy giáo Giáo, thầy rất hiền, thường Thầy không cho học trò chuốc viết chì bằng ống chuốc mà dạy học trò chuốc bằng dao hay lưỡi lam, tôi chuốc không được khéo nên sau mỗi lần chuốc nhờ thầy xem giùm được chưa, thế là thầy gai mắt chuốc giùm tôi thật đẹp... Năm đó thầy có cho một đề vẽ mà tới bây giờ tôi còn nhớ ..." Vẽ một cảnh mua bán vải ở chợ mà trò thường thấy ". Tôi đã vẽ dở mà gặp đề tài nầy thì chịu dù cảnh nầy tôi vẫn thường thấy, hàng vải chợ Gò Công đâu có xa lạ gì với tôi bởi tôi vẫn thường theo mẹ hay chị đi mua sắm áo quần, dãy hàng vải lúc đó nằm bên hướng tây của chợ, bắt đầu bằng sạp của chị Lan ăn trầu ( dù chị còn rất trẻ ) trong lớp tôi nhớ chỉ có trò Nhuận là vẽ được, Ông thầy cầm bức tranh mà nhìn hoài, riêng dưới con mắt tôi thì tôi thấy rất giống cảnh tôi thấy ngoài chợ. Cũng năm học nầy tôi còn nhớ có họa sĩ Ngân Hà từ Sài Gòn mang tranh lịch sử xuống trường bán cho học sinh, tranh có khổ bằng phân nửa tập vở học trò in trên giấy bìa, mặt trước in hình những bậc anh hùng nữ kiệt trong lịch sử như : thù nhà nợ nước, đầu voi phất ngọn cờ vàng, cờ lau tập trận, chiến thắng Bạch Đằng, Lời thề sông Hóa, Lê Lai cứu chúa ... một bộ 12 tấm, mặt sau in tóm tắc một đoạn lịch sử của bức tranh .
Tôi lên lớp nhứt E học với thầy Thức, một giáo viên trẻ tốt nghiệp Sư Phạm là giáo viên có bằng tú tài I đầu tiên của trường, phòng học nằm ngay đầu dãy trệt, một căn của hội trường, cách một lối đi nhỏ đến hàng rào bông bụp cao quá đầu, ranh giới của nhà vệ sinh, tôi học được 2 tuần lể thì phải trở lại lớp nhì vì thiếu tuổi, toàn trường có khoảng hơn 20 trò, trong đó tôi còn nhớ có trò Trần Công Chức, sau nầy là giáo sư trường bán công Gò Công. Trở lại học lớp nhì thầy Huệ dĩ nhiên tôi học đứng đầu lớp .
Trong thời gian nầy tôi còn nhớ trường có mở giải bóng bàn, trường có một phòng cạnh học xưởng để bảng là Thư Viện nhưng bên trong không có sách vở chi cả mà được kê một bàn banh bông ( Phòng cách kỳ đài với lớp thầy Núi ) Vô địch khối lớp nhì là trò Đinh văn Nhân ( Khi Nhân học đệ ngủ lại chiếm giải vô địch của trường trung học), vô địch khối lớp nhứt là trò Hồ hũu Phước ( tên nhà là Bé Cu, con trai thầy Phụng ).Phước sau nầy phục vụ trong binh chủng Hải Quân còn Nhân tốt nghiệp Cán sự Công Chánh Phú Thọ .
Thời tôi học có 9 lớp nhất bắt đầu từ A đến G - Lớp A Thầy Lộ Công Bích, lớp B Thầy Phan Thanh Sắc, lớp C Thầy Lê Tấn Ngọc, lớp D thầy Lượng, lớp E thầy Lê văn Sấm, lớp F thầy Thức, lớp G thầy Đạt, lao công trường là chú ba Quản, đặc biệt mang sổ kiểm danh hàng ngày có Ông Tám, vóc người ốm cao khoảng 1m80, râu bạc trắng, gốc người Yên Luông Đông đi chiếc xe đạp sườn ngang 700, những người học sinh năm xưa, bây giờ liệu còn mấy ai nhớ tới Ông ...Tôi cũng biết sơ một số nét về các thầy dạy lớp nhứt, Thầy Bích rất hiền miệng lúc nào cũng như mỉm cười, tóc quăn dợn đẹp trai Thầy hỏi vợ lần đầu gốc người Bình Ân, hai bên đều chấp thuận nhưng khi xem thấy kỵ tuổi nên đành chia tay ... kiều nữ năm xưa vẫn còn độc thân tuổi hơn 80 đang sống tại Bình Ân ...Gia đình thầy có lẽ anh em rất đông, thuở nhỏ tôi biết anh Mười Lăm là bạn của anh tôi là em trai của thầy ( hiện ở Canada), tôi không biết anh đã là út chưa ?...Lớp thầy dạy còn kiêm bán hợp tác xã cho trường ( bán văn phòng phẩm ),thầy còn có một quán sách đối diện với nhà Ông Đốc Phủ Hải, một dãy kios cất tạm trên bờ sông bên kia bờ trường nữ tiểu học, quán có tên Cô Giang, thời Ba te thịnh hành, thầy cũng tráng sân trước nhà mở quán ba te, hình như thầy không có số thương mại nên tất cả đều không mang lợi nhuận đến cho thầy...Thời Cộng Sản chúng ghép thầy vào tội đảng phái lưu đày khổ sai ra trại Vĩnh Phú gỡ hơn tám cuốn lịch, tôi là bạn học năm lớp nhì với con trai của thầy là trò Lộ Công Huân, thầy cũng có nhiều công nương cũng thuộc loại sắc nước của tỉnh nhà ...
Thầy Phan Thanh Sắc, gốc người Gò Tre, Thân phụ là bác Bảy Tứ, vợ là cô giáo Khoai dạy trường nữ công và dạy nữ công trường trung học bán công Gò Công, khi vào nghề thầy chỉ là một giáo viên sơ cấp, khi đổi về trường Nam thầy đi dạy bằng chiếc xe mô bi lết từ Gò Tre lên tỉnh, tự học đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, tiếp tục tự học thầy đậu bằng tú tài 1, động viên khóa 13 Thủ Đức, về làm thầy giáo lính trong ban vũ khí thuộc trung tâm huấn luyện Van Kiếp, thầy mướn một căn phố bìa trong dãy phố 6 căn sau lưng ty cảnh sát Bà Rịa, số 85 đường Thành Thái ... Thầy giải ngũ khi mang cấp thiếu úy được 1 năm 18 tháng về dạy lại ở Gò Công, tiếp tục học đậu tú tài phần 2, rồi ghi tên vào Văn Khoa Sài Gòn .... đậu nhiệm ý rồi lần lượt 4 chứng chỉ lấy bằng cử nhân chuyên khoa Nhân Văn tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Trong 12 cấp lớp của chế độ giáo dục miền Nam thầy đã dạy qua tất cả các lớp từ lớp 1 ( lớp chót ) cho tới lớp 12 ( đệ Nhất ) một việc ít có trong nghề giáo và lên tới tuyệt đỉnh của nghề giáo trong tỉnh ... Hiệu trưởng trường trung học đệ nhị cấp ... sau 75 ở tù gần một năm được thả về dạy sinh ngữ tại trường trung học Trương Định, sau cùng giữ chức vụ tổ trưởng tổ sinh ngữ cho tới ngày về hưu.
Thầy Sấm nhà ở khu Kho Muối, gia đình nghèo, là cựu học sinh giỏi của trường P . Ký, trong thời gian đi học phải đi dạy kèm để đủ tiền sách vở, nên đậu xong bằng Díp lom và đậu luôn bằng Brờ vê, thầy phải về quê nhà xin dạy học, tính rất hiền, học trò thầy thường trội môn luận văn, thời gian dạy học thầy thường viết truyện ngắn gửi đăng ở tuần san tiểu thuyết thứ năm với bút hiệu là Lê Sấm, sau năm 75 thầy không phải đi tù và vì tình trạng thiếu giáo sư, thầy được mời dạy Pháp Văn ( Đệ nhị cấp) cho trường Trương Định, Thầy đi dạy trong tư thế " nín thở qua sông ", cố làm trọn chức năng của mình để được hưởng đồng lương công nhân viên dù rất khiêm nhường nhưng không phải dễ kiếm trong một xã hội mà ...Bác Hồ nhân đạo mua gạo phải xếp hàng ...!, bởi vì thầy đang sống trong một bối cảnh mới, có lắm thầy từng được ưu đãi trong chế độ quốc gia đã" trở mình "mau chóng xum xoe nịnh hót nếu họ làm để được yên thân còn tha thứ được ... đàng nầy đã nhẩn tâm tố cáo đồng nghiệp mà lời tố cáo có thể gây tù tội cho người bị tố cáo mà sự việc thật ra không có .... đó mới là điều tồi tệ ., thầy ít giao tiếp, thoảng lắm mới thấy nở một nụ cười. Hiện thầy định cư tại Cali, thỉnh thoảng có gửi thơ đăng báo dưới bút hiệu là Lê Trường Nam.
Thầy Lượng nhà ở Yên Luông Đông, đi dạy cũng bằng chiếc mô bi lết.Học trò của thầy đa phần đều học khá, lớp thầy dạy nằm ngay tầng trệt ngay cổng vào đối diện với piscine .
Thầy Đạt, vợ là cô giáo Thu Hà, thầy đi dạy bằng chiếc xe lam.Tính thầy hiền, trông dáng người hơi khắc khổ nhưng lại có nụ cười rất tươi, thầy thường mặc áo sơ mi măn sết, cài nút tay cẩn thận. Phòng thầy dạy chung hội trường với lớp nhất của thầy Thức.
Tôi lên lớp nhứt C học với thầy Lê Tấn Ngọc, gốc người Yên Luông Đông là con trai thứ sáu của Ông Phán Nhứt. Thầy còn có hỗn danh là Sáu Bụng, là cựu học sinh P.Ký, đậu bằng Díp lôm xin về tỉnh nhà dạy học với ngạch giáo viên công nhựt thời đó lương tháng khoảng hơn 1.700$nên thầy dạy có mấy năm bỏ nghề, sau năm tôi học, thầy tình nguyện vào ngành Hiến Binh, dân dã vẫn quen gọi là ông cò mũ đỏ ... Vào hiến binh ra trường mang lon trung sĩ lương tháng trên 3.500$ " Hà Nam danh giá nhất ông cò ..." lương đã cao hơn đi dạy học mà còn có quyền ... chưa kể tới bổng lộc đủ sống dư thừa ....Sau nầy ngành hiến binh giải thể, một số theo đơn xin về học sĩ quan tại trường Thủ Đức ra trường làm tiểu đội trưởng quân cảnh tư pháp, quyền uy một cõi trong tỉnh, số còn lạì không chịu đi học cho tới ngày sập tiệm mang cấp thượng sĩ, Thầy Ngọc không qua ngành quân cảnh mà phục vụ trong ngành tư pháp Cảnh Sát Quốc Gia, tù đày ra Vĩnh Phú, tưởng đâu thầy đã chết vì ...nước trong một tai nạn té giếng ở trại nầy, hiện thầy định cư tại bang V.A...
