Chút lưu lại

Go Back   Chút lưu lại > Quê Hương - Đất nước - Con người > Những nét đẹp Quê Hương
Trang nhà Phòng ảnh Thơ mới Download mViet Lưu bút

Những nét đẹp Quê Hương
Các bài viết, tản văn, biên khảo, sưu tầm về con người, địa danh, lịch sử, phong tục địa phương, món ăn ngon truyền thống, câu hò, câu ca dao ... với quê hương Việt Nam.

Trả lời
 
Thread Tools Display Modes
Old 29-12-2011, 07:02 PM   #1
Mayvienxu's Avatar
Mayvienxu
Senior Member

 
Join Date: Feb 2010
Đã Cảm ơn: 1,641
Được cảm ơn: 1,607 lần/932 bài
Status:Mayvienxu is offline
 
Mayvienxu is on a distinguished road

Post SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm

SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm

Phượng Sài Gòn
Phượng Sài Gòn anh vẫn nhớ
Bày đỏ sân trường, từng cánh hoa tim
Xưa thân nhau, tan lớp chung đường
Anh mang hoa bôi má em hồng
Để em hóa thân, nàng tiên xuống thăm trần gian

Phượng Sài Gòn chim vẩn hót
Xưa buổi học hè hồi trống ra chơi
Quanh thân cây, anh khắc tên mình
Bên tên em, em vốn tên Phượng
Phượng thương mến thương, loài hoa vấn vương mộng mơ

Mùa hè Cali, anh nhớ Sài Gòn
Phượng hồng ban trưa, ve chắc gọi buồn
Em ghé ngôi trường, phượng rơi ai bán
Gom hết mua về, mà kết môi tim
Làm nhớ nhau thêm
Thiết tha kỷ niệm, để nhớ nhau thêm !!

Chiều mòn Cali, anh nhớ Sài gòn
Người tình khoa văn, duyên dáng mặn mà
Năm ngón nỏn nà, bàn tay xinh xắn
Em vẩy tay chào, ngày đó chưa phai
Còn nhớ trong anh, áo em học trò
Còn mãi trong anh,

Phượng Sài Gòn, hoa đẹp lắm
Đâu có nơi nào bằng đất quê hương
Anh phương xa, nhung nhớ muôn trùng
Hoa tên em, trang vỡ mong chờ
Tình thương vẫn thương
Màu hoa vấn vương...... lòng anh!!!















Chỉnh sửa lần cuối bởi Mayvienxu ngày 29-12-2011 lúc 07:08 PM.
Reply With Quote
Old 03-07-2017, 09:31 PM   #2
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 568 lần/378 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default Bánh mì Sài Gòn trong thơ

Bánh mì không chỉ là món ăn rẻ, nhanh và tiện lợi đủ đường; bánh mì còn là món quà ấp iu nhiều ký ức, và đi vào những câu thơ gợi nhớ Sài Gòn xưa...



Một quầy bán bánh mì Sài Gòn năm 1950 - Ảnh tư liệu
Ngày trước, bên cạnh lực lượng bán báo, đánh giày, Sài Gòn có một “lực lượng” đông đảo không kém là đội ngũ bán bánh mì dạo.

Đó là những thiếu niên quảy trên lưng các túi vải bồng bột, màu mỡ gà, bên trong lồng thêm vài lớp bao bằng giấy dầu để giữ cho bánh mì nóng lâu, vừa chạy lúp xúp vừa rao:
“Bánh mì nóng đê ê ê ê ...”; hoặc những ông bán bánh mì bằng xe đạp, sau yên xe chở một giỏ cần xé, phủ kín bằng bao bố. Hình ảnh đó đã gợi nên niềm xúc động cho nhà thơ Linh Châu:
Bánh mì đây - bánh mì đây/Em bán bánh từ ngày còn thơ nhỏ/Nặng thúng bánh trong phố phường đông đảo/Để nuôi mãi cuộc đời thơ dại em ơi... 
(Phổ Thông - 1959)


Bánh mì Sài Gòn trên báo Life
Ôm ổ bánh mì 
làm gối nhỏ

Dù bài thơ của Linh Châu được viết năm 1959 nhưng chắc chắn không phải là bài thơ đầu tiên viết về bánh mì.
Ta biết rằng, bánh mì là thực phẩm đi theo gót viễn chinh của quân đội Pháp và sau này cách làm bánh mì được người Hoa tiếp thu, sản xuất bán ra thị trường.
Những người được nếm cái loại bánh dài, giòn và thơm mùi bột ấy có lẽ là những người giàu có và những người làm việc cho bộ máy của chính quyền Pháp rồi dần dần phổ biến trong tầng lớp Tây học, thị dân và sau một thời gian đã trở thành món ăn phổ biến khắp thành thị và nông thôn.
Và bánh mì, thời kỳ này, trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu năm 1861, ta thấy có hai câu: Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn/ Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Sau này, bánh mì trở thành món quà của người đi xa mang về cho người thân.
Ngay bến xe Petrus Ký (Lê Hồng Phong bây giờ), trước giờ xe lăn bánh, một đội ngũ bán bánh mì rong, ôm những rổ bánh mì còn nóng đi dọc theo thân xe mời khách mua đem về làm quà cho con cháu.
Hoặc khi xe chạy đến đường vào Tân An, người ta thấy những người bán đựng trong cần xé những ổ bánh mì to bằng cái gối ôm.
Dân trong Nam không gọi bánh mì là “cái” như người miền Bắc mà gọi bánh mì là “ổ”.
Trước đó, ngoài Bắc gọi bánh mì là bánh tây, thì miền Nam lúc đó đã gọi nó là ổ bánh mì như nhà thơ Kiên Giang khi về quê Rạch Giá ăn tết đã viết:
Đáp tàu khói, về quê ăn tết
Gió bấc đầu mùa gợn sóng đêm
Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ
Đem về cho mẹ với cho em.


