Chút lưu lại

Go Back   Chút lưu lại > Đời Sống - Học Hỏi/Thắc Mắc/Giải Đáp > Giáo Dục
Trang nhà Phòng ảnh Thơ mới Download mViet Lưu bút

Giáo Dục
Tất cả các Chủ đề, bài viết, thảo luận về các vấn đề liên quan đến Giáo dục từ Tiểu học đến Đại học ...

Trả lời
 
Thread Tools Display Modes
Old 29-09-2016, 02:28 AM   #1
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 566 lần/376 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default Người xưa - Người nay


Biển Thước(*) là một danh y có y thuật cao minh của Trung Hoa vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, được mọi người tôn kính gọi là “Thần y Biển Thước”. Gia đình có hai người anh trai của ông y thuật cao siêu hơn ông rất nhiều nhưng lại không nổi tiếng bằng ông.
Có lần Ngụy Văn Hầu hỏi Biển Thước: “Tôi nghe nói ba anh em ngài đều là thầy y. Vậy y thuật của ai là cao siêu nhất?”
Biển Thước trả lời: “Y thuật của đại ca tôi là cao nhất, sau đó đến nhị ca và cuối cùng là tôi.”
Ngụy Văn Hầu ngạc nhiên hỏi: “Vậy tại sao chỉ có ông là nổi danh lừng lẫy thiên hạ? Hai người họ thì một chút danh tiếng cũng không có?”
Biển Thước trả lời: “Y thuật của đại ca tôi cao, có thể tránh được cho bệnh không xảy ra. Khi bệnh của một người còn chưa phát, đại ca vừa nhìn khí sắc là phát hiện ra ngay. Sau đó, ông ấy sẽ dùng thuốc cho người đó uống khỏi bệnh, cho nên người trong thiên hạ đều cho là ông ấy không biết trị bệnh. Vì vậy, ông ấy một chút danh tiếng cũng không có. Khả năng trị bệnh của nhị ca tôi cũng rất cao. Ông ấy có thể trị bệnh ngay khi bệnh còn ở thời điểm bắt đầu, tránh cho họ bị lâm bệnh nặng. Khi người bệnh vừa cảm mạo, ho khan thì ông ấy đã dùng thuốc chữa khỏi rồi. Cho nên, danh tiếng của nhị ca tôi chỉ vẻn vẹn ở trong phạm vi quê nhà, bị mọi người gọi là bác sĩ trị bệnh nhẹ.”
Biển Thước ngừng một lát rồi lại nói: “Còn tôi, cũng bởi vì có y thuật kém cỏi nhất nên nhất định phải đợi đến lúc người bệnh bị nguy kịch, hấp hối rồi mới cắt thuốc được. Nhờ uống thuốc tôi, họ từ chết đi lại được sống lại nên thiên hạ mới cho tôi là thần y. Ngẫm nghĩ lại, cách trị bệnh của đại ca tôi là không làm tổn thương nguyên khí của người bệnh. Cách trị bệnh của nhị ca tôi là chỉ để người bệnh bị tổn thương một chút nguyên khí, bồi bổ một chút sẽ nhanh khỏi. Còn tôi, cứu được mạng của người ta nhưng nguyên khí bị thương nặng mất rồi. Ngài nói xem, y thuật của ai cao nhất?”
Nhìn lại lịch sử, y thuật của Biển Thước được chứng thực là phi thường, cao minh cho nên từ lời nói này có thể thấy ông là một người vô cùng khiêm tốn; nhưng nó cũng nói rõ một đạo lý là nếu dùng thanh danh để đánh giá năng lực của một người là chưa hoàn toàn chính xác.
Thanh danh mà một người đạt được có thể thông qua rất nhiều cách: có thể thông qua con đường sai trái mà đạt được; có thể thông qua quyền lực mà thu được; hay thông qua kế thừa cũng có được. Năng lực chỉ là một trong các cách đó. Cho nên, không nên xem năng lực và thanh danh là ở cùng một cấp bậc, tức là thanh danh lớn thì năng lực cao. Mọi người thường dựa vào danh tiếng của một người để đánh giá năng lực của người đó cao hay thấp, nhưng rất nhiều lúc danh tiếng lớn lại không đồng nghĩa với năng lực cao!
Làm một người truy cầu thanh danh sẽ dễ dàng bị mất phương hướng, nhưng làm một người có năng lực mới là chân chính có trách nhiệm.
Sưu tầm
*) Chú thích thêm của Thư Viện GĐPT: Biển Thước tên thật là Tần Hoãn, tự Việt Nhân, sinh khoảng năm 401, mất năm 310 trước Tây lịch, thọ hơn 90 tuổi. Ông vốn là người châu Mạc, Bột Hải, (nay là huyện Nhiệm Khâu, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc).
__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho vertumnus trong bài viết này:
hoangvu (09-08-2017), mongmothu (18-07-2017)
Old 07-08-2017, 09:28 AM   #2
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 566 lần/376 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default Sự khác nhau giữa Thiên văn học và Chiêm tinh học