Tôi ngồi bàn nhứt, góc bìa sát tường là trò Trần Công Quang ( hải quân trung úy ) con trai của thương gia Trần Công Đán, bên cạnh tôi là trò Nguyễn văn Ba ( hỗn danh Ba Nựng, nhập ngũ khóa 4/69 , mang cấp Đại úy hải quân, hỗn danh trong tù là Ba bọ chét) ) trò quá nhỏ con, nên khi nghe giảng bài thì trò ngồi, khi chép bài thì trò đứng, đầu bàn là trò Nguyễn Công Hoan ( trò có tật chân nên có hỗn danh là Hoan què ) trò nầy khi lớn tôi không gặp lại ...Thầy Ngọc có một vũ khí bằng gổ hình dáng như cái bánh trung thu, trò nào giỡn hay làm bài sai rất dễ dàng được thầy cho ăn cái bánh vào đầu, lớp nhứt C nằm ở cạnh mặt Bắc trường, ngó ra kỳ đài, trước lớp có một cái trống để trên cái giá trống, thầy Ngọc phụ trách điểm giờ, trống ra chơi và vô học đánh 3 tiếng, trống tan trường đánh nguyên hồi dài, thầy đánh trống rất điệu nghệ, trong lớp có trò Trần Công Chức có nhịp trống cũng suýt soát với thầy, thỉnh thoảng cây dùi cũng bị trẻ rắn mắt dấu mất thầy phải đánh bằng tay ...! Tôi còn nhớ, trong lớp có trò Âu, trò học kém nhưng ngâm thơ rất khá, buổi trưa trời nóng, học trò thường ngủ gục, thầy thường gọi trò Âu đứng dậy ngâm thơ, bài thơ nỗi tiếng của Vũ Đình Liên ...Ông Đồ Già ( có in trong quyển Việt ngữ độc bản ) Trò Nguyễn văn Tấn hát tân nhạc trò là học sinh học lại nên học rất khá, trò ngâm thơ và ca được 6 câu vọng cổ ... Trò thường ngâm đoạn thơ Anh Hùng Nguyễn Trung Trực một vở kịch thầy đang cho lớp tập mà chưa xong ....Em là cô gái Tà Niên - Đường xa gánh chiếu ra Kiên Giang thành - Chiếu em là chiếu chung tình - để người áo vải anh hùng bước lên ...đặc sắc nhứt về 6 câu vọng cổ là trò Vàng ( nhà gần chùa Thiêng Liêng ), Ngoài ra còn có trò Thời, biểu diễn bài tứ trụ và bài Mai hoa quyền ( trò nầy lớn lên thành danh trong nghể võ, võ sư Hồng Long nỗi tiếng trước 75 và cũng là phó ty thanh niên Gò Công sau khi tốt nghiệp trường huấn luyện viên thanh niên trung cấp, sau 75 mở trường võ lấy tên là Triệu Tử Long, cạnh nhà thầy giáo Liểu và đối diện với nhà Lục sự Châu văn Phú ..) Cuối năm Trường Nam thường có văn nghệ tổ chức phát thưởng hay văn nghệ trình diễn ngoài trời vào dịp bãi trường tết, lớp thầy Ngọc năm nào cũng góp mặt một vở kịch xuất sắc, lần hát tại hội trường của trường thầy cho diễn vở " Bình Định Vương Lê Lợi " với trò Trương Văn Phò( Phi đoàn chiến tranh điện tử) xuất sắc trong vai Lê Lợi, lần hát tại bến xe đò Gò Công lớp nhứt C góp mặt với vở kịch " Ông Thầy Láo " do trò Vàng thủ vai pháp sư rất được dân chúng hoan nghênh, có trò Láng ngồi bàn chót rất lớn tuổi, trò Láng dù học lớp nhứt nhưng cũng dự thi đua xe đạp do Ty thanh niên Gò Công tổ chức, đa số bạn học chung lớp nhứt tôi đều nhớ tên hết nhưng không tiện kể ra vì quá dài, có một người bạn chung lớp nhất ngồi bàn áp chót là trò Nguyễn văn Bảy ( có hỗn danh là Bảy mát, Bảy thần kinh ... ) thân với tôi từ thuở đi học cho tới ... bây giờ ( trước 75 trò là SVSQ không quân khóa 7/68 nhưng ra trường về SĐ7BB, giờ chót làm đại đội trưởng biệt lập đóng tại cầu Tân Cảng )
Trong năm học nầy có thầy Phạm Văn Răng gốc người Bình Ân dạy thể Dục và Thầy Minh dạy nhạc, vẽ thầy Giáo ..
Năm học nầy phải qua một kỳ thi tiểu học, tôi còn nhớ thủ khoa toàn trường là trò Đổ văn Vân, học trò thầy Sắc ( bên trường nữ thủ khoa là trò Nguyễn Thị Hiếu, sau nầy là vợ của giáo sư Nguyễn văn Non, Hiếu đã qua đời ở tuổi tri thiên mệnh tại Gò Công ), riêng trong lớp nhứt C tôi được xếp thứ 2 sau trò Nguyễn văn Tám ( hỗn danh là Tám Thơ, tai có đeo khoen, ở Gò Công lúc đó có chú Tám Thơ là anh của chú Chín Cò mở ra tiệm hớt tóc ngay Kios đầu tiên bên hông chợ có căng băng vải quảng cáo, trong tiệm trang hoàng rất đẹp có dàn đờn cổ nhạc, có cờ tướng nên rất hấp dẫn khách ...)
Tôi còn nhớ và nhớ rất rõ như chuyện xảy ra ngày hôm qua, thầy Ngọc gọi tôi lên bàn thầy để nói về chuyện phát thưởng cuối năm, thầy cho tôi biết, dù tôi là hạng nhì, nhưng môn toán tôi kém hơn trò Nguyễn văn Để xếp thứ ba nên phần thưởng hạng nhì dành cho trò Để nên phần tôi khỏi lãnh gì hết ( mỗi lớp chỉ có hai phần thưởng ) Quân sư phụ, khi thầy đã quyết định thì làm sao dám cải ... Việc nầy ám ảnh tôi suốt đời đi học, tôi đâm ra ghét học môn toán ...Sau nầy lớn lên tôi mới hiểu rõ lý do ....
Đây cũng là niên học quyết định của đời học sinh, vì nếu đậu được vào đệ thất thì con đường đi được thênh thang suốt 7 năm dài, rớt kỳ thi đệ thất phải thi tuyển vào lớp tiếp liên ... học trường tư là một gánh năng cho gia đình ...mà kết quả học cũng khó bằng trường công .
Niên khóa 59-60 Trường Trung Học Gò Công mở kỳ thi tuyển vào đệ thất lấy đậu 100nam và 50 nữ, có tất cả 1.500 thí sinh toàn tỉnh tham dự . Thủ khoa là trò Trương văn Xệ ( học trò lớp tiếp liên Thầy Nhàn ) ngày loan báo kết quả đọc tại trường Nam tiểu Học, khi thầy xướng tên người Thủ khoa thì Xệ được đở đứng lên thềm cửa sổ để mọi người nhìn rõ mặt, có nhiều tiếng xì xầm trong hàng ngũ phụ huynh :
-Ý là Xệ mà còn thủ khoa ...!Ông thầy đọc tới hạng 100 mà vẫn chưa có tên tôi, dù tên tôi cũng rất dễ đọc .
-Sau đây là 5 em đậu vớt ...101 ..., 102..., 103 Trần văn Bán , 103 đồng hạng Võ Hiếu Để , 103 đồng hạng là tên cúng cơm của tôi, thế là tôi đứng chót bảng, vẫn còn hơn cả ngàn tên không có tên, ba trò hạng 103 đều là học trò lớp nhứt C cuả thầy Ngọc, năm đó lớp nhứt C đậu tổng cộng 5 trò ( Trần văn Tâm và một trò nữa tôi quên tên ) phá kỷ lục của trường Nam, bởi vì học sinh lớp nhứt phải học nhiều môn như thủ công, nhạc, vẽ, thể dục, pháp văn, đức dục, hoạt động thanh niên đều là những môn không có trong chương trình thi mà phải đụng với hai lớp tiếp liên thầy Nhàn, một lớp tiếp liên bán công của thầy Tạo, lò luyện thi đệ thất của Thầy Xuyên ( Hòa Nghị ) thầy Chương ( Tăng Hòa ) thầy Đủ ( Tân Phước ) ...chưa kể học sinh đệ thất đệ lục trường tư trở lại thi ...và một số ghế dành cho các quý tử con quý vị chức sắc tỉnh nhà được sự gửi gấm ( thử tìm xem có con ộng trưởng ty chi sở nào học trường tư không ?)
Đặc biệt hai trò đậu thủ khoa bằng tiểu học đều không có tên trong danh sách, cũng như trò Tám và trò Để hai trò lãnh phần thưởng của lớp tôi .Bên nữ trò Trần Thị Phát, ái nữ của thầy giáo Đẩu đậu thủ khoa ...
Trước năm 1957 , trường tiểu học Gò Công là trường tỉnh lỵ, thuộc ty tiểu học Gò Công và mỗi năm mỗi bành trướng thêm.Nhưng từ năm 1957 tỉnh Gò Công được sáp nhập với tỉnh Mỹ Tho nên trở thành trường Quận, thuộc ty tiểu học Định Tường, càng ngày trường càng thu hẹp vì lần lượt các trường sơ cấp lân cận được mở rộng thành trường tiểu học .
Ngôi chánh là một nhà lầu hình chữ thập, từng dưới có một phòng việc hiệu trưởng và 3 phòng học, từng lầu có 4 phòng học, dãy trệt gồm có 10 phòng học ; tất cả nằm trên một miếng đất hình chữ nhật dài 76mét rộng 60mét có rào tường bằng gạch chừa hai cửa vào cửa phía Nam ngó ra đường Trường Công Định , cửa phía Tây thông ra đường Gia Long đối diện với cổng trường nữ tiểu học Gò Công .
Sân trường rộng đủ chỗ cho học sinh chơi, có trồng cây che mát, một vài gốc phượng vỹ lâu đời trổ hoa rực rỡ vào mùa chia tay ...với vài cây lim mới trồng , sân chơi không lầy lội nhờ có 2 sân quần vợt, điều kiện vệ sinh rất thích hợp, phòng học rộng rãi thoáng mát.Trường có hồ chứa nước mưa cho học sinh uống và một nhà xí tự hoại 12 căn .
Những cây phượng năm xưa bây giờ còn không nhỉ ? một cây cổ thụ tàn che mát phòng lớp thầy Sấm, một cây cạnh lớp thầy Bích ... Những cây Lim lúc tôi học chưa cao khỏi đầu người lớn nay nếu còn thì cả lớp năm xưa trèo lên cũng còn dư chỗ, Tôi nhớ những chiếc xe đạp nhỏ xíu xếp gọn gàng trong nhà để xe bắt đầu từ cổng đối diện trường nữ kéo dài đến Học Xưởng ( tiền thân của trường Kỷ Thuật, lúc tôi còn học, trường Học Xưởng có 3 phòng nằm ké trong khuôn viên trường Nam, Một phòng học văn hoá trong phòng tầng trệt ngó ra kỳ đài, 2 phòng nằm cạnh phòng thư viện gồm một lớp thực tập mộc và một lớp nguội, Lớp dạy văn hóa do Thầy Nhản ( chồng Cô Sa Bi) phụ trách, lớp Mộc do Thầy Giáo Hiện phụ trách lớp, lớp nguội tôi không nhớ, Hiệu Trưởng là Thầy Trần Văn Báu, chồng của Cô Lê Thị Điệu hiệu trưởng trường nữ công )
Những chiếc xe đạp tuy nhỏ nhưng đều là những con thần mã mang chú học trò từ Tân Bình Điền, Vàm Láng, Tân Thành ... đều xa trên 10 cây số ...
Thời tôi học, trường giữ được một kỷ luật tuyệt đối cũng nhờ vào sự tận tâm và đạo đức của quý vị thầy cô, Ông Hiệu Trưởng Võ Văn Giáp, thầy giám học Nhàn, tự hậu tôi nghĩ khó tìm được người thay thế ...
Thời đó tuyệt nhiên không bao giờ thấy một vị thầy nào la cà ở quán cà phê chứ đừng nói quán nhậu ... như những thời mạt vận sau nầy ...!!
Tôi viết về ngôi trường tiểu học mà tôi rất vinh dự được mài đủng quần 6 năm tại đây, trường có một chiều dài thời gian tương đối lớn, nên một cá nhân không thể nào dùng ký ức mà hồi tưởng lại được tất cả mọi sự việc xãy ra tại trường, dù bộ nhớ của tôi thuộc hạng khá tốt, những gì tôi thấy, những gì tôi nghe,những sự việc đó cho tới bây giờ tôi cũng còn nhớ, người viết rất mong được đọc các bài kỷ niệm về trường của các bậc huynh trưởng cũng như của các niên đệ ...để một phút nào rỗi rảnh, đọc lại hồi ức về trường, để mà bồi hồi nhớ lại một thời tuổi thơ, nhất là công ơn của thầy cô ...đã ân cần dạy dỗ ta thuở còn thơ ấu ...
...Cái gì qua rồi mới thấy tiếc !!