Một tiệm bánh mì Sài Gòn
Bánh mì Sài Gòn 
“Năm bờ Uon”
Đã là người Sài Gòn chắc là không ai không biết ăn bánh mì kiểu Sài Gòn (nói về cách ăn bánh mì vì ở Hà Nội lúc trước không có bánh mì kẹp đủ thứ mà chỉ có bánh mì trét pa-tê).
Những người Việt Nam xa xứ, hiện đang định cư ở đất nước là cha đẻ của bánh mì nhưng khổ thay lại có khẩu vị của bánh mì Sài Gòn từ ngày để chỏm, nên ngợi ca cái bánh mì Sài Gòn như thế này:
Ai bảo bánh mì Paris ngon
Chắc gì hơn bánh mì Sài Gòn!
Bánh mì Sài Gòn Năm bờ Uon
Nóng, thơm, bùi, béo, lại vàng ròn.
(Công Tử Hà Đông)
Cũng không quá khi đề cao bánh mì Sài Gòn khi ta biết rằng người Mỹ gọi tắt là bánh mì. Tiệm bánh mì Lee’ với kiểu bánh mì Sài Gòn đã làm hài lòng người Việt vùng quận Cam cũng như người Sài Gòn sang California du lịch hay thăm người thân.
Quận 13, Paris; các vùng người Việt tại Úc không thiếu những tiệm bánh mì Sài Gòn.
Vào tháng 3-2012, chuyên trang du lịch của The Guardian, một tờ báo nổi tiếng của Vương quốc Anh, đã bình chọn bánh mì Sài Gòn thuộc 10 món ăn đường phố ngon và hấp dẫn du khách nhất thế giới.
Bởi vậy, nhà thơ Công Tử Hà Đông có quyền làm thơ ca ngợi:
Bánh mì ăn không cũng ngon
Ta đi trăm núi, ngàn sông biển
Không đâu bánh mì ngon
Bằng bánh mì Saigon.
Thật ra bánh mì Sài Gòn đâu chỉ ăn bằng hình thức, mùi vị, mà chính là vì loại thực phẩm ăn nhanh này gợi nhớ đến quê hương của thời thơ ấu với hình ảnh những đứa trẻ vừa ôm cặp vừa gặm bánh mì đến trường…



Bánh mì Sài Gòn trên tạp chí Life - Ảnh: tư liệu
__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

Chỉnh sửa lần cuối bởi vertumnus ngày 03-07-2017 lúc 10:06 PM.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến vertumnus trong bài viết này:
nhonhatrang (04-07-2017)
Old 03-07-2017, 10:19 PM   #3
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 568 lần/378 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default

Những hình ảnh sinh động về Sài Gòn năm 1969 đã được tái hiện qua ống kính của George Lane, một cựu nhân viên quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam.



Đường Hai Bà Trưng ở trung tâm Sài Gòn. Tòa nhà bên phải là nhà máy thuốc phiện cũ.



Đường Tự Do nhìn từ ban công của quán bar của cư xá Brinks, nơi cư trú của nhiều nhân viên quân sự Mỹ.



Sài Gòn nhìn từ trên cao. Trục đường ở giữa bức ảnh dẫn đến sân bay Tân Sơn Nhất.




Trung tâm Sài Gòn vào buổi tối.



Tượng đài Lê Lợi trên bùng binh Cây Gõ ở cửa ngõ Sài Gòn.



Nhà thờ Đức Bà.



Đường phố Sài Gòn buổi sáng.



Taxi Sài Gòn. Đây là mẫu xe Renault 4CV của Pháp, sản xuất từ năm 1947 - 1961.



Một chiếc Citroen Traction Avant dừng lại bên Quốc lộ 1 để sửa chữa. Mẫu xe này được sản xuất từ năm 1934 - 1957.



Phi cảng Sài Gòn - Tân Sơn Nhất.




Căn cứ ra đa Phú Lâm của Mỹ nằm ở phía Tây Nam Sài Gòn



Con đường dẫn đến căn cứ Phú Lâm.



Xe lam chở đầy người và hàng hóa trên đường ngoại ô Sài Gòn.



Đường đến căn cứ Long Bình.



Xe bọc thép của quân đội Sài Gòn cảnh giới trên Quốc lộ 1.



Hàng bán xăng bên đường.



Ráng chiều trên cầu Sài Gòn.



Khu dân cư ở Phú Lâm.



Hàng bán đèn ông sao bên đường.



Xa lộ Biên Hòa.



Ngoại ô Sài Gòn.



Bãi rác là nơi kiếm sống của rất nhiều cư dân.



Nghĩa trang Bắc Việt gần sân bay Tân Sơn Nhất.



Công trình thờ tự nằm giữa khu dân cư.


Cậu bé bán bóng khiến con đường buồn tẻ trở nên sinh động.



Trang trại ở ngoại ô Sài Gòn.



Hoàng hôn trên những bãi rác.



Một khoảnh khắc thanh bình ở ngoại ô.



Xe tang đi trên xa lộ Biên Hòa.



Đoàn xe lam trên xa lộ Biên Hòa, phía xa là núi Châu Thới.



Nhà máy gạch ở ngoại ô.



Nhà máy sản xuất hương trầm với những giàn phơi hương màu vàng gần Phú Lâm.



Khu căn cứ của quân đội Sài Gòn gần cầu Đồng Nai.



Căn cứ không quân Mỹ tại khu vực Tân Sơn Nhất.
__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến vertumnus trong bài viết này:
nhonhatrang (04-07-2017)
Old 03-07-2017, 10:25 PM   #4
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 568 lần/378 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default

Trên nước ảnh cũ, hình ảnh xe đẩy bán hàng rong, gánh quà vặt, sạp ăn ven đường giúp bạn khám phá nhiều điều thú vị về ẩm thực vỉa hè Sài Gòn của thế kỷ trước.

Qua khung ảnh xưa, hình ảnh những gánh hàng rong, món ăn vặt hấp dẫn ở miền Nam thế kỷ trước hiện lên thật sinh động và ấn tượng. Nhờ những bức ảnh hiếm đó, chúng ta có thể cảm nhận phần nào bản sắc ẩm thực vỉa hè thú vị của Sài Gòn xưa.Hàng rong
Những hàng quán ven đường, xe đẩy bán hàng rong là nét đặc trưng của phố phường Sài Gòn thế kỷ 20. Hình ảnh ẩm thực vỉa hè ấy cho đến bây giờ vẫn rất thân thuộc với người Sài Gòn hiện đại.