Nhiều người trong chúng ta vẫn hay nhầm lẫn hoặc đánh đồng hai khái niệm, hoặc có chăng có biết rằng chúng có sự khác nhau thì cũng vẫn thường nhầm tưởng rằng Thiên văn học và Chiêm tinh học là hai lĩnh vực có sự liên đới mật thiết. Sự thật đây là hai lĩnh vực hết sức độc lập.

zodiak_band

Trước tiên, bạn hãy để ý rằng có thể là bạn hoặc những người xung quanh mà chắc chắn bạn đã gặp nhiều hơn một lần thường coi rằng Thiên văn học (astronomy) và Chiêm tinh học (astrology) nếu không phải là một thì cũng có những liên hệ mật thiết, đó là sự quan sát các ngôi sao và chòm sao trên bầu trời. Tuy nhiên trước khi đọc tiếp phần dưới xin bạn hãy từ nay nhớ một điều: hai sự việc có cùng nguồn gốc không có nghĩa là giống nhau hoặc anh em thân thiết gì với nhau cả .

Chiêm tinh học xuất phát đầu tiên từ nền văn minh Lưỡng Hà cổ từ khoảng năm 3500 – 3000 trước CN, các linh mục một phần để phục vụ mục đích truyền giáo của mình đã quan sát chuyển động của các ngôi sao và đưa ra các dự đoán về tương lai, số phận của con người hay một vùng đất. Tất nhiên, họ phải ghi lại khá tỉ mỉ chuyển động của các ngôi sao và các pha của Mặt Trăng để lập ra hệ thống dự đoán của mình. Vì thế có thể coi vào thời gian ban đầu này, các hoạt động này có thể coi là vừa là chiêm tinh vừa là thiên văn.
Khi các nhà thiên văn sau này lần lượt phân định và đặt tên các chòm sao, ghi lại chuyển động chi tiết của các thiên thể trên bầu trời theo chu kì hàng năm, các thông tin đó tiếp tục được sử dụng cho chiêm tinh, và trong một khoảng thời gian khá dài các nhà thiên văn và các nhà chiêm tinh thường được coi là một. Thực tế là đến khi thiên văn học bắt đầu được nghiên cứu theo hướng thực nghiệm mà như chúng ta biết người dẫn đường là Galileo Galilei thì khi đó nó mới thật sự tách biệt hoàn toàn với chiêm tinh học.
Sự khác biệt cơ bản của hai lĩnh vực này có thể thấy ở một số điểm.

Mục đích: Chiêm tinh học có mục đích phán đoán tương lai, quá khứ, số phận hay tính cách của con người (hoặc các thực thể liên quan mật thiết tới con người). Trong khi đó Thiên văn học tập trung giải thích cấu trúc của các thiên thể, không gian và các hiện tượng xảy ra phía ngoài khí quyển Trái Đất.