Thủy lan Vy
Viết tại Kỳ Đà Động , Mạnh Thu 2002


__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
nhonhatrang (06-07-2015), Sương Đêm (19-03-2015)
Old 25-01-2015, 08:46 PM   #16
thylanthao's Avatar
thylanthao
Senior Member

 
Join Date: Dec 2012
Đã Cảm ơn: 241
Được cảm ơn: 1,570 lần/997 bài
Status:thylanthao is offline
 
thylanthao is on a distinguished road

Default

Tôi học khóa 5 , Đệ Nhất Cấp
Trường Trung Học Công Lập Gò Công
-*-


- Thành kính biết ơn quý Thầy Cô đã dạy dỗ tôi suốt 7 năm trung học
- Thương nhớ bạn bè cùng khóa học đã từng chia xẽ buồn vui
- Thương nhớ Gò Công, nơi chôn nhau cắt rún nay cách xa ngàn dặm

Bây giờ, tôi ngồi đây viết lại những kỷ niệm của ngày còn đi học, dưới mái trường trung học công lập Gò Công, tôi thấy đây là một việc làm tương đối khó với tôi, vì với một khoảng thời gian tương đối dài, hoàn cảnh sống trong xã hội có nhiều thay đổi, cũng như cuộc sống của cá nhân tôi, đã phải trải qua nhiều khúc quanh theo từng khúc quanh của thời cuộc. Tôi rời trường trung học Gò Công sau niên khóa 1965- 66, tôi là học sinh khóa 5 của trường
Một khoảng thời gian hơn 8 năm trong lao tù Cộng Sản, và gần 9 năm sống trong xã hội Cộng Sản sau lao tù, đã một phần nào ảnh hưởng đến trí nhớ của tôi, nó không còn được minh mẩn như thời tôi còn đi học, nhưng lòng thiết tha với ngôi trường đã cho tôi một vốn liếng kiến thức căn bản, lòng quý trọng quý thầy cô, đã bỏ nhiều công sức dạy dỗ tôi, lòng thương nhớ bạn bè đã từng kề cạnh suốt 7 năm trường, tôi cố gắng ghi lại những gì tôi còn nhớ, dĩ nhiên không thể nào không có sự thiếu sót, nhầm lẫn ....
Tỉnh Gò Công là một tỉnh lỵ nhỏ nhất của nước Việt Nam Cộng Hòa, nếu là quận, lại là một quận lỵ lớn nhất, thời Tây là tỉnh, thời đệ nhất Cộng Hòa, Gò Công là quận lớn nhất của tỉnh Định Tường, đệ nhị Cộng Hòa, Gò Công trờ lại thành tỉnh, sau ngày trời sập, tỉnh Gò Công trở thành hai Huyện thuộc tỉnh Tiền giang, bây giờ là thị xã Gò Công với hai huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây, thuộc tỉnh Tiền Giang, tỉnh nhỏ dĩ nhiên trường học cũng nhỏ, trường Trung Học Gò Công sinh sau đẻ muộn, năm 1960 mới có mặt trên danh hiệu và phải một hai năm sau, mới thực sự có cơ sở trường ốc riêng biệt...
Trước đây, chữ khóa chỉ được dùng cho các khóa học quân sự hoặc hành chánh, chữ khóa không dùng trong trường học, nếu một người tốt nghiệp khóa 21 Thủ Đức, gặp một người tốt nghiệp khóa 10, thì chỉ biết người nầy là khóa đàn anh, mà không biết chính xác về nhiều chi tiết khác, thầy Nguyễn Văn Ba, giáo sư văn chương trường, là người đầu tiên sử dụng chữ khóa để chỉ danh, xác định những học trò cũ đến thăm thầy, sau nầy nhiều người thấy tiện nên dùng rồi quen. Muốn biết mình học khóa nào thì lấy năm thi tú tài phần 2 trừ cho năm 1961... Thí dụ như tôi học khóa 5 gặp một người đồng hương học khóa 16 chẳng hạn, tôi biết ngay anh nầy học sau tôi 11 năm, và cũng nhỏ hơn tôi trung bình 11 tuổi .
Trước khi trường Trung Học Gò Công ra đời, tỉnh Gò Công có trường tư thục Khai Trí do Ông Hiệu Trưởng Bùi văn Tuấn sáng lập,dù chỉ là một trường đệ nhất cấp, nhưng cơ sở cũng khang trang, sinh hoạt thể thao phát triển mạnh, cũng có hội banh riêng và hai trường tư thục khác là trường Thăng Long và trường Huỳnh Phước.Tỉnh Gò Công là một tỉnh nghèo, xứ đồng chua nước mặn, làm ruộng đủ ăn đã là may, một số ít sống nhờ vào biển là các làng dọc theo duyên hải, cũng như vài làng sống nhờ huê lợi vườn tược như Vĩnh Lợi, Vĩnh Hựu ...Để vươn lên khỏi cảnh nghèo đói, dân chúng thường cho con em ăn học, mong đổ đạt, hầu thay đổi đời sống, vị trí trong xã hội ... Việc học hành phải lên tận Sài Gòn hoặc Mỹ Tho, thật nhiều tốn kém và khó khăn, tuy nhiên gia đình nào trì chí thì con em đa số đều đạt được sở nguyện, ít ra bước vào đời cũng tạm đủ nuôi thân ...
Cả tỉnh Gò Công, năm tôi thi đệ thất, chỉ tuyển có 100 nam và 50 nữ, với số dự thi là 1.500 thí sinh, một cuộc đọ sức hào hứng nhưng quá gay go, các học sinh lớp nhất thường dự thi chỉ để lấy kinh nghiệm, vì tại trường Nam tiểu học tỉnh lỵ có 2 lớp Tiếp liên do Thầy Nhàn phụ trách, 1 lớp sáng và một lớp chiều, một trăm trò lớp tiếp liên cũng là thành phần gạo cội của đám thí sinh vừa rớt đệ thất, phải qua một kỳ thi mới được vào học 2 lớp tiếp liên nầy,Bên trường nữ tiểu học cũng có một lớp tiếp liên do cô Ngô Tuyết Huệ phụ trách, ngoài ra, còn có lớp tiếp liên bán công do thầy Tạo phụ trách, một vài xã có lớp luyện thi đệ thất nổi tiếng, như lớp nhứt thầy Tám Đủ ở Tân Phước, thầy Xuyên ở Hoà Nghị, thầy Chương ở Tăng Hòa, tại trường nam tỉnh lỵ có 7 lớp nhất, của 7 ông thầy đầy kinh nghiêm, đó là Thầy Bích, Thầy Sắc, Thầy Ngọc, Thầy Lượng, Thầy Thức, Thầy Đạt, Thầy Sấm .
Lớp tiếp liên chỉ học các môn thi( toán, luận văn, câu hỏi thường thức ), còn lớp nhất phải học các môn phụ khác như hoạt động thanh niên, thủ công, vẽ, nhạc, pháp văn, thể dục, đức dục ... các lớp nhất trong làng xã, nhiều thầy cô đã vu vi bỏ các môn phụ, số học sinh thi đậu vào đệ thất, cũng là sự đánh giá khả năng của phụ huynh đối với ông thầy... Trong lớp nhiều thầy chỉ lo rèn những học sinh có khả năng, trò nào dở quá ... cho dở luôn với hy vọng có tỷ số đậu cao vào đệ thất ...
Trong giảng khóa chính thức, nhiều thầy đã mở lớp luyện thi tại tư gia, một hai tháng hè trước ngày thi, lớp luyện thi đệ thất được mở ra khắp nơi, chính thức dạy tại trường Nam Tiểu học là thầy Nhàn, thầy dạy miễn phí cho học sinh lớp tiếp liên của thầy, còn những vị khác thì dạy tại tư gia. Tôi học lớp nhất với thầy Ngọc, ông thầy trẻ, có bằng đíp lôm thời đó, có tiếng là dạy giỏi, năm tôi học, thầy mới cưới vợ, thầy có nhà riêng là một căn phố sát bờ sông trong dãy phố ở Kho Muối, bên kia con lộ là xóm nhà cháy ( Trận hoả hoạn lớn nhất tỉnh thời đó )... Thầy dạy mỗi đêm 2 giờ chủ yếu là luyện toán, lớp đêm được hình thành tại bàn ăn nhà sau của thầy, học sinh đa số là học trò lớp thầy, có 2 trò nữ, một là trò Lê Kim Vun, em thứ 10 của thầy và trò Nguyễn thị Hồng em gái của trò Nguyễn văn Thắng ( hổn danh là Thắng Chín Tý ) nhà ở xóm Cỏ. Những trò khác là Võ Hiếu Để, trò Út, trò Cường chung lớp nhất với tôi, trò Nguyễn Hồng Điệp ( tiếp liên bán công ) Trần Thành Kỉnh ( tiếp liên thầy Nhàn ) Tiêu Thái Diện ( tiếp liên )... Mỗi tháng thầy thu 30 $ Riêng với tôi thầy không lấy tiền vì thầy là bạn với anh tôi .Thuở đó tôi đóng tiền thầy không nhận, tôi chỉ biết cám ơn mà sau đó, không biết mua quà biếu thầy, bây giờ nghĩ lại thấy còn mang nợ rất nhiều của thầy ( Nợ tiền nợ bạc còn dễ trả chứ nợ khai tâm rất khó trả ). Trong lớp đêm nầy người học trò giỏi toán nhất là trò Nguyễn văn Thắng, bài toán nào thầy chép đề xong thì trò là người nộp bài đầu tiên và đều trúng cả ... Trò còn dư giờ chỉ cho em gái là trò Hồng ... Học tài thi mạng năm đó trò Thắng rớt phải làm lại giấy khai sinh tên Nguyễn văn Hai, vào Tăng Hòa thọ giáo Thầy Chương và đậu vào khóa 6 năm sau, trong cuộc chiến vừa qua Thắng đã mất tích trên chiến trường Miên với màu áo Sư Đoàn 9.
Thầy Ngọc bận chuyện phải đi Sài Gòn, lớp đêm giải tán, Ba tôi dẫn tôi vào trường Nam, xin với Thầy Nhàn cho tôi học lớp luyện thi cuả thầy ... Trong tình đồng nghiệp và cũng là chỗ quen biết với Ba tôi, Thầy Nhàn nhận lời, tôi vào trể nên ngồi bàn chót, phòng học nằm trong dãy trệt sát gần kỳ đài,phòng lớp nhì của thầy Núi .
Thầy Nhàn dạy toán và luận văn, tôi còn nhớ, đề luận tự học sinh ra đề, với điều kiện, đề không có trong bất cứ quyển sách luận văn nào. Thầy mang bài về nhà chấm, hôm sau thầy sẽ đọc cho cả lớp nghe một vài bài luận văn hay. Tôi còn nhớ bài luận đầu tiên tôi tự ra đề như sau:
" Buổi trưa trời nắng, trò hãy tả lại cảnh phu lục lộ làm đường mà trò đã chứng kiến "
Hôm sau Thầy Nhàn gọi tôi đứng lên và nói với cả lớp
- Các trò lắng nghe, học lớp nhất mà trò nầy viết được bài luận như thế nầy ... Cũng hôm đó thầy có đọc bài của trò Dương lập Phủ, trò Phủ gốc người Kiểng Phước, tả cảnh bắt ếch trong một đêm mưa .
Thế rồi ngày thi đệ thất cũng đã đến. Buổi sáng hôm ấy, thành phố Gò Công có một sinh hoạt khác hẳn bình thường, dân chúng các làng dẫn con em ra tỉnh dự thi, khăn nón, cơm đùm, đứng tụ quanh trên các con đường trước trường nam và trường nữ tiểu học, nơi đặt hai trung tâm thi chánh của khoa nầy, Trên mỗi nét mặt của từng phụ huynh, người ta nhìn thấy được sự ưu tư, lo lắng. Ở thời điểm nầy, đây là một kỳ thi hết sức quan trọng, trước tiên là con em đi học được miễn phí suốt 7 năm liền, sau nữa là học trường công dù sao cũng ...dễ nên người hơn .Phòng thi của tôi nằm trong trường nhà đèn, phòng giữa dãy cạnh bờ sông( phòng mà thời sơ cấp, tôi học lớp ba B với cô Sáu Nghĩa). Buổi sáng thi luận văn và câu hỏi thường thức ... Bài luận đối với tôi tương đối dễ "Trò đã làm một việc thiện. Hãy kể lại" .Tôi làm bài với cảm giác dễ dàng nên tan trường đã ra về trong tâm trạng hân hoan thư thái. Buổi chiều thi toán. Đề toán gồm 2 bài, một bài toán phụ và một bài toán chánh ... Bài toán chánh là bài toán về động tử " một người khởi hành bằng xe đạp từ Vũng tàu lúc 8 giờ sáng, đi về Sài Gòn với vận tốc 23 km/giờ....Sau một giờ khởi hành thì xe đạp bị bể bánh, phải ngừng lại vá xe mất 15 phút. Cũng lúc 8 giờ một chiếc xe đò chạy từ Sài Gòn ra Vũng Tàu với vận tốc trung bình 54km/giờ . Hỏi hai chiếc xe sẽ gặp nhau vào lúc mấy giờ, điểm gặp nhau cách Sài Gòn bao nhiêu km, biết rằng Sài Gòn Vũng Tàu cách nhau 125 km.