Hàng quán đôi khi chỉ là một chiếc xe đẩy bán mực khô và trái cây...

...Hay một cái mâm nhỏ bán mía ghim

Phá lấu

Bò bía

Người ăn rất thoải mái tận hưởng hương vị.

Quán vỉa hè và gánh hàng rong mưu sinh.


Các gánh hàng rong có mặt trên khắp phố phường.

Xôi gà

Phố Tây ba lô ngày xưa: Một góc Đường Phạm Ngũ Lão, quận 1 (năm 1967).

Bún măng

Sài Gòn năm 1968 – Xe mì trên phố Lê Lợi


Ăn chợ
Một trong số những thú vui của phụ nữ Sài Gòn thời ấy là... ăn chợ. Trong lúc đi dạo phố phường hay xách làn đi mua thức ăn, các cô gái thường ngồi nghỉ chân ở một gánh hàng rong, quán ăn trong chợ để lót dạ bằng bát bún riêu hay cháo vịt.

Em bé Sài Gòn xinh xắn, hồn nhiên ăn uống trong một khu chợ xưa.

Cháo vịt

Gánh trái cây các loại

Trái cây được bày bán khắp các chợ

Mực khô cán mỏng.

Bánh mì nóng giòn Sài Gòn.

Thiếu nữ Sài Gòn xưa thoải mái ngồi ăn hàng chợ.

Dưa hấu Sài Gòn giáp Tết.

Vừa đứng vừa thưởng thức món bún riêu.
Tiệm ăn, sạp hàngNhững cửa hàng, tiệm ăn được bài trí đơn giản, tạm bợ bên đường, trên một góc phố hay những sạp hàng hóa nho nhỏ là địa điểm được nhiều người dân Sài Gòn xưa yêu thích.

Quán thuốc lá vỉa hè.

Phở là một món ăn của miền Bắc và người ta cho rằng, nó chỉ bắt đầu xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1951-1952.

Các tiệm tạp hóa mọc lên như nấm, 1967-1968.

Những ổ bánh mì Sài Gòn xưa có kích cỡ khá lớn.

Một cửa hàng bán các loại rượu Tây, sữa ngoại.

Dãy phố chuyên bán lạp xưởng, heo quay, xá xíu…của người Tàu

Bán cơm trưa trên Đại Lộ Nguyễn Huệ (1966)

Cửa hàng giầy dép và đồ lót.

Chợ trời

Sạp báo với chủ nhân nằm dài đánh một giấc ngủ trưa.

Trong một tiệm ăn ở gần chợ Gò Vấp năm 1920.

Công chức Sài Gòn thời đó rất thích các tiệm mì của người Hoa.
Giải khát
Xe đẩy bán nước giải khát dường như xuất hiện ở mọi ngóc ngách Sài Gòn xưa. Thời tiết quanh năm nắng nóng của miền Nam khiến những địa điểm bán đồ giải khát chẳng mấy khi ế hàng.

Nụ cười hồn nhiên của cô bé bán nước bên bờ kênh.

Quầy nước với những bịch nước ngọt được để sẵn trong bao nylon.

Rau má và nước ngọt.

Xe chè của người Hoa bên góc đường. Trên xe có rất nhiều các họa tiết sơn thủy
như thường thấy ở các xe mì, hủ tiếu.

Quán giải khát ven đường.

Xe nước mía.
Theo Nguyệt Nguyễn



__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến vertumnus trong bài viết này:
nhonhatrang (04-07-2017)
Old 03-07-2017, 10:58 PM   #5
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 568 lần/378 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default Nguồn Gốc Và ý Nghĩa Của Tên Sài Gòn