Đối tượng: Chiêm tinh học có đối tượng trực tiếp là các thiên thể biểu kiến trên bầu trời. Đối với các nhà chiêm tinh thì sao, hành tinh hay thiên hà … đều không có ý nghĩa gì đặc biệt, với họ chỉ có các đốm sáng gọi chung là sao trên thiên cầu, và họ sử dụng một số kiến thức về chu kì chuyển động, độ sáng của chúng để lập ra các mô hình của mình.
Thiên văn học không giống với chiêm tinh, thiên văn nghiên cứu trực tiếp trên từng đối tượng để tìm ra các tính chất của chúng. Thuật ngữ “thiên văn học” ngày nay thực ra là một từ chung được dùng cho cả “thiên văn học” (nghiên cứu các qui luật chuyển động của bầu trời, cấu tạo của Hệ Mặt Trời và các hành tinh …) và “Vật lý thiên văn” (gồm có các chuyển động quĩ đạo chi tiết của các thiên thể từ vệ tinh, hành tinh đến các sao và thiên hà (Celestial Mechanics) và hình học của không-thời gian (Cosmology)). Nói ngắn gọn, thiên văn học đi theo hướng của vật lý và toán học, với các con số thực nghiệm chi tiết và nghiên cứu sâu vào bản chất của các đối tượng thay vì chỉ quan sát hình chiếu của các thiên thể trên thiên cầu.

Cơ sở: Chiêm tinh học dùng cơ sở là các phán đoán kết hợp với quá trình tích lũy kinh nghiệm sau hàng nghìn năm, các cơ sở của lĩnh vực này không mang tính cố định, chắc chắn mà có thể thay đổi, về cơ bản chiêm tinh của phương Tây và tử vi của phương Đông có cùng cách lập luận này, chỉ khác nhau về nội dung chi tiết và cách lí giải. Còn thiên văn học dùng cơ sở là các quan sát thực tế kết hợp với các mô hình toán học.

Có thể thấy một điều, các phán quyết của chiêm tinh có thể đúng trong một số trường hợp chứ không thể đúng trong mọi trường hợp, tức là nó mang tính may rủi. Trong khi đó các lý thuyết của thiên văn, vật lý thì luôn đúng trong mọi trường hợp trong những phạm vi nhất định, chúng chỉ bị thay đổi khi có các thực nghiệm chi tiết hơn ở các qui mô lớn hơn hoặc nhỏ hơn chỉ ra được điểm chưa hoàn chỉnh của lý thuyết ban đầu.

Trong quan điểm hiện đại, Thiên văn học được coi là một môn khoa học với hệ thống cơ sở chắc chắn, nhiều lý thuyết và mô hình được kiểm chứng không ngừng bằng thực nghiệm. Còn Chiêm tinh học không phải một khoa học, mà chỉ là một phần của văn hóa và tín ngưỡng.
Tất nhiên, một hệ thống chỉ cho ra kết quả đúng trong một số trường hợp không có nghĩa là chúng ta có quyền nói rằng nó sai. Và cũng tất nhiên, mỗi người đều có thể lựa chọn cho mình một hướng suy nghĩ độc lập, tin tưởng vào chiêm tinh hay tử vi không có gì là sai. Nhưng sau cùng, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau này.

https://elysium6561.wordpress.com/20...hiem-tinh-hoc/
__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho vertumnus trong bài viết này:
hoangvu (09-08-2017), mongmothu (15-09-2017)
Old 31-08-2017, 02:47 AM   #3
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 566 lần/376 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default Tìm Hiểu sao La Hầu và Kế Đô

Thuật xem sao chiếu mệnh

Có rất nhiều thuật chiêm bốc khác nhau tồn tại trong dân gian từ lâu đời, trong đó xem sao là một trong những cách bói toán thuộc loại thịnh hành nhất. Thuật xem sao cho rằng, có 9 vị Tinh quân (Cửu diệu Tinh quân) lần lượt chi phối đến mỗi người theo chu kỳ nhất định. Cửu diệu Tinh quân gồm: Thái dương (Mặt trời), Thái âm (Mặt trăng), Thổ đức (Thổ tinh), Thủy diệu (Thủy tinh), Mộc đức (Mộc tinh), Thái bạch (Kim tinh), Vân hán (Hỏa tinh), La hầu và Kế đô. Mỗi Tinh quân “chiếu” vào một tuổi, đem theo điều cát hung, may rủi, trong đó La hầu và Kế đô là hai vị hung tinh đáng sợ nhất.