Tôi làm toán cũng thấy dễ dàng như đã từng làm trong lớp, thầy Ngọc đã ra biết bao đề toán về động tử nầy, nhưng khi rời phòng thi mới biết trật bài toán chánh ... Bài luận dù viết dễ dàng, với câu hỏi thường thức thuộc nằm lòng, vẫn thấy khó qua được kỳ nầy vì đây là kỳ thi tuyển.
Tôi còn nhớ, quý thầy gác thi, có lẽ từ các trường làng về nên trông rất lạ, buổi sáng thi luận và câu hỏi thường thức trời nắng rất đẹp, tôi làm bài xong trước giờ, rảnh rỗi dò lại bài ... nhìn ngó mong lung ra sân trường ... Tôi nhìn thấy giám thị hành lang đi đi lại lại ... đều là những vị giáo sư dạy trường trung học mà hầu hết tôi đều biết tên như quý Cô Hồ ngọc Lệ, Trần Thành Mỹ, Giang thị Hạnh, Nguyễn Kim Hoa, Quý Thầy Trần Văn Kỳ, Nguyễn Văn Ba, Võ Văn Đài, Đoàn Huy Oánh, Vũ Ngọc An, Lê Quý An, Đào Vũ Thân ...Buổi chiều thi toán xong, tan trường thi, trời chuyển giông rất mạnh, cây đa trước trường nữ và hàng me trên đường Gia Long trước ty Tiểu học, đều bị gió đùa lả ngọn, lá me rơi bay đầy đường, bám trên áo, vương trên tóc người đi đường, tôi bước ra cổng trường thi, với lòng thật buồn, trên con đường trải đá xanh trước trường nữ công ... bụi cuốn mịt mù, quẹo qua đường Gia Long, rẽ mặt trước Bưu Điện, đi về hướng Cầu Huyện, tôi bước đi chậm chạp, dù trời đang chuyển mưa giông .... Hay không bằng hên, kết quả chấm đậu một trăm trò nam, không có tên tôi, vớt thêm 5 trò tôi đứng hạng 103 đồng hạng với trò Võ Hiếu Để và trò Trần Văn Bán, lớp nhất C của Thầy Ngọc đậu 5 trò có trò Trần Văn Tâm ( nhà gần ao trường đua, thường phải cắt cỏ cho ngựa ăn sau giờ học, đậu hạng khá cao )... Một kết quả rất khả quan lúc bấy giờ đối với học trò lớp nhất.Riêng lớp đêm luyện thi của thầy Ngọc, chỉ rớt có mấy trò là trò Út, Thắng, Cường ...
Thủ khoa là trò Trương văn Xệ, học sinh lớp tiếp liên Thầy Nhàn, bên nữ là trò Trần Thị Phát ái nữ của thầy giáo Trần văn Đẩu. Đặc biệt là hai trò đậu thủ khoa bằng Tiểu học của hai trường Nam và nữ là trò Đổ văn Vân ( học trò thầy Sắc ) và trò Nguyễn Thị Hiếu đều không có tên ( và cả hai cùng đậu vào đệ thất năm sau ) Tất cả thí sinh trúng tuyển, chỉ có 3 trò là người miền Bắc, đó là trò Thanh con trai của Ông xếp bắc Cầu Nổi, trò Hoàng Mạnh Hùng Cường con của Ông Hoàng mạnh Hùng và là cháu của Thầy Vũ Ngọc An, trò nầy là học sinh tiểu học Sài Gòn, theo thầy An về Gò Công thi đệ thất, nên trò chỉ học có một năm là xin chuyển trường về Sài Gòn, bên nữ, trò Uông Từ Mỹ là ái nữ của Ông Uông văn Cần, Trường ty Công Chánh .Ngoài ra còn có trò Hùynh kim Cúc ( Cúc tóc vàng ) gốc nguòi Hòa Nghị nhưng có mẹ là người Bắc ;Nguyễn Hồng Điệp có ba gốc người tỉnh Nghệ An.
Tôi còn nhớ khi thầy xướng danh thủ khoa ( kết quả thi được đọc tại trường nam tiểu hoc, thầy xướng danh đứng trong cửa sổ phòng đầu, phòng lớp nhất thầy Lượng), nhiều phụ huynh trầm trồ bàn tán, Một ông bác có đầu tóc ( Sau nầy tôi mới biết là ba của trò Huỳnh Công Hiệp, ở Kiểng Phước ) vừa cười vừa nói :
- Ý là Xệ mà còn đậu hạng nhất chớ phải Săn thì còn đậu cao nữa. Tôi nghe một ông bác đầu đội nón nỉ xám trả lời :
- Săn với Xệ gì anh, đậu hạng nhất rồi còn hạng gì cao hơn nửa hổng biết . ( Kỳ Thi đệ thất năm sau tôi cũng có đi xem kết quả, trên đường về tôi đi sau một phụ huynh và đã được nghe :
- Người ta là Chơi ( Trò Nguyễn văn Chơi đậu thủ khoa, sau nầy là sĩ quan khóa 25 võ bị ) mà đậu hạng nhất, tao đặt mầy tên Siêng, mà mày trợt vỏ chuối )
Rồi ngày khai trường cũng tới ( Niên khóa 1959-1960), Năm đó, trường chưa bắt học sinh mặc đồng phục, tôi mặc quần tây dài, áo sơ mi trắng may ở tiệm may Chí Thành, chiếc cặp da cũ truyền đời của người chị thứ Sáu, đang học khóa 2 cùng trường, đi giày săn đal đặt ở tiệm Tân Tiến, Tôi đi cùng với chị tôi đến trường, nữ mặc áo dài trắng, còn nam sinh thì đủ kiểu, quần dài cũng có, mà sọt cũng có, thường mang săn đal, dép nhựt, hay giày ba ta trắng ... vải quần tây thời đó sang thì đạc rông, ọt lông, thường là kaki xanh, vàng hoặc trắng .
Mỗi học sinh phải mua ít nhất một huy hiệu trường, làm bằng kim loại ( hình mặt trời mọc có khắc tên trường ) có kim gài phía sau, nam gắn trên miệng túi áo, nữ trên hò áo ( sau nầy phù hiệu làm bằng vải, học sinh phải may dính hẳn vào áo )
Lúc bấy giờ, trường trung học mới chỉ có ba dãy hình chữ U, hai dãy song song, mỗi dãy có 3 phòng, một dãy ngang có 5 phòng, giữa là một kỳ đài với cột cờ khá cao, trường đang xây cất thêm văn phòng phía trước. Hai lớp đệ thất nam học tại nhà xe của dinh Tỉnh Trưởng ( lúc đó là Quận ) đối diện bên kia đường, sân trường mới trồng mấy cây lim cao khoảng hơn thước.Trường báo giờ bằng một cái chuông, có quả lắc buộc vào một sợi dây, dùng tay để lắc chuông treo ở sà ngang phòng học đầu dảy bên trái ( năm tôi học đệ nhất giái chuông bị trò quỷ nào lấy mất, chú Hai Vũ Đình Lân phụ trách đi sổ các lớp vào lớp tôi tìm
- Anh nào lấy giái trả lại ngay, có lẽ vì giận, nên chú nói ngắn lời, chúng tôi lủ quỷ có dịp cười thật đã ...Tôi nghe tiếng trò Năm ( Năm Lửa ) nhái giọng Bắc ... Trò nào cũng có hết lấy thêm làm chi ...) Lúc tôi lên đệ nhị cấp thì chuông được treo trên cành cây lim, sát văn phòng giám thị .
Là một trường thuộc cấp Quận, nên dù đã tới ngày khai trường, các lớp học các cấp vẫn còn thiếu nhiều giáo sư. Năm nầy cấp lớp cao nhất trường là lớp đệ tam ( Hai lớp ban A một lớp ban B )... Học bên khu nhà xe rất thoải mái cho học sinh chúng tôi, vì xa mặt trời, giám thị băng ngang đường là chúng tôi đã trông thấy và hàng ngũ sẽ được chỉnh đốn ngay. Lúc đó giám thị là Thầy Châu Văn Giao, thầy thường băng qua lộ tay cầm cây roi ngắn ... Vào tới lớp, tay thầy nhịp roi vừa nói :
- Tụi bây, cơm ghe bè bạn vào đây để giỡn phải không, mẹ! Hồi nảy thầy nghe trò nào chửi thề đó, đứng lên coi ...Con nít con nôi mà bày đặt chửi thề .. Tụi bây coi chừng tao ...Lần nào tụi quỷ chúng tôi nghe thầy rầy cũng cố nín cười, tội cho nhiều trò vì nín quá mà mặt đỏ như ... Quan Công ... Tính thầy nóng nhưng rất dễ, con gái thầy là trò Bích Liên học cùng đợt với tôi
Một trăm lẻ năm nam sinh được phân chia theo thứ hạng, 50 trò đậu đầu học lớp thất A , và các trò từ hạng 50 về sau học lớp thất B .
Tôi còn nhớ ngày khai trường có trò Lý Xéo ( khóa 4 ) đi lại khu đệ thất chúng tôi đang đứng, để xem mặt trò Cọp và trò Hùm ( trò Xéo sau nầy tốt nghiệp cán sự điện tử Phú Thọ, ra trường làm tại đài phát thanh SG, hiện định cư tại Úc ). Thời đó thầy Châu văn Giao và cô Sáu Hồ làm giám thị . Hiệu Trưởng là thầy Đoàn Văn Xếnh,thư ký trường là thầy Trần Văn Lợi, lao công trường là Chú Bọ... Mặc dù đã khai trường, nhưng lớp tôi mới có vài thầy dạy như thầy Đặng Xuân Chiếu dạy Công dân, thầy Võ văn Đài dạy Vạn Vật, thầy Nguyễn văn Hân dạy Việt Văn và Hán văn, thầy Phạm Hữu Thu dạy âm nhạc, thầy Võ văn Giàu dạy vẽ, thầy Vũ Ngọc An dạy Anh văn, sau ngày khai trường khoảng 2 tháng mới có đầy đủ giáo sư. Đây cũng là năm khóa 2 Quốc Gia Sư Phạm ( ban 3 năm ) ra trường, có khá đông tân giáo sư khóa nầy về trường, bắt đầu từ đây tương đối đã đầy đủ giáo sư
Có một vài thay đổi nhân sự khi trường tương đối tạm đủ giáo sư .
Thầy Hân về làm văn phòng, thầy Chiếu giữ chức thủ quỷ, thầy Đài chức giám thị. Lúc đó trường chưa có chức Giám học và Tổng giám thị .Các thầy cô đứng lớp đầy đủ như sau :
Quốc văn và Hán Văn cô Nguyễn thị Nhẩn ( Khóa 2 QGSP) Cô cũng là giáo sư hướng dẫn lớp , Đức Dục Công Dân cô Nguyễn Kim Hoa ( Khóa 1 QGSP ban 3 năm), cô dạy hơn tháng xin ra làm việc văn phòng, thế cô Hoa là cô Giang Thị Hạnh ( khóa 1 QGSP, Người Châu Đốc ) Sau năm học nầy cô Hạnh chuyển về dạy tại quê nhà, trường Thủ Khoa Nghĩa, Anh Văn thầy Vũ Ngọc An, thầy có hỗn danh là An quắn, lúc đó trường có 3 thầy tên An, Lê quý An dạy anh văn cấp đệ lục và Phạm Đình An dạy sử địa, thay vì phân biệt bằng họ, lủ quỷ đâu có chịu, phải tìm một chữ nào vừa gợi hình, gợi ý vừa dui dẽ, Thầy Vũ An có mái tóc quăn, nên được gọi là An quắn, còn thầy Lê Quý An được gọi là An ngộp nước, lúc mới vào đệ thất tôi nghe hỗn danh nầy đã bắt cười khan ... tôi nhớ tôi có hỏi đàn chị lúc đó đang học đệ tứ ( khóa 2 ) là chị Phạm thị Lê... chị giải thích là tại vì môi thầy hơi hở giống như bị ngộp ...Hai sư phụ An, hiện tại đều ở Cali ... có đọc tới đây thầy cũng đừng phiền hà bởi vì ...thứ ba là học trò, phá mà không có ác ý ... Sử địa, toán Cô Nguyễn hữu Thơm ( Khoá 2 QGSP). Sau năm nầy cô Thơm đổi về dạy trường tiểu học Chi Lăng Gia Định phụ trách lớp tiếp liên, Lý Hoá và Vạn Vật thầy Đặng Hữu Danh ( Khóa 2 QGSP) Vẽ thầy Võ văn Giàu ( Người Biên Hòa ) Âm Nhạc thầy Phạm Hữu Thu ( Trường có nhiều thầy tên Thu nên thầy có hỗn danh là Thu mũi đỏ ) Thể dục thầy Nguyễn Như Thủy ( Khoá 2 QGSP,thầy thấp người, thường mang giày màu da trăn, gốc người Bình Dương )