Trong "Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị" của ông Huỳnh Tịnh Của thì Sài tức là củi thổi, Gòn: tên loại cây cỏ bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm. Về địa danh Sàigòn thì Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị ghi: tên riêng của đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé.
Ðịnh nghĩa Sàigòn của quyển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị cho ta thấy rằng tên Sàigòn trước đây dùng để chỉ vùng Chợ Lớn hiện nay, còn vùng mà ta gọi là Sàigòn hiện nay thì trước đây lại gọi là Bến Nghé. Ðiều này được xác nhận nhờ hai người Anh là Crawford và Finlayson đã đến vùng này năm 1922. Cứ theo lời những người này thuật lại thì Sàigòn và Bến Nghé (mà các tác giả trên đây viết là Bingeh hay Pingeh) là hai thành phố phân biệt nhau và cách xa nhau độ 1 hay 2 dặm, Bến Nghé là nơi đồn binh và đạt cơ quan chánh phủ, còn Sàigòn là trung tâm thương mãi và là nơi cư ngụ của người Hoa kiều và các thương gia (tài liệu của Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises tức là Tập san của Hội Cổ Học Ấn Hoa, năm 1942, tập số 2). Vậy, Sàigòn và Bến Nghé là hai thành phố phân biệt nhau và có hai tên khác nhau đàng hoàng, nhưng đến khi người Pháp chinh phục ba tỉnh phía đông Nam Kỳ năm 1861, họ dùng tên Sàigòn để chỉ đất Bến Nghé cũ, mà họ dùng làm trung tâm hành chánh, vì Bến Nghé là một tiếng khó cho người ngoại quốc phát âm hơn Sàigòn. Người Việt Nam bắt buộc phải theo họ mà gọi Bến Nghé là Sàigòn, còn vùng trước đó gọi là Sàigòn thì được gọi là Chợ Lớn theo một cái tên mà sử gia Phan Khoang trong bộ Việt Sử, Xứ Ðằng Trong, cho là dường như đã có từ đời vua Gia Long.
Cũng theo quyển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của ông Huỳnh Tịnh Của thì tên Sàigòn có nghĩa là củi gòn. Nhà học giả Trương Vĩnh Ký đã theo thuyết này mà ông cho biết là dựa vào bộ Gia Ðịnh Thông Chí của ông Trịnh Hoài Ðức. Trong tập Souvenirs historiques, ông Trương Vĩnh Ký lại kể lại rằng người Khmer xưa có trồng cây gòn chung quanh đồn Cây Mai và chính ông còn thấy vài gốc cổ thụ này tại vùng ấy năm 1885.
Sau ông Trương Vĩnh Ký, còn có ông đốc phủ Lê Văn Phát đi xa hơn trong thuyết kể trên đây. Theo ông Lê Văn Phát thì trước đây, vùng Sàigòn Chợ Lớn hãy còn bị rừng bao phủ và tên Sàigòn có lẽ phát xuất từ tên Khmer Prei Kor tức là Rừng Gòn (Forêt des Kapokiers). Prei Kor là tên mà người Khmer dùng để gọi một địa phương mà trọng tâm là Chùa Cây Mai ở Phú Lâm ngày nay. Mặt khác, ông Lê Văn Phát cũng cho biết rằng người Lào (mà ngôn ngữ gần như ngôn ngữ Thái) đã gọi vùng này là Cai Ngon, mà Cai Ngon theo tiếng Thái cũng có nghĩa là Rừng Chỗi Cây Gòn (Brousse des kapokiers).
Thuyết về nguồn gốc tên Sàigòn của các học giả Việt Nam trên đây sau này đã bị một số học giả khác bác bỏ. ông Vương Hồng Sến trong bộ Sàigòn Năm Xưa cho biết rằng theo tiếng Khmer thì Kor có nghĩa là gòn mà cũng có thể có nghĩa là con bò, và Prei Kor có thể là Rừng Bò chứ chưa ắt hẳn là Rừng Gòn.
Mặt khác, các nhà học giả Pháp nghiên cứu về nước Cam.Bu.Chia đã tìm được trong bộ sử chép tay của nước ấy một dữ kiện quan trọng về vùng này. Theo bộ sử ấy, năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đã đến Cam.Bu.Chia xin vua Cam.Bu.Chia cho đặt một số sở thuế ở vùng Prei Nokor va` Kas Krobey. Vua Cam.Bu.Chia lúc ấy có một hoàng hậu la` con gái chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Bởi đó, ông đã chấp nhận lời yêu cầu của chúa Nguyễn.
Theo ông Etienne Aymonier thì Nokor là xứ, quốc gia và Prei Nokor là rừng của vua (forf royale). Nhưng linh mục Tandart lại bảo rằng tiếng Nokor do tiếng nam phạn Nagaram mà ra, và có nghĩa là Thành phố của rừng hay thành phố ở giữa rừng (ville de la forêt). Bởi vậy theo ông, Prei Nokor có nghĩa là thành phố.
Nhà học giả Pháp Louis Malleret khi nêu ra tài liệu về Prei Nokor đã dựa vào ý nghĩa của tiếng Khmer này theo linh mục Tandart để bác bỏ thuyết của các học giả Việt Nam trước đó cho rằng Sàigòn có nghĩa là Củi Gòn. Ông đã theo ý kiến của một người Pháp khác là Maurice Verdeille theo đó tiếng Sàigo`n có lẽ phát xuất từ tiếng Tây ngòn có nghĩa là cống phẩm của phía tây (tribut de l'ouest). Tiếng Hán Việt có nghĩa là cống phẩm của phía tây nếu đọc theo V.N là Tây Cống và Tây Ngòn hẳn là Tây Cống, nhưng phát âm theo giọng Trung Hoa. Sở dĩ ông Malleret theo thuyết này là vì ông đã dựa vào một dữ kiện lịch sử do ông Trịnh Hoài Ðức chép lại, là khi Cam Bu Chia bị phân ra cho hai vua thì cả hai vua nầy đều nạp cống phẩm cho chúa Nguyễn ở Prei Nokor, vốn là thủ đô của vua thứ nhì từ năm 1674 (trong khi vua thứ nhứt đóng đô ở Oudong ở phía bắc Nam Vang).
Một tác giả khác, ông Vương Hồng Sển, nhắc lại trong quyển Sàigòn Năm Xưa rằng người Hoa Kiều đã tập trung vào vùng Chợ Lớn ngày nay để mua bán năm 1778 sau khi Cù Lao Phố (gàn tỉnh lị Biên Hòa ngày nay) là nơi được thành lập để mua bán từ cuối thế kỷ thứ 17 đã bị Tây Sơn phá tan khi họ kéo vào đánh Miền Nam. Sau khi thành phố này đã vững, người Hoa Kiều đã đáp thêm bờ kinh Chợ Lớn, cẩn đá cho cao ráo kiên cố. Và có lẽ để ghi công việc này, họ đặt tên chỗ mới này là Ðề Ngạn, tức là bờ sông cao dốc trên có đe ngăn nước. Ðề Ngạn là tiếng Hán Việt, chớ người Trung Hoa phát âm theo giọng Quảng Ðông thì nói thành Tài Ngon hay Thầy Ngồnn. Ông Vương Hồng Sển cho rằng tiếng Sàigòn chính do Thầy Ngồnn mà ra.