Sự thực về hai vì hung tinh La hầu, Kế đô

Các nhà khoa học định nghĩa thuật chiêm tinh là một “khoa học giả hiệu”, nó luôn lợi dụng các hiện tượng thiên văn, từ đó đưa ra những dự đoán có vẻ mang màu sắc khoa học, như những ảnh hưởng của điện trường, từ trường của những hành tinh đến sự sống…

Thực chất, cái tên La Hầu và Kế Đô xuất hiện trong thần thoại Ấn Độ cổ đại, đó là câu truyện kể về cuộc đấu tranh giữa các vị thần linh với ác quỷ để dành lại bảo vật. Với lòng hận thù, con Quỷ La hầu và Kế đô tìm cách nuốt thần Mặt trời và Mặt trăng mỗi khi chúng gặp, do đó có hiện tượng Nhật, Nguyệt thực, dân gian gọi là “Gấu ăn Trăng”, bởi vậy mới có tục gõ xoong nồi, thúng mủng… mỗi khi có thiên thực. Sau khi được du nhập vào Trung Hoa, La hầu và Kế đô hợp với 5 hành tinh và nhật, nguyệt trở thành Cửu diệu Tinh quân trong điện thần đạo Giáo.

Bên cạnh ý nghĩa về phương diện tôn giáo, La hầu, Kế đô còn là thuật ngữ trong Thiên văn, lịch pháp Á Đông cổ xưa. Sách Sử học bị khảo – quyển 1: Thiên văn khảo của Đặng Xuân Bảng viết: “Tính nhật nguyệt thực nên tìm 2 giao của La hầu Kế đô, là chỗ 2 đường hoàng đạo bạch đạo giao nhau, chính giao là La, trung giao là Kế” (trang 132). Đoạn khác viết: “La, Kế là chỗ hoàng đạo bạch đạo giao nhau, tính nhật thực nguyện thực, nên tính La Kế” (trang 145). Sách còn cho biết, La hầu còn được gọi là Thiên thủ (Đầu trời), Kế đô còn được gọi là Thiên vỹ (Cuối trời).

Từ quá trình quan trắc nhiều năm, các nhà thiên văn xưa phát hiện thấy Mặt trời chuyển động biểu kiến (từ tây sang đông) một vòng nhất định trên thiên cầu trong khoảng thời gian 365,2422 ngày, gọi là Hoàng đạo.

Mặt trăng cũng di chuyển trên thiên cầu theo một vòng nhất định quanh Trái đất gọi là Bạch đạo, chu kỳ này hết 27,32 ngày. Hoàng đạo và Bạch đạo không nằm trên một mặt phẳng mà chúng nghiêng trên nhau một góc 509′ tạo ra 2 giao điểm, nơi mà Bạch đạo và Hoàng đạo gặp nhau. Do Trái đất chuyển động quanh Mặt trời, nên 2 giao điểm này cũng chuyển động.

Khi Mặt trăng di chuyển đến giao điểm ấy vào lúc xung đối (ngày vọng) sẽ xẩy ra nguyệt thực, và nếu là lúc giao hội (ngày sóc) sẽ xẩy ra nhật thực, vì đó là thời điểm cả 3 thiên thể cùng nằm trên một đường thẳng.

Như vậy, La hầu và Kế đô chỉ là 2 điểm phi vật thể trong không gian chứ không phải là những thiên thể ( tạp chí pi gọi đây là hai thiên thể vô hình), cho nên nó không phải là sao hay vì tinh tú như thuật xem sao chiếu mệnh nói. Mặt khác, nó di chuyển theo những chu kỳ nhất định liên quan đến việc tính toán nhật nguyệt thực trong lịch pháp. Không thể và không bao giờ có một điểm phi vật thể trong vũ trụ lại có ảnh hưởng, tác động đến sự sống trên Trái đất, hoặc chi phối tới từng con người .