Ở niên khóa nầy, tình hình chiến sự tại Gò Công, vẫn trong tình trạng tương đối thanh bình, trong tầm mắt của người học sinh, chưa thấy cảnh chết chóc do chiến tranh gây ra ... Gò Công chỉ mới có một vài tên du kích về ám sát, khủng bố, rải truyền đơn, một số nhân viên Diệt Trừ Sốt Rét ( Đi xe hơi và xe gắn máy sơn màu vàng ) bị ám sát cũng như dụng cụ hành nghề bị phá hoại .
Con đường học vấn còn quá thênh thang, khi mới bước chân vào đệ thất. Năm học lớp nhất chỉ có 4 ông thầy. Một thầy đứng lớp, một thầy dạy Nhạc, một thầy dạy Vẽ, một thầy dạy thể dục, giờ đây học với nhiều thầy cô quá, lại nhiều môn học mới .Trong số 160 trò chỉ có 25 trò chọn học sinh ngữ Pháp Văn nên trường bỏ luôn môn nầy, 3 lớp đệ thất A, B, C đều học Anh văn, nên nam nữ học riêng .
Cả cuộc đời đi học, tôi chỉ thích học và học chuyên cần có 2 môn đó là Việt Văn và Sử, cũng vì yêu thích 2 môn nầy, nên lòng tôi vẫn rất quý Thầy Cô dạy môn nầy. Vào đệ thất, học Việt Văn với Thầy Hân tôi rất thích, bài thầy giảng về ca dao tôi vẫn còn nhớ từng lời, cũng như từng động tác của thầy diễn tả. Giọng nói của thầy không được trong sáng lắm nhưng không vì thế mà làm kém phần sinh động .... Thầy từ từ rút trong túi quần ra một chiếc khăn tay rồi làm động tác theo từng câu ca dao ... " Khăn thương nhớ ai ? khăn vắt trên vai ... khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất ...Sau 2 tháng Cô Nhẩn vào dạy thế ... Giọng miền Nam của cô, cũng chinh phục được cảm tình của học sinh, cô siêng cho làm luận mang về nhà chấm, trước khi phát bài, cô thường đọc cho cả lớp nghe tiêu biểu một vài bài luận ... Tôi còn nhớ những trò thường được cô đọc bài luận là trò Trương văn Tâm, Trần Văn Mươi, Phạm Ngọc Đắc và tôi .( Năm 1967 Trong mùa thi tôi có dịp ghé qua Trung tâm khảo thí gần sở thú, tôi có nhìn thấy cô Nhẩn, cô mặc chiếc áo dài xanh, đang tươi cười đứng trước ghi sê phát chứng chỉ tú tài 2 ban C, cô chăm chú dán mắt nhìn vào tờ chứng chỉ, cô vừa lãnh còn thơm mùi mực ...)
Một chút về thầy Hân, đây cũng là một gương hiếu học của tỉnh nhà. Thầy dạy tiểu học khi đậu bằng đíp lôm, lúc tôi còn học sơ cấp thầy phụ trách lớp Tiếp liên cùng với thầy Đinh Ngọc Ẩn, khi trường trung học mới mở, do nhu cầu, nên quý thầy cô có bằng đíp lôm đang dạy tiểu học được mời lên dạy trung học. Khi có đầy đủ giáo sư thì quý thầy nầy trở lại làm việc văn phòng, thầy Hân vốn là người Hán...rộng ( cả nghĩa đen lẫn bóng ) lại trì chí chăm học, tự học lần lượt đậu tú tài phần một và phần hai ban D ( cổ ngữ ) Sau đó thầy ghi tên học ban sử địa tại đại học văn khoa Sài Gòn, thầy đã đậu cử nhân và trong 4 chứng chỉ có chứng chỉ quốc sử hạng Bình, và cũng trong hàng ngũ giáo viên tiểu học, chuyển lên dạy trung học, cùng lượt với thầy, có cô Trần Thị Lài, sau nầy là hiệu trưởng trường Thống Nhất Sài Gòn, cho tới niên khóa trước ngày sập tiệm cô là sinh viên năm thú hai, ban tiến sĩ khoa Nhân văn cuả đại học văn khoa Sài Gòn ... Một vài gương hiếu học tôi cố tình gợi lại, để tuổi trẻ lấy đó làm gương ... Trong lớp đệ thất nầy, có 3 môn tôi học bết bát nhứt là Vẽ , Thể dục và Âm Nhạc, ở niên khóa nầy tôi rất thích học môn Hán văn .
Bởi thích môn văn chương, nên tôi còn nhớ, cô Nhẩn thường khuyến khích các bạn trong lớp mang sách vào trao đổi cho nhau đọc, năm đó cô dạy tác phẩm Nhị Thập Tứ Hiếu của Lý Văn Phức.
Năm nầy trò Trần Kim Thăng được bầu làm trưởng lớp ( vợ Thăng là chị Đạt thuộc khóa 4 ở lại năm đệ nhị chung lớp ). Cũng trong niên học nầy tại Gò Công có một vụ bể hụi, mà báo Thần Chung Sài Gòn đã đăng trên trang nhất, tôi còn nhớ cột báo khá dài có đăng bức ảnh của thầy Đẩu và thầy Giáp chụp tại sân quần vợt trường Nam tiểu học, người chủ hụi là vợ của thầy Đẩu
Niên khóa đệ lục bắt đầu, lớp học nằm trong khuôn viên trường, từ cổng đi vô dãy phía tay trái, 3 lớp đệ lục A,B,C nằm cạnh nhau, trong lớp có thêm một trò mới từ trường khác chuyển về đó là trò Nguyễn Bá Thoại, trò là cháu nội của Ông Huyện Bỉnh và trò Vũ Đình Chương con của chú Hai Vũ Đình Lân, một quân nhân giải ngũ, về làm lao công cho trường, trò Hoàng Mạnh Hùng Cường chuyển trường về Sài Gòn, bên lớp A có trò Nguyễn Thoại Trì chuyển về Chu văn An. Thành phần giáo sư giảng dạy đều mới. Quốc văn Thầy Nguyễn Văn Ba ( Khoá 1 QGSP . Sai Gòn ) Thầy có hổn danh là Ba Ton, gốc người làng Tân Niên Trung, là cháu nội của Đại Hương Cả Thuận, thầy dạy về tác phẩm Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, dạy được 1 tháng, thầy xin ra làm giám thị, chỉ còn phụ trách môn văn một lớp đệ lục C, thầy Đoàn Huy Oánh, đãm nhiệm môn nầy, nhắc tới Thầy Oánh, trong trí tôi vẫn còn nghe rõ giọng nói của thầy, buổi trưa thầy đọc bài giảng văn Đôi Gi Đá của Tô Hoài, rồi bài Nhặt lá bàng, giọng của thầy đều đều kéo dài ... giữa khi ngoài trời rực nắng ... Giá lúc đó mà có chiếc chiếu trải ra thì ... hết ý, ngoài ra thầy còn dạy tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ, đi dạy thầy thường mặc quần dài vải ọt long, có sọc xanh nhạt. Công dân Thầy Lê Hoan,thầy cũng dạy một tháng rồi lên văn phòng làm việc, sau thầy bỏ nghề dạy thi vào trường Quốc Gia Hành Chánh, ra trường làm việc ở Hậu Nghĩa, sau ngày trời sập, thầy ở tù vừa đủ tuổi để đi sang Mỹ theo diện H.O, thầy Võ Văn Quang dạy toán kiêm nhiệm luôn Công Dân, thầy cũng là giáo sư hướng dẫn ( Khóa 2 QGSP, hổn danh là Quang lùn, Quang niểng, Quang hột mít, sau 75 ở tù CS trên 3 năm, thầy được thả về tại trại Công Binh Thành Ông Năm Hốc Môn ... Ngày được thả thầy về chung với một học trò cũ khoá 6 là trò Võ Văn Chợ, Sĩ quan Không Quân ... Hai thầy trò trước khi chia tay có vào tiệm làm mỗi người một tô phở cho ấm lòng người chiến ...bại, thầy cũng ân cần viết mấy chữ gữi về thăm Ông Sáu Tống, nguyên quản lý trường Bán Công ... Người đã cho thầy ở trọ đi dạy suốt thời gian ở Gò Công, thầy nhờ trò Chợ chuyển giùm ... thầy đi dạy thường mặc quần dài màu đậm, xách cái tép có 2 quai màu da bò đậm, đi bộ từ nhà ông Sáu Tống dọc bên hông khám đường tới trường. Khoảng năm 68 tình cờ, tôi gặp thầy trên đường Lê Lợi Sài gòn, thầy mừng rở, kéo tôi vào quán Thanh Bạch uống nước, thầy hỏi thăm cặn kẻ về trường Gò Công ..., Anh Văn thầy Nguyễn Tiến Đức ( ĐHSP. SG ), thầy Đức có lối phục sức hết sức trẻ trung, thầy là con trưởng một gia đình đông anh em ... Tính nghệ sỹ, có thời gian thầy dạy môn vẽ, thầy thường bôi bảng bằng ...tay,Sử Cô Trần Thành Mỹ ( Khóa 1 QGSP. SG ), khi vào lớp, cô Mỹ thường đứng ngay giữa trước mặt học sinh, chờ lớp thật yên, cô vừa cúi đầu, miệng chào các em, sau đó mới bước lên bục vào ghế ngồi, cô gốc người Gò Công, là con một trong một gia đình giàu có, cha là Ông Hội Đồng Quảng, ngôi nhà 3 gian có nền đá xanh, cao cả thước, có tam cấp bước lên ở xóm Cỏ ,Địa lý thầy Ngô Đình Thu ( ĐHSP SG ) Lý Hóa thầy Trần Văn Huệ ( ĐHSP SG) thầy bị dị ứng mũi, lúc nào tay cũng cầm khăn, thầy rất thường khịt mũi, sau thầy chuyển về dạy trường trung học Chợ Gạo,Vạn Vật thầy Trần Quang Hoàng ( Khóa 2 QGSP. SG ) Thầy mang kính trắng, thầy cũng rất siêng học, sau mấy năm, lấy xong cử nhân giáo khoa Việt, tại đại học Văn Khoa Sài Gòn, trò Phạm Văn Tý xếp thầy vào họ mắt kép, sau khi nghe thầy giảng vạn vật bài Con Ong ( trò Tý tốt nghiệp khóa 23 võ bị, tử trận mất xác tại chiến trường An Lộc, vợ Tý kiên trinh thờ chồng ở vậy nuôi con tới bây giờ ). Sau ngày sập tiệm, sau khi ra tù cải tạo, thầy Hoàng nhiều lần bị bắt về tội vượt biên, để rồi khi diện H.O ra đời, thầy nộp đơn, được chấp thuận và ngày lên máy bay cũng đến, một buổi tiệc tiễn hành trước khi đi một ngày ..tan tiệc Thầy thu xếp đồ đạc rồi đi nghỉ; giấc ngủ ngàn thu đã đến với thầy, trời ơi! Định mệnh sao lại cay nghiệt với ông thầy khả kính, tôi nghe tin mà nước mắt lưng tròng.Môn Vẽ thầy Võ Văn Giàu, thầy gốc con nhà giàu ở Biên Hòa, thầy dạy vẽ nhưng đàn rất hay, mấy năm sau thầy chuyển qua dạy nhạc, trong lần các trường trung học thuộc tỉnh Định Tường dự thi văn nghệ tại Mỹ tho (năm 1962), trường trung học Gò Công có gửi đoàn văn nghệ tham dự, do thầy Đặng Xuân Chiếu làm trưởng đoàn, thầy Giàu dự thi với môn độc tấu đờn Vua Gia Long( violon) Xui cho thầy, mới kéo ò e mấy tiếng, dây đờn bị đứt, thầy phải thay dây và trình diễn lại ... dù bị trục trặc thầy vẫn chiếm giải nhì toàn tỉnh, vào lớp thầy kể cho nghe thành tích, tôi còn nhớ rõ lời của thầy - Cái gì cũng vậy, tình huống nào cũng phải bình tỉnh, tôi nghe giọng nói nhỏ của trò Tý kề bên tai tôi, từ bàn nhì phía sau - nếu không đứt dây chắc thầy hạng ....5, trong đoàn dự thi nầy về phía học sinh tôi còn nhớ có trò Đặng Xuân Thinh (Khóa 4 Trung Học GC, Chuyên viên Không Quân ) và trò Phạm Ngọc Đắc khóa 5, sau nầy là nhà thơ PNĐ Dạ Thảo, góp mặt thường xuyên trên đài phát thanh cũng như báo chí Sài gòn trong những năm 66, 67, Đắc đền nợ nước trong màu áo sư đoàn 7 sau khi tối nghiệp khóa 26 Thủ Đức. Ngoài ra còn nhiều bộ môn khác như kịch, vũ, đơn ca, họp ca phối họp với trường tiểu học, quận Gò Công đã mang về nhiều giải, vũ khúc "Dòng sông xanh " do cô Hồ Ngọc Lệ tập dượt, cô Mỹ hướng dẫn dự thi đã chiếm giải nhất, màn hòa tấu của ba thầy Sấm Sắc Lượng cũng chiếm giải nhất, Âm Nhạc Thầy Trần Trung Ngọc, Thầy Ngọc có hàm râu quai nón dáng người to cao trắng trẻo, thầy có cây đờn " Vua Gia Long " đựng trong một khung hộp, thầy vẫn thường kéo ò e cho đám đệ tử nghe, sau nầy, thầy là ca nhạc sĩ Tuấn Khanh.Trưởng lớp là trò Trần Văn Mươi, ( Mươi sau tốt nghiệp sư pham bổ túc ban 2 năm, bây giờ là nhân viên của trường). Năm nầy Hiệu Trưởng là thầy Ngô Văn Dư. Trong năm nầy tại quận Gò Công có Ông Phó Quận bị báo chí Sài Gòn tố cáo là Hạm. Tôi còn nhớ tờ Buổi Sáng trên trang nhất có đăng bài điều tra về phó quận Gò Công ... Mở đầu bài phóng sự là 2 câu thơ