Về đất Bến Nghé thì người Trung Hoa gọi là Xi Cong. Ông Vương Hồng Sển cho rằng đó là họ đọc trại lại tiếng Sàigòn của ta và khi viết ra Hán văn thì họ dùng hai chữ mà ta đọc là Tây Cống.
Vậy, có ba thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của tên Sàigòn:
1. Thuyết của các ông Trương Vĩnh Ký và Lê Văn Phát: Sàigon do tiếng Khmer Prei Kor mà ra, và có nghĩa là củi gòn.
2. Thuyết của ông Louis Malleret: Sàigòn do tiếng Tây Ngòn, tức là Tây Cống phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là cống phẩm của phía tây.
3. Thuyết của ông Vương Hồng Sển: Sàigòn do tiếng Thầy Ngồnn tức là Ðề Ngạn phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là bờ sông cao dốc trên có đê ngăn nước. Còn về tiếng Tây Cống, ông Vương Hồng Sển lại cho rằng nó chỉ được người Trung Hoa dùng sau này để phiên âm lại tên Sàigòn sau khi tên này được dùng đẻ chỉ đất Bến Nghé cũ.
Ba thuyết trên đây cái nào cũng có vẻ có lý phần nào nhưng thật sự, không cái nào có thể làm cho chúng ta hoàn toàn thỏa mãn. Như thế có lẽ vì những người nêu ra các thuyết ấy đã quên để ý đến cách ông bà chúng ta đặt các địa danh ở Nam Kỳ trước đây. Chúng ta có thể nhận thấy rằng trong việc đạt địa danh này, ông bà chúng ta đã theo một số nguyên tắc:
Các cụ có thể phiên âm một địa danh Khmer đã có và bỏ dấu cho thành tiếng Việt Nam. Thí dụ như Psar Deck thiếng Khmer là Chợ Sắt đã được các cụ gọi lại là Sa Ðéc, hay Me So tiếng Khmer là Người Ðàn Bà Ðẹp hay nàng Tiên được các cụ gọi là Mỹ Tho. Trong một bài kỷ niệm ngày 30 tháng tư, đăng trong tờ Việt Báo, ông Phạm Nam Sách khi nói về tỉnh Ba Xuyên đã nhắc đến một địa danh mà ông nói là là Bảy Sào, Bải Sào, Bảy Sau hay Bải Sau chi đó. Thật sự đó là Bải Xào, một tiếng phát xuất từ tiếng Khmer Bai Xao có nghĩa là Cơm Sống. Ðịa danh này sở dĩ có là vì trong trận đánh nhau voói người Việt Nam, người Khmer đã thua chạy về đến đó và ngừng lại nấu cơm ăn, nhưng cơm chưa kịp chín thì quân Việt Nam lại kếo đến và người Khmer phải bỏ chạy. Ðể đánh dấu việc này, họ gọi đất đó là Cơm Sống, tiếng Khmer là Bai Xao và các cụ ta bỏ dấu thêm thành Bải Xào.
Các cụ có thể dịch nghĩa một địa danh Khmer đã có. Thí dụ như tên Bến Nghé phát xuất từ tiếng Khmer Kompong Krabei có nghĩa la Vũng Trâu. Theo sử Khmer mà ông Malleret viện dẫn thì ngoài Prei Nokor, vua Cam.Bu.Chia còn cho chúa Nguyễn đạt sở thuế ở Kas Krobey. Chữ Krobey rất gần Krabei, và có thể Kas Krobey với Kompong Krobei cũng là một và có nghĩa là Vũng Trâu, Bến Trâu gì đó.
Nhưng tên theo hai loại trên đây là do người Việt Nam bình dân đặt ra khi mới đến một địa phương, về sau, khi đã có nhiều người Việt Nam ở và triều đình Việt Nam đặt ra các đơn vị hành chánh, thì triều đình lại dùng tiếng Hán Việt như Trấn Biên, Phiên Trấn, Phước Long, Phước Tuy v.v... Mặt khác, khi viết sử hay viết sách địa lý mà gặp một tên nôm do người bình dân đã đặt, các cụ đã dịch phăng nó ra tiếng Hán Việt chớ ít khi chịu chép tên nôm. Như Ba Giỗng, các cụ dịch là Tam Phụ và Bến Nghé, các cụ dịch lại là Ngưu Chử khi chép vào sách chớ không chịu viết tên nôm là Ba Giồng, Bến Nghé.
Nếu lấy các qui tắc đặt địa danh của các cụ ngày xưa làm tiêu chuẩn dể suy luận thì ta thấy ngay các thuyết trên đây về nguồn gốc và ý nghĩa của Sàigòn không ổn.
Nếu các cụ ta ngày xua muốn dịch tiếng Khmer Prei Kor ra tiếng Việt thì các cụ đã dùng tên Củi Gòn, Cây Gòn hay Rừng Gòn để đạt cho địa phương này, chớ không ghép một tiếng Hán Việt là Sài với một tiếng nôm là Gòn để thành Sàigòn, cũng nhu khi dịch Kompong Krabei ra tiếng Việt, các cụ đã gọi là Bến Nghé chớ không nói Tân Nghé, Chử Nghế hay Ngạn Nghé (Tân, Chử và Ngạn là những tiếng Hán Việt có nghĩa là cái cồn nhỏ, bến sông, bờ sông). Nếu bảo rằng gòn là một loại cây không có tên Hán Việt và các cụ đã dùng tên ấy như tiếng Hán Việt thì các cụ đã theo văn phạm Hán Việt mà gọi Củi Gòn là Gòn Sài chớ không thể gọi là Sài Gòn
Chữ Sài là tiếng Hán Việt có nghĩa là Củi, nhưng cũng chữ ấy mà dùng làm chữ nôm thì lại đọc là Thầy. Vậy, nếu đọc theo tiếng nôm hoàn toàn hai chữ mà ông bà chúng ta dùng để chỉ tên đất ta đang nghiên cứu thì ta có Thầy Gòn. Tên này rất gần với Tây Ngòn hay Thầy Ngồnn là những tiếng Hán Việt Tây Công hay Ðề Ngạn đọc theo giọng Trung Hoa. Nhưng các cụ ngày xua rất sính dùng tiếng Hán Việt. Ðến như tiếng nôm hoàn toàn là Ba Giồng, Bến Nghé mà các cụ còn nhứt định phải dịch ra là Tam Phụ, Ngưu Chử khi viết vào sách vở thì không lý do gì các cụ lại không dùng các tiếng Hán Việt đã sẵn có là Tây Cống hay Ðề Ngạn, mà lại dùng tiếng Thầy Gòn là tiếng phiên âm theo giọng của người Trung Hoa.
Vậy, các thuyết kể trên đây đều không vững cả.
Cuối cùng, chỉ còn một dấu vết nhỏ trong các tài liệu nói về ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn có thể giúp ta một lối thoát: đó là việc ông Lê Văn Phát cho biết rằng người Lào đã gọi vùng Chợ Lớn ngày nay là Cai ngon, mà Cai ngon theo tiếng Thái có nghĩa là Rừng Chỗi Cây Gòn. Chúng tôi không biết tiếng Lào hay tiếng Thái nên không thể xác nhận được ý nghĩa của Cai Ngon theo tiếng Thái, nhưng nếu quả đúng như ông Lê Văn Phát nói thì tên Sàigòn do ông bà ta phiên âm từ tiếng Thái Cai Ngon và bỏ dấu theo giọng Việt Nam như thông lệ.