Trong Chiêm tinh học Hindu (Joytisa astrology) và Vệ đà (Vedic Astrology) thì khi du nhập vào Đông Nam Á chúng ta gọi là Sao phiên âm ra tiếng Việt lần lượt là La Hầu – Kế Đô. Tuy nhiên La Hầu – Kế Đô không phải là sao mà là hai điểm vô hình đối lập đươc tạo ra bởi sự giao cắt hai quỹ đạo Mặt Trờivà Mặt Trăng với chênh lệch 5° khi quan sát từ Trái Đất.
RAHU- La hầu – KETU- Kế đô – – được phiên âm từ tiếng Phạn. Còn trong Chiêm tinh học Tây phương thì La Hầu là North node, Kế đô là South Node. Các giao điểm Mặt Trăng có tầm quan trọng trong chiêm tinh học Vệ Đà,và ở mức độ hạn hẹp hơn trong chiêm tinh học phương Tây. Thông thường chỉ mỗigiao điểm Bắc được biểu thị trong các lá số tử vi, do giao điểm Nam theo định nghĩa luôn luôn nằm tại điểm đối diện trong biểu đồ chiêm tinh. Trong chiêm tinh học Vệ Đà, giao điểm Bắc là Rahu còn giao điểm Nam là Ketu và cả hai đều được biểu thị trong biểu đồ.
Các giao điểm này được gọi bằng các tên gọi khác nhau tại mỗi nơi trên thế giới.

Do giao điểm thăng là điểm cắt ngang giữa hoàng đạo và bạch đạo để Mặt Trăng tiến từ phía nam lên phía bắc, nên trong ngôn ngữ phương Tây, như trong tiếng Anh đôi khi gọi nó là North node (giao điểm Bắc). Trong các tài liệu châu Âu cổ, nó được nói tới như là đầu rồng (Caput Draconis hay Anabibazon). Hình ảnh bên được trích ra từ cuốn Liber Astronomiae
Biểu tượng của giao điểm thăng là , một biểu tượng và chiêm tinh cho đầu . Tương tự, giao điểm giáng là điểm cắt ngang giữa hoàng đạo và bạch đạo để Mặt Trăng tiến từ phía bắc xuống phía nam, nên trong tiếng Anh đôi khi gọi nó là South node (giao điểm Nam). Nó được biết tới như là đuôi rồng (Cauda Draconis hay Catabibazon),và biểu tượng của nó là đảo ngược của biểu tượng cho giao điểm thăng. Lưu ý rằng cái gọi là giao điểm Bắc trên thực tế có thể nằm ở phía nam của giao điểm Nam trong hành trình của chu kỳ nút.
Tôi thấy rằng đã có sự nhầm lẫn khi rất nhiều tác giả nói rằng Long Vĩ, Thủ Vĩ thuộc về Chiêm tinh học Trung Hoa. Hai khái niệm này hoàn toàn thuộc về Chiêm tinh học cổ Tây phương và đăc biệt là môn Tử Vi Đẩu Số cũng không thể do người Trung Hoa sang tạo ra.

Quỹ đạo Mặt Trăng nghiêng khoảng 5,145° so với mặt phẳng hoàng đạo: vì thế Mặt Trăng có thể lên cao tới khoảng 5° về phía bắc của hoàng đạo và cũng chừng ấy thấp hơn về phía nam của hoàng đạo. Mặt phẳng hoàng đạo nghiêng khoảng 23,4° trên thiên xích đạo, mặt phẳng vuông góc với trục tự quay của Trái Đất. Kết quả là, một lần trong chu kỳ giao điểm 18,5996 năm, khi mà thời điểm xảy ra giao điểm thăng của quỹ đạo Mặt Trăng trùng với điểm xuân phân, thì Mặt Trăng đạt tới các xích vĩ xa nhất về phía nam hay phía bắc. Khi đó nó cũng có các điểm phương vị xa nhất về phía bắc hay phía nam để mọc và lặn trên đường chân trời; cao độ thấp nhất và cao nhất khi vượt qua kinh tuyến bầu trời (vòng Tí Ngọ); và những lần trông thấy đầu tiên về tiềm năng là muộn nhất của trăng mới. Ngoài ra, sự che khuất bởi Mặt Trăng đối với nhóm sao sáng trong quần sao Pleiades, nằm phía trên khoảng 4° về phía Bắc của hoàng đạo, xảy ra trong một khoảng thời gian tương đối ngắn một lần trong mỗi chu kỳ giao điểm.