" Gò Công có biển Tân Thành
Có tên Sáu lõ tung hoành dọc ngang ...
Bởi còn nhỏ, nên tôi không nắm vững sự việc nầy lắm. Nhưng thời đó việc nầy đã làm xôn xao dư luận Gò Công, bây giờ trong trí nhớ tôi còn hình dung được dáng dấp của ông nầy, Ông đi làm bằng một chiếc xe gắn máy hiệu RuMi, một loại Vespa nhưng đầu máy trông thô hơn .
Theo dòng thời gian tôi lên đệ ngũ, lớp có thêm trò Tốt là con của ông cò hiến binh mới đổi về, và trò Nguyễn văn Nhỏ thuộc khóa 4 học lại .Lớp học nằm cuối dãy ngang gần nhà để xe đạp .Thành phần giáo sư gồm quý vị thầy cô :
Quốc văn Thầy Ngô Đình Thu ( ĐHSP SG ) Thầy Thu nhỏ con, tính vui vẻ , thầy dạy nghị luận đầu tiên cho tụi tôi, trước kia học văn tả cảnh nay học văn bình luận, tôi còn nhớ bài giảng mẫu của thầy là bài : Bình luận câu nói sau đây của Dương vương Minh ... Học như đi thuyền trên dòng nước ngược, không tiến ắt phải lùi. Công Dân thầy Nguyễn Phước Hải, thầy gốc người Long An, thầy dạy được một tháng thì đổi qua dạy lớp khác, mấy năm sau nhập ngủ khóa 16 Thủ Đức cùng một lần với Thầy Võ Văn Quang, Nguyễn Tiến Đức, Nguyễn Quang Thâu, Nguyễn văn Ba...khi ra trường, thầy về phục vụ trong ban Q, phủ đặc ủy trung ương tình báo, sau về làm trưởng phòng 2 tiểu khu Vĩnh Bình, vợ thầy ( sư nương ) là học sinh khóa 6 trường, gốc người Vĩnh Lợi, thầy Đoàn Huy Oánh, phụ trách môn Công Dân, nửa năm sau thầy Đặng Xuân Quang dạy thế, lúc tôi nhập ngũ vào thụ huấn tại Quang Trung, tôi lại học Chiến Tranh Chánh Trị với Thiếu Úy Đặng Xuân Quang, tôi còn nhớ một buổi trưa thầy Oánh dạy về các toà án ở Việt Nam, sau khi kể xong các loại toà ở Việt Nam, thầy hỏi có trò nào thắc mắc gì không, trò Nguyễn Ngọc Ẩn ngồi bàn nhất cạnh tôi đứng dậy
- Thưa thầy ...Toà Bố là tòa gì ? Tôi còn nhớ thầy không trả lời mà dùng tay ấn đầu trò Ẩn bảo ngồi xuống, cũng trong giờ công dân nầy, lần nào vào lớp cũng vậy, sau khi mở sổ điểm ra là thầy Oánh gọi tên Đinh Văn Nhân và kế đó là Nguyễn văn Tạo, thầy gọi liên tiếp mấy tháng, sau cùng hai trò nầy trốn học giờ thầy luôn. Sau thầy đổi về làm ở phòng kế toán Nha Khảo Thí cùng với cô Kim Hoa, thầy Trần Văn Kỳ làm trưởng phòng, tôi nhớ không rõ hình như thầy được học bổng sang Úc lấy Master về quản thủ thư viện, thầy hiện tạm dung tại Úc, Anh Văn thầy Đoàn Trọng Thu, Sử Địa Cô Trần Thành Mỹ, những trang sử của niên khóa đệ ngũ là những trang sử hào hùng nhất trong lịch sử Việt Nam, đó là sử đời Trần với những vị vua và tướng tài kiêm văn võ, với những trận đánh vang lừng thế giới ... Tôi còn nhớ cô Mỹ giảng tới đoạn vua Trần anh Tông họp quần thần để công bố việc gả em gái là Huyền Trân Công Chúa cho Chế Mân, để đổi lấy hai châu Ô Lý. Giọng cô Mỹ trầm trầm ....
“Tướng trần Khắc Chung nghe vua công bố xong vội vàng quỳ xuống tâu
- Nếu bệ hạ cần 2 châu Ô Lý, thì xin cấp cho thần 500 tinh binh, chứ cần chi phải đánh đổi với công chúa Huyền Trân .
Vua Trần Anh Tông ( một vị vua nỗi tiếng đẹp trai, đến nỗi bên Tàu rất nhiều vị quan rất muốn sang nước ta để được chiêm ngưởng long nhan ) tươi cười :
- Ta biết với 500 tinh binh, khanh có thể lấy 2 châu Ô Lý dễ dàng, nhưng mà ... chiếm đất thì dễ chứ thu phục lòng dân không phải dễ ...
Tôi còn nhớ cô ngâm nga 2 câu thơ, tôi vẫn thường tự hào đọc nhiều sách sử nhưng đây là 2 câu thơ mà tôi mới được nghe lần đầu :
" Hai châu Ô Lý bao nhiêu đất
Mà để cho ta mất cõi lòng ... để diễn tả nỗi lòng của Trần Khắc Chung với người yêu là công chúa Trần Huyền Trân .
Thuở đó tôi nghe 2 câu thơ tôi thấy hay mà chưa thấy thấm ...Sau nầy nhất là lúc ra tù, tôi mới thấm thía với 2 câu nầy, diễn tả nỗi lòng của tướng Biệt Kích Trần Khắc Chung, Toán thầy Huỳnh văn Bổn ( Cử nhân Luật Khoa, trong 3 chứng chỉ cử nhân thầy có 2 chứng chĩ hạng bình thứ ) Gốc người Tân Tây, ngoài giờ dạy, thầy thường chơi bóng bàn và quần vợt, để khỏi nhập ngũ, thầy ra ứng cử hội đồng xã ấp, nên sau ngày sập tiệm, thầy không bị cải tạo và sau một khóa học luật Cộng Sản bổ túc, thầy hiện là luật sư tại tỉnh Tiền Giang, Lý Hóa thầy Trần Văn Huệ ( ĐHSP SG). Cũng là giáo sư hướng dẫn , Vạn Vật Thầy Đặng Hữu Danh, Vẽ Võ văn Giàu, Hán Văn Thầy Chương ( ĐHSP SG ) thể dục thầy Tô Vĩnh Khâm, gốc người Hòa Đồng, cùng một đạo với ông Hiệu Trưởng ( Cao đài phái Bến Tre ), thầy dạy thể dục mà học trò lớp vẫn ngồi trong phòng suốt giờ, thầy nói chuyện thời còn nhỏ của thầy... Thầy kể chuyện gia đình thầy từng nuôi quân của Huỳnh Phú Sổ cả mấy tháng trời ... Năm nầy hiệu trưởng cũng là thầy Ngô Văn Dư . Cuối niên học nầy Cô Trần Thành Mỹ tạm từ giã trường, trở lại Sài Gòn, tiếp tục học Đại học Sư Phạm ban Pháp văn, để rồi khi tôi lên lớp đệ nhất cô lại trở về trường, dạy Pháp văn lớp tôi. Cũng trong năm nầy trường có tổ chức giải bóng bàn toàn trường, thầy Đặng Hữu Danh (sau động viên là Sĩ quan Truyền Tin ) làm trọng tài, lớp tôi có nhiều trò ghi tên dự thi như Nguyễn Hồng Điệp ( Tiểu đoàn Hắc Long TQLC giải ngũ năm 72, khóa 3/69 đại đôi 41 Thủ Đức ) Trò Đinh văn Nhân( Cán sự Phú Thọ), trò Võ Hiếu Để ( Con trai thứ của thầy Đài , tử trận tại chiến trường Tây Nguyên, trong màu áo Biệt Động Quân cấp Thiếu úy năm 72 ) trò Ngô hoàn Toàn ( tốt nghiệp trường sĩ quan Đồng Đế , khóa 4/68 tử trận tại chiến trường miền Tây, trong màu áo Địa phương quân năm 71 )Tranh bán kết trò Để hạ trò Nhân với tỷ số 2/1 vào chung kết với trò Hồ Văn Sơn, lúc đó là học sinh lớp đệ nhị B ( Khóa 3/69 đại đội 41 Thủ Đức, sĩ quan quân nhu ) trò Để đã oanh liệt hạ trò Sơn với tỷ số 3/2 lãnh chiếc cúp vô địch toàn trường .
Mùa hè cuối năm đệ ngũ, tôi không còn thảnh thơi nữa. Ghi tên học lớp hè do thầy Đào Vũ Thân hướng dẫn, lớp học được tổ chức trong miếu thờ Khổng Tử ... Tôi chỉ học có mấy ngày rồi bỏ ... bởi vì Thầy dạy có hay cở nào mà một lớp gần 200 học sinh ... Tai phải tốt, mắt phải tinh mới thu nhận được lời giảng của thầy, nếu không thì cũng Khổng Biết.
Vào niên học đệ tứ, lớp vắng trò Tốt theo cha đổi đi đơn vị khác, tròVõ Văn Triệu bị lao phổi chết .Thành phần giáo sư năm nầy như sau :
Quốc văn cô Võ Kim Hoa ( ĐHSP SG ) Gốc người Bình Ân, có người em gái là chị Võ Thị Lành từng đậu đệ thất thủ khoa, khoá 2 Trung học Gò Công , cô dạy tác phẩm Kiều , Đông Dương tạp chí , Nam Phong tạp chí ..., Công Dân thầy Huỳnh Văn Bổn , Anh Văn thầy Nguyễn Tiến Đức ( ĐHSP SG ) Hán Văn thầy Bùi Cận ( ĐHSP SG ) Sử Ký thầy Đoàn Huy Oánh,Địa thầy Trịnh Quang Lừng ( ĐHSP SG ), Toán thầy Tôn Thất Trấn Ninh, thầy Ninh động viên khoá 22 Thủ Đức, thầy ra trường chưa được một năm ...thầy đền nợ nước .. Thầy rất đẹp trai, da trắng tóc quăn dợn, lúc thầy thụ huấn ở Thủ Đức, nhân nghỉ hè năm học đệ nhất, tôi có đến trường thăm thầy và thầy Thinh dạy Anh văn ... Tôi còn nhớ khi ra khu tiếp tân, nhìn thấy đứa học trò cũ từ tỉnh lẻ lên thăm, thầy có vẻ ngạc nhiên lắm, Lý Hóa thầy Nguyễn Hoài Thi, thầy đi dạy bằng chiếc lam rết ta, thầy thường mặc áo sơ mi màu sậm, thầy dạy dựa theo sách vật lý của giáo sư Lê Văn Lâm, Vạn Vật cô Hoàng Thị Phương Thảo ( ĐHSP Sài Gòn ), Vẽ thầy Võ Văn Giàu, Thể thao thầy Đặng hữu Danh. Hiệu Trưởng Thầy Ngô văn Dư, Tổng giám thị thầy Võ Văn Đài .. Niên học 62-63 tình hình chiến sự Gò Công có nhiều biến động, Trung Đoàn 12, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ chịu trách nhiệm an ninh toàn quận ( Giờ chót là Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ tỉnh trưởng Thừa Thiên ) Hai con gà cồ ( 105 ly ) được đặt trong dinh quận để yễm trợ cho các làng. Tôi còn nhớ buổi sáng ngày thứ tư, lúc vào học gần được một giờ, khoảng 9 giờ 25 sáng ( lâu quá nên không nhớ mấy tây !) trong những tuần lễ đầu của ngày khai trường, Cô Thảo vừa mới chuyển đời từ sinh viên sang giáo sư, cô đang ngồi trên bàn viết được kê trên một bục cao, từ bục cao bước xuống một bục thấp rồi mới tới nền xi măn ... Hôm đó hình như đụng trận hướng Tăng Hòa, nên mũi súng hướng thẳng qua trường. Cô đang ngồi lật sổ, bất ngờ tiếng súng départ xé trời, cô hốt hoảng đứng lên, chạy vội về phía bàn học sinh,mũi nhọn guốc cao gót của cô lọt vào khe bục, cô hụt chân té nằm dài, học sinh trong lớp, trò nào nhìn thấy cũng xót xa cho cô, nhưng lúc đó không có trò nào dám phụ đở cô dậy ... hình ảnh đó mỗi khi nhắc lại là như hiện rõ trước mắt tôi, lần đầu tiên cô nghe tiếng pháo, sắc mặt cô thất thần ..! Tôi còn nhớ cô mặc chiếc áo dài màu tím than ... Quý thầy dạy xong cuối tuần thường về Sài Gòn, sáng thứ hai theo xe đò xuống sớm, sau nầy thường bị trể giờ, vì Việt Công đã bắt đầu phá hoại mạnh, đấp đường, cuốc lộ, phá cầu thường xuyên xảy ra trên con lộ Gò Công Cầu Nổi. Trưởng lớp là trò Nguyễn Kỷ Nhựt, hai năm đầu trò có tên lót là Ký , sau đổi lại là Kỷ, sau khi rời trường Nhựt gia nhập Không Quân và là Thủ Môn sáng chói của đội bóng tròn không quân vùng 4 .