Xét về mặt nguyên tắc đạt địa danh của ông bà chúng ta ngày xưa, thì vấn đề này có thể kể là tạm giải quyết. Nhưng nghi vấn còn lại là tại sao lại có tiếng Lào hay tiếng Thái lọt vào đây? Hiện nay, không có nhiều tài liệu lịch sử giúp chúng ta có một sự hiểu biết rộng rãi và chánh xác về thời kỳ người Việt Nam mới vào ở đất Nam Kỳ. Chúng ta chỉ có thể dựa vào một số dữ kiện sau đây để suy luận:
1. Vào đầu thế kỷ 17, nước Cam Bu Chia đã bị người Xiêm (Thái Lan hiện nay) uy hiếp nặng nề, và chính vì muốn dựa vào người Việt Nam để chống lại Xiêm mà vua Chey Chetta II đã đi cưới công chúa Ngọc Vạn (là con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) về làm hoàng hậu năm 1620, rồi đén năm 1623 lại đẻ cho chúa Nguyễn đạt những cơ sở thâu thuế ở vùng Sàigòn, Chợ Lớn ngày nay.
2. Vùng Chợ Lớn chỉ trở thành một vùng thương mãi thạnh vượng từ năm 1788 với khối người Hoa Kiều tụ tập về đó sau khi Cù Lao Phố bị Tây Sơn phá hủy. Vậy, lúc chúa Nguyễn mới đạt cơ sở thuế hơn 150 năm về trước vùng này chưa có mua bán gì nhiều.
3. Người Việt Nam chỉ vào ở Nam Kỳ nhiều từ khi có lực lượng của ông Trần Thượng Xuyên đóng thường trực để bảo vệ cho họ từ năm 1680. Vậy, lúc chúa Nguyễn đạt sở thuế ở vùng Chợ Lớn ngày nay, hơn 50 năm trước đó, chưa có đông người Việt Nam và chưa có sản xuất nhiều lúa gạo để bán.
4. Như thế, cơ sở thuế của chúa Nguyễn chắc chỉ đánh vào một vài sự buôn bán nhỏ, không quan trọng lắm, và do đó mà vua Cam Bu Chia đã dễ dàng cho chúa Nguyễn thâu lấy nguồn lợi này, chớ nếu có sự mua bán quan trọng và quyền lợi thuế vụ lớn thì vua Cam Bu Chia lúc đó vốn còn hoàn toàn độc lập với chúa Nguyễn, chắc không phải chấp nhận dễ dàng lời yêu cầu của chúa Nguyễn. Vậy, sự mua bán đó dựa vào móng hàng gì? Có thể một trong những món hàng được buôn bán thời đó là gòn, vì vùng này có nhiều cây gòn, có lẽ không nhiều đến thành rừng, nhưng cũng đạt mức quan trọng để có thể gọi là rừng chổi được. Người Xiêm có thể đã đến đó mua gòn để đem về nước dồn gối, dồn nệm. Một ít thương gia Xiêm có thể đã có mặt ở vùng này trước khi chúa Nguyễn đạt sở thuế tại đó, và vì thấy vùng này có nhiều cây gòn, họ gọi nó là Cai Ngon tức là Rừng Chổi Cây Gòn, rồi các viên chức Việt Nam liên lạc với họ để đánh thuế lúc mới đến đã theo họ mà gọi đất này là Sàigòn, thay vì phiên âm hay dịch nghĩa tên Khmer của địa phương này.
5. Về cái tên Khmer này, các học giả đã không đồng ý kiến với nhau, người thì nói là Prei Kor, người thì nói là Prei Nokor. Ông Malleret đã dựa vào sử Khmer mà bảo đó là Prei Nokor và theo linh mục Tandart để dịch Prie Nokor là thành phố của rừng. Vì không biết tiếng Khmer và văn phạm Khmer, chúng tôi không thể đi sâu vào vấn đề này, nhưng vẫn thấy có những chỗ không ổn.
Nếu Prei Kor có nghĩa là Rùng Gòn hay Rừng Bò thì văn phạm Khmer cũng như văn phạm Việt Nam đạt tiếng rừng lên trên, tiếng phụ nghĩa cho rừng ở dưới. Như vậy Prei Nokor dịch ra là rừng của vua như Aymonier thì vẫn hợp với văn phạm đó, còn dịch ra như linh mục Tandart là thành phố giữa rừng thì lại đi ngược với văn phạm đó rồi. Hiểu theo văn phạm như nói trên đây thì Prei Nokor là rừng của thành phố mới phải, nhưng tên Rừng của Thành Phố thì cố nhiên là không có ý nghĩa gì.
Mặt khác, nếu Prei Nokor là thành phố giữa rừng hay rừng của vua thì nó chỉ có thể có từ năm 1674 là năm mà vua thứ nhì của Cam-Bu-Chia chua chúa Nguyễn đến đặt sở thuế tại đó thì đất này hãy còn là một thị xã nhỏ, không có vua ở nên không thể mang tên Prei Nokor là thành giữa rừng hay rừng của vua được.
Do các nghi vấn trên đây, chúng ta thấy rằng thuyết của ông Malleret không vững. Và chúng ta có thể đua ra giả thuyết khác: địa điểm mà vua Cam-Bu-Chia cho chúa Nguyễn đạt sở thuế vẫn tên là Prei Kor vì nơi đó có nhiều gòn và là nơi mua bán gòn, nhưng sau đó, khi vua thứ nhì của Cam-Bu-Chia đến đóng đô tại đó, nó có tên mới là Prei Nokor (hiểu theo nghĩa là rừng của vua hay thành phố giữa rừng đều được cả). Các sử gia Cam-Bu-Chia sau này chép lại việc cho chúa Nguyễn đến địa phương này đặt sở thuế đã chép lại tên Prei Nokor mà họ được biết nhiều hơn mà bỏ tên Prei Kor đi. Với giả thuyết này thì ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn có thể giải quyết được: đó là một tên phiên âm từ tiếng Xiêm Cai Ngon có nghĩa là Rừng Chổi Cây Gòn, và phù hợp vớ tên Khmer nguyên thủy Prei Kor cũng có ý nghĩa tương tự.
Vì không biết ngôn ngữ và văn phạm Khmer và Thái (Xiêm) nên chúng tôi không thể đi sâu vào vấn đề này và chỉ xin nêu ra những nhận xét trên đây. Chúng tôi mong ước rằng có vị nào thông thạo tiếng Khmer hay tiếng Thái lưu tâm đến vấn đề này để làm sáng thêm ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn yêu dấu của chúng ta.
__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến vertumnus trong bài viết này:
nhonhatrang (04-07-2017)
Old 25-07-2017, 05:55 AM   #6
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 568 lần/378 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default Một thời xe điện Sài Gòn: Leng keng tiếng chuông reng