Cửu tinh theo Navagraha – là một khái niệm của thiên văn học và chiêm tinh học Ấn Độ. Graha (từ tiếng Phạn gráha—nắm giữ, cai quản) là những vị thần vũ trụ có ảnh hưởng lên đời sống của các sinh vật, đứa con của mẹ Đất Bhumidevi.
1) Surya Deva (sun) = MặtTrời – Đông – màu Vàng kim
2) Chandra (Moon) = Mặt Trăng – Tây bắc – màu Bạc
3) Budha (Mercury)=sao Thủy – Bắc – màu Xanh lục
4) Shukra(Venus)=sao Kim – Đông Nam – màu Trắng
5) Mangala(Mars)=sao Hỏa – Nam – màu Đỏ
6) Guru(Jupiter) =sao Mộc – Đông bắc – màu Vàng
7) Shani(Saturn)=sao Thổ – Tây – màu Đen
8) Rahu(north node) = La Hầu –Tây nam – màu Xanh đen
9) Ketu (south node )= Kế đô – ( chưa biết )

Theo Hindu có hai cách sắp xếp sơ đồ cửu tinh , nhưng cả hai cách đều lấy Mặt Trời làm trung tâm.

Ở sơ đồ Agama Prathishta, Surya mặt trời ở trung tâm, Chandra-mặt Trăng phía đông của mặt Trời, Budha-Thủy tinh ở phía Nam, Brihaspati (Guru)- Mộc Tinh phíaTây, Shukra – Kim Tinh ở phía Bắc, , Mangala – Hỏa tinh ở Đông Nam, Shani – Thổ tinh ở Tây Nam, Rahu –La Hầu ở phía Tây Bắc và Ketu –Kế Đô ở Đông bắc.

Ởsơ đồ Vaidika Pradishta, Surya mặt trời vẫn ở trung tâm, Chandra-mặt Trăng phía đông nam của mặt Trời, Budha-Thủy tinh ở phía Đông bắc, Brihaspati (Guru) – Mộc Tinh phía Bắc, Shukra – Kim Tinh ở phía Đông, , Mangala – Hỏa tinh ở phía Nam, Shani – Thổ tinh ở phía Tây, Rahu –La Hầu ở phía Tây Nam và Ketu –Kế Đô ở Tây bắc.

Theo phong tục xem tuổi hạn hàng năm La Hầu và Kế Đô là 2 trong số 9 sao (cửu diệu).

1) Thái Dương = MặtTrời
2) Thái Âm = Mặt Trăng
3) Thủy Tinh | Thủy Diệu = sao Thủy
4) Kim Tinh | Thái Bạch = sao Kim
5) Hỏa Tinh | Vân Hớn = sao Hỏa
6) Mộc Tinh | Mộc Đức = sao Mộc
7) Thổ Tinh | Thổ Tú = sao Thổ
8) La Hầu = ảo tinh là điểm giao cắt phía bắc
9) Kế Đô= ảo tinh là điểm giao cắt phía Nam

https://elysium6561.wordpress.com/20...-hau-va-ke-do/
__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Đã có 2 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho vertumnus trong bài viết này:
mongmothu (15-09-2017), Song Hiep (01-09-2017)
Trả lời

Bookmarks



Hiện thời số người đang xem chủ đề này là: 1 (0 Thành viên và 1 Khách)
 
Thread Tools
Display Modes

Quyền Hạn Gởi bài
Bạn không được quyền gửi bài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đangTắt

Chuyển nhanh đến

Múi giờ GMT -7. Hiện tại là 07:28 PM.


Chút Lưu Lại không chịu bất cứ trách nhiệm gì về nội dung bài đăng của tất cả Thành viên.
Nhóm Điều Hợp có toàn quyền chỉnh sửa, xóa bỏ, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên Thành viên mà không cần giải thích lý do.

Powered by vBulletin® Copyright ©2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2017 @ www.chutluulai.net. All rights reserved.
Vietnamese Language by www.mvietx.org.