Đây là niên học cần phải có kết quả tốt, tôi vẫn thích học văn chương và sử, dù là năm thi, các môn khác tôi chỉ nghe giảng trong lớp, về nhà thường chỉ thích đọc sách của thầy Hà Như Chi, quyển Việt Nam Thi Văn Giảng Luận nầy, tôi đọc như nằm lòng, tôi rất thích lối phê bình thật bay bướm của tác giả ... Sau nầy tôi có dịp học giảng khóa Kiều với Thầy Phạm Văn Diêu, trong giảng khóa thầy Diêu bình giảng từng câu một của tác phẩm Kiều ... nhưng tôi vẫn tham khảo thêm tài liệu từ sách của Thầy Hà Như Chi, ngoài ra tất cả các quyển sách luận đề, tôi đều đọc qua ( nhà tôi có Anh học P. Ký, có chị học Gia Long, có chị học khóa 2 trung học Gò Công nên tôi được thừa hưởng rất nhiều sách ) ngoài môn văn chương, sách gối đầu của tôi là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam Tranh Đấu Sử của Phạm Văn Sơn, và sử theo từng lớp của Trần Hữu Quảng, huyền sử, dã sử, tôi đều đọc qua, cho nên diễn tiến lịch sử, tôi rất rành, gần ngày thi chỉ ôn lại vài niên hiệu là xong. Tôi nhẩm tính các hệ số các môn thi .. Tôi thấy có thể đậu với môn Việt văn và các môn phụ khác để bù qua toán lý hóa, nên trong học thi tôi chưa biết thức khuya dậy sớm là gì .
Ba tôi dẫn tôi đi thi tại Mỹ Tho, gửi ở nhờ nhà người cô họ, Cô Sáu Kiên, chuyên sống nghề nấu cơm tháng, nhà cô trên đường Ngô Quyền, năm đó, cô cũng có người con gái tên Nga, cũng đang học thi ... Nga có thầy đến nhà kèm dạy, dù đã cận kề ngày thi, nhà cô là một căn phố dài có gác lửng ... Có khoảng trên 10 trò từ Gò Công lên trọ thi tại nhà nầy . Trai ngủ trên gác, gái ngủ dưới nhà, tôi còn nhớ gái có Kim So, Kim Lài, trai có Ngô hoàn Toàn ( Tứ B), Nguyễn Hoàng Hải ( Tứ bán công ) Hữu ( Tứ A ) Có Anh Minh ( Khóa 4 dẫn Toàn đi thi ) và nhiều tên khác mà với thời gian đành chịu không nhớ hết ...
Lần đầu tiên xa nhà, tôi nằm cố dỗ giấc mà không tài nào ngủ được, quen ngủ với mẹ, bây giờ mất hơi, với lại các trò kia thức học bài rù rì hoài ... tôi hơi lo sợ vì phải thức suốt đêm, sợ e rằng ngày mai mất sức .
Bài thi việt văn, luận có 2 đề, một đề văn chương và một đề luân lý,tôi còn nhớ, bình giảng câu nói của Ngô Tổng Thống trong bài diễn văn đọc trước nông dân tỉnh Long Xuyên : ". Tôi chọn làm đề nầy, bài giảng văn là bài thơ Con Muỗi, của cụ Phan Bội Châu ( Hay Phan Tây Hồ ? ) Tôi rất biết cái ưu điểm của một bài thi, là chữ nghĩa viết rõ ràng sạch sẽ, rất dễ có cảm tình với giám khảo chấm thi và tôi đã dễ dàng làm xong bài luận ... các môn khác tôi đều làm thoải mái chỉ trừ môn toán ... câu hỏi giáo khoa có 5 câu tôi làm được 4 câu, còn bài toán thì bù trất, tôi nhìn qua ngó lại thấy cũng nhiều tay cắn viết ... Không làm toán được, tôi ngồi tự cho điểm và cộng thử thấy trên số điểm đậu ... Tự mình làm, tự mình chấm ... chắc là có thiên vị ?!..Hôm sau theo bạn bè ra xe về ... Tôi đọc báo mới thấy dư luận phản ánh quá nặng về bài luận và bài toán, báo chí đã viết, thí sinh Trung Học bị .... muỗi chích. Bài thơ Con Muỗi là một bài thơ ...dở mà tác giả chưa hẳn chính xác là của cụ Phan. Còn bài toán thì hết thuốc chửa, nguyên văn một bài toán hình học không gian trong quyển sách toán đệ nhị của giáo sư Nguyễn văn Phú ( Thường thì Trung Học Đệ nhất cấp toán chỉ cho đề hình học phẳng )
Đây là năm đầu tiên, kỳ thi chỉ mở một khoa trên toàn quốc, bộ quốc gia giáo dục quyết định cho nâng điểm bài giáo khoa toán lên 13 điểm, và mở thêm khoa thi kỳ hai .
Trò Nguyễn văn Năng là trò giỏi toán nhất lớp đệ tứ B, vào phòng thi, trò làm dễ dàng dù bài toán của lớp đệ nhị, chú em ngồi bên cắn bút thấy trò Năng làm dễ dàng, khều tay xin chép, trò Năng không cho .. Khều qua khều lại, gặp giám thị khó, bắt gặp đuổi khỏi phòng thi, với đề nghị cấm thi 2 năm ( Sau trò Năng tốt nghiệp cán sự bưu điện, bị động viên Thủ Đức, ra trường tự hủy hoại thân thể được giải ngũ )
Tôi còn nhớ gần ngày có kết quả, tôi đang đạp xe trên đường lên chợ, thì gặp trò Nguyễn Hồng Điệp, trò cho tôi biết là trò Lê Công Hoàn lớp tứ A đã đậu và trò còn bình luận ...
- Thằng Hoàn đậu là mình đậu .
Và khi công bố kết quả tôi và Điệp cùng đậu . Nhà tôi ở trọ thi, tất cả đều rớt hết, trường Gò Công năm đó, kỳ nhất đậu 36%... Qua kỳ nhì bạn bè đậu hạng Bình và Bình Thứ quá nhiều, cả lớp chỉ có một hai trò rớt. Tôi còn nhớ trò Trần Công Điệp, nhà ở đầu cầu Huyện, là em cũa cô giáo Ngà, có mẹ bán muối ngoài chợ ... Trò nầy có biệt tài là tất cả nhà trong xóm, có cây trái gì ngon trò đều có nếm qua hết. Như Nhà Ông Thôn Khoa có 5 con chó dữ, cổng ra vào cao vòi vọi thế mà cây xoài thanh ca trước nhà, trò ăn mỗi mùa khoảng nửa cây. Trò giang xe đò lên Sài Gòn để tình nguyện đi lính, xe tới Xã Lới, Việt Cộng chận ngang đường bằng mấy tàu lá dừa nên xe không dám qua, trò Điệp nóng máu, đi tới định dẹp mấy tàu lá cho xe chạy thì trong xóm bắn lóc chóc ra. Trò chạy ngược trở lại xe an toàn, nhưng trong lúc chạy, làm sút ra chiếc dép, im tiếng súng, trò chạy lại định lấy dép, thì viên đạn định mệnh đã kết liễu đời. Đây là người bạn học đầu tiên của tôi ăn đạn Việt Cộng .
Bắt đầu từ năm đệ ngủ, phong trào đá banh trong lớp tôi bắt đầu lên, giữa 2 đội một và hai , vì hai đội nầy tuổi tác và sức vóc tương đối ngang nhau, đội 3 và đội 4 nhiều trò lớn hơn tôi tới 5 , 6 tuổi .Tôi ngồi bàn nhất phía cửa vào nên thuộc đội một, có trò Thoại ( Sĩ quan phát hướng viên tiểu khu Gò Công, trung ứng đội tuyển quân đoàn 4, thủ quân đội tuyển Gò Công ) rất mê đá banh và đá rất hay, thường vào buổi sáng thứ bảy, trò Thoại ít khi chịu ngồi yên, trò bận xếp đội hình để thách đầu với đội 2, thường ăn cá là ly nước đá của anh Nhạn hay anh Chơi, bán trước cổng sân vận động, hôm nào khá giả, thì có thêm miếng kẹo đậu phọng hay miếng bánh chao, bên đội 2 thì có Trò Nhân( Cán sự Công Chánh Phú Thọ ), trò Tạo ( Phó Ty Công Chánh Gò Công tử nạn trong công vụ bên cù lao ) và cũng trong năm nầy, tên Ông Bầu được ghép cho trò Thoại cho tới bây giờ ... Cũng trong năm đệ tứ, Công An Gò Công, có qua trường bắt nhiều học sinh hoạt động cho Việt Cộng ( lúc đó Chi Công An đóng tại tòa nhà có cây đa cạnh dinh Ông phó và trường nam ) lớp tứ A có trò Trần văn Tâm, Dương Hồng Hoàng, lớp tôi có Nguyễn văn Thắng, tạm giam một hai ngày gì đó rồi cũng được cho đi học lại ( trong trường học thỉnh thoảng vẫn có truyển đơn VC)
Lúc bấy giờ lao công trường có thêm chú Giảng Văn Đa giải ngũ về làm cho trường, chú Nguyễn văn Sua thơ ký đánh máy ( chú mất năm 1990 vì bị phong đòn gánh tại bênh viện Mỹ Tho )
Lúc bấy giờ đa số các Cô ở trọ trong trường thánh Té rê sa, còn các Thầy thường trọ nhà Ông Cả Tùng, một ngôi nhà ngói xưa có nền cao, 3 gian rộng rãi nằm đầu đường Nguyễn Trãi, người Gò Công cố cựu sinh từ khoảng thập niên 30 trở về trước đều biết chuyện Thầy Giáo Bá, là con Ông Cả, đã phải bỏ xứ ra đi ... Sau 75 thầy có trở về trong âm thầm lặng lẻ, rồi lại ra đi cũng lặng lẻ như lúc trở về ... Muốn biết chuyện của thầy giáo Bá, cứ hỏi những người lớn tuổi ... tôi không tiện kể ra đây ..Một ít thầy cô khác, ở rải rác một vài nhà quen như thầy Nguyễn hoàng Đạt ở nhà của anh em Hoà Bình, và ăn cơm tháng bên nhà trò Nguyễn Hồng Điệp, thầy Tăng như Bình ở nhà Ông trưởng ty công chánh, cô Hồ ngọc Lệ, Giang Thị Hạnh ở nhà cô Kim Hoa, thầy Nguyễn Hoài Thi ở nhà ông hiệu trưởng Khai Trí , thầy Võ văn Quang ở nhà Ông Sáu Tống, cô Mỹ Dung ở nhà thầy Châu văn Giao ...
Một vài hình ảnh trước cổng trường vẫn rất khó quên trong trí nhớ của tôi ... Hai xe nước đá nhận đậu đỏ bánh lọt, của anh Nhạn và Anh Chơi, vẫn bán trước cổng sân vận động từ năm tôi vào trung học cho tới năm tôi rời trường,trên xe, có một chai keo bằng thủy tinh, đựng kẹo đậu phọng loại hình chữ nhật nhỏ, gói trong giấy, mỗi phong 10 miếng và bánh chao, sau nầy khi tôi vào lính mấy lần về phép có gặp lại 2 anh ... trong sắc phục Cảnh Sát Gò Công .