Xe lửa Sài Gòn - Chợ Lớn trong ngày khai trương 27-12-1881 - Ảnh tư liệu

Xin lưu ý, người Sài Gòn xưa phân định rất rõ hai chữ “tàu” và “xe”. Tàu là phương tiện chạy dưới nước và trên không. Còn xe thì có bánh chạy trên đất.

Cái gì có bánh, chạy được trên đất đều là xe, kể cả chiếc xe cút kít còn gọi là xe đẩy chỉ để chở hàng trên một đoạn đường gần.
Tuy nhiên, giờ đây cách gọi đã có thay đổi, dù được chạy trên đất nhưng người ta vẫn gọi phương tiện này là “tàu” điện ngầm (bởi có những đoạn chạy dưới lòng đất).
Từ “đường xe lửa 
mé sông” đến 
“tuyến đường cao su”
Xe điện ở Sài Gòn bắt đầu hoạt động vào đầu thập niên 1880. Do thuở ấy Sài Gòn chưa có hệ thống điện công cộng nên xe chạy bằng đầu máy hơi nước, lò đốt bằng than hoặc củi khi chạy vừa bốc khói vừa thỉnh thoảng phun hơi nước ra nên dân chúng gọi là “xe lửa”.
Còn người Pháp gọi là “tramway”. Công ty đầu tiên đầu tư vào hệ thống xe lửa nội đô Sài Gòn - Chợ Lớn là Société générale des tramways de vapeur de Cochinchine (SGTVC) và chính thức hoạt động vào ngày 27-12-1881.
Công ty này đã mở tuyến đường rầy xe lửa Sài Gòn - Chợ Lớn tại tuyến đường Trên, chạy từ đường Charner (Nguyễn Huệ) quãng trước chợ Sài Gòn (khu vực cao ốc Bitex) đi qua Hàm Nghi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi vô Chợ Lớn.
Xe thường có một hoặc hai toa, tùy theo thời điểm đông hay ít khách. Mỗi toa có hai băng ghế dài sát vách toa xe, còn lại là khoảng trống hành khách có thể đứng, để đồ đạc...
Hành khách của xe điện hầu hết là người bình dân, người buôn bán.
Xe chạy rất chậm, có thể chạy theo nhảy lên, mỗi khi xe sắp ghé trạm hoặc rời ga thì có tiếng chuông leng keng.
Mười năm sau, năm 1890, Công ty đường sắt Đông Dương (Compagnie Francaise de Tramways de l’Indochine viết tắt là CFTI) ra đời.
Công ty này đầu tư đường xe điện ở đường Dưới (nay là đường Võ Văn Kiệt) mà dân chúng thường gọi là “đường xe lửa mé sông”, chạy từ đường Nguyễn Huệ dọc rạch Bến Nghé xuống Bình Tây.
Sau đó, từ năm 1892 đến 1913, CFTI đã mở nhiều tuyến xe điện Sài Gòn - Hóc Môn đi qua Đa Kao, Tân Định, Bà Chiểu; Sài Gòn - Phú Nhuận và tuyến Gò Vấp - Búng (Lái Thiêu), sau đó kéo dài lên tận Thủ Dầu Một (Bình Dương) và một đoạn lên tận Lộc Ninh để phục vụ việc chuyên chở cao su, thường được gọi là “tuyến đường cao su”.


Xe điện chạy trước Nhà hát Thành phố năm 1940 - Ảnh: LIFE

Tuyến đường xe điện Sài Gòn - Chợ Lớn
Điều đáng chú ý là những thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, Sài Gòn vẫn chưa có hệ thống điện công cộng mạnh để phục vụ cho xe điện nên các xe này chỉ chạy bằng đầu máy hơi nước.
Để có điện, CFTI đã hùn với Công ty Điện lực Đông Dương (CEEI) xây dựng nhà máy điện nhằm thay đổi cách điều khiển xe và giảm chi phí.
Năm 1896, nhà máy điện đầu tiên đã ra đời ở nơi mà nay là Công ty Điện lực Bến Thành, nằm phía sau Nhà hát Thành phố. Song nhà máy điện này cũng chưa đủ sức để điện khí hóa các xe điện.
Gần 20 năm sau, khi xây dựng xong Nhà máy điện Chợ Quán (dân chúng gọi là nhà đèn Chợ Quán) thì việc điện khí hóa mới hoàn thành.
Cũng trong thời điểm này, Công ty SGTVC bị phá sản do không thể cạnh tranh nổi với CFTI có vốn của nhà nước hỗ trợ, nên CFTI gần như độc quyền kinh doanh xe điện.
Sau khi đường Galliéni (Trần Hưng Đạo) xây dựng xong nối liền hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, CFTI được khuyến khích của chính quyền với một hợp đồng béo bở kéo dài 30 năm, độc quyền kinh doanh, đã bỏ tiền xây dựng tuyến đường xe điện Sài Gòn - Chợ Lớn trên đường mới này.
CFTI đã mua lại SGTVC và mở tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn đi từ đầu đường Hàm Nghi đến chợ Bình Tây với bảy ga, bắt đầu hoạt động vào năm 1925.
Khoảng năm 1953, hệ thống xe điện Sài Gòn coi như ngưng hoạt động vì sự tranh chấp giữa chính quyền và nhóm Bình Xuyên của Bảy Viễn.
Và đến năm 1955 thì chính quyền Việt Nam cộng hòa chấm dứt các hợp đồng xe điện Sài Gòn với CFTI.
Và cũng từ đó, hệ thống xe điện Sài Gòn nói chung hoàn toàn ngưng hoạt động, dù hệ thống đường rầy mãi đến sau này mới được tháo dỡ hoặc lấp bỏ khi phát triển đô thị.
Thay vào đó là hệ thống xe buýt, nên có tin đồn rằng chính quyền Ngô Đình Diệm có “ăn chịu” với công ty xe buýt nên “giết” xe điện. Xem ra lời đồn này thiếu căn cứ và không có gì chứng minh.
Ga Sài Gòn có hình con cò trắng
Để bảo đảm việc kinh doanh, tránh đi lậu vé, CFTI đã in một loại vé xe điện riêng cho mỗi một ga.
Vé bằng bìa cứng, dài 6cm, ngang 3cm, màu xanh đậm, mỗi ga có logo riêng in trên một bảng trắng bằng kim loại tráng men.
Ga Sài Gòn có hình con cò trắng, ga An Bình có hình con khỉ, ga Cống Quỳnh (Arras) có hình cây cào cỏ, ga Chợ Lớn có hình xe cút kít, thường gọi là xe bồ ệch (brouyette).
Tài xế lái xe điện không ngồi mà đứng suốt, phía sau ông có hàng chữ bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp, Hoa “xin đừng nói chuyện với người coi máy”.
Bên hông xe thường có một số quảng cáo, thông dụng nhứt là quảng cáo “thuốc dưỡng thai Nhành Mai”, “dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín”...
TRẦN NHẬT VY


__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến vertumnus trong bài viết này:
hoangvu (07-10-2017)
Old 12-08-2017, 09:05 AM   #7
vertumnus's Avatar
vertumnus
Senior Member

 
Join Date: Jan 2007
Bhutan
Đã Cảm ơn: 9
Được cảm ơn: 568 lần/378 bài
Status:vertumnus is offline
 
vertumnus is on a distinguished road
Send a message via Yahoo to vertumnus

Default Sài Gòn và những điều tuyệt nhất trong mắt giới trẻ

Giới trẻ Sài thành luôn tự hào về những điều tuyệt vời nhất nơi thành phố nơi mình sống khiến dân mạng phát thèm.

Nói về cá tính của người Sài Gòn, ai cũng phải công nhận rằng họ phóng khoáng và sống không so đo tính toán.

Sài Gòn hai mùa mưa nắng, nắng thì "vỡ đầu", mưa thì "phố biến thành sông", nhưng mấy ai mà bỏ được cái chốn "khổ sở" này.

Nếu đi dọc những con phố cổ ở Sài Gòn, nhiều người rất ấn tượng với những tấm bảng quảng cáo vẽ tay.
Dù thời nay, công nghệ in ấn khá hiện đại nhưng những tấm bảng hiệu vẽ tay vẫn đem lại cho chủ quán một niềm tự hào riêng.


"Bánh mì Sài Gòn mười ngàn một ổ, bánh mì Sài Gòn đặc biệt thơm bơ" là những câu rao mà nhiều bạn trẻ đã học thuộc.
Đây cũng là một món ăn mà nhiều người khi tới với thành phố này phải thử một lần không phí một đời.

Hiện đại, hoa lệ nhưng rạp xi-nê cổ Sài thành vẫn là điểm đến của nhiều người yêu hoài niệm.

Người Sài Gòn "giàu" lắm, họ sẵn sàng cho sách, bán những bữa ăn 0 đồng, với họ "cho đi" chính là "nhận lại".
Họ "giàu" cách chia sẻ về vật chất, tinh thần.

Người Sài Gòn không quan tâm đến việc mình có phải là dân Sài Gòn không, chỉ cần sống sao cho coi được.

Mỗi nơi sẽ đều có một nét riêng, văn hóa riêng, và con người với cá tính và cách sống riêng.
Sài Gòn cũng vậy và nhiều người sẽ thích thú khi xem bộ ảnh giới trẻ Sài thành khoe niềm tự hào về những cái nhất của thành phố nơi mình sống.

Đầu tiên, các bạn trẻ Sài Gòn đã khoe những con hẻm nơi thành phố mình đang sống.
Họ chia sẻ rằng khi bước vào con hẻm nhỏ, dường như bạn sẽ quên hết những con đường đông đúc, kẹt xe đầy khói bụi ngoài phố.

Sài Gòn nổi tiếng với những quán cafe vỉa hè, mở cửa từ rất sớm và dọn hàng vào tối khuya, chỉ ngồi cafe cóc bạn mới nghe được âm thanh lề đường vào những giờ rất đặc biệt.
__________________
Hãy hướng về phía mặt trời mọc bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến vertumnus trong bài viết này:
hoangvu (07-10-2017)
Trả lời

Bookmarks

Những Chủ Đề Tương Tự
Đề tài Người gởi Chuyên mục Trả lời Bài viết cuối
Giáo Sư Trần Văn Khê Hương Bình Những nét đẹp Quê Hương 1 14-02-2012 06:31 AM
Rồng Qua Văn Chương & Ðiển Tích Và Cuộc Sống Con người Hương Bình Những nét đẹp Quê Hương 1 27-01-2012 05:40 PM
THẦN ĐÈN MẤT TÍCH Văn tường. ttv2007 Tùy bút - Ký - Phiếm luận - Biên khảo 0 25-04-2011 04:25 AM
Những lễ hội văn hoá thấy...ớn Uất Kim Hương Chuyện Đông - Chuyện Tây 2 13-04-2011 05:11 PM
Nhà văn hóa Lê Quý Đôn: Đa đoan nhập thế CONHAKO Những nét đẹp Quê Hương 0 13-03-2010 07:51 AM



Hiện thời số người đang xem chủ đề này là: 1 (0 Thành viên và 1 Khách)
 
Thread Tools
Display Modes

Quyền Hạn Gởi bài
Bạn không được quyền gửi bài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đangTắt

Chuyển nhanh đến

Múi giờ GMT -7. Hiện tại là 04:17 PM.


Chút Lưu Lại không chịu bất cứ trách nhiệm gì về nội dung bài đăng của tất cả Thành viên.
Nhóm Điều Hợp có toàn quyền chỉnh sửa, xóa bỏ, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên Thành viên mà không cần giải thích lý do.

Powered by vBulletin® Copyright ©2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2017 @ www.chutluulai.net. All rights reserved.
Vietnamese Language by www.mvietx.org.