Trước cửa miếu Tiên Sư, cạnh trường, có anh bán sách, thường trải tấm ny long khoảng bằng chiếc chiếu, trên để khoảng trên 50 cuốn sách, một vài đầu sách giáo khoa đã xuất bản trước đó một vài năm, vài cuốn tiểu thuyết của Thanh Thủy, Nguyễn Ngọc Mẫn ...thỉnh thoảng mới thấy một vài quyển tên tác giả có chân trong Tự Lực Văn Đoàn .. sách bán giá bớt từ 35% tới 50%... Tôi nhớ anh ngồi trong nắng gió suốt mấy năm trời ... Trước cổng trường chỉ lưa thưa một vài cây dái ngựa , ( trái to giống như dái ngựa ) trái già tự nứt ra mà hột cây nằm trong những phiến mỏng bay lả tả trông rất đẹp mắt, nhất là cảnh xãy ra vào buổi trưa, học trò nữ nón lá nghiêng che...phiến lá trái dái ngựa là đà bay theo gió trông rất nên thơ, buổi trưa học trò chúng tôi chờ giờ mở cửa, tụ nhau đứng phơi mình trong nắng, có một số tụ mát tại dãy phố công chức trước tiểu khu, nhà của thầy Hoàng ba của trò Lê kim Hồng, học lớp tôi, đa số là các anh khóa 2 như Đinh văn Minh, Lưu văn Lai ,Nguyễn văn Út, Trần văn Hoàng...
Sau niên khóa đệ tứ nầy, lớp tôi có trò Trần Văn Chót và Đào văn Xuân, từ giã trường để theo Việt Cộng, sau khi ở tù về, đọc báo Việt Cộng tại Gò Công, tôi mới biết Chót đã chết trong trận chiến vừa qua ... Được tin lòng tôi thấy bùi ngùi, thương cho bạn chọn lầm con đường đi, với cái chết nào trong cuộc chiến, người nằm xuống cũng đều nghĩ mình đã đền ơn tổ quốc, điều tôi chỉ tiếc là Chót không sống để chứng kiến ngày miền Nam hoàn toàn phỏng dế.... , để nhìn thấy được con đường Bác đi là con đường thật đầy...Bi Đát, tôi nghĩ vẩn vơ, viên đạn kết thúc đời Trần văn Chót, có phải được bắn ra từ một tay súng ... cựu học sinh trung học Gò Công !!??
Ngồi đây, trên đất tạm dung nầy, cố nhớ để viết lại, khoảng thời gian tôi đi học, lòng thấy bùi ngùi nhớ tiếc ... Cái thời thong thả, vô tư, thật dễ thương, không bao giờ tôi tìm lại được ... Biết bao bạn bè cùng đợt đã quên hết ... may mà mình còn nhớ chút chút ... Cũng là một niềm an ủi, cho những chuỗi ngày sắp vào đông của cuộc đời ... Ở cái thời điểm, mà thỉnh thoảng nghe tin có người bạn học cũ, vĩnh viễn từ giã cõi đời ... Quý thầy cô, tình cờ trong đời tha hương, đọc thấy tên mình trong bài nầy, chắc lòng cũng sẽ vui, vì trong cuộc đời đưa đò bạc bẻo, ít ra cũng còn có người khách qua đò năm xưa, nhớ và nhắc đến tên mình .
Tôi sẽ viết tiếp khóa 5 đệ nhị cấp trong một bài khác, cố nhớ lại để ghi nhớ công ơn Thầy Cô đã giảng dạy, để nhắc nhở bạn bè nhớ lại một thuở hoa niên ... Những điều tôi ghi nhớ còn thiếu sót rất nhiều, rất mong bằng hữu bổ túc ... Cũng như Thầy Bạn xưa nay mất liên lạc, tình cờ đọc được bài nầy hãy liên lạc về địa chỉ ...Thuylanvy@yahoo.com .Đất lạ quê người tìm lại nhau để nhắc lại cho nhau nghe một vài kỷ niệm xưa ... mà với thời gian nó đã rơi rớt đâu đó trên .... đường đời vạn nẻo.
Houston , những ngày đầu tháng 9/2002

thủy lan vy
( Viết tại Kỳ Đà Động )

__________________
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Reply With Quote
Đã có 3 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho thylanthao trong bài viết này:
inou (23-03-2015), nhonhatrang (28-03-2015), Sương Đêm (19-03-2015)
Trả lời

Bookmarks



Hiện thời số người đang xem chủ đề này là: 1 (0 Thành viên và 1 Khách)
 
Thread Tools
Display Modes

Quyền Hạn Gởi bài
Bạn không được quyền gửi bài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đangTắt

Chuyển nhanh đến

Múi giờ GMT -7. Hiện tại là 12:01 PM.


Chút Lưu Lại không chịu bất cứ trách nhiệm gì về nội dung bài đăng của tất cả Thành viên.
Nhóm Điều Hợp có toàn quyền chỉnh sửa, xóa bỏ, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên Thành viên mà không cần giải thích lý do.

Powered by vBulletin® Copyright ©2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2017 @ www.chutluulai.net. All rights reserved.
Vietnamese Language by www.mvietx.